Tiểu Luận: Thực trạng Cải cách Hành chính ở Việt Nam hiện nay.

Chia sẻ: anhvu

Nói về chương trình cải cách hành chính, tìm hiểu về cải cách hành chính, thực trạng, nguyên nhân và giải pháp. Cải cách hành chính là những thay đổi được thiết kế có chủ định nhằm cải tiến một cách cơ bản các khâu trong hoạt động quản lý của bộ máy Nhà nước: Lập kế hoạch, định thể chế, tổ chức, công tác cán bộ, tài chính chỉ huy phối hợp; Kiểm tra; thông tin và đánh giá.

Bạn đang xem 10 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: Tiểu Luận: Thực trạng Cải cách Hành chính ở Việt Nam hiện nay.

 

  1. KiÒu V¨n Cêng – QTVPK1LT Thực trạng Cải cách hành chính Việt Nam ––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––– TRƯỜNG CAO ĐẲNG NỘI VỤ HÀ NỘI KHOA QUẢN TRỊ VĂN PHÒNG –––––––––––––––––––––– TIỂU LUẬN Thực trạng Cải cách hành chính ở Việt Nam hiện nay Giáo viên hướng dẫn: Bùi Thị Ngọc Hiền Sinh viên: Kiều Văn Cường Lớp: QTVP K1 LT Hà Nội, 05 – 2008 1
  2. KiÒu V¨n Cêng – QTVPK1LT Thực trạng Cải cách hành chính Việt Nam ––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––– 2
  3. KiÒu V¨n Cêng – QTVPK1LT Thực trạng Cải cách hành chính Việt Nam ––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––– MỤC LỤC STT NỘI DUNG TRANG 1. Mục lục 1 2. LÒI MỞ ĐÀU 2 3. Phần I. Sự cần thiết Cải cách hành chính 4 1.Bối cảnh, yêu cầu của việc cải cách hành chính 4 2. Đường lối chủ chương của Đảng 4 3. Mối liên hệ cải cách hành chính với công cuộc cải 5 cách khác Phần II. THỰC TRẠNG CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH 7 I. Những nguyên tắc cơ bản và mục tiêu của CCHC 7 1. Những nguyên tắc cơ bản 7 2. Mục tiêu của CCHC 7 II. Nội dung của CCHC 8 1. Cải cách hành chính trong giai đoạn đầu 8 2. Chương trình CCHC tổng thể giai đoạn 2001 - 9 2010 10 2.1. Nội dung cải cách 10 2.2 Năm giải pháp thực hiện 11 2.3 Bảy chương trình hành động 11 3. Kết quả bước đầu và hạn chế 11 3.1 Cải cách thể chế hành chính 13 3.2 Tổ chức bộ máy hành chính. 15 3.3 Đổi mới nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ 16 3.4 Cải cách tài chính công 17 3.5 Ứng dụng CNTT vào cải cách hành chính 18 4. Trọng tâm công tác CCHC trong thời gian tới 4. KẾT LUẬN 22 3
  4. KiÒu V¨n Cêng – QTVPK1LT Thực trạng Cải cách hành chính Việt Nam ––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––– LỜI MỞ ĐẦU T rong thời kỳ hội nhập phát triển kinh tế hiện nay công cuộc cải cách hành chính là một trong những nhiệm vụ cấp thiết để thực hiện mục tiêu xây dựng một nền hành chính dân chủ, trong sạch vững mạnh, chuyên nghiêp lấy nhân dân làm gốc. Hành chính học là khoa học lấy quản lý hành chính làm đối tượng nghiên cứu chính, nghiên cứu các quy luật quản lý hiệu quả những công việc xã hội của các tổ chức hành chính nhà nước. Trong đó thì cải cách hành chính là nhiệm vụ trong tâm để phát triển kinh tế xã hội. Nghiên cứu đề tài Cải cách hành chính giúp em sẽ hiểu thêm về nền hành chính và thực trạng của việc Cải cách hành chính nước ta hiện nay. Cải cách hành chính là những thay đổi được thiết kế có chủ định nhằm cải tiến một cách cơ bản các khâu trong hoạt động quản lý của bộ máy Nhà nước: Lập kế hoạch, định thể chế, tổ chức, công tác cán bộ, tài chính chỉ huy phối hợp; Kiểm tra; thông tin và đánh giá. Theo nghĩa rộng thực chất của cải cách hành chính là cải cách bộ máy hành chính Nhà nước, chức văng và phương thức quản lý của nền hành chính, chế độ công vụ phân chia quyền lực hành pháp giữa trung ương và địa phương, những nguyên tắc chính trọng yếu, và phương thức hoạt động của nền hành chính phục vụ tốt nhất đời sống nhân dân và sự phát triển kinh tế- xã hội của đất nước Theo nghĩa hẹp cải cách hành chính là một quá trình thay đổi nhằm nâng cao hiệu lực và hiệu quả hành chính, cải tiến tổ chức, chế độ và phương pháp hành chính cũ, xây dựng chế độ và phương thức hành chính mới trong lĩnh vực quẩn lý của bộ máy hành chính Nhà nước. Căn cứ vào Nghị quyết hội nghị lần thứ VIII của BCH Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, cải cách hành chính ở nước ta được hiểu là: “ Trọng tâm 4
  5. KiÒu V¨n Cêng – QTVPK1LT Thực trạng Cải cách hành chính Việt Nam ––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––– của công cuộc tiếp tục xây dựng và kiện toàn Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, bao gồm những thay đổi có chủ định nhằm hoàn thiện: Thể chế của nền hành chính; cơ cấu tổ chức và cơ chế vận hành của bộ máy hành chính các cấp; và đội ngũ cán bộ công chức hành chính để nâng cao hiệu lực, năng lực và hiệu quả hoạt động của nền hành chính công phục vụ nhân dân. 5
  6. KiÒu V¨n Cêng – QTVPK1LT Thực trạng Cải cách hành chính Việt Nam ––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––– Phần II SỰ CẦN THIẾT CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH 1.Bối cảnh, yêu cầu của việc Cải cách hành chính Việt Nam những năm đổi mới đã đạt được những thành tựu bước đầu rất quan trọng, vượt qua nhiều khó khăn, thử thách, ổn định và phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững và tăng cường chính trị, đưa đất nước cơ bản ra khỏi tình trạng khủng hoảng. Theo Ngân hàng Thế giới (WORLD BANK) thì tăng trưởng hàng năm (GDP) của nước ta trong giai đoạn đổi mới tăng bình quân 8.2 % (1991 – 1995). Việt Nam đã phát triển mạnh mẽ quan hệ đối ngoại, mở rộng sự hợp tác nhiều mặt với các nước, nhất là trong khu vực và các nước công nghiệp phát triển. Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và viện trợ phát triển chính thức (ODA) liên tục tăng cao qua từng năm. Song song với cải cách kinh tế, Việt Nam đã thực hiện có kết quả một số đổi mới quan trọng trong hệ thống chính trị, tiến hành cải cách một bước nền hành chính quốc gia, tiếp tục xây dựng Nhà nước XHCN Việt Nam. Quá trình phát triển này có sự đóng góp không nhỏ của nền hành chính quốc gia tuy nhiên đã tỏ ra còn nhiều mặt non yếu, chưa thích hợp với những thay đổi nhanh chóng do kinh tế thị trường gây ra. Bộ máy nhà nước còn quá cồng kềnh , hiệu quả hoạt động chưa cao, nặng về quan liêu, cửa quyền, năng lực, phẩm chất cả một bộ phận công chức chưa tương xứng với những yêu cầu đó... 2. Đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước về Cải cách hành chính Quan điểm của Ðảng về cải cách nền hành chính nhà nước đã được thể hiện nhất quán trong các văn kiện Ðại hội đại biểu Ðảng toàn quốc lần thứ VI, VII, VIII, IX và trong các Nghị quyết của các Hội nghị Trung ương 2 và 8 (khóa VII), 3 và 7 (khóa VIII), 6 và 9 (khóa IX). Ðó là quá trình tìm tòi sáng tạo, đổi mới nhận thức liên tục, thống nhất được khởi đầu từ Ðại hội VI năm 1986 để hình thành các quan niệm và nguyên tắc cơ bản chỉ đạo công cuộc cải cách hành 6
  7. KiÒu V¨n Cêng – QTVPK1LT Thực trạng Cải cách hành chính Việt Nam ––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––– chính (CCHC) cũng như việc đề ra những nội dung, phương hướng, chủ trương, giải pháp thực hiện trong từng giai đoạn. Hội nghị lần thứ 8 tháng 01 năm 1995 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ra Nghị quyết: “Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước CH XHCN Việt Nam, trọng tâm là cải cách một bước nền hành chính”. Điều này được cụ thể hoá trong một loạt các văn bản quy phạm pháp luật của nhà nước như Nghị Quyết số 38-CP ngày 04 tháng 05 năm 1994 của Chính phủ; Quyết định số 136/2001/QĐ – TTg ngày 17 tháng 9 năm 2001 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt chương trình CCHC nhà nước giai đoạn 2001-2010. Quyết định số 181/2003/QĐ – TTg ngày 04 tháng 9 năm 2003 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Quy chế thực hiện “một cửa” tại cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương; ........ 3. Mối liên hệ của cải cách hành chính và công cuộc cải cách khác Cải cách hành chính không có mục đích tự thân mà là nhằm mục đích phục vụ, thúc đẩy sự phát triển ổn định và năng động của toàn xã hội, chủ yếu là triển khai thực hiện mục tiêu cơ bản là: Phát triển nền kinh tế quốc dân theo định hướng xã hội chủ nghĩa và hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Cải cách kinh tế là cải cách thể chế kinh tế thực chất của cải cách kinh tế là cải cách thể chế quản lý kinh tế của Chính phủ. Đây cũng là một trong những nội dung của cải cách hành chính. Cải cách hành chính là khâu mấu chốt, đảm bảo sự thành công của cải cách kinh tế luôn gắn liền với những thành tựu trong cải cách kinh tế, đổi mới hệ thống chính trị, cải cách pháp luật và tư pháp Cải cách hành chính trước hết là cải cách thể chế của nền hành chính, có mối liên hệ mật thiết phụ thuộc lẫn nhau với cải cách pháp luật và tư pháp. Những thay đổi trong cải cách hành chính cần phải được đảm bảo thực hiện 7
  8. KiÒu V¨n Cêng – QTVPK1LT Thực trạng Cải cách hành chính Việt Nam ––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––– bằng hệ thống pháp luật và nền tư pháp, chỉ có cải cách pháp luật mới tạo cơ sở pháp lý cho cải cách hành chính thành công Cải cách hành chính cũng chính là thể chế hoạt động của Nhà nước nói chung và trực tiếp là Chính phủ- một bộ phận cấu thành quan trọng của thể chế chính trị. Cải cách hành chính là một trong những bước đi góp phần làm đổi mới hệ thống chính trị nhưng vẫn phục tùng, phục vụ hệ thống chính trị, và giữ vững ổn định chính trị. 8
  9. KiÒu V¨n Cêng – QTVPK1LT Thực trạng Cải cách hành chính Việt Nam ––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––– Phần II THỰC TRẠNG CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH I. Những nguyên tắc cơ bản và mục tiêu của Cải cách hành chính 1. Những nguyên tắc cơ bản Xây dựng nền hành chính dân chủ xã hội chủ nghĩa phục vụ đắc lực cho nhân dân và giữ vững trật tự, kỷ cương xã hội theo pháp luật. Cải cách hành chình nhà nước là bộ phận trọng yếu của việc xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam, gắn với đổi mới và chỉnh đốn đảng. Cải cách hành chính gắn liền với cải cách cơ quan quyền lực, cơ quan tư pháp. Cải cách hành chính phải phục vụ đắc lực và thúc đẩy mạnh mẽ công cuộc đổi mới, phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường và theo định hướng XHCN, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Mọi chủ trương cải cách nền hành chính nhà nước đều phải xuất phát từ yêu cầu của cuộc sống, sát với điều kiện thực tế, giữ vững và phát huy truyền thống dân tộc, đồng thời vận dụng sáng tạo những kinh nghiệm của nền hành chính hiện đại thế giới. Cải cách hnàh chính nhằm xây dựng một nền hành chính dựa trên nguyên tắc tập trung dân chủ, nằm trong tổng thể hệ thống chính trị, trong đó nhân dân làm chủ thông qua Nhà nước. 2 Mục tiêu của cải cách hành chính Xây dựng một nền hành chính trong sạch vững mạnh, có đủ năng lực, sử dụng đúng quyền lực và từng bước hiện đại hoá để quản lý có hiệu lực và công việc của Nhà nước, thúc đẩy xã hội phát triển lành mạnh, đúng hướng, phục vụ đắc lực đời sống nhân dân, xây dựng nếp sống và làm việc theo pháp luật trong xã hội. 9
  10. KiÒu V¨n Cêng – QTVPK1LT Thực trạng Cải cách hành chính Việt Nam ––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––– “ Một nền hành chính dân chủ, trong sạch vững mạnh, chuyên nghiệp, hiện đại hoá, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả theo nguyên tắc của Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng” và đảm bảo xây dựng một “đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất và năng lực đáp ứng yêu cầu của công cuộc xây dựng, phát triển đất nước” (Quyết định số 136/2001/QĐ-TTg ngày 17 tháng 9 năm 2001 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính giai đoạn 2001 -2010). II. Nội dung của Cải cách hành chính 1. Cải cách hành chính trong giai đoạn đầu Thành phố Hồ Chí Minh với nhiều điều kiện thuận lợi về chủ quan, khách quan đã và đang có những lợi thế phát triển so với nhiều địa phương khác trong cả nước. Thành phố là một trung tâm lớn về kinh tế, khoa học kỹ thuật, giáo dục, văn hóa... là đầu mối giao thông cả về đường thủy, đường bộ, đường hàng không, có vị trí thuận lợi về giao lưu quốc tế. Trong quá trình phát triển, thành phố Hồ Chí Minh luôn được sự quan tâm của các cơ quan trung ương và các cấp lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Từ năm 1982, Nghị quyết 01 NQ/TƯ của Bộ Chính trị xác định thành phố Hồ Chí Minh có vị trí quan trọng sau thủ đô Hà Nội. Mặc dù có sự quan tâm như vậy nhưng hình như tiềm năng, thế mạnh, tinh thần năng động, sáng tạo của thành phố vẫn chưa được khai thác tốt nhất? Nhận ra điều đó, để đưa chủ trương cải cách hành chính của Đảng và Nhà nước vào cuộc sống, thành phố Hồ Chí Minh là địa phương đầu tiên trong cả nước thực hiện thí điểm cải cách hành chính ở lĩnh vực thủ tục hành chính theo mô hình "một cửa, một dấu", thành phố Hồ Chí Minh nhận thức trách nhiệm quan trọng của mình trong cải cách kinh tế và cải cách nền hành chính quốc gia. Cơ chế "một cửa" được hình thành trong quá trình thực hiện mục tiêu cải cách thủ tục hành chính, nhằm thay thế cho cơ chế "nhiều cửa" trong quan hệ giải quyết thủ tục hành chính giữa các cơ quan công quyền với người dân và các tổ chức chính trị - xã hội ; giữa các cơ quan công quyền với nhau. Mục tiêu của 10
  11. KiÒu V¨n Cêng – QTVPK1LT Thực trạng Cải cách hành chính Việt Nam ––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––– cơ chế "một cửa" là đơn giản hóa các thủ tục hành chính ; giảm bớt phiền hà, sách nhiễu của các cơ quan công quyền cũng như các cán bộ, công chức được ủy quyền ; bảo đảm công khai, rõ ràng, thông suốt quy trình giải quyết các thủ tục hành chính ; tiết kiệm công sức và chi phí, tăng cường sự giám sát của người dân đối với các cơ quan công quyền, công chức. Cơ chế "một cửa, một dấu" là bước khởi đầu nhằm chấn chỉnh lại hoạt động quản lý nhà nước trên địa bàn quận, huyện lâu nay đã trở nên cồng kềnh, nặng nề, kém hiệu quả, đặc biệt là trong lĩnh vực thủ tục hành chính. Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy chính quyền cấp quận, huyện sẽ thay đổi trên cơ sở phân định rõ chức năng quản lý nhà nước và hoạt động sự nghiệp, tiến tới cơ cấu lại tổ chức bộ máy của UBND cấp quận, huyện phù hợp với phương thức hoạt động mới, làm điểm tựa cho những bước cải cách tiếp theo. 2. Chương trình cải cách tổng thể giai đoạn 2001 -2010 2.1 Nội dung cải cách Cải cách thể chế -Xây dựng và hoàn thiện các thể chế, trước hết là thể chế kinh tế của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thể chế về tổ chức và hoạt động của hệ thống hành chính nhà nước. - Đổi mới quy trình xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật - Bảo đảm việc tổ chức thực thi pháp luật nghiêm minh của cơ quan nhà nước, của cán bộ, công chức. - Tiếp tục cải cách thủ tục hành chính Cải cách tổ chức bộ máy hành chính - Điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ của Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và chính quyền địa phương các cấp cho phù hợp với yêu cầu quản lý nhà nước trong tình hình mới. 11
  12. KiÒu V¨n Cêng – QTVPK1LT Thực trạng Cải cách hành chính Việt Nam ––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––– - Từng bước điều chỉnh những công việc mà Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và chính quyền địa phương đảm nhận để khắc phục những chống chéo, trùng lắp về chức năng, nhiệm vụ. Chuyển cho các tổ chức xã hội, tổ chức phi Chính phủ hoặc doanh nghiệp làm những công việc về dịch vụ không cần thiết phải do cơ quan hành chính nhà nước trực tiếp thực hiện. Đổi mới, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức - Đổi mới công tác quản lý cán bộ, công chức - Cải cách tiền lương và các chế độ, chính sách đãi ngộ - Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức - Nâng cao tinh thần trách nhiệm và đạo đức cán bộ, công chức Cải cách tài chính công - Đổi mới cơ chế phân cấp quản lý tài chính và ngân sách, bảo đảm tính thống nhất của hệ thống tài chính quốc gia và vai trò chỉ đạo của ngân sách Trung ương; đồng thời phát huy tính chủ động, năng động, sáng tạo và trách nhiệm của địa phương và các ngành trong việc điều hành tài chính và ngân sách. - Bảo đảm quyền quyết định ngân sách địa phương của Hội đồng nhân dân các cấp, tạo điều kiện cho chính quyền địa phương chủ động xử lý các công việc ở địa phương; quyền quyết định của các bộ, sở, ban, ngành về phân bổ ngân sách cho các đơn vị trực thuộc; quyền chủ động của các đơn vị sử dụng ngân sách trong phạm vi dự toán được duyệt phù hợp với chế độ, chính sách. 2.2 Năm giải pháp thực hiện - Tăng cường công tác chỉ đạo, điều hành. - Thực hiện cải cách hành chính đồng bộ với đổi mới hệ thống chính trị. - Thực hiện cải cách hành chính đồng bộ từ Trung ương tới địa phương. - Bố trí đủ nguồn tài chính và nhân lực. 12
  13. KiÒu V¨n Cêng – QTVPK1LT Thực trạng Cải cách hành chính Việt Nam ––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––– - Tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền. 2.3 Bảy chương trình hành động - Chương trình 1: “Đổi mới công tác xây dựng, ban hành và nâng cao chất lượng văn bản quy phạm pháp luật” do Bộ Tư pháp và Văn phòng Chính phủ chủ trì. - Chương trình 2: “Nghiên cứu xác định vai trò, chức năng và cơ cấu tổ chức của các cơ quan trong hệ thống hành chính nhà nước” giai đoạn I (2003- 2005) do Bộ Nội vụ và Văn phòng Chính phủ chủ trì. - Chương trình 3: “Chương trình tinh giản biên chế” do Bộ Nội vụ chủ trì - Chương trình 4: “Xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước giai đoạn I (2003-2005)” do Bộ Nội vụ chủ trì. - Chương trình 5: “Chương trình cải cách tiền lương” do Bộ Nội vụ chủ trì. - Chương trình 6: “Đổi mới cơ chế quản lý tài chính đối với các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công” do Bộ Tài chính chủ trì. 3. Kết quả bước đầu và hạn chế 3.1 Cải cách thể chế hành chính Cải cách thể chế được xác định là một trong những trọng tâm của CCHC nhà nước và đã đạt được kết quả tương đối thành công về xây dựng và điều chỉnh thể chế quản lý hành chính nhà nước trong điều kiện chuyển sang cơ chế kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập kinh tế quốc tế. Ðã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật quan trọng, tạo hành lang pháp lý cho sự phát triển kinh tế - xã hội và tổ chức hoạt động của các cơ quan trong hệ thống hành chính nhà nước các cấp. Trong đó, đã sửa đổi một số điều của Hiến pháp năm 1992, ban hành mới Luật Doanh nghiệp, Luật Ðầu tư, Luật Thương mại, Luật Ngân sách nhà nước, Luật Ðất đai (sửa đổi) và một số luật chuyên ngành khác để tạo thể chế kinh tế; đồng thời ban hành Luật Tổ chức Chính phủ, Luật Tổ 13
  14. KiÒu V¨n Cêng – QTVPK1LT Thực trạng Cải cách hành chính Việt Nam ––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––– chức HÐND và UBND, và xác lập thể chế vận hành của bộ máy Chính phủ, quy định lại chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của tất cả các bộ, ngành T.Ư để tạo đồng bộ về thể chế hành chí Cải cách thủ tục hành chính được tập trung thực hiện theo hướng đơn giản hóa, công khai, minh bạch và đã đem lại những kết quả tích cực. Ðã triển khai có kết quả quy định thực hiện ở các cấp hành chính cơ chế "một cửa" theo Quyết định 181/2003/QÐ-TTg nhằm tạo thuận lợi trong giải quyết các công việc của dân, thay đổi mối quan hệ giữa Nhà nước với công dân, doanh nghiệp, tổ chức và các nhà đầu tư theo hướng phục vụ, tạo sự liên thông giữa các cơ quan chức năng trong việc giải quyết các thủ tục hành chính và điều chỉnh chế độ làm việc, mối quan hệ công tác giữa các cơ quan hành chính nhà nước, được nhân dân và doanh nghiệp đánh giá cao (tính đến 31-12-2005). 100% cấp tỉnh, 98% cấp huyện và 78% cấp xã đã tổ chức triển khai cơ chế "một cửa". Cải cách, đơn giản hóa thủ tục hành chính gắn với việc thực hiện cơ chế “một cửa” đã được triển khai mạnh trong giai đoạn I và thu được những kết quả bước đầu tích cực. Đây là một trong những lĩnh vực được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đặc biệt quan tâm chỉ đạo trong cả quá trình cải cách. Kết quả sau 5 năm triển khai cho thấy, thủ tục hành chính trên hầu hết các lĩnh vực đều đã được rà soát, sửa đổi, ban hành mới theo hướng đơn giản hoá, thuận tiện cho người dân. Đặc biệt, thủ tục hành chính trên những lĩnh vực bức xúc, liên quan trực tiếp tới người dân và doanh nghiệp như đất đai, xây dựng, hộ tịch, hộ khẩu, đầu tư, đăng ký doanh nghiệp, hải quan, thuế, kho bạc, xuất nhập khẩu v.v… đã được rà soát nhiều lần, loại bỏ những thủ tục hành chính phức tạp, gây phiền hà, bước đầu tạo lập lại niềm tin của người dân và doanh nghiệp vào hoạt động phục vụ của các cơ quan công quyền (Trích Báo cáo Tổng kết việc thực hiện giai đoạn I (2001-2005) Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2010 và phương hướng, nhiệm vụ cải cách hành chính giai đoạn II (2006-2010) của Ban Chỉ đạo Cải cách hành chính Chính phủ). 14
  15. KiÒu V¨n Cêng – QTVPK1LT Thực trạng Cải cách hành chính Việt Nam ––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––– Về cơ bản, qua việc đổi mới cách thức, quy trình giải quyết các thủ tục hành chính đã có tác dụng trực tiếp làm giảm bớt phiền hà, chi phí, tiêu cực và thu được kết quả tích cực, được công dân, doanh nghiệp, dư luận xã hội đồng tình ủng hộ. Ðã có bước chuyển biến tích cực trong việc xác lập và tạo một hành lang pháp lý để thúc đẩy việc thực hiện xã hội hóa các hoạt động sự nghiệp dịch vụ công trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo, y tế, khoa học - công nghệ, vệ sinh - môi trường, văn hóa, thể thao. Qua đó, có tác dụng huy động các nguồn lực trong xã hội và nâng cao hiệu quả hoạt động của cả khu vực sự nghiệp dịch vụ công lập và ngoài công lập. Năm 2005 là năm thứ 3 liên tiếp, Việt Nam được đánh giá như một điểm sáng về nỗ lực cải thiện môi trường kinh doanh, là một trong nhóm 10 quốc gia có tốc độ cải cách nhanh nhất thế giới. Bên cạnh những kết quả và tiến bộ đã đạt được, vấn đề cải cách thể chế trong những năm qua vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế và bất cập. Một số thể chế cơ bản còn chậm được xây dựng, sửa đổi, hoàn thiện. Thủ tục hành chính cho dù được cải cách từ nhiều năm nay, nhưng nhìn chung vẫn phức tạp, phiền hà cho người dân, doanh nghiệp. Vẫn còn tồn tại khá phổ biến xu hướng cơ quan hành chính giành thuận lợi về cho mình, đẩy khó khăn về cho người dân gánh chịu trong giải quyết công việc của dân, doanh nghiệp. 3.2 Tổ chức bộ máy hành chính nhà nước Các cơ quan trong hệ thống hành chính nhà nước, từ Chính phủ, các bộ, UBND các cấp được điều chỉnh về chức năng phù hợp việc chuyển sang cơ chế kinh tế thị trường định hướng XHCN. Hướng cơ bản của sự điều chỉnh là Chính phủ, các bộ tập trung vào thực hiện chức năng quản lý nhà nước vĩ mô trong phạm vi cả nước đối với mọi lĩnh vực đời sống xã hội; dành nhiều thời gian, nguồn lực vào việc xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch; xây dựng và ban hành cơ chế chính sách; thanh tra, kiểm tra việc tổ chức thực hiện. Ngày càng phân định rõ hơn chức năng của Chính phủ, các bộ, ngành T.Ư và của UBND mỗi cấp trên địa bàn. 15
  16. KiÒu V¨n Cêng – QTVPK1LT Thực trạng Cải cách hành chính Việt Nam ––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––– Ðã thực hiện sự phân công, khắc phục dần sự chồng chéo chức năng, nhiệm vụ giữa các cơ quan cùng cấp theo nguyên tắc mỗi việc chỉ do một cơ quan phụ trách; làm rõ trách nhiệm của tổ chức và cá nhân người đứng đầu. Trên cơ sở đó có chuyển đổi cách thức thực hiện chức năng quản lý nhà nước và điều chỉnh lại phạm vi, đối tượng quản lý giữa các cơ quan hành chính nhà nước từ T.Ư đến địa phương. Có nhiều tích cực trong việc chỉ đạo thực hiện tách quản lý hành chính nhà nước với quản lý sản xuất kinh doanh và quản lý hoạt động sự nghiệp dịch vụ công. Qua đó, điều chỉnh lại chức năng của các cơ quan hành chính nhà nước với việc thực hiện cải cách doanh nghiệp và chuyển các tổ chức sự nghiệp dịch vụ công sang áp dụng cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm, có hiệu quả cao. Cùng với điều chỉnh chức năng, đã từng bước thực hiện phân cấp quản lý hành chính giữa T.Ư và địa phương, quy định rõ thẩm quyền cho từng cấp. Trên cơ sở định rõ chức năng để sắp xếp, điều chỉnh, thay đổi cơ cấu tổ chức bộ máy của Chính phủ theo nguyên tắc tổ chức bộ quản lý đa ngành, đa lĩnh vực trong phạm vi cả nước, nhưng có bước đi phù hợp năng lực, trình độ lãnh đạo, quản lý của cán bộ, công chức và phương tiện, điều kiện quản lý; đã bảo đảm yêu cầu thực hiện cải cách cơ cấu tổ chức bộ máy vừa có sự thay đổi và tinh gọn đầu mối, vừa tránh xáo trộn không cần thiết để có kế thừa, ổn định, phát triển và sự phù hợp khách quan tình hình thực tế. Các bộ, cơ quan ngang bộ đã được giảm xuống còn 26 và tiếp tục giảm xuống còn 22 cơ quan vào năm 2007. Các cơ quan thuộc Chính phủ từ 25 cơ quan (năm 1994) nay còn 13 cơ quan (năm 2005), giảm 12 cơ quan và hiện nay chỉ còn một số cơ quan. Tất cả các bộ được tổ chức lại theo mô hình quản lý đa ngành, đa lĩnh vực trong những năm CCHC vừa qua đều phát huy được vai trò, tác dụng tích cực; thực hiện được các chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước đối với các ngành, lĩnh vực được giao trong phạm vi cả nước, bao quát được các thành phần kinh tế hoạt động trong ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước. 16
  17. KiÒu V¨n Cêng – QTVPK1LT Thực trạng Cải cách hành chính Việt Nam ––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––– Trong kiện toàn tổ chức của UBND các cấp, đã giảm bớt đáng kể số lượng đầu mối các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh và cấp huyện so với trước thời kỳ thực hiện CCHC. Ở cấp tỉnh, các sở và tương đương đã thu gọn từ gần 30 đầu mối xuống còn 20 - 22 đầu mối; cấp huyện từ 16 - 17 đầu mối giảm xuống còn 10 - 12 đầu mối. Về cơ bản đã định hình được số cơ quan chuyên môn thuộc cơ cấu tổ chức "cứng" và một số cơ quan thuộc cơ cấu tổ chức "mềm" theo tiêu chí đặc thù của từng địa phương. Việc cải tiến phương thức hoạt động của Chính phủ đã theo hướng thống nhất quản lý vĩ mô trong việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại trong cả nước bằng hệ thống pháp luật, chính sách, quy hoạch, kế hoạch và các công cụ quản lý vĩ mô khác một cách đồng bộ, đã đem lại kết quả, hiệu quả hơn trong điều kiện có nhiều diễn biến phức tạp, khó khăn, trở ngại mới phát sinh trong nước và quốc tế. 3.3 Xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ, công chức 20 năm qua, đội ngũ cán bộ, công chức (CBCC) nước ta có sự phát triển cả về số lượng và chất lượng. Năm 1986, số lượng CBCC hành chính, sự nghiệp là 1,2 triệu người thì năm 2005 khoảng 1,5 triệu người. Những cải cách vừa qua tập trung nhiều vào nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC cả về phẩm chất và năng lực với kỹ năng hành chính mới, đáp ứng yêu cầu chuyển từ nhà nước "cai trị" sang nhà nước "phục vụ", đội ngũ CBCC là công bộc của dân; tích cực thay đổi phương thức quản lý CBCC theo yêu cầu CCHC. Ðã có bước chuyển trong quản lý, sử dụng CBCC với các nội dung cơ bản là: Với Pháp lệnh cán bộ, công chức sửa đổi năm 2003, tiếp tục có sự phân biệt rõ hơn đội ngũ cán bộ, công chức trong hệ thống chính trị nước ta: cán bộ qua bầu cử, công chức hành chính, viên chức sự nghiệp, cán bộ giữ chức vụ lãnh đạo trong doanh nghiệp nhà nước, cán bộ chuyên trách và công chức cấp xã. Hiện nay, Quốc hội đang thảo luận Dự thảo Luật Cán bộ công chức và sẽ 17
  18. KiÒu V¨n Cêng – QTVPK1LT Thực trạng Cải cách hành chính Việt Nam ––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––– sớm được thông qua góp phần tạo hành lang pháp lý hoàn chỉnh hơn nữa trong tổ chức bộ máy nhà nước. + Xây dựng và áp dụng chức danh, tiêu chuẩn các loại CBCC trong bộ máy hành chính, các tổ chức sự nghiệp. Tiến hành phân cấp quản lý biên chế hành chính, biên chế sự nghiệp nhà nước và thực hiện cơ chế quản lý mới đối với biên chế sự nghiệp, thực hiện cơ chế hợp đồng đối với biên chế sự nghiệp để tạo quyền tự chủ về nguồn nhân lực và thay đổi cơ cấu công chức, viên chức cho các đơn vị sự nghiệp. + Ðổi mới công tác tuyển dụng CBCC chuyển từ phương thức xét tuyển sang phương thức thi tuyển, để lấy người có trình độ vào làm việc trong cơ quan quản lý nhà nước, đồng thời chú ý đến các vùng sâu, vùng xa, đối với đội ngũ cán bộ, giáo viên đã có những vận dụng phù hợp trong tuyển dụng, kết hợp thi tuyển và xét tuyển. Áp dụng chế độ thi tuyển lãnh đạo như thành phố Đã Nẵng đã làm với một số chức danh. + Ðổi mới công tác quản lý CBCC và thực hiện việc đánh giá CBCC thường kỳ vào cuối năm. Ban hành các chính sách, thể chế về bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, luân chuyển CBCC. Thực hiện Nghị quyết số 11 của Bộ Chính trị về đánh giá, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại có thời hạn và luân chuyển cán bộ lãnh đạo quản lý đã được cụ thể hóa tại Quyết định số 27/2003/QÐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ để thi hành thống nhất trong cả nước; đã phân cấp thẩm quyền, trách nhiệm quản lý cán bộ, công chức nhà nước; từng bước tách rõ công chức hành chính công quyền với viên chức sự nghiệp. - Ði đôi với việc sắp xếp tổ chức, thực hiện tinh giản biên chế, tiến hành rà soát, phân loại CBCC, thay đổi cơ cấu và nâng cao chất lượng của đội ngũ CBCC trước yêu cầu nhiệm vụ mới. - Thực hiện một số cải cách về tiền lương để tạo động lực cho CBCC nâng cao hiệu quả làm việc và phù hợp tăng trưởng kinh tế. So với tháng 12- 18
  19. KiÒu V¨n Cêng – QTVPK1LT Thực trạng Cải cách hành chính Việt Nam ––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––– 1993, đến nay sau 10 năm mức lương tối thiểu đã được điều chỉnh tăng thêm 141,7%. 3.4 Cải cách tài chính công Việc cải cách trên lĩnh vực tài chính công được triển khai tích cực nhằm đổi mới cơ chế quản lý tài chính đối với cơ quan hành chính nhà nước và đơn vị sự nghiệp, từng bước tạo cơ chế tài chính thích hợp đối với mỗi loại cơ quan, coi đó như là yếu tố thúc đẩy cải cách thể chế và cải cách tổ chức bộ máy hành chính. Phân cấp quản lý tài chính công theo Luật Ngân sách nhà nước định rõ thẩm quyền về ngân sách của bốn cấp chính quyền (T.Ư, tỉnh, huyện và xã), tạo cơ sở pháp lý cho việc thực hiện cải cách tài chính công theo yêu cầu mới. Chính phủ cũng ban hành một loạt các cơ chế tài chính như Quyết định số 192/2001/QĐ-TTg ngày 17 tháng 12 năm 2001 của Thủ tướng về việc mở rộng thí điểm khoán biên chế và kinh phí quản lý đối với cơ quan hành chính nhà nước; trong đó, một số cơ chế tài chính tạo bước đột phá trong quản lý các đơn vị sự nghiệp có thu, cơ chế khoán biên chế và kinh phí quản lý hành chính cho các cơ quan hành chính nhà nước, cơ chế đấu thầu, cơ chế hợp đồng một số loại công việc trong cơ quan nhà nước cho khu vực tư nhân thực hiện. Tác dụng của những cơ chế tài chính có tính cải cách này đã dẫn đến thay đổi cơ bản mối quan hệ giữa cơ quan quản lý nhà nước đối với đơn vị sự nghiệp, từng bước xóa bỏ tình trạng "hành chính hóa" các hoạt động sự nghiệp. Nhiều bộ, cơ quan T.Ư và địa phương tích cực chỉ đạo, triển khai thực hiện việc giao quyền tự chủ tài chính cho các đơn vị sự nghiệp có thu và mở rộng thí điểm khoán biên chế và kinh phí hành chính đối với các cơ quan hành chính nhà nước. Qua việc áp dụng cơ chế khoán này, và kinh phí hoạt động đã có tác dụng không chỉ về mặt tài chính và giảm áp lực tăng biên chế, mà còn tự tạo ra được những định mức biên chế hợp lý cho mỗi loại cơ quan. 19
  20. KiÒu V¨n Cêng – QTVPK1LT Thực trạng Cải cách hành chính Việt Nam ––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––– 3.5 Ứng dụng công nghệ thông tin vào Cải cách hành chính Ngoài ra Chính phủ còn áp dụng Hệ thống quản lý chất lượng (theo ISO: 9000-2001) bước đầu đã được nghiên cứu ứng dụng trong hoạt động của các cơ quan hành chính. Tính đến nay đã có khoảng 150 cơ quan hành chính xây dựng và triển khai hệ thống này, trong đó có khoảng 30 cơ quan được cấp giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn. Điều quan trọng qua áp dụng hệ thống là tạo lập một phương pháp làm việc khoa học, xác định rõ công việc cần làm, chủ thể thực hiện.(Báo Nhân dân). Bước đầu hình thành hệ thống thông tin điện tử của Chính phủ, bao gồm Trung tâm tích hợp dữ liệu của các bộ, các tỉnh, mạng cục bộ (LAN) của mỗi cơ quan thuộc cơ cấu bên trong của các bộ, các tỉnh, mạng diện rộng liên kết hệ thống tin học của bộ, tỉnh. Hệ thống thông tin điện tử đã bắt đầu đưa vào vận hành các dịch vụ cơ bản như thư điện tử, các phần mềm ứng dụng tin học hoá quản lý nhà nước. Cổng thông tin điện tử Chính phủ đã được xây dựng và đưa vào hoạt động; đang tiến hành thử nghiệm tin học hoá quy trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở tại thành phố Hải Phòng, Đằ Nẵng; tin học hoá quy trình cấp giấy phép xây dựng tại Hải Dương, Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí Minh; tin học hoá cấp đăng ký kinh doanh tại Thừa Thiên Huế, Hà Tây, Cần Thơ v.v… Xác định Chính phủ điện tử là nền tảng của công cuộc cải cách. Chính phủ tăng cường làm việc qua môi trường mạng trong năm 2008, tiến hành họp giao ban định kỳ thông qua Cổng điện tử, chuyển giao các văn bản giấy tờ qua mạng thay vì phương pháp truyền thống. Chính phủ phấn đấu đến năm 2010, bỏ thói quen dùng công văn, tài liệu giấy. Ngày 20 tháng 02 năm 2008 Cổng Thông tin hành chính phục vụ 24h/24h thông qua đầu số điện thoại 19001715 do tổ chức ActionAid Việt Nam tài trợ với sự thực hiện của Bộ Nội vụ và Tập đoàn Markcom. Cổng thông tin đã cập nhật hơn 91 thủ tục hành chính với ba loại tiếng Kinh, Thái, Mông 20
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản