Tiểu luận "Thử nghiệm ảnh hưởng của Zeolite đến khả năng tăng trọng, tỷ lệ tiêu chảy của lợn con sau cai sữa"

Chia sẻ: Bùi đình Trận | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:63

0
241
lượt xem
117
download

Tiểu luận "Thử nghiệm ảnh hưởng của Zeolite đến khả năng tăng trọng, tỷ lệ tiêu chảy của lợn con sau cai sữa"

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Thử nghiệm ảnh hưởng của Zeolite đến khả năng tăng trọng, tỷ lệ tiêu chảy của lợn con sau cai sữa, một số chỉ tiêu vệ sinh thú y của lợn con sau cai sữa và điều tra một số bệnh thường gặp tại trại lợn của công ty TNHH Thiên Phúc-Nghĩa Hưng-Nam Định

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tiểu luận "Thử nghiệm ảnh hưởng của Zeolite đến khả năng tăng trọng, tỷ lệ tiêu chảy của lợn con sau cai sữa"

  1. Tiểu luận "Thử nghiệm ảnh hưởng của Zeolite đến khả năng tăng trọng, tỷ lệ tiêu chảy của lợn con sau cai sữa" 1
  2. MỤC LỤC PHẦN I: MỞ ĐẦU ........................................................................................... 4 1.1. ĐẶT VẤN ĐỀ............................................................................................ 4 1.2. MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI ........................................................................ 5 PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU................................................................. 6 2.1. MỘT SỐ HIỂU BIẾT VỀ CHẾ PHẨM KHOÁNG ZEOLITE ................ 6 2.1.1. Khái niệm ................................................................................................ 6 2.1.2. Công thức hoá học .................................................................................. 6 2.1.3. Thành phần hoá học ................................................................................ 6 2.1.4. Phân loại.................................................................................................. 6 2.1.5. Cấu trúc ................................................................................................... 8 2.1.6. Đặc tính và tác dụng của Zeolite............................................................. 9 2.1.7. Quy trình tổng hợp Zeolite.................................................................... 10 Quy trình tổng hợp Zeolite thông dụng: ......................................................... 10 2.1.8. Các nghiên cứu và ứng dụng Zeolite trong nước.................................. 12 2.1.9. Các nghiên cứu và ứng dụng Zeolite trên Thế giới .............................. 15 2.2. MỘT SỐ ĐẶC TÍNH SINH LÝ Ở LỢN CON ....................................... 17 2.3. HIỂU BIẾT VỀ HỘI CHỨNG TIÊU CHẢY.......................................... 22 * Nguyên nhân gây bệnh................................................................................. 22 Vi sinh vật trong đường ruột tồn tại dưới dạng một hệ sinh thái, bình thường thì hệ sinh thái này ở trạng thái cân bằng và có lợi cho cơ thể vật chủ. Dưới tác động của yếu tố gây bệnh, làm cho trạng thái cân bằng của vi sinh vật đường ruột bị phá vỡ, dẫn đến tình trạng loạn khuẩn đường ruột và hậu quả là con vật bị tiêu chảy. ........................................................................................ 23 2.4. HIỂU BIẾT VỀ HỆ HÔ HẤP CỦA LỢN ............................................... 29 PHẦN III: ĐỐI TƯỢNG - NỘI DUNG - VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ................................................................................................................ 33 3.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU ................................................................. 33 3.2. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU .................................................................... 33 3.3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU............................................................ 33 PHẦN IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN............................ 36 4.1. TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI VÀ CÔNG TÁC THÚ Y TẠI CÔNG TY TNHH THIÊN PHÚC ..................................................................................... 36 4.1.1. Vài nét về cơ sở thực tập....................................................................... 36 4.1.2. Tình hình chăn nuôi tại công ty TNHH Thiên Phúc............................. 38 4.1.3. Công tác thú y tại công ty TNHH Thiên Phúc...................................... 39 4.2. KẾT QỦA THEO DÕI TÌNH HÌNH MẮC MỘT SỐ BỆNH THƯỜNG GẶP Ở ĐÀN LỢN NUÔI TẠI CÔNG TY TNHH THIÊN PHÚC................ 43 4.2.1. Kết quả theo dõi tình hình mắc một số bệnh trên đàn lợn nái sinh sản 43 2
  3. 4.2.2. Kết quả theo dõi tình hình mắc một số bệnh trên đàn lợn con từ 1 – 60 ngày tuổi ......................................................................................................... 46 4.3. KẾT QUẢ THỬ NGHIỆM CHẾ PHẨM ZEOLITE TRÊN ĐÀN LỢN SAU CAI SỮA TẠI CÔNG TY TNHH THIÊN PHÚC ................................ 48 4.3.1. Ảnh hưởng của việc bổ sung chế phẩm Zeolite đối với khả năng tăng trưởng, khả năng thu nhận thức ăn của lợn con giai đoạn từ sau cai sữa đến xuất chuồng. .................................................................................................... 50 Bảng 4.8. Kết quả tăng trọng sau khi thử nghiệm chế phẩm Zeolite của 2 lần thí nghiệm........................................................................................................ 50 4.3.2. Ảnh hưởng của việc bổ sung Zeolite trong thức ăn đến khả năng phòng bệnh tiêu chảy và hô hấp của lợn con sau cai sữa đến xuất chuồng ............... 52 4.3.3. Hiệu quả kinh tế của việc bổ sung chế phẩm Zeolite trong khẩu phần ăn của lợn con sau cai sữa đến xuất chuồng ........................................................ 53 4.3.4. Ảnh hưởng của Zeolite đến kết quả phân tích các chỉ tiêu vệ sinh thú y trong chuồng nuôi. .......................................................................................... 55 PHẦN V: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ............................................................ 57 5.1. KẾT LUẬN .............................................................................................. 57 5.2. ĐỀ NGHỊ.................................................................................................. 58 PHẦN VI: TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................ 59 6.1. TÀI LIỆU TIẾNG VIỆT.......................................................................... 59 6.2. TÀI LIỆU NƯỚC NGOÀI ............................................................................. 62 3
  4. PHẦN I: MỞ ĐẦU 1.1. ĐẶT VẤN ĐỀ Hiện nay do tiến bộ khoa học kỹ thuật, ngành chăn nuôi nước ta ngày càng phát triển mạnh mẽ, áp dụng nhiều tiến bộ khoa học kỹ thuật vào chăn nuôi nhằm nâng cao năng xuất, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng, tiêu thụ trong nước, giúp nền kinh tế nước ta phát triển. Tuy nhiên cùng với sự phát triển của ngành chăn nuôi thì bệnh tật ngày càng phát triển ngày càng mạnh, vấn đề ô nhiễm môi trường, vấn đề đảm bảo sức khỏe của của con người là một bài toán khó cần có câu trả lời. Do vậy vấn đề làm sao trong chăn nuôi vừa có năng xuất cao, vừa bảo vệ môi trường, vừa giảm thiểu bệnh tật và nâng cao chất lượng thịt... Được các nhà khoa học, người chăn nuôi tìm tòi và phát triển. Zeolite là một loại khoáng tự nhiên có nguồn gốc từ núi lửa và có cấu trúc tinh thể dạng khung kiên kết. Từ năm 1956 nhà địa chất Cronstede người Thuỵ Điển phát hiện ra khoáng chất zeolite tự nhiên là loại khoáng muối acid Silic chứa kim loại kiềm và kiềm thổ. Hiện nay có trên 40 loại Zeolite tự nhiên, nhưng sử dụng chủ yếu trong chăn nuôi là loại có nguồn gốc từ núi lửa, có tia hổng, xốp, hình thành từ biến đổi nhiệt dịch đá núi lửa. Trên Thế Giới việc nghiên cứu ứng dụng Zeolite trong các lĩnh vực như nông nghiệp, y học, bảo vệ môi trường, lọc hoá dầu, đặc biệt trong lĩnh vực chăn nuôi đã được tiến hành từ những năm 60. Hầu hết các nghiên cứu về ảnh hưởng của Zeolite trong chăn nuôi đều khẳng định được tác dụng của Zeolite khi bổ sung vào khẩu phần thức ăn là giảm hàm lượng N-NH3 và mùi thối trong phân (Bernal và Lopez-real, 1993), giảm hàm lượng nguyên tố kim loại nặng độc hại và làm tăng các nguyên tố vi lượng trong các sản phẩm chăn nuôi như thịt, trứng, sữa và một chừng mực nào đó làm cải thiện tốc độ sinh trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn (Ward và cộng tác viên, 1991). Nước đầu 4
  5. tiên sử dụng Zeolite trong chăn nuôi là Nhật Bản, rồi các nước Liên Xô cũ, Hoa Kỳ. Những năm gần đây thì Trung Quốc sử dụng Zeolite tự nhiên rất phổ biến trong chăn nuôi và nuôi trồng thuỷ sản. Ngoài ra cùng với sự phát triển mạnh mẽ của ngành chăn nuôi thì tình hình dịch bệnh cũng xảy ra đa dạng và phức tạp. Xuất phát từ thực tế trên chúng tôi tiến hành đề tài. “Thử nghiệm ảnh hưởng của Zeolite đến khả năng tăng trọng, tỷ lệ tiêu chảy của lợn con sau cai sữa, một số chỉ tiêu vệ sinh thú y của lợn con sau cai sữa và điều tra một số bệnh thường gặp tại trại lợn của công ty TNHH Thiên Phúc-Nghĩa Hưng-Nam Định ”. 1.2. MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI - Điều tra tình hình chăn nuôi và một số bệnh thường gặp trên đàn lợn nái và lợn con tại trại lợn công ty TNHH Thiên Phúc – Nghĩa Trung – Nghĩa Hưng – Nam Định. - Bước đầu thử nghiệm chế phẩm Zeolite đến khả năng tăng trọng, tỷ lệ tiêu chảy, quá trình hô hấp của lợn con sau cai sữa và một số chỉ tiêu vệ sinh. - Biết cách thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học. 5
  6. PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1. MỘT SỐ HIỂU BIẾT VỀ CHẾ PHẨM KHOÁNG ZEOLITE 2.1.1. Khái niệm Zeolit là các aluminosilicat tinh thể có cấu trúc không gian 3 chiều với hệ thống mao quản (pore) đồng đều và rất trật tự. Hệ thống mao quản này có kích thước cỡ phân tử cho phép phân chia (rây) phân tử theo hình dạng và kích thước. Vì vậy zeolit còn được gọi là rây phân tử. 2.1.2. Công thức hoá học MxO.Al2O3.mSiO2.nH2O M là kim loại kiềm (x = 2) hoặc kim loại kiềm thổ (x = 1) 2.1.3. Thành phần hoá học Thành phần chủ yếu là Silicon Dioxide SiO2, Al2O3, nước và kim loại kiềm hoặc kim loại kiềm thổ. Zeolite hàm chứa SiO2 60 % trở lên (nhiều mỏ ở Trung Quốc đạt 73 %), hàm chứa hơn 20 loại nguyên tố vi lượng: Cu, Zn, Co, Ag, Vi, Ni, Se,Cr, Ba, Pb, As, Hg, Cd… 2.1.4. Phân loại Phân loại Zeolite theo nhiều tiêu chí khác nhau: Phân loại theo nguồn gốc: gồm Zeolite tự nhiên và Zeolite tổng hợp Theo chiều hướng không gian của các kênh hình thành cấu trúc mao quản: gồm Zeolite có cấu trúc mao quản 1 chiều, 2 chiều, 3 chiều. Theo tỉ lệ Si/Al: Zeolite hàm lượng Si thấp (Si/Al = 1 – 1.5: A, X), hàm lượng Si trung bình (Si/Al = 2 – 5: Zeolite Y, chabazit...), hàm lượng Si cao (ZSM - 5) 6
  7. Zeolite ZSM - 5 Zeolite X Theo điều kiện hình thành Zeolite được chia làm 2 loại: Zeolite tự nhiên và Zeolite tổng hợp. Trong tự nhiên có khoảng 40 loại Zeolite. Zeolite tự nhiên không có độ tinh khiết cao nên việc ứng dụng chúng còn hạn chế, một số ít được dùng làm chất độn, chất trao đổi ion trong các chất tẩy rửa, làm chất hấp phụ, chất mang cho phân bón hoá học...Nếu yêu cầu hàm lượng lớn, độ tinh khiết không cao. Một số loại Zeolite tự nhiên là lerynit, chabazit, stibit, analcime... Zeolite tổng hợp đã được nghiên cứu chế biến có cấu trúc giống với cấu trúc tự nhiên và cũng có nhiều cấu trúc không tồn tại trong tự nhiên. Zeolite tổng hợp có nhiều tính chất ưu việt hơn: Đồng nhất về thành phần, độ tinh khiết cao, độ bền cơ học cao... Được ứng dụng ngày càng rộng rãi trong công nghiệp như các lĩnh vực hấp phụ, xúc tác, tách lọc các chất lỏng và khí... Ngày nay có 200 loại Zeolite có cấu trúc khác nhau đã được tổng hợp. Nếu phân biệt theo thành phần thì có thể chia làm 4 nhóm: Zeolite có hàm lượng Silic thấp (R < 4) Zeolite có hàm lượng Silic trung bình (4 < R < 20) Zeolite có hàm lượng Silic cao (20 < R < 200) Zeolite biến tính Với: R = SiO2/Al2O3 và R > = 2 Cách phân loại này rất phù hợp với mục đích nghiên cứu. 7
  8. 2.1.5. Cấu trúc Zeolite được hình thành từ mạng lưới ba chiều của các tứ diện SiO4 liên kết trong không gian 3 chiều tạo thành các khối đa diện, trong đó một số nguyên tố Si được thay thế bằng nguyên tử Al tạo thành khối tứ diện AlO4 Do Si hoá trị 4 được thay thế bằng Al hoá trị 3 nên để trung hoà điện cần có sự kết hợp thêm với cation, thường là kim loại kiềm hoặc kiềm thổ. Các tứ diện SiO4 và AlO4 kết hợp với nhau tạo thành đơn vị cấu trúc sơ cấp (SBU, secondary building unit). Các SBU kết hợp với nhau tạo thành đơn vị cấu trúc tinh thể và hệ thồng mao quản khác nhau. 8
  9. 2.1.6. Đặc tính và tác dụng của Zeolite Zeolite làm thức ăn bổ sung, tăng nhanh hiệu quả sinh trưởng phát triển của động vật; giảm giá thành thức ăn chăn nuôi, giảm tỉ lệ bệnh trong chăn nuôi, nâng cao chất lượng thịt, Zeolite có 4 đặc điểm sau: Đặc tính vật lý: Có thể dung giải với những nguyên tố hữu ích, hấp phụ những nguyên tố có hại và ammonium, mùi hôi, đặc biệt có khả năng khống chế hoạt tính vi khuẩn có hại (khuẩn độc), bảo vệ sức khoẻ động vật, đồng thời cải thiện, làm sạch môi trường chăn nuôi và sử lý nước trong nuôi trồng thuỷ sản. Về hoá tính: Có khả năng trao đổi và chọn lọc lớn, cũng như có vai trò chất xúc tác. Có tác dụng với các nguyên tố vi lượng hữu ích như trong đường ruột tăng cường khả năng hấp phụ Ca... Và nhiều loại nguyên tố vi lượng hữu ích khác trong cơ thể động vật. Có tác dụng tăng cường khả năng nghiền, ma sát trong dạ dày động vật, đặc biệt là đối với gia cầm. Làm giảm tốc độ di chuyển thức ăn trong đường ống dạ dày và đường ruột do đó tăng khả năng tiêu hoá trong dạ dày và đường ruột, từ đó tăng hiệu quả hấp phụ, sử dụng thức ăn. 9
  10. 2.1.7. Quy trình tổng hợp Zeolite Quy trình tổng hợp Zeolite thông dụng: 10
  11. Qui trình tổng hợp từ kaolin: Kaolin trước khi tổng hợp được nung ở 400 – 650oC để chuyển thành dạng metakaolin: 2Al2Si2O5(OH)4 → 2Al2Si2O7 + 4H2O kaolin metakaolin Về kaolin: Kaolin là một loại khoáng sét. Nhóm Kaolin bao gồm kaolinit, dickit, nacrit. Khoáng kaolin là những nhôm silicat ngậm nước và có thành phần xấp xỉ 2H2O.Al2O3.2SiO2. Kaolinit là khoáng kaolin thông dụng nhất. Cấu trúc của kaolinit bao gồm một lớp tứ diện SiO4 và một lớp bát diện nhôm oxit kết 11
  12. hợp với nhau thành một lớp cơ sở của kaolin. Trong kaolinit, có sự hình thành liên kết hydrogen giữa các lớp đồng thời liên kết bên trong một lớp rất bền vững do vậy mạng tinh thể rắn chắc và ổn định, kích thước tinh thể tương đối lớn. Khả năng hấp phụ, độ trương nở, độ dẻo, độ co thấp, khả năng trao đổi cation khá yếu. Như vậy cả kaolin và zeolite đều là những aluminosilicat tinh thể ngậm nước nhưng cấu trúc khác nhau. Vấn đề tổng hợp zeolite từ nguồn kaolin rẻ tiền là khả thi. 2.1.8. Các nghiên cứu và ứng dụng Zeolite trong nước. Ở Việt Nam cũng đã có những công trình nghiên cứu về Zeolite trong thời gian vừa qua. Việt Nam cũng có một số mỏ khoáng Zeolite tự nhiên trữ lượng lớn được các nhà địa chất phát hiện ở nhiều nơi như: Đèo Bảo Lộc, đèo Rù Rì, dọc duyên hải từ bắc Tuy Hoà đến nam Nha Trang, khu vực An Xuân – cao nguyên Vân Hoà. Đức Linh – Bình Thuận, Long Phước - Bà Rịa – Vũng Tàu... Với trữ lượng khác nhau từ 10 – 75%, trữ lượng và chất lượng chưa được đánh giá kỹ lưỡng (Đỗ Đình Toát, Phạm Văn An, 1995; Lê Thị Nghinh, Petrova, 1996; Trần Kim Phượng, 2000) Đặc biệt trong thời gian vừa qua TS Tạ Ngọc Đôn cùng GS.TSKH Hoàng Trọng Yêm đã nghiên cứu thành công việc biến đất sét thành Zeolite bằng phương pháp không nung, phương pháp này không chỉ mới ở Việt Nam mà với cả Thế giới. Ngày 30/9/1999 nhóm tác giả đã làm được Zeolite từ khoáng sét mà không cần dùng phương pháp nung ở nhiệt độ cao. Đề tài "Chuyển hóa vật liệu Zeolit từ khoáng sét thiên nhiên Việt Nam" của nhóm nghiên cứu Đại học Bách khoa, Hà Nội, đã làm nên một bước đột phá với sáu ứng dụng ban đầu, mở ra nhiều hướng đi mới cho phát triển kinh tế và cải tạo môi trường. Những ứng dụng của vật liệu Zeolite chuyển hoá từ khoáng sét. 1. Trong nuôi trồng thủy sản: Làm sạch hồ nuôi. Đã xây dựng các nhà máy ở Quảng Bình,Cần Thơ, Phú Yên. 12
  13. 2. Trong nông nghiệp: Cải tạo đất. Đã thử nghiệm trên vụ lúa hè - thu 2005 tại Thanh Hoá làm lợi khoảng 600 nghìn đồng/ha. 3. Trong chăn nuôi: Tăng sản lượng và chất lượng vật nuôi. Đang thử nghiệm quy mô chính quy. 4. Trong chế tạo nhiên liệu sạch: Tạo ra ethanol có nồng độ trên 99,5% từ cồn có nồng độ thấp. 5. Trong bảo vệ môi trường: Xử lý nước và không khí ô nhiễm. 6. Trong lọc - hóa dầu: Chất hấp phụ và chất xúc tác chuyển hóa hóa học. Ở Việt Nam việc ứng dụng Zeolite chủ yếu được ứng dụng trong ngành lọc hoá dầu, ngành nuôi trồng thuỷ sản, bảo vệ môi trường, trồng trọt, bước đầu ứng dụng trong chăn nuôi. Đề tài "Nghiên cứu ứng dụng cột hấp phụ bằng Zeolite vào xử lý nước sinh hoạt nông thôn bị nhiễm bẩn amôni" do sinh viên Đinh Đức Anh và Nguyễn Thị Thanh Huyền lớp Môi trường 48, Khoa Đất môi trường Trường Đại học Nông nghiệp I. Kết quả thu được rất khả quan, mẫu nước thu được cuối cùng có hàm lượng NH4+ còn lại là 2.25mg/l thấp hơn tiêu chuẩn cho nước sinh hoạt Việt Nam (3mg/l – TCVN 5502:2003). Tính khả thi của mô hình này còn ở chỗ cột hấp phụ này thiết kế đơn giản, khoáng dễ kiếm. Đề tài “Nghiên cứu và chọn lọc các nguồn kaolinite trong nước để tổng hợp vật liệu chứa zeolite, đồng thời xây dựng qui trình công nghệ bảo vệ môi trường thủy sản ở VN” do các sinh viên Nguyễn Khánh Diệu Hồng, Phạm Minh Hảo, Nguyễn Xuân Phi sinh viên khoa Công nghệ hóa học Trường ĐH Bách khoa Hà Nội. Đây là đề tài có tính kế thừa từ những nghiên cứu của TS Tạ Ngọc Đôn và GS.TSKH Hoàng Trọng Yêm. Zeolite còn được sử dụng để tách các ion kim loại nặng, amoni, các hợp chất hữu cơ độc hại trong nước thải và nước sinh hoạt. Sản phẩm đã được thử nghiệm để làm sạch nước Hồ Văn và cho kết quả tốt. Ngoài ra, đây cũng là vật liệu dùng trong chế tạo cồn tuyệt đối (do tính chất tách nước chọn lọc của zeolite), lọc hoá dầu (do tính chất hấp phụ và xúc tác), hoá dược và hoá chất bảo vệ thực vật. 13
  14. Trong nuôi tôm cá thâm canh, Zeolite được sử dụng nhằm mục đích làm giảm TAN (NH3 và NH4+) trong môi trường. Kết quả cho thấy Zeolite có tác dụng hấp thụ TAN tốt nhất trong môi trường nước ngọt, 1 g Zeolite có khả năng làm giảm 0,12 mg TAN. Độ mặn càng cao tác dụng hấp thụ TAN của Zeolite càng giảm. Zeolite có tác dụng làm tăng hàm lượng Oxy hoà tan. Sau 12 giờ xử lí, Zeolite không còn khả năng hầp thụ TAN [Luận văn cao học của Nguyễn Lê Hoàng Yến, Lớp Cao học Nuôi trồng Thủy Sản khoá 9, Trường Đại Học Cần Thơ]. Trung tâm công nghệ lọc hoá dầu đã nghiên cứu thành công hai loại phân nhả chậm trên cơ sở Zeolite: - Phân Urê nhả chậm Lượng Urê bón trực tiếp xuống đồng ruộng thường bị rửa trôi khoảng 40% còn cây trồng chỉ hấp thụ tối đa 60%. Họ đã tiến hành cho Urê hấp phụ vào trong khoang của Zeolite . Dưới tác dụng của môi trường bên ngoài Urê sẽ từ từ giải hấp. Điều này sẽ giúp cho cây trồng hấp thụ được Urê tránh được sự rửa trôi nhiều Urê như cách bón phân cổ điển. Ngoài ra các nguyên tố vi lượng cũng cần thiết cho cây trồng. Loại phân bón chứa Zeolite đã được ứng dụng trong vụ lúa hè thu 2005 trên 3.000m2 tại 3 huyện của tỉnh Thanh Hoá. Kết quả cho thấy loại phân này giúp làm lợi 300 - 600 nghìn đồng/ha so với đối chứng. Các nhà khoa học của Trường Đại học Bách khoa Hà Nội đã nghiên cứu thành công quy trình chế tạo các chất tạo phức có tên thương mại là BK- DO015 và BK-DO017 từ cao lanh. Đây là những loại hợp chất đáp ứng tốt cho việc kết tinh tạo ra các hỗn hợp Zeolit X, Y trong dung dịch. Trộn hai thành phần zeolit X, Y và đất sét (được khai thác tại huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang) vào hợp phần thức ăn chăn nuôi và phân bón sẽ tạo thành các sản phẩm BK-ZCR2, BK-ZAF2a, BK-ZAF3 sử dụng trong chăn nuôi lợn thịt và trồng các cây lúa, lạc mang lại hiệu quả kinh tế cao. Qua thử nghiệm trong chăn nuôi lợn thịt quy mô trang trại ở huyện Lạng Giang và trồng lúa, lạc tại huyện Hiệp Hòa từ năm 2007 đến nay cho thấy lạc vụ xuân thu lãi tăng thêm 14
  15. trên 2,6 triệu đồng/ha, lạc vụ đông thu lãi trên 1,3 triệu đồng/ha, năng suất thực thu tăng từ 4 - 6%; lúa xuân thu lãi tăng thêm trên 4,7 triệu đồng/ha, lúa mùa tăng thêm trên 1,4 triệu đồng/ha, năng suất tăng khoảng 2,6% so với khi chưa sử dụng sản phẩm công nghệ trên. Đối với lợn thịt, sử dụng BK-ZCR2 như một chất phụ gia trong thức ăn đã làm tăng thêm lợi nhuận từ trên 100.000 đồng đến hơn 330.000 đồng/đầu lợn, tiết kiệm được khoảng 4% tổng lượng thức ăn và điều quan trọng nhất là chất lượng thịt lợn tốt hơn, sạch hơn, an toàn hơn. Thời gian tới tỉnh Bắc Giang dự kiến sẽ ứng dụng rộng rãi công nghệ này trong chăn nuôi, trồng trọt bằng việc quy hoạch vùng nguyên liệu khoáng sét tại chỗ và xây dựng các dây chuyền sản xuất zeolit và các chất phụ gia chứa zeolit đạt công suất khoảng 3.000 tấn/năm.(Theo tin tức/Việt Nam) Trong chăn nuôi cũng đã có những nghiên cứu về tác dụng của Zeolite đối với vật nuôi. Đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng của Zeolite trong khẩu phần thức ăn đến năng xuất sinh trưởng, chất lượng thịt và một số chỉ tiêu sinh lý sinh hoá máu của lợn nuôi thịt trong điều kiện thức ăn và nuôi dưỡng ở Việt Nam” của các tác giả Trần Quốc Việt, Trịnh Vinh Hiển, Ninh Thị Len và Hoàng Hương Giang ở Bộ môn Nghiên cứu Dinh dưỡng và Thức ăn Chăn nuôi. Kết quả cho thấy bổ sung Zeolite trong khẩu phần không có premix khoáng vô cơ cho lợn thịt lai F2 ở mức 3 – 5 % không làm ảnh hưởng đến khả năng thu nhận thức ăn, tốc độ sinh trưởng, hiệu quả sử dụng thức ăn, các chỉ tiêu sinh hoá máu, làm giảm hàm lượng tồn dư một số kim loại nặng trong thịt nạc. Mức sử dụng 3% cho hiệu quả cao nhất. Theo ông Lê Bá Lịch - Hiệp hội thức ăn chăn nuôi Việt Nam thì Zeolite vừa dùng làm thức ăn bổ sung khoáng vi lượng nuôi dưỡng gia súc, gia cầm, nuôi trồng thuỷ sản, vừa làm chất độn chuồng nuôi gia cầm , gia súc, nó hút mùi hôi thối, diệt khuẩn, vừa làm chất lọc nước, sạch môi trường nuôi trồng thuỷ sản (Đặc san khoa học kỹ thuật thức ăn chăn nuôi - số 4/2004). 2.1.9. Các nghiên cứu và ứng dụng Zeolite trên Thế giới Từ năm 1956 Nhà địa chất Cronstede người Thuỵ Điển phát hiện ra khoáng chất Zeolite. Hiện nay trên Thế giới có hơn 40 loại Zeolite thiên 15
  16. nhiên. Nước đầu tiên sử dụng Zeolite trong chăn nuôi là Nhật Bản, rồi đến các nước Liên Xô cũ, Hoa Kỳ, những năm gần đây Trung Quốc sử dụng Zeolite tự nhiên rất phổ biến trong chăn nuôi và nuôi trồng thuỷ sản. Năm 1982 Gevorkyan và cộng tác viên đã đưa ra khuyến cáo nên bổ sung 3% Zeolite vào khẩu phần ăn. Năm 1984 Shurson và cộng tác viên đã đưa ra khuyến cáo bổ sung 5% Zeolite vào khẩu phần lợn sinh trưởng. Năm 1991 Ward và cộng và cộng tác viên đã nghiên cứu và đưa ra kết luận khi bổ sung Zeolite đã làm giảm hàm lượng các nguyên tố kim loại độc hại và làm tăng các nguyên tố vi lượng trong các sản phẩm chăn nuôi như thịt, trứng, sữa và một chừng mực nào đó làm cải thiện tốc độ sinh trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn. Năm 1993 Bernal và Lopez-real đã nghiên cứu và khẳng định khi bổ sung Zeolite vào khẩu phần ăn đã làm giảm hàm lượng N-NH3 và mùi thối trong phân. Theo IM, 12/2004 thì quặng zeolit thương mại ở Mỹ chứa 60 - 80% clipnotilolit (năng lực trao đổi cation, (CEC) là 1,0 - 1,6 mili đương lượng/ g) và có diện tích bề mặt từ 15 đến 60m2/gam. Zeolit tự nhiên chủ yếu được dùng để cung cấp thức ăn bổ sung cho gia súc, làm ổ cho súc vật, sử dụng trong thiết bị lọc nước, cải tạo đất và sản xuất nhiều loại sản phẩm hút ẩm. Công ty Teague Mineral ở phía Nam Oregon còn khai thác zeolite với diện tích bề mặt cao và hàm lượng kali cao dùng làm phụ gia thủy lực cho xi măng. Ưu điểm chính của chất phụ gia này là làm giảm lượng xi măng sử dụng và tăng độ rắn chắc của xi măng. Một ứng dụng quan trọng của khoáng chất zeolit này là kiểm soát mùi. * Ứng dụng trong thức ăn bổ sung cho gia súc Ở Mỹ, người ta bổ sung khoảng 1/2 pao zeolit mịn cho một tấn thức ăn gia súc hoặc 2 aoxơ/ đầu vật/ ngày. Zeolit được bổ sung vào thức ăn để làm phụ gia thực phẩm theo quy định liên bang. Các nghiên cứu trong 30 năm gần đây cho thấy, Zeolit có thể giúp điều tiết hoạt động của dạ dày ở bò sữa và bò thịt, tác động như chất liên kết 16
  17. các chất độc để vô hiệu hóa những tác động xấu của thức ăn mốc, cải thiện mức tăng trọng trung bình hàng ngày cho lợn sữa và gia cầm. Zeoltit có thể cải thiện chất lượng trứng và tuổi thọ của gà đẻ trứng, cải thiện môi trường bằng cách giảm mùi hôi, giảm sự thất thoát nitơ và tăng tỷ lệ đạm/lân trong phân bón. Hiện tại, các cơ quan Chính phủ Mỹ chưa chấp nhận những tuyên bố về ích lợi của zeolit trong thức ăn gia súc. Tuy nhiên, nhiều nhà sản xuất và các nhà nghiên cứu về dinh dưỡng đã chỉ ra các nghiên cứu lớn cho thấy các lợi ích khác nhau từ liên kết chất độc đến kiểm soát mùi vị. Theo kết quả điều tra ở Mỹ, ít nhất zeolit cũng phải có mặt trong khẩu phần thức ăn của vài trăm nghìn bò sữa và bò thịt. 1 - 2% nguyên liệu khô nguyên chất trong khẩu phần ăn được dùng để kiểm soát mùi vị và ô nhiễm môi trường khi nuôi động vật trong chuồng trại. Nếu chứng minh được đồng thời lợi ích về môi trường và hiệu quả chăn nuôi của Zeolit trong thức ăn, thì có thể dự báo sự tăng trưởng mạnh mẽ trong sản xuất và kinh doanh zeolit vài năm tới. Ngoài ra họ còn ứng dụng trong nhiều lĩnh vực khác như: Ứng dụng trong lọc nước, ứng dụng trong cải tạo đất…. 2.2. MỘT SỐ ĐẶC TÍNH SINH LÝ Ở LỢN CON Ở lợn con, do cấu tạo cũng như chức năng của các cơ quan, bộ phận cơ thể chưa hoàn chỉnh. Do đó môi trường ngoại cảnh có ảnh hưởng rất lớn đến cơ thể vật nuôi và vật nuôi chịu tác động mạnh mẽ của điều kiện ngoại cảnh và cùng với các vi sinh vật có trong đường ruột như E.coli, Salmonella, protozoa, Rotavius,… Nhân cơ hội này đã nhân lên mạnh trong ruột của lợn con. Vì vậy, làm mất sự cân bằng giữa vi sinh vật có lợi và vi sinh vật có hại, khi sức đề kháng của con vật giảm, tạo điều kiện cho vi sinh vật có hại phát triển mạnh mẽ để gây bệnh. Tuy nhiên tự bản thân nó không gây ra được bệnh, chỉ khi môi trường thay đổi là các vi sinh vật có hại ở đường ruột nhân cơ hội này phát triển làm con vật ỉa chảy mạnh. Các yếu tố liên quan gián tiếp 17
  18. là khí hậu, điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng, khẩu phần thức ăn thay đổi đột ngột làm mất đi sự cân bằng trong cơ thể, quá trình tiêu hoá bị rối loạn dẫn đến quá trình loạn khuẩn trong đường ruột. Đây là môi trường thuận lợi cho vi khuẩn có hại phát triển mạnh cả về số lượng và độc lực gây bệnh. 2.2.1. Đặc điểm tiêu hoá của lợn con Cơ quan tiêu hoá của lợn con phát triển rất nhanh nhưng chưa hoàn thiện. Phát triển nhanh thể hiện sự tăng lên về dung tích dạ dày, ruột non và ruột già. Nhưng cơ quan tiêu hoá của lợn con chưa được hoàn thiện là do một số men tiêu hoá thức ăn chưa có hoạt tính mạnh, nhất là ở 3 tuần tuổi đầu. Lúc đầu ở dạ dày nồng độ ion H+ rất thấp, thậm chí không có, khả năng diệt trùng rất thấp, sau một tháng HCl bắt đầu tiết ra sau một thời gian bú sữa làm nồng độ HCl bắt đầu tăng lên. Các tuyến tiêu hoá dần dần được phát triển và khả năng tiêu hoá tốt hơn. Nhìn chung bộ máy tiêu hoá của lợn con biến đổi theo tuổi, còn ở giai đoạn lợn con theo mẹ độ pH rất thấp ở dạ dày (Trần Cừ 1972) 2 tuần tuổi: pH= 2,82 9 tuần tuổi: pH= 4,96 Theo Đào Trọng Đạt, Lê Ngọc Mỹ, Phan Thanh Phương, Huỳnh Văn Kháng (1996), lợn con trên 14 - 16 ngày tuổi tình trạng thiếu axit HCl tự do trong dạ dày không còn là sự cần thiết cho sinh lý bình thường nữa. Do đó việc tập cho lợn con ăn sớm, đặc biệt là việc cai sữa sớm đã rút ngắn được giai đoạn thiếu HCl, hoạt hoá hoạt động miễn dịch, tạo khả năng xây dựng nhanh chóng các đáp ứng miễn dịch của cơ thể. 2.2.2. Đặc điểm thích nghi của lợn con Lợn con theo mẹ có những điểm yếu khiến lợn con thích ứng kém với môi trường: hệ thống enzym tiêu hoá chưa hoàn chỉnh, hệ thống miễn dịch chưa phát triển, điều hoà thân nhiệt kém, dự trữ năng lượng cơ thể rất ít, thiếu sắt. * Hệ thống enzyme tiêu hoá chưa hoàn chỉnh Ở lợn 15 - 21 ngày hệ thống enzyme chỉ thích ứng cho tiêu hoá sữa (chimozin, chimotripsin cho tiêu hoá protein sữa, lipaza cho lipid và lactaza 18
  19. cho lactoz). Bắt đầu từ 3 tuần, hoạt tính enzyme tiêu hoá. Vì vậy, việc cho lợn con tập ăn sớm sẽ kích thích sự phát triển đầy đủ các loại enzyme tiêu hoá * Hệ thống miễn dịch chưa phát triển Lợn con sơ sinh nhận từ sữa đầu một lượng kháng thể đặc hiệu (IgG) có hiệu quả trong 10 ngày đầu. Nhưng sự hấp thụ Immuglobulin của sữa đầu cũng giảm nhanh trong vòng 24 giờ sau khi sinh. Do đó tất cả các tác nhân, yếu tố hạn chế bú sữa đầu đều làm tăng tỷ lệ nhiễm bệnh, tỷ lệ tử vong sau khi sinh. Miễn dịch chủ động được thực hiện bắt đầu từ 3 tuần tuổi. * Điều hoà thân nhiệt kém Hệ thống thần kinh ở lợn con chưa phát triển, chưa có các phản xạ có điều kiện, khả năng điều tiết nhiệt ở đại não và các trung khu vỏ não là rất kém. Thân nhiệt ở gia súc non thường cao hơn ở gia súc trưởng thành và hay biến động. Khả năng giữ nhiệt ở da kém, thường thay đổi theo ngoại cảnh và khó thích nghi với điều kiện môi trường cho nên rất dễ bị cảm lạnh về mùa đông. Thân nhiệt ở lợn con dao động từ 39,5 - 40,5OC thường cao, còn ở lợn trưởng thành ổn định ở mức trung bình 38 - 40 OC. * Dự trữ năng lượng cơ thể rất ít Khi mới sinh, cơ thể lợn con chứa 80% nước và 20% chỉ có lipid, còn ở 3 tuần có 65% là nước và 12% là lipid. Ngoài chất dự trữ cơ thể là lipid còn có glycogen. Tổng năng lượng dự trữ (lipid + glycogen) khoảng 1000 - 1200 Kcal, chỉ tương đương với 1 lít sữa, năng lượng này chỉ đủ cho lợn con sống khoảng 2 ngày. Do đó đòi hỏi phải đảm bảo cho lợn con bú sữa sớm và giữ ấm. Vì năng lượng và các chất dinh dưỡng thu được đều được sử dụng vào việc cấu tạo cơ thể. Có thể nói con vật giai đoạn này rất dễ bị mắc bệnh. *Thiếu sắt Thiếu sắt dẫn tới thiếu máu do thiếu hàm lượng Hb (Hemoglobin) dẫn tới hạn chế khả năng sản sinh kháng thể. Hàm lượng huyết sắc tố trong máu của các loài gia súc khác nhau là khác nhau, và ngay trong cùng một giống thì hàm lượng cũng dao động lớn. 19
  20. Ngoài ra gia súc ở độ tuổi khác nhau thì số lượng hemoglobin cũng thay đổi. Qua nghiên cứu thấy số lượng hồng cầu và hàm lượng Hemoglobin (Hb) thấp ở lợn sơ sinh, sau đó tăng ở lợn 1 - 2 tháng tuổi, rồi lại giảm dần và ổn định ở lứa tuổi trưởng thành (Trần Cừ, Cù Xuân Dần 1979). Trong điều kiện nóng ẩm thì hàm lượng Hemoglobin (Hb) cũng tăng lên điều đó liên quan đến sự phân bố máu và tác dụng kích thích của nhiệt độ, ánh sáng mặt trời đến cơ quan tạo máu. Hàm lượng hemoglobin còn phụ thuộc vào chế độ dinh dưỡng và tình trạng sức khoẻ. Dự trữ sắt lúc mới sinh rất ít (60 - 70 mg ở gan), trong khi đó nhu cầu của cơ thể lợn tới 6 - 7 mg/ngày, mà lượng sắt ở sữa chỉ có 1mg/con/ngày. Điều đó cho thấy lợn con thiếu sắt, nhất là sau khi cai sữa. Do vậy việc bổ sung sắt là việc làm rất cần thiết trong chăn nuôi lợn nhằm tăng trọng nhanh, hạn chế bệnh lợn con ỉa phân trắng. 2.2.3. Hệ vi sinh vật đường ruột của lợn * Nhóm vi khuẩn định cư vĩnh viễn bao gồm: Eshcherichia coli, Salmonella, Shigella, Klebsiella, Proteus,… trong đó chủ yếu là nhóm vi khuẩn đường ruột “Enterobacteriaceae”. Enterobacteriaceae: là một họ vi khuẩn bao gồm các trực khuẩn Gram âm, sống trong đường tiêu hoá của người và gia súc, tồn tại trong phân rác, trong đất và thực vật. Enterobacteriaceae đại diện có: E.coli, Samonella, Shigella, Klebsiella, Proteus. Escherichia (E.coli): vi khuẩn luôn tồn tại trong đường tiêu hoá của người và gia súc, gia cầm. Đây là loại vi khuẩn phổ biến có mặt ở mọi nơi. Khi có điều kiện thuận lợi thì trong cơ thể các chủng E.coli trở lên cường độc gây bệnh cho gia súc, gia cầm. Cấu trúc kháng nguyên của E.coli rất phức tạp, có đủ ba loại kháng nguyên. Dựa vào cấu trúc kháng nguyên người ta xác định được 170 kháng nguyên: 80 kháng nguyên K, 56 kháng nguyên H và một số quyết định kháng nguyên F. Bệnh lợn con ỉa phân trắng do serotype O78, K88 gây ra ở lợn con 20

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản