Tiểu luận: Sử dụng tài nguyên thiên nhiên nước

Chia sẻ: nhan_nhudung

Việt Nam là một quốc gia giàu tài nguyên thiên nhiên. Sự đa dạng và phong phú của các loại tài nguyên đã đem lại cho nước ta những lợi ích kinh tế - xã hội không nhỏ, phục vụ cho đời sống của người dân, cộng đồng và sự phát triển đất nước. Trong đó có tài nguyên nước.Nước là một hợp chất hóa học của oxy và hidro, có công thức hóa học là H2O.

Bạn đang xem 7 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: Tiểu luận: Sử dụng tài nguyên thiên nhiên nước

TRƯỜNG …………………
KHOA………………………
----------




TIỂU LUẬN

Đề tài:

Sử dụng tài nguyên
thiên nhiên nước




1
MỤC LỤC


3
Lời mở đầu
4
………………………………………………………………..
4
Nội
4
dung……………………………………………………………………
6
hiểu về
1. Tìm chung tài nguyên
6
nước…………………………………...
6
của nước đối với người
1.1. Vai trò con và sinh
8
vật……………………….
8
Sự bố nước ở Việt
1.2. phân tài nguyên
9
Nam……………………………..
9
2. Tình hình khai thác và sử dụng tài nguyên n ước ở Việt
15
Nam……….
2.1. Tình hình khai thác và sử dụng nước trong hoạt động kinh
tế………..
2.2. Tình hình khai thác và sử dụng nước trong đời sống sinh hoạt………
2.2.1. Tình hình khai thác và sử dụng nước ở khu vực thành thị…………
2.2.2. Tình hình khai thác và sử dụng nước ở khu vực nông thôn………..
Thực trạng nước ở Việt hiện
3. tài nguyên Nam
nay……………………
Kết luận…………………………………………………………………….




2
LỜI MỞ ĐẦU
Việt Nam là một quốc gia giàu tài nguyên thiên nhiên. Sự đa dạng và
phong phú của các loại tài nguyên đã đem lại cho nước ta những lợi ích
kinh tế - xã hội không nhỏ, phục vụ cho đời sống của người dân, cộng
đồng và sự phát triển đất nước. Trong đó có tài nguyên nước.

Nước là một trong những loại tài nguyên giàu có của nước ta. Nước
là tài nguyên đặc biệt quan trọng, là thành phần thi ết y ếu c ủa s ự s ống và
môi trường. Nước không thể thiếu cho sự tồn tại và phát triển của th ế
giới sinh vật và nhân lợi trên Trái Đất. Nước quyết định sự tồn tại, phát
triển bền vững của đất nước, mặt khác nước cũng có thể gây ra tai họa
cho con người và môi trường. Tài nguyên nước là nguồn tài nguyên thiên
nhiên có thể tái tạo nhưng cũng có thể bị cạn kiệt tùy vào tốc độ khai thác
của con người và khả năng tái tạo của môi trường.

Ngày nay, sử dụng nước cho mọi hoạt động đã trở nên phổ biến. Tuy
nhiên, việc sử dụng khai thác nguồn tài nguyên này gây ra nh ững h ậu qu ả
ảnh hưởng nghiêm trọng tới nguồn tài nguyên nước.

***




3
NỘI DUNG
1. Khái quát về tài nguyên nước:
1.1. Vai trò của nước đối với con người và sinh vật
Nước là một yếu tố sinh thái không thể thiếu đối với sự sống và là
nguồn tài nguyên có thể tái tạo vô cùng quý giá đối với con ng ười. Trong
lịch sử phát triển xã hội loài người, các cuộc xung đột sắc tộc, chiến tranh
giữa các dân tộc, các quốc gia với nhau trên thế giới nhiều khi gắn li ền
với việc tranh giành nguồn nước. Vì nguồn nước nhiều hay ít sẽ quy ết
định đến sự tồn tại và phát triển của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc. Trong
phát triển Nông nghiệp, nước trong vai trò quan trọng nhất, nó quy ết đ ịnh
đến năng suất sinh vật. Đặc biệt đối với các quốc gia nghèo nằm trong
khu vực nhiệt đới của châu Á, châu Phi, Nam Mỹ, nơi sản xuất Nông
nghiệp đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân thi nước lại càng
có ý nghĩa sống còn đối với các quốc gia này.
Trong phát triển Công nghiệp và đô thị, nước có vai trò to lớn. Công
nghiệp hóa và đô thị hóa có thể được coi là một xu hướng tất y ếu trong
quá trình phát triển kinh tế, xã hội của mỗi quốc gia.
Nước còn là môi trường sống của nhiều loài sinh vật, t ừ th ực v ật
đến động vật đến các vi sinh vật. Nước còn được coi là nguồn khoáng


4
sản và năng lượng to lớn của nhân loại. Trong nước chứa nhiều chất
khoáng quan trọng mà con người có thể khai thác được.


1.2. Sự phân bố tài nguyên nước ở Việt Nam:

Việt Nam là quốc gia có nguồn tài nguyên nước xếp vào loại trung
bình khá trên thế giới nhưng có nhiều yếu tố không bền vững. Nước ta có
khoảng 830 tỷ m3 nước mặt, trong đó chỉ có 310 tỷ m3 được tạo ra do mưa
rơi trong lãnh thổ, chiếm 37%; còn 63% do lượng mưa ngoài lãnh thổ
chảy vào. Tổng trữ lượng tiềm tàng nước dưới đất có khả năng khai thác,
chưa kể phần hải đảo tính 60 tỷ m 3/năm. Nếu kể cả nước mặt và nước
dưới đất trên phạm vi lãnh thổ thì bình quân đầu người đạt 4.400
m3/người/năm, so với thế giới là 7.400 m3/người/năm.
Lượng nước sản sinh từ ngoài lãnh thổ chiếm gần 2/3 tổng lượng
nước có được. Sự phân bố của cả nước mặt lẫn nước dưới đất không
đều. Theo không gian, nơi có lượng mưa nhiều nh ất là Bạch Mã
8.000mm/năm; Bắc Quang, Bà Nà khoảng 5.000mm/ năm, trong khi cửa
Phan Rí chỉ đạt xấp xỉ 400mm/năm. Theo thời gian, mủa lũ ch ỉ kéo dài t ừ
3-5 tháng, nhưng chiếm tới 70 – 80% lượng nước cả năm. Mùa lũ, lượng
mưa lớn nhất đạt trên 1.500mm/ ngày, song mùa cạn nhiều tháng lại
không có mưa.
Sự không thuận lợi của tài nguyên nước trong sử dụng và khai thác.
Nước ta có khoảng 2.360 con sông có chiều dài h ơn 10km. Trong s ố 13
lưu vực chính và nhánh có diện tích lớn h ơn 10.000km 2 thì đến 10/13 sông
có quan hệ với nước láng giềng, trong đó 3/13 sông th ượng nguồn ở Vi ệt
Nam, hạ nguồn chảy sang nước láng giềng; 7 sông th ượng nguồn ở nước
láng giềng, hạ nguồn ở Việt Nam. Điều này cho th ấy Việt Nam không


5
những bị ràng buộc nguồn lợi về nước của quốc gia thứ hai, thứ ba chia
sẻ, mà thường bị động.


2. Tình hình khai thác và sử dụng tài nguyên nước ở Việt Nam:

2.1. Tình hình khai thác và sử dụng trong các hoạt động kinh tế:

Việt Nam là nước Đông Nam Á có chi phí nhiều nh ất cho th ủy l ợi.
Cả nước hiện nay có 75 hệ thống thủy nông với 659 hồ, đ ập l ớn và v ừa,
trên 3500 hồ đập nhỏ, 1000 cống tiêu, trên 2000 trạm bơm lớn nh ỏ, trên
10.000 máy bơm các loại có khả năng cung cấp 60 – 70 tỷ m 3/năm. Tuy
nhiên, hệ thống thủy nông đã xuống cấp nghiêm trọng, chỉ đáp ứng 50 –
60% công suất thiết kế.

Lượng nước sử dụng hằng năm cho Nông nghiệp khoảng 93 tỷ m 3,
cho Công nghiệp khoảng 17,3 tỷ m 3, cho Dịch vụ là 2 tỷ m 3, cho Sinh hoạt
là 3,09 tỷ m3. Tính đến năm 2030 cơ cấu dùng nước sẽ thay đổi theo xu
hướng Nông nghiệp 75%, Công nghiệp 16%, Tiêu dùng 9%. Nhu cầu dùng
nước sẽ tăng gấp đôi, chiếm khoảng 1/10 tổng lượng nước sông ngòi, 1/3
lượng nước nội địa, 1/3 lượng nước chảy ổn định.

Do lượng mưa lớn, địa hình dốc, nước ta là một trong 14 nước có
tiềm năng thủy điện lớn. Các nhà máy thủy điện hiện nay sản xu ất
khoảng 11 tỷ kWh, chiếm 72 đến 75% sản lượng điện cả nước. V ới tổng
chiều dài các sông và kênh khoảng 40.000km, đã đưa vào khai thác vận tải
15.00km, trong đó quản lý trên 8.00km. Có nh ững sông suối t ự nhiên, thác
nước,… được sử dụng làm các điểm tham quan du lịch.

Về nuôi trồng thủy hải sản, nước ta có 1 triệu ha m ặt n ước ng ọt,
400.000 ha mặt nước lợ và 1.470.000 ha mặt nước sông ngòi, có hơn 14


6
triệu ha mặt nước nội thủy và lãnh hải. Tuy nhiên cho đến nay mới s ử
dụng 12,5% diện tích mặt nước lợ, nước mặn và 31% diện tích mặt nước
ngọt.
Nhiều hồ và đập nhỏ hơn trên khắp toàn quốc phục vụ tưới tiêu như
Cấm Sơn (Bắc Giang), Bến En và Cửa Đạt (Thanh Hóa), Đô Lương
(Nghệ An), Kẻ Gỗ (Hà Tĩnh) và Phú Ninh (Quảng Nam). Theo số liệu
thống kê, Việt Nam hiện có hơn 3.500 hồ chứa nhỏ và khoảng 650 hồ
chứa cỡ lớn và trung bình dùng để sản xuất thủy điện, kiểm soát lũ lụt,
giao thông đường thủy, thủy lợi và nuôi trồng thủy sản (FAO, 1999).

2.2. Tình hình khai thác và sử dụng nước trong đời sống sinh hoạt:

Đời sống sinh hoạt hằng ngày của con người sử dụng rất nhiều
nước sinh hoạt. Về mặt sinh lý mỗi người cần 1l – 2l nước/ ngày. Trung
bình nhu cầu sử dụng nước sinh hoạt của một người trong một ngày 10 l –
15l cho vệ sinh cá nhân, 20l – 200l cho tắm, 20l – 50l cho làm cơm, 4l0 –
80l cho giặt bằng máy…

2.2.1.Tình hình khai thác và sử dụng ở khu vực thành thị:

Việt Nam có 708 đô thị bao gồm 5 thành phố trực thu ộc Trung ương,
86 thành phố và thị xã thuộc tỉnh, 617 thị trấn với 21,59 tri ệu người
(chiếm 26,3% dân số toàn quốc). Có trên 240 nhà máy cấp nước đô th ị v ới
tổng công suất thiết kế là 3,42 triệu m 3/ngày. Trong đó 92 nhà máy sử
dụng nguồn nước mặt với tổng công suất khoảng 1,95 triệu m 3/ngày và
148 nhà máy sử dụng nguồn nước dưới đất với tổng công suất khoảng
1,47 triệu m3/ ngày.

Một số địa phương khai thác 100% nước dưới đất để cung cấp cho
sinh hoạt sản xuất như: Hà Nội, Hà Tây, Hưng Yên, Vĩnh Phúc, Qu ảng



7
Ngãi, Bình Định, Sóc Trăng, Phú Yên, Bạch Liêu... Các tỉnh thành Hải
Phòng, Hà Nam, Nam Định, Thái Bình, Hà Tĩnh, Qu ảng Bình, KonTum,
Gia Lai... khai thác 100% từ nguồn nước mặt. Nhiều địa ph ương s ử dụng
cả 2 nguồn nước.

Tổng công suất hiện có của các nhà máy cấp nước đảm bảo cho m ỗi
người dân đô thị khoảng 150 lít nước sạch mỗi ngày. Tuy nhiên, do c ơ s ở
hạ tầng hệ thống cấp nước tại nhiều khu đô thị lạc hậu, thiếu đồng bộ
nên hệ thống cấp nước khu đô thị chưa phát huy hết công suất, tỉ lệ thất
thoát nước sạch khá cao (có nơi tỉ lệ thất thoát tới 40%). Chính vì vậy trên
thực tế nhiều đô thị cung cấp nước chỉ đạt khoảng 40 - 50 lít/người/ngày.

2.2.2. Tình hình khai thác và sử dụng ở khu vực Nông thôn:

Đối với khu vực nông thôn Việt Nam có khoảng 36,7 triệu người dân
được cấp nước sạch (trên tổng số người dân 60,44 triệu). Có 7.257 công
trình cấp nước tập trung cấp nước sinh hoạt cho 6,13 triệu người và trên
2,6 triệu công trình cấp nước nhỏ lẻ khác. Tỉ lệ dân số nông thôn được
cấp nước sinh hoạt lớn nhất ở vùng Nam Bộ chiếm 66,7%; đồng bằng
sông Hồng 65,1%; đồng bằng sông Cửu Long 62,1%.

Tại thành phố Hà Nội, tổng lượng nước dưới đất được khai thác là
1.100.000m3/ngày đêm. Trong đó, phía Nam sông Hồng khai thác với lưu
lượng 700.000m3/ngày đêm. Trên địa bàn Hà Nội hiện nay khoảng trên
100.000 giếng khoan khai thác nước kiểu UNICEF của các h ộ gia đình,
hơn 200 giếng khoan của công ty nước sạch thành ph ố quản lý và 500
giếng khoan khai thác nước của các trạm cấp nước sạch nông thôn.

Các tỉnh ven biển miền Tây Nam Bộ như: Kiên Giang, Trà Vinh, B ến
Tre, Long An do nguồn nước ngọt trên các sông rạch, ao hồ không đ ủ



8
phục vụ cho nhu cầu của đời sống và sản xuất vì vậy nguồn nước cung
cấp chủ yếu được khai thác từ nguồn nước dưới đất. Khoảng 80% dân số
ở 4 tỉnh Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu và Cà Mau đang sử d ụng n ước
ngầm mỗi ngày. Tại tỉnh Trà Vinh hiện có khoảng 41.512 giếng khoan;
TP Cà Mau hơn 90% người dân trong xã đã khoan và sử dụng nước ngầm.
Việc khai thác nước ngầm quá mức đã làm tầng nước ngầm tụt giảm từ
12 đến 15m khu vực này; “giúp” cho tỉnh Trà Vinh gần h ơn v ới m ặt n ước
biển khoảng 2 – 2,5m.



3. Thực trạng tài nguyên nước Việt Nam hiện nay:

Nguồn nước có nguy cơ ô nhiễm từ mọi phía!

Theo Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia 2005 (16/12/2005, Hà
Nội) có nêu “Nguồn nước dưới đất bị ô nhiễm do việc chôn l ấp gia c ầm
bị dịch không đúng quy cách. Tính đến cuối năm 2004, hơn 40 tri ệu gia
cầm đã bị tiêu hủy, chiếm gần 20% tổng đàn trên cả nước. Nguy c ơ ô
nhiễm nước dưới đất từ các hốc chôn lấp, tiêu hủy gia cầm là rất cao,
đặc biệt trong mùa mưa… Chỉ 4,26% lượng nước thải Công nghiệp được
xử lý đảm bảo tiêu chuẩn môi trường; tình trạng phú dưỡng ở nước do ô
nhiễm hóa chất bảo vệ thực vật; nước còn ô nhiễm từ gia cầm...”

* Ô nhiễm nguồn nước từ chăn nuôi gia súc gia cầm

Việc chăn nuôi gia súc gia cầm ở hộ gia đình vùng nông thôn ch ưa có
ý thức tiết kiệm nguồn nước trong việc vệ sinh chuồng trại ch ưa có hệ
thống xử lý chất thải đã thải vào ao hồ, bể tự hoại để th ấm vào đất gây ô
nhiễm môi trường đặc biệt là nguồn nước ngầm. Nước dưới đất xung
quanh khu vực chôn lấp gia cầm nhiễm bệnh bị ô nhiễm do nguyên nhân


9
chủ yếu là nước thải sinh ra trong quá trình phân h ủy gia cầm phát tán ra
bên ngoài hố chôn lấp do lót đáy không kỹ hoặc không lót đáy.

Ngoài ra, do không được đầu tư đúng mức nên hệ thống cống thoát
nước chưa được xây dựng hoàn chỉnh, hầu hết các cống không có nắp nên
ô nhiễm môi trường là không thể tránh khỏi. Mỗi gia đình có trung bình t ừ
4 – 5 người; chuồng lợn có từ 2 – 4 con; chuồng trâu, bò có từ 1 – 2 con;
chuồng gà với khoảng 10 – 15 con, 10 – 20 con ngan vịt. Có một đến hai
ao nhỏ để thả cá. Nồng độ các chất ô nhiễm trong nước thải này rất cao,
tương đương với nước rác rò rỉ trong thời gian phân hủy của gà trong hố
sẽ kéo dài có thể tới một vài năm.

* Ô nhiễm từ nguồn nước thải sinh hoạt

Ở Việt Nam hiện nay, mức tăng dân số nhanh chóng đã đưa nước ta
vào hàng thứ 12 trong số các quốc gia có số dân đông của thế giới. Với
mức tăng dân nhanh như thế, mỗi năm nước ta tăng thêm 1,4 triệu người
và dự báo đến năm 2015 sẽ là 100 triệu người. Dự báo đến năm 2020 s ẽ
có 50% số dân sống ở các vùng đô thị. Dân số tăng, nhu cầu nước cho mọi
hoạt động sinh hoạt và phát triển kinh tế tăng lên, các ngu ồn ch ất th ải
tăng lên sự ô nhiễm môi trường nước cũng tăng lên.

Hầu hết, nước thải đô thị đều chưa được xử lý trước khi xả thải ra
môi trường. Ngoài ra, nước rò rỉ từ các bãi rác cũng là nguồn gây ô nhi ễm
nguồn nước mặt và nước ngầm nghiêm trọng vì đặc trưng của lo ại n ước
thải này có hàm lượng chất gây ô nhiễm cao, độ màu lớn. Trong khi đó c ả
nước mới chỉ có một vài bãi chôn lấp rác có hệ thống xử lý nước rác hoạt
động thường xuyên và đảm bảo tiêu chuẩn môi trường.




10
Nước thải sinh hoạt bao gồm từ khu nhà bếp và nhà vệ sinh nên chứa
rất nhiều chất hữu cơ và sinh vật gây bệnh. Ngoài ra, trong nước thải sinh
hoạt còn có nhiều loại hóa chất khác nhau, đặc biệt là chất tẩy rửa. Nước
thải thường ứ đọng trong các hệ thống cống lâu ngày nên càng độc h ại và
có mùi hôi thối. Đây là nguồn ô nhiễm đáng chú ý đối với các th ủy v ực
tiếp nhận (ao, hồ, sông,…). Trong đó, nguy hiểm hơn cả là sự gây ra cho
nguồn ô nhiễm nước ngầm bởi các dòng thấm không kiểm soát được từ
nguồn ô nhiễm hoặc bị nhiễm bẩn qua tầng đất đá ô nhiễm.

* Nước thải bệnh viện: Nước thải từ bệnh viện cũng là nguồn gây các
bệnh truyền nhiễm cho cộng đồng. Trong nước thải bệnh viện ch ứa
nhiều vi khuẩn, vi trùng gây bệnh thải ra xung quanh khu dân cư gây nên
những bệnh truyền nhiễm, các trận dịch lớn,… ảnh hưởng đến s ức kh ỏe
đời sống của người dân.

Hiện nay, cả nước có khoảng 1.000 bệnh viện, mỗi ngày thải ra hàng
trăm nghìn m3 nước thải chưa qua xử lý hoặc xử lý không đạt tiêu chuẩn
môi trường.

* Nước thải Công nghiệp

Công nghiệp là nghành làm ô nhiễm nước quan trọng, mỗi nghành có
một loại nước thải khác nhau. Khu công nghiệp Thái Nguyên th ải nước
biến sông Cầu thành màu đen, mặt nước sủi bọt trên chi ều dài hàng ch ục
km. Khu công nghiệp Việt Trì xả mỗi ngày hàng ngàn m 3 nước thải của
nhà máy hóa chất, thuốc trừ sâu, giấy, dệt xuống sông Hồng làm cho
nước bị ô nhiễm đáng kể.

Nước thải Công nghiệp xâm nhập gây ô nhiễm các tầng chứa nước
dưới đất cũng là nguy cơ gây ô nhiễm kim loại nặng, nitơ và asen... trong



11
nước ngầm. Theo thống kê sơ bộ thì chỉ khoảng 4,26% lượng nước thải
công nghiệp được xử lý đảm bảo tiêu chuẩn môi trường (năm 2005). V ới
lượng chất thải khá lớn từ các nhà máy, xí nghiệp, nước th ải công nghi ệp
chiếm một lượng lớn trong tổng lượng nước thải hằng ngày ở thành ph ố
lớn, hơn nữa mức độ gây ô nhiễm của nước thải công nghiệp cao h ơn
nhiều so với nước thải sinh hoạt do chứa nhiều hóa chất độc hại khó
phân hủy . Do kinh phí còn hạn hẹp, điều kiện chưa cho phép nên h ầu hết
nước thải thẳng ra hệ thống kênh rạch, sông ngòi mà chưa qua x ử lý gây
nên tình trạng ô nhiễm trầm trọng cho các nguồn này.

* Ô nhiễm từ nghành Nông nghiệp

Trong Nông nghiệp tình trạng sử dụng các loại thuốc bảo vệ th ực
vật, các loại chất kích thích phát triển thực vật, các loại phân bón t ổng
hợp quá tiêu chuẩn cho phép gây ra hiện tượng các loại hóa chất theo
nước ngấm sâu vào lòng đất, ao, hồ,… gây nên tình trạng ô nhi ễm ngu ồn
nước đồng thời gây nên tình trạng thoái hóa đất.

Lượng hóa chất bảo vệ thực vật, phân bón được sử dụng trong
nghành nông nghiệp mỗi năm khoảng 0,5-3,5kg/ha/vụ gây ra phú dưỡng
(nồng độ chất N, P cao; yếm khí, nước màu xanh đen có mùi khai th ối)
hoặc nhiễm độc nước.

* Ô nhiễm nguồn nước từ các làng nghề truyền thống

Các làng nghề thủ công truyền thống sử dụng nước để sản xuất hàng
hóa nhưng cũng thải ra môi trường xung quanh một lượng nước thải khá
lớn chưa quá hệ thống sử lý nước thải. Các làng nghề truyền thống này
không chú trọng đầu tư vào khâu xử lý nước thải hậu quả gây ô nhi ễm
cho các thủy vực (ao, hồ,…) xung quanh.



12
Hiện nay, khoảng gần 1.500 làng nghề trên cả nước gây ô nhiễm
trầm trọng cho nguồn nước tại nhiều điểm, đặc biệt là các làng ngh ề làm
giấy, dệt nhuộm,…

* Tình hình ô nhiễm nước ở các thành phố lớn:

Trong khu vực nội thành của các thành phố lớn (Hà Nội, Hồ Chí
Minh, Hải Phòng, Huế...) hệ thống các hồ, ao, kênh, rạch và các sông nh ỏ
chính là nơi tiếp nhận và vận chuyển nước th ải của các khu công nghi ệp,
khu dân cư. Hệ thống này hiện nay ô nhiễm nghiêm trọng vượt quá mức
tiêu chuẩn cho phép từ 5 – 10 lần, các hồ trong n ội thành ph ần l ớn ở
trạng thái phú dưỡng, nhiều hồ bị phú dưỡng hóa đột biến và tái nhiễm
bẩn hữu cơ.

Trong nước dưới đất nhiều nơi còn thấy dấu hiệu ô nhiễm photphat
và asen. Tại Hà Nội, số giếng có hàm lượng cao hơn mức cho phép chiếm
71%.

Nước đang dần trở nên khan hiếm!

Mọi hoạt động kinh tế và đời sống sinh hoạt h ằng ngày đều s ử d ụng
đến nước. Trong khi nguồn nước ngày một khan hiếm diễn ra nhiều nơi
ở Việt Nam, nguyên nhân chủ yếu do lượng nước mặt phân bố t ại các
vùng sinh thái không đồng đều, tình trạng khai thác và sử dụng nguồn
nước không hợp lý. Chịu tác động của các hoạt động kinh tế (tưới tiêu,
nuôi trồng thủy sản, sản xuất hàng hóa,… có nhu cầu về nước lớn) tập
trung dân cư và quy hoạch không có tầm nhìn xa. Trong khi khả năng tái
tạo của nguồn nước không kịp với tốc độ khai thác sử dụng nước như
hiện nay.




13
Một phần nguyên nhân khác là tàn phá rừng đầu nguồn, rừng ch ắn,
các khu rừng nguyên sinh,… Xảy ra tình trạng mất cân bằng sinh thái
trầm trọng. Vào mùa mưa do rừng bị tàn phá kh ả năng giữ nước không
còn nên lượng nước trực tiếp đổ từ đầu nguồn về tạo nên các trận lũ
quét, vào mùa khô thì nguồn cung nước và điều hòa nước không còn khiến
sông, suối, ao, hồ,… trở nên khô cạn, hạn hán kéo dài.

Sự khan hiếm nước khiến cho cuộc sống của người dân gặp không ít
khó khăn. Lượng nước mặt tính bình quân đầu người ở Việt Nam sẽ
giảm từ mức 3.840m3/người/năm hiện nay xuống 2.830m3/người/năm vào
năm 2015, và trong tương lai gần Việt Nam sẽ trở thành một quốc gia
khan hiếm nước.

***




KẾT LUẬN

Nước là nguồn tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá, không th ể
thiếu đối với mọi sự hoạt động trong nghành kinh tế quốc dân. Tuy nguồn
nước có nhiều nhưng trạng thái thiên nhiên không đủ th ỏa mãn được nhu
cầu nước ngày càng lớn của xã hội.

Những tài liệu được nêu ra ở trên chỉ là một phần nhỏ trong vô vàn
những số liệu thống kê về thực trạng tài nguyên nước ở Việt Nam mà


14
không thể nêu hết được. Ô nhiễm nguồn nước, khan hiếm nước ngọt,
nước sinh hoạt không đủ tiêu chuẩn,… đang diễn ra nhiều nơi trên c ả
nước. Đó là một vấn đề đáng lo ngại đến sức khỏe cộng đồng, sự phát
triển kinh tế - xã hội, an ninh quốc gia của đất nước.

Vì vậy nước là một trong những yếu tố quan trọng cần phải được
xem xét trong quy hoạch của các ngành. Trong nông nghiệp, nước là bi ện
pháp hàng đầu, trong công nghiệp ta khó hình dung được m ột nhà máy,
một công trường nào mà lại không cần đến nước. Khi nền kinh tế ngày
càng phát triển, thì hiện tượng thiếu nước và vấn đề sử dụng nước một
cách có kế hoạch, hợp lý, tiết kiệm đã được đưa ra nghiên cứu, giải
quyết. Và để khai thác những mặt lợi, ngăn chặn các tác h ại của nước,
con người đã phải can thiệp vào tự nhiên, làm thay đổi nh ững quy lu ật t ự
nhiên của nước.

Nhà nước cần có những chính sách phù hợp, có các biện pháp bảo v ệ
và khai thác tài nguyên nước một cách hợp lý có hiệu quả trong hiện tại
và tương lai. Nâng cấp, sửa đổi, bổ sung Luật bảo vệ tài nguyên nước, thi
hành nhiều chính sách hợp lý không những chỉ riêng tài nguyên nước mà
còn nhiều loại tài nguyên khác. Bảo vệ tài nguyên bảo vệ cho chính sự
phát triển của Đất nước.




15
Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản