Tiểu luận "Thực trạng công tác quản lý đăng ký khai sinh"

Chia sẻ: ajcphuong

Trong các loại giấy tờ tùy thân, Giấy khai sinh là loại giấy tờ được cơ quan Nhàn nước có thẩm quyền cấp sớm nhất cho một con người. Đối với mỗi người sau khai có giấy khai sinh – hộ tịch gốc – người đó có đủ quyền, nghĩa vụ theo pháp luật đối với Nhà nước và xã hội. Tất cả những thông số có liên quan đến cuộc đời cá nhân luôn bắt đầu từ hộ tịch gốc này. Với tầm quan trọng đó, nếu trong quá trình thực hiện có sai sót mà không được phát hiện kịp thời sẽ gây khó khăn...

Bạn đang xem 7 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: Tiểu luận "Thực trạng công tác quản lý đăng ký khai sinh"

A. PHẦN MỞ ĐẦU
Trong các loại giấy tờ tùy thân, Giấy khai sinh là loại giấy tờ
được cơ quan Nhàn nước có thẩm quyền cấp sớm nhất cho một
con người. Đối với mỗi người sau khai có giấy khai sinh – hộ tịch
gốc – người đó có đủ quyền, nghĩa vụ theo pháp luật đối với Nhà
nước và xã hội. Tất cả những thông số có liên quan đến cuộc đời
cá nhân luôn bắt đầu từ hộ tịch gốc này.
Với tầm quan trọng đó, nếu trong quá trình thực hiện có sai
sót mà không được phát hiện kịp thời sẽ gây khó khăn cho công tác
quản lý cũng như khắc phục, sửa chữa sai sót, và đặc biệt sẽ gây ra
không ít những phiền hà cho công dân trong việc thống nhất giấy tờ
quan trọng khác sau này: hồ sơ đi học, xin việc làm hay xuất ngoại
….
Nhận rõ tầm quan trọng của giấy tờ “hộ tịch gốc” đối với
công tác quản lý cũng như gắn với quyền lợi chính đáng của mỗi
công dân, Đảng, Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp luật
liên quan tới công tác đăng ký và quản lý hộ tịch mà mới đây nhất là
: Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ về
đăng ký và quản lý hộ tịch (thay thế Nghị định số 83/1998NĐ-CP
ngày 10/10/1998), và một số văn bản ban hành kèm theo hướng dẫn
thi hành Nghị định 158
Nhìn chung mảng đề tài về công tác đăng ký và quản lý hộ
tịch nói chung từ trước tới nay đã có nhiều học giả tập trung nghiên
cứu và đạt được những kết quả đáng khích lệ nhưng xét một cách
khách quan, những đề tài đó còn mang tầm vĩ mô chưa sát hợp vào
địa phương cụ thể. Với tư cách là sinh viên đang được nghiên cứu
về khía cạnh này em xin mạnh dạn đưa ra những ý kiến của mình
về công tác đăng ký và quản lý hộ tịch.
Do thời gian có hạn và kiến thức bản thân còn hạn chế em
chỉ xin đi sâu nghiên cứu mảng quản lý đăng ký khai sinh cho trẻ
trên địa bàn xã Yên Đồng (Ý Yên - Nam Định) giai đoạn (2008-
2009). Thông qua nội dung nghiên cứu này em xin khái quát về thực
trạng công tác quản lý đăng ký khai sinh trên địa bàn xã, từ đó đưa
ra những giải pháp, kiến nghị nhằm tăng cường hơn nữa công tác
quản lý đăng ký khai sinh của xã, đồng thời hướng tới khắc phục
những hạn chế, tháo gỡ những khó khăn mắc phải trong quá trình
quản lý đăng ký khai sinh trên địa bàn xã.
Vấn đề em nghiên cứu khó tránh khỏi những thiếu sót. Sự
quan tâm chỉ bảo của thầy cô là bài học kinh nghiệm quý báu giúp
em hoàn thiện về nhận thức.
Em xin chân thành cảm ơn!
Tiểu luận được chia làm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của công tác quản lý đăng ký khai
sinh cấp cơ sở.
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý đăng ký khai sinh xã
Yên Đồng (2008-2009).
Chương 3: Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản
lý đăng ký khai sinh của xã Yên Đồng (2008-2009).

Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUÂN CUA CÔNG TAC QUAN LÝ ĐĂNG KÝ ̣ ̉ ́ ̉
KHAI SINH Ở CÂP CƠ SỞ ́
1.1. Môt số khai niêm cơ ban ̣ ́ ̣ ̉
1.1.1 Khai niêm câp cơ sơ ́ ̣ ́
Câp cơ sơ là đơn vị hanh chinh nhỏ nhât trong hệ thông hanh
́ ̀ ́ ́ ́ ̀
chinh bôn câp ở nước ta. Đây là nơi thực hiên chủ trương, đường lôi
́ ́ ́ ̣ ́
cua Đang và chinh sach phap luât cua Nhà nước. Nghị quyêt Hôi
̉ ̉ ́ ́ ́ ̣ ̉ ́ ̣
nghị lân thứ 5 Ban châp hanh Trung Ương Đang Công san Viêt Nam
̀ ́ ̀ ̉ ̣ ̉ ̣
khoa IX đã chỉ rõ “câp cơ sở xa, phường, thị trân là nơi tuyêt đai bộ
́ ́ ̃ ́ ̣ ̣
phân nhân dân cư tru, sinh sông. Hệ thống chinh trị cở sở có vai trò
̣ ́ ́ ́
quan trong trong viêc tổ chức, vân đông nhân dân thực hiên đường
̣ ̣ ̣ ̣ ̣
lôi, chinh sach cua Đang, phap luât cua Nhà nước, tăng cường đai
́ ́ ́ ̉ ̉ ́ ̣ ̉ ̣
đoan kêt toan dân, phat huy quyên lam chủ cua nhân dân, huy đông
̀ ́ ̀ ́ ̀ ̀ ̉ ̣
moi khả năng phat triên kinh tế - xã hôi, tổ chức cuôc sông công đông
̣ ́ ̉ ̣ ̣ ́ ̣ ̀
dân cư”.
Từ những nôi dung trên có thể khai quat về chinh quyên câp
̣ ́ ́ ́ ̀ ́
cơ sở như sau:
 Câp cơ sở là câp xa, phường, thị trân, là đơn vị hanh
́ ́ ̃ ́ ̀
chinh lanh thổ nhỏ nhât.
́ ̃ ́
 Câp cơ sở là câp hanh chinh thâp nhât trong hệ thông hanh
́ ́ ̀ ́ ́ ́ ́ ̀
chinh cua nước ta.
́ ̉
1.1.2. Quan lý xã hôi câp cơ sơ ̉ ̣ ́
Quan lý xã hôi câp cơ sơ là sự tac đông băng quyên lực nhà
̉ ̣ ́ ́ ̣ ̀ ̀
nước và băng cac thiêt chế xã hôi khac điêu chinh cac quá trinh xã
̀ ́ ́ ̣ ́ ̀ ̉ ́ ̀
hôi ở cơ sở và hanh vi cua con người nhằm duy trì trật tự xã hội ổn
̣ ̀ ̉
định xã hội ở cấp cơ sở.
1.1.3. Khái niệm về Đăng ký khai sinh (ĐKKS)
 Giấy khai sinh (GKS)
Quyền được khai sinh là một trong những quyền nhân thân
quan trọng của mỗi người được pháp luật quy định và bảo vệ.
Điều 29 (Bộ luật Dân sự nước Việt Nam) quy định: Quyền
được khai sinh
Cá nhân khi sinh ra có quyền được khai sinh.
Điều 7(Công ước Liên hiệp quốc về quyền trẻ em) quy định:
“Trẻ em phải được đăng ký ngay lập tức sau khi sinh ra và có
quyền có họ tên, có quốc tịch và trong chừng mực có thể, có quyền
được biết cha mẹ mình và được cha mẹ mình chăm sóc”.
Nguyên tắc 3 trong Tuyên ngôn của Liên Hiệp Quốc về
quyền trẻ em năm 1959 ghi nhận: “Trẻ em sinh ra có quyền được
khai sinh”.
Ngoài ra quyền được khai sinh của trẻ cũng được quy định
trong Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em Việt Nam: “Trẻ em
có quyền được khai sinh và có quốc tịch” (khoản 1, điều 5).
Có thể nói, quyền được khai sinh là quyền đầu tiên khẳng
định mỗi trẻ em là một công dân một quốc gia, một công dân bình
đẳng như mọi công dân khác.
Sự quan trọng của GKS thể hiện:
- Điều 5 Nghị Định 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 về
đăng ký và quản lý hộ tịch có hiệu lực từ ngày 1/4/2006 khẳng định
“GKS là giấy tờ hộ tịch gốc của mỗi cá nhân. Mọi hồ sơ, giấy tờ
của cá nhân có nội dung ghi về: họ tên, chữ đệm, ngày tháng năm
sinh, giới tính, dân tộc, quốc gia, quê quán, quan hệ cha mẹ, con
phải phù hợp với GKS của người đó”.
- GKS là một “chứng từ gốc” của con người khi mới sinh
ra, làm cơ sở cho việc cấp các giấy tờ tùy thân khác, xác định các
mối quan hệ ràng buộc về mặt pháp lý của con người trong quá
trình sống.
 Đăng ký khai sinh
Là việc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ghi nhận sự kiện
pháp lý liên quan tới nhân thân của một cá nhân.
Nghị định số 36/2005/NĐ-CP ngày 17/03/2005 của Chính phủ
về …quy định:
- Cha mẹ, người giám hộ có trách nhiệm khai sinh cho trẻ
em đúng thời hạn. Việc khai sinh cho trẻ em được thực hiện theo
quy định của pháp luật về đăng ký hộ tịch.
- UBND xã, phường, thị trấn (gọi chung UBND cấp xã)
có trách nhiệm thực hiện đăng ký khai sinh cho trẻ; vận động cha
mẹ, người giám hộ khai sinh cho trẻ em đúng thời hạn. Trong
trường hợp thiếu hồ sơ, thủ tục, người có thẩm quyền đăng ký
khai sinh phải hướng dẫn, không được gây phiền hà đối với người
đi khai sinh.
- Cán bộ hộ tịch tư pháp có trách nhiệm giúp UBND cấp
xã tiếp nhận hồ sơ, xác minh, kiểm tra, làm thủ tục ĐKKS; thường
xuyên kiểm tra, ĐKKS kịp thời; phổ biến, vận động nhân dân chấp
hành các quy định của pháp luật về hộ tịch; thực hiện việc báo cáo
tình hình; sử dụng biểu mẫu theo quy định, lưu trữ sổ sách, hồ sơ
về ĐKKS. Đối với những khu vực có điều kiện đi lại khó khăn,
người dân còn bị chi phối bởi những phong tục tập quán, cán bộ hộ
tịch tư pháp phải có loichj định ký đến tận nhà dân để ĐKKS cho
trẻ em.
- Trẻ em của hộ nghèo không phải nộp lệ phí ĐKKS.
UBND cấp xã xác định gia đình thuộc diện hộ nghèo theo quy định
chuẩn nghèo hiện hành được áp dụng trong từng thời kỳ.
- Cơ quan dân số, gia đình và trẻ em các cấp chủ trì, phối
hợp với cơ quan tư pháp cùng cấp tuyên truyền hướng dẫn, giúp đỡ
cha mẹ, người giám hộ để họ khai sinh cho trẻ đúng thời hạn.
Vai trò việc ĐKKS:
Không ĐKKS thì trẻ thật khó có thể được hưởng những dịch
vụ thiết yếu như: chăm sóc y tế, giáo dục và hỗ trợ pháp lý.
Việc không có giấy khai sinh cũng phủ nhận quyền bầu cử,
ứng cử, tham gia các tổ chức, đoàn thể xã hội …
Trẻ em không được ĐKKS rất dễ bị xâm hại và bị đối xử tệ,
trở thành nạn nhân của nạn buôn người, mại dâm, cưỡng ép tảo
hôn ….
1.1.4. Khái niệm quản lý ĐKKS
Đây là công việc quan trọng, diễn ra hàng ngày, hàng giờ ở
mọi nơi mọi lúc.
Là việc chính quyền cấp cơ sở dựa trên quyền lực công quản
lý sự kiện pháp lý liên quan sự kiện sinh của các công dân trên địa
bàn mình quản lý.
1.2. Vai trò của công tác quản lý ĐKKS
Công tác quản lý ĐKKS có vai trò to lớn đối với Nhà nước,
xã hội và bản thân mỗi cá nhân.
1.2.1. Đối với Nhà nước, xã hội
Hoạt động quản lý ĐKKS ngày càng khẳng định vị trí, vai trò
trong tiến trình xây dựng một xã hội phát triển và được Chính phủ
xác định là một trong những lĩnh vực trong tâm trong xây dựng nền
hành chính phục vụ.
Thể hiện sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, các đoàn thể, các
cấp chính quyền tới người dân mà ở đây là những mầm non - chủ
nhân tương lai của đất nước.
Đảm bảo quyền được khai sinh của đứa trẻ và nghĩa vụ trách
nhiệm phải đi khai sinh cho con em mình của bậc cha mẹ và những
người thân khác.
Tạo điều kiện thuận lợi trong hoạt động quản lý dân cư trên
địa bàn cả nước cũng như từng địa phương để từ đó có biện pháp,
kế hoạch phát triển kinh tế xã hội, ổn định dân số, chính sách y tế -
giáo dục, an ninh quốc phòng phù hợp đảm bảo quyền lợi ích hợp
pháp của cá nhân gia đình.
Phát hiện những sai sót, khó khăn trong công tác đăng ký,
quản lý khai sinh của các cấp chính quyền từ đó có giải pháp,
phương hướng giải quyết kịp thời.
Là căn cứ phát sinh quyền, nghĩa vụ pháp lý của một cá nhân
với tư cách là công dân của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam: xác định tuổi được hưởng những phúc lợi xã hội dành cho
trẻ; xác định tuổi đi học; phát sinh quyền nghĩa vụ cơ bản của công
dân trên các lĩnh vực đặc biệt quyền được tham gia bầu cử, ứng cử
của công dân; thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước và xã hội…
Tạo trật tự xã hội ổn định hướng tới mục tiêu “xây dựng dân
giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”
1.2.2. Đối với bản thân công dân
Đây là quyền cơ bản của công dân được pháp luật bảo vệ và
quy định rõ tại Điều 29 Bộ Luật Dân sự của nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam
Công dân được hưởng quyền, lợi ích chính đáng của mình
thông qua hệ thống chính sách của Đảng, pháp luật Nhà nước.
Đồng thời đó cũng là căn cứ làm phát sinh các nghĩa vụ khác của
công dân với Nhà nước và xã hội.
Đánh dấu sự kiện pháp lý về sự sinh của một cá nhân. Nếu
không có sự quản lý ĐKKS thì công dân nghiễm nhiên bị tước
những quyền chính đáng mà Nhà nước ghi nhận: quyền đi học,
khám chữa bệnh miễn phí cho trẻ em tại các cơ sở y tế Nhà nước,
quyền bầu cử, ứng cử …
Đặc biệt với trẻ em cha mẹ mất sớm nếu không có công tác
đăng ký và quản lý ĐKKS thì rất có thể em đó sẽ không biết cha
mẹ mình là ai, tên tuổi, năm sinh thế nào, như thế rất thiệt thòi cho
đứa trẻ.
Việc quản lý ĐKKS đó cũng tạo thuận lợi khi cá nhân đánh
mất các giấy tờ tùy thân khác hay muốn xin cấp lại GKS bản gốc
hay bản sao căn cứ vào hồ sơ lưu trữ cán bộ tư pháp hộ tịch sẽ giải
quyết đơn giản hơn.
1.3. Nội dung quản lý ĐKKS cấp cơ sơ
Chính quyền cơ sở thực hiện ĐKKS theo thẩm quyền của
cấp mình quản lý. Thẩm quyền ĐKKS của cấp xã được quy định
cụ thể tại Nghị Định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 và nhiều
văn bản quy phạm pháp luật khác.
Tuyên truyền, phổ biến, vận động nhân dân từ biết, đến
hiểu, làm đúng các quy định của pháp luật về ĐKKS
Quản lý, sử dụng sổ ĐKKS, biểu mẫu ĐKKS theo quy định
của Bộ Tư pháp.
Thực hiện công tác lưu trữ và quản lý giấy tờ sổ sách, biểu
mẫu liên quan tới công tác khai sinh.
Cấp bản sao GKS từ sổ ĐKKS.
Căn cứ vào quy định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
tiến hành cải chính, bổ sung, thay đổi những nội dung liên quan tới
GKS: họ tên đệm, ngày tháng năm sinh, dân tộc, địa điểm thường
trú, cha, mẹ, nghề nghiệp của công dân khi yêu cầu của họ là chính
đáng và có căn cứ pháp luật.
Tổng hợp, thống kê số liệu về tình hịnh ĐKKS ở địa phương
cho UBND huyện theo định kỳ (6 tháng một lần).
Giải quyết khiếu nại tố cáo của công dân, có biện pháp xử lý
nghiêm minh với những hành vi vi phạm.
 Nội dung công tác ĐKKS
- Căn cứ pháp lý
Quyết định 01/2006/QĐ-BTP về việc ban hành sổ hộ tịch,
biểu mẫu hộ tịch.
Thông tư 01/2008/TT-BTP hướng dẫn thực hiện một số quy
định của Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính
phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch.
Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 về đăng ký và
quản lý hộ tịch.
- Về thẩm quyền ĐKKS:
UBND cấp xã, nơi cư trú của người mẹ thực hiện việc
ĐKKS cho trẻ em.
Nếu không xác định được nơi cư trú của người mẹ, thì
UBND xã, nơi cư trú của người cha thực hiện việc ĐKKS.
Trong trường hợp không xác định được nơi cư trú của cả cha
lẫn mẹ, thì UBND cấp xã, nơi trẻ em đang sinh sống trên thực tế
thực hiện việc ĐKKS.
Trẻ em bị bỏ rơi thì ĐKKS tại UBND cấp xã, nơi cư trú của
người đang tạm thời nuôi dưỡng đứa trẻ đó.
- Về thời hạn đăng ký khai sinh
Trong vòng 60 ngày, kể từ ngày sinh con, cha, mẹ có trách
nhiệm đi khai sinh cho con. Nếu cha mẹ không thể đi khai sinh cho
con thì ông, bà hoặc những người thân thích khác đi khai sinh cho
trẻ em.
- Về thủ tục đăng ký
Nộp giấy chứng sinh (theo mẫu quy định). Giấy chứng sinh
ra cơ sở y tế, nơi sinh trẻ em cấp; nếu trẻ em sinh ra ngoài cơ sở y
tế, thì Giấy chứng sinh được thay bằng văn bản xác nhận của
người làm chứng. Trong trường hợp không có người làm chứng, thì
người đi khai sinh phải làm giấy cam đoan về việc sinh là có thực.
Xuất trình Giấy chứng nhận kết hôn của cha mẹ trẻ em (nếu
có). Trong trường hợp cán bộ hộ tịch biết rõ về quan hệ hôn nhân
của cha mẹ trẻ em, thì không bắt buộc phải xuất trình Giấy chứng
nhận kết hôn.
Cán bộ hộ tịch tư pháp sau khi kiểm tra các giấy tờ, nếu
thấy hợp lệ thì tiến hành ghi vào Sổ ĐKKS và bản chính GKS, chủ
tịch UBND cấp xã ký và cấp cho người đi khai sinh một bản chính
GKS. Bản sao GKS được cấp theo yêu cầu của người đi khai sinh.
Trong trường hợp khai sinh cho con ngoài giá thú, nếu không
xác định được người cha, thì phần ghi về người cha trong Sổ
ĐKKS để trống. Nếu vào thời điểm ĐKKS có người nhận con, thì
UBND cấp xã kết hợp giải quyết việc nhận con và ĐKKS.
B. PHẦN NỘI DUNG
Chương 2
THỰC TRANG CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐĂNG KÝ
KHAI SINH TẠI XÃ YÊN ĐỒNG
(2008-2009)
2.1. Khái quát chung về Yên Đồng
Xã Yên Đồng là một xã nằm ở phía Nam huyện Ý Yên, thuộc
tỉnh Nam Định với diện tích đất tự nhiên là 7071,6 ha, dân số
14,625 người.
Phía Bắc giáp xã Yên Thắng, phía Tây giáp xã Yên Khang,
phía Đông và phía Đông Nam giáp xã Yên Nhân, phía Tây Nam giáp
xã Yên Trị cùng thuộc huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định.
Xã gồm 8 thôn: Tiến Thắng, Khang Giang, Cốc Dương, La
Ngạn, An Hạ, Đại Duyệt, Đồi, An Trung.
Xã Yên Đồng là nơi dân cư đông đúc, kinh tế khá phát triển
và có nhiều di tích lịch sử như chợ Nấp, nhà thờ Nấp, phủ Nấp, có
công trình thủy lợi lớn là cống Mỹ Tho, trạm bơm Ấp Bắc.
Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ, chính quyền cũng
như các đoàn thể, tổ chức chính trị xã hội nhân dân trong xã tích cực
hưởng ứng, thực thi các quy định của pháp luật trên tất cả mọi lĩnh
vực trong đó có lĩnh vực tư pháp mà cụ thể ở đây là công tác đăng
ký và quản lý hộ tịch.
2.2. Thực trạng công tác quản lý ĐKKS của xã Yên Đồng
(2008 -2009)
2.2.1. Thành tựu
Quản lý hộ tịch nói chung và quản lý ĐKKS nói riêng là
nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên của chính quyền các cấp nhằm
theo dõi thực trạng và sự biến đổi về dân số, trên cơ sở đó bảo hộ
các quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, gia đình, đồng thời góp
phần xây dựng các chính sách kinh tế, an ninh quốc phòng, dân số,
kế hoạch hóa gia đình.
Sau Cách mạng tháng 8/1945, việc quản lý hộ tịch nói chung
và quản lý ĐKKS nói riêng đã được Nhà nước tổ chức lại theo các
thông tư hướng dẫn của Bộ Nội Vụ và Bộ Tư Pháp. Tiêu biểu nhất
là điều lệ đăng ký hộ tịch kèm theo Nghị định số 764/1956/NĐ-CP
ngày 08/5/1956 và hiện nay là văn bản điều chỉnh về đăng ký hộ
tịch là Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính
phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch.
Sau 7 năm tổ chức thi hành Nghị định số 83/1998/NĐ-CP,
những cố gắng của toàn bộ hệ thống tổ chức, quản lý và đăng ký
hộ tịch từ trung ương tới địa phương đã tạo được những bước
chuyển biến tích cực trong công tác đăng ký và quản lý hộ tịch nói
chung quản lý ĐKKS nói riêng.
Việc ban hành Nghị định số 158 chính phủ đã khẳng định
quyết tâm thực hiện xây dựng hệ thống quản lý hộ tịch chuyên
nghiệp, hiệu quả, đảm bảo đăng ký và quản lý “kịp thời, đầy đủ,
chính xác” mọi sự kiện phát sinh trong đời sống.
Với tinh thần đó, ban tư pháp xã phối hợp với UBND xã thực
hiện công tác quản lý đăng ký giấy khai sinh trên địa bàn mình quản
lý cụ thể:
Về công tác tuyên truyền, ban tư pháp xã đã tham mưu cho
UBND xã xây dựng kế hoạch thực hiện tổ chức triển khai, quán
triệt nội dung các văn bản luật do Nhà nước ban hành liên quan tới
công tác đăng ký và quản lý hộ tịch cho các lãnh đạo chủ chốt của
Đảng, chính quyền, cán bộ chuyên môn có liên quan, hiệu trưởng
các trường đóng trên địa bàn xã, cán bộ các ban ngành, đoàn thể, bí
thư chi bộ, trưởng thôn, ban chi ủy các thôn, làng …, đồng thời chỉ
đạo, củng cố, kiện toàn cán bộ tư pháp hộ tịch, trang bị phương
tiện, kỹ thuật làm việc phục vụ cho công tác hộ tịch nói chung và
quản lý ĐKKS nói riêng, niêm yết công khai các thủ tục và mức lệ
phí, bố trí kịp thời cán bộ tiếp dân, giải quyết các yêu cầu về
ĐKKS cho công dân.
Xác định rõ đây là vấn đề liên quan trực tiếp tới đời sống của
cán bộ, nhân dân trên địa bàn xã, ban tư pháp còn phối hợp với Hội
Phụ nữ, ngành Công an, cơ sở giáo dục, trạm y tế … đẩy mạnh
công tác tuyên truyền cho cán bộ và nhân dân trong địa bàn xã
bằng nhiều hình thức, với nhiều nội dung phong phú đa dạng: phát
thanh trên đài truyền thanh xã (2 lần/ tuần vào buổi sáng), tổ chức
các cuộc nói chuyện, hội thảo, chuyên đề tuyên truyền quy định
của pháp luật về đăng ký và quản lý ĐKKS tới người dân.
Nhờ thực hiện tích cực công tác tuyên truyền tới người dân
về vai trò quan trọng của việc ĐKKS cho trẻ, công tác quản lý
ĐKKS ngày càng đi kỷ cương, nề nếp. Tính trong 2 năm (2008-
2009) trên địa bàn xã đã tiến hành cấp giấy khai sinh cho 479 trẻ
em, trong đó đăng ký đúng hạn là 452 cháu (chiếm 93,52% tổng số
sinh), quá hạn là 13 cháu (chiếm 2,50%), đăng ký lại 14 trường hợp
(chiếm 2,92%), con ngoài giá thú 9 cháu (chiếm 0,02%), trong giá
thú là 470 cháu.
Để đánh giá rõ hơn thành tựu đạt được trong công tác quản lý
ĐKKS cho trẻ trên địa bàn xã chúng ta sẽ đi so sánh kết quả đạt
được những năm trước khi ban hành Nghị định số 158/2005/NĐ-CP
và sau khi ban hành nghị định này. Cụ thể ở đây so sánh số liệu năm
(2008-2009) so với năm (2004-2005)
Tổng số Đăng ký Đăng ký Đăng ký
sinh đúng hạn quá hạn lại
Năm 420 376 39 5
(2004-2005)
Năm 479 452 13 14
(2008-2009)

Bảng thống kê công tác quản lý ĐKKS xã Yên Đồng (2004-2009)

Qua bảng thống kê trên ta thấy:
-Trẻ em được ĐKKS đúng hạn trong hai năm (2008-2009)
(chiếm 54,49%) tăng so với giai đoạn (2004-2005) (chiếm 45,51%)
tăng 7,26%.
-Số trẻ em đăng ký quá hạn giảm 26 trẻ (ứng 25%)
-Số trẻ đăng ký lại tăng 9 trường hợp so với giai đoạn (2004-
2005)
Sở dĩ có tình trạng trên bởi:
Việc ban hành Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày
27/12/2005 về đăng ký hộ tịch đã quy định đầy đủ, chi tiết và ưu
việt hơn trong việc khai sinh cho trẻ. Nếu như trước đây theo Nghị
định 83/1998/NĐ-CP ngày 10/10/1998 về đăng ký hộ tịch, thì thẩm
quyền ĐKKS được quy định tại nơi có hộ khẩu thường trú, tạm trú
của người mẹ nên gây ra nhiều vướng mắc cho việc ĐKKS, đặc
biệt khi không xác định rõ nơi cư trú của người mẹ hoặc quá xa so
với nơi ở hiện tại nên tỷ lệ trẻ đăng ký quá hạn còn chiếm tỷ lệ
cao trong tổng số trẻ được ĐKKS (2004-2005: 9,29%). Theo quy
định mới thẩm quyền cấp giấy khai sinh thuộc UBND cấp xã, nơi
cư trú của người mẹ; nếu không xác định được nơi cư trú của
người mẹ, thì UBND cấp xã nơi cư trú của người cha thực hiện
việc ĐKKS. Việc mở rộng thẩm quyền ĐKKS cho trẻ theo nơi cư
trú theo nghị định 158 đã góp phần làm tăng tỷ lệ trẻ đăng ký đúng
hạn, giảm tỷ lệ đăng ký quá hạn trong 2 năm (2008-2009) so với
năm (2004-2005).
Cũng theo quy định mới việc khai sinh, nếu không có giấy
chứng sinh của trẻ thì chỉ cần giấy cam đoan của người đi khai sinh
và xuất trình giấy chứng nhận kết hôn của cha mẹ (nếu có).
Như vậy, vơi việc thực thi Nghị định 158, nếu cha mẹ không
thể đến các cơ quan chức nămg để khai sinh cho con thì ông bà,
hoặc những người thân thích khác có thể khai sinh cho trẻ. Bên
cạnh đó, Nghị định còn tạo cơ sở pháp lý cho việc cấp lại bản
chính giấy khai sinh, con nuôi được đổi GKS… tạo điều kiện thuận
lợi đảm bảo cho trẻ được khai sinh đúng hạn, giảm phiền hà, rắc
rối khi phải thực hiện thủ tục qua nhiều khâu trung gian.
Số trẻ em đăng ký khai sinh lại giai đoạn (2008-2009) tăng so
với giai đoạn (2004-2005) bởi: so với quy định trước đây thì việc
khai sinh đã giảm bớt những yêu cầu về sổ hộ khẩu hoặc giấy
đăng ký tạm trú của người mẹ, đồng thời giảm bớt các điều kiện
đối với người làm chứng cho việc sinh của trẻ. Nếu quá thời hạn
60 ngày, GKS cũng vẫn được cấp nhưng ghi vào đó là đăng ký quá
hạn. Với quy định thông thoáng như thế tạo điều kiện thuận lợi
giúp những gia đình ở xa không có người thân tại nơi cư trú hoặc
do điều kiện không về được ĐKKS cho con em họ đồng thời bảo
vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho đứa trẻ được sinh ra.
Với việc ban hành Nghị định 158/2005/NĐ-CP thay thế cho
Nghị định 83/1998/NĐ-CP về đăng ký hộ tịch, những quy định, sửa
đổi quan trọng trong việc phân công, phân cấp, đơn giản hóa thủ
tục hành chính trong ĐKKS cho trẻ đã tạo điều kiện thuận lợi cho
cả người dân lẫn cán bộ tư pháp hộ tịch trong việc cấp GKS và
quản lý ĐKKS.
Về cán bộ tư pháp: thời gian qua, đội ngũ cán bộ tư pháp hộ
tịch xã thường xuyên được tập huyến chuyên sâu về nghiệp vụ (1
lần/năm) nhằm nâng cao trình độ chuyên môn của cán bộ, đồng thời
dưới sự chỉ đạo của phòng tư pháp huyện, UBND phối hợp với các
xã lân cận tổ chức những buổi thảo luận, chuyên đề, cuộc thi tìm
hiểu pháp luật về quản lý hộ tịch vừa trang bị, trau dồi kiến thức
cho cán bộ tư pháp hộ tịch đồng thời bàn luận tháo gỡ những
vướng mắc gặp phải trong quá trình thực thi nhiệm vụ được Đảng,
chính quyền, nhân dân giao phó.
Cũng với sự giúp đỡ của phòng tư pháp huyện, UBND xã đã
cung cấp đầy đủ các loại sổ sách, biểu mẫu giấy khai sinh mới,
loại dấu (theo quy định mới của Nghị định 158) phục vụ cho công
tác quản lý ĐKKS.
Công tác thống kê tư pháp hộ tịch thực hiện thường xuyên (6
tháng/lần), chính xác tạo điều kiện thuận lợi cho việc quản lý cũng
như ban hành chính sách kinh tế, chính trị, xã hội, an ninh quốc
phòng trên địa bàn xã.
Việc lưu trữ thực hiện tốt, có cơ sở khoa học, đã trang bị một
máy vi tính phục vụ cho công tác thống kê và kiểm tra hộ tịch, việc
giải quyết khiếu nại tố cáo những hành vi sai trái của cán bộ, công
dân được tiến hành kịp thời, tạo niềm tin của cán bộ, công dân với
hoạt động quản lý của UBND.
Nhìn chung thời gian qua, được sự quan tâm chỉ đạo của
UBND tỉnh Nam Định, UBND huyện Ý Yên, đặc biệt là sự chỉ đạo
của UBND xã, công tác quản lý ĐKKS xã đã có nhiều chuyển biến
tịch cực, góp phần tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, tạo điều
kiện thuận lợi chính quyền, ban ngành, bộ phận chuyên môn xã xây
dựng, hoạch định những chính sách phát triển kinh tế - xã hội, an
ninh quốc phòng, kế hoạch hóa gia đình, phù hợp với yêu cầu khách
quan của xã, đáp ứng nhu cầu nguyện vọng nhân dân.
2.2.2. Hạn chế
Thứ nhất, nhiều trẻ em sinh ra vẫn chưa được ĐKKS luôn
theo quy định của pháp luật (60 ngày sau khi trẻ em sinh ra)
Thứ hai, tình trạng khai sinh quá hạn vẫn còn nhiều (13
trường hợp)
Thứ ba, quy định của pháp luật:
Thực hiện việc đăng ký và quản lý GKS theo quy định tại
Nghị định số 158 ngày 27/12/2005 của Chính phủ đã tháo gỡ được
nhiều vướng mắc mà Nghị định số 83 ngày 10/10/1998 chưa giải
quyết được tuy nhiên vẫn còn một số vướng mắc dưới đây cần
phải điều chỉnh và hướng dẫn kịp thời.
 Quy định không rõ ràng về thẩm quyền giải quyết
ĐKKS dẫn tới tình trạng khó áp dụng. Nếu chấp nhận cho trẻ khai
sinh tại nơi mẹ thường trú sẽ xảy ra trường hợp một người có tới
2 GKS do hai nơi khác nhau cấp.
 Quyền được khai sinh là quyền của trẻ em đã được Luật
Dân sự bảo vệ và công ước Liên hiệp quốc công nhận nhưng với
trường hợp trẻ em sinh ra tại các trại giam thì phần ghi các thông
tin cho trẻ tiến hành ra sao? Nếu ghi đúng nơi sinh là “trại giam …”
và người đi khai sinh là “cán bộ quản giáo” thì ảnh hưởng rất lớn
cho tương lai của đứa trẻ. Đấy là chưa tính tới việc không xác định
được nơi cư trú của cha (mẹ) đứa trẻ hoặc xác định được nhưng đã
bị xóa đăng ký thường trú.
 Việc đăng ký quá hạn, tại khoản 1 điều 44 Nghị định số
158/2005/NĐ-CP của Chính phủ ngày 27/12/2005 quy định thì trong
trường hợp những người đã thành niên ĐKKS quá hạn cho mình thì
có thể đăng ký tại UBND cấp xã nơi có thẩm quyền ĐKKS theo
quy định của pháp luật tài điều 13 Nghị định này hoặc UBND cấp
xã nơi người đó cư trú.
Quy định này là chưa phù hợp với thực tế vì theo quy định
của pháp luật về giáo dục thì phải đi học mới được cấp văn bằng,
chứng chỉ và khi đi học phải có giấy khai sinh để xác định họ tên,
tuổi … và theo quy định của pháp luật về cư trú thì khi đi đăng ký
hộ khẩu thường trú phải xuất trình giấy khai sinh.
 Mẫu giấy khai sinh quá sơ sài, đặc biệt phần nội dung
khai về cha mẹ lại không hề có thông tin cha mẹ làm nghề gì, bao
nhiêu tuổi, quê quán ở đâu … mà vẻn vẹn chỉ có họ tên cha mẹ
“dân tộc Kinh, quốc tịch Việt Nam” là hết. Với cách khai như vậy
thì việc “tên trùng tên” là điều khó tránh khỏi …. Sau này lúc các bé
lớn lên không biết rõ quê quán cha mẹ ở đâu, lúc sinh ra mình cha
mẹ bao nhiêu tuổi, làm nghề gì, ngụ ở đâu …. Với thông tin chung
chung về cha mẹ như thế rất khó khăn phân biệt về dõng dõi, thân
thế. Nói chung GKS mới được cải tiến hóa ra lại quá sơ sài, gây
phiền hà cho nhân dân, dẫn tới tình trạng nhiều người dân phải thủ
sẵn trong người những giấy tờ tùy thân khác sẵn sàng bổ sung cho
những nội dung còn thiều trong GKS. Nhiều người nhận xét “GKS
trước đây đúng kích thước, nội dung kê khai đầy đủ, nay được cải
tiến nhưng lại dở hơn”
Chưa hết, quy định ĐKKS còn chưa xác định rõ việc khai dân
tộc cho trẻ thì phải theo dân tộc cha hoặc mẹ; việc ghi quê quán thì
phải theo quê nội, nơi sinh của cha hay nơi thường trú của cha mẹ;
nơi sinh của đứa trẻ nên ghi là tỉnh, thành phố hay tên bệnh viện
nơi đứa trẻ sinh ra.
Thứ tư, một số cơ quan, đơn vị, và bản thân người dân chưa
nhận thức được tầm quan trọng của việc đăng ký và quản lý ĐKKS
nên chưa có sự quan tâm, chỉ đạo thực hiện, công tác phối hợp giữa
các cơ quan liên quan trong việc giải quyết sai sót hồ sơ giấy tờ
liên quan tới khai sinh.
Thứ năm, công tác phổ biến, giáo dục tuyên truyền pháp
luật, trợ giúp pháp lý về đăng ký và quản lý khai sinh chưa thực sự
sâu rộng dẫn tới số lượng khai sinh chậm, quá hạn vẫn còn nhiều,
tình trạng cải chính ngày càng tăng, gây khó khăn cho công tác quản
lý, điều tra dân số.
Thứ sáu, cán bộ tư pháp hộ tịch quá tải công việc trong khi
trình độ, năng lực của một số cán bộ tư pháp hộ tịch còn hạn chế,
chưa có cán bộ hộ tịch chuyên trách phần lớn chưa được đào tạo,
bồi dưỡng nghiệp vụ lại hay thay đổi công tác nên việc lưu giữ sổ
sách, giấy tờ liên quan khai sinh không đảm bảo.
Thứ bảy, công tác báo cáo thống kê tư pháp hộ tịch không
thường xuyên, thiếu chính xác, một số nơi dùng biểu mẫu, sổ sách
không thống nhất với quy định pháp luật.
Thứ tám, việc ghi chép không đầy đủ nội dung, dữ kiện
trong GKS và Sổ ĐKKS, nơi sinh trong GKS chỉ ghi địa danh xã và
còn viết tắt; trong sổ đăng ký không ghi tên, chức vụ của người cấp
GKS, họ tên, chữ ký của cán bộ tư pháp hộ tịch và không có chữ ký
của người đi khai sinh; cột ghi chú không ghi đăng ký quá hạn, đăng
ký lại, ghi chưa chính xác về quan hệ giữa người đi khai với người
đăng ký sự kiện khai sinh.; tẩy xóa, ghi không thống nhất màu mực,
không thực hiện ghi chú, không đóng dấu; không thống nhất giữa
GKS và Sổ ĐKKS, gây rắc rối không nhỏ cho công dân sau này
Thứ chín, nhiều cán bộ cố tình thu thêm lệ phí, đòi hỏi
những giấy tờ trái với quy định pháp luật gây phiền hà cho dân
chúng.
Thứ mười, thủ tục rườm rà gây khó khăn cho công dân
2.2.3. Nguyên nhân ưu khuyết điểm
2.2.3.1. Ưu điểm
Thành tựu UBND xã Yên Đồng đạt được trong công tác quản
lý ĐKKS như trên là sự tổng hợp của các nguyên nhân:
Đảng, Nhà nước kịp thời ban hành những quy định mới của
pháp luật cụ thể ở đây là Nghị định 158/2005/NĐ-CP ngày
27/12/2005 về đăng ký hộ tịch và Thông tư số 01/2008/TT-BTP
ngày 02/6/2008 của Bộ Tư Pháp hướng dẫn thi hành thực hiện một
số quy định của Nghị định 158/2005/NĐ-CP, Thông tư liên tịch số
11/2008/TTLT-BTP ngày 31/12/2008 của Bộ Tư Pháp, Bộ Ngoại
giao hướng dẫn thi hành thực hiện một số quy định của Nghị định
158/2005/NĐ-CP. Những văn bản pháp luật đó đã tạo điều kiện
tháo gỡ những vướng mắc, thủ tục rườm rà trong việc cấp và quản
lý ĐKKS cho cán bộ cũng như người dân khi đi ĐKKS.
Sự quan tâm chỉ đạo của Đảng, chính quyền tỉnh, huyện, xã,
của cán bộ tư pháp hộ tịch tới công tác quản lý ĐKKS.
Nhờ thực hiện tốt công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục ý
thực pháp luật cho người dân, giải thích cho người dân hiểu được
vai trò quan trọng của GKS, cũng như những quyền lợi chính đáng
con em họ được hưởng, từ đó làm nâng cao ý thức của người dân,
khiến người dân tự giác trong việc đi ĐKKS cho trẻ.
Công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát đôn đốc nhân dân cũng
như cán bộ tư pháp hộ tịch được tiến hành một cách sát sao, minh
bạch và thường xuyên nên việc ý thức ĐKKS và quản lý ĐKKS của
người dân và cán bộ tăng lên rõ rệt.
2.2.3.2. Khuyết điểm
Quy định của pháp luật chưa chặt chẽ, chưa xác định rõ ràng
về thẩm quyền của các cơ quan, xảy ra tình trạng các cơ quan ỷ
nại nhau không chịu giải quyết cho công dân.
Dân trí thấp, người dân không hiểu rõ tầm quan trọng của
việc đăng ký và quản lý GKS nên một số người làm mất giấy khai
sinh, đi đăng ký chậm, không đúng thời hạn theo quy định của pháp
luật gây khó khăn cho hoạt động quản lý của cán bộ.
Cán bộ tư pháp hộ tịch năng lực có hạn, chủ yếu làm dựa
theo kinh nghiệm chứ không phải qua đào tạo, có trình độ bằng cấp
chuyên môn luật, không đủ năng lực trình độ thực hiện công việc
được giao, gây tồn đọng công việc; tinh thần trách nhiệm của cán
bộ tư pháp hộ tịch còn kém, chưa nhiệt tình với công việc, ghi
thiếu, ghi sai trong GKS và Sổ ĐKKS.
Cơ sở vật chất, điều kiện làm việc của ban tư pháp, cán bộ
tư pháp hộ tịch còn nhiều khó khăn, hạn chế, chưa khơi dậy lòng
nhiệt tình hăng hái làm việc
Kinh phí phân bổ cho hoạt động đào tạo, tập huấn cho cán bộ
tư pháp hạn hẹp nên trình độ chuyên môn nghiệp vụ cán bộ tư pháp
hộ tịch thấp.
Công tác vận dộng tuyên truyền, trợ giúp pháp lý và quản lý
khai sinh chưa sâu rộng.
Công tác thanh tra, kiểm tra tiến hành chưa chặt chẽ.
Những nguyên nhân dẫn tới hạn chế trên đây đã được Đảng,
Nhà nước, chính quyền địa phương, cán bộ tư pháp hộ tịch phát
hiện và đang có những hướng giải quyết phù hợp nhằm nâng cao
hơn nữa hiệu quả quản lý của chính quyền cơ sở.
Chương 3
GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CÔNG TÁC QUẢN LÝ
ĐKKS TẠI XÃ YÊN ĐỒNG
(2008-2009)
Nhìn chung công tác quản lý ĐKKS cho trẻ trên địa bàn xã
Yên Đồng trong 2 năm (2008-2009) tuy vẫn còn mắc phải nhiều
hạn chế nhưng đánh giá một cách tổng thể thì thành tựu vẫn là cơ
bản. Để phát huy hơn nữa những thành tựu đã đạt được và khắc
phục những khó khăn trong cấp GKS và quản lý ĐKKS, Đảng, Nhà
nước nói chung là chính quyền, cán bộ tư pháp hộ tịch xã nói riêng
cần tập trung vào những vấn đề sau:
 Đảng, Nhà nước cần ban hành hệ thống pháp luật hoàn
chỉnh, có sự phân công, phân cấp rõ ràng giữa các cơ quan, quy định
rõ hơn thẩm quyền trách nhiệm của UBND nơi cư trú và thường trú
của công dân tránh tình trạng ỷ lại, đùn đẩy trách nhiệm gây khó
khăn cho công dân khi đi tiến hành đăng ký khai sinh cho con em
mình.
Có chế tài xử phạt với những việc làm sai quy định pháp
luật của cán bộ tư pháp cũng như những công dân lợi dụng kẽ hở
pháp luật tiến hành khai báo sai sự thật.
Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra giám sát kịp thời
phát hiện những sai sót của pháp luật về công tác đăng ký và quản
lý hộ tịch từ đó điều chỉnh cho phù hợp
 Các cấp, các ngành tăng cường hơn nữa công tác tuyên
truyền, phổ biến những quy định của Nghị định số 158/2005/NĐ-
CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ về đăng ký hộ tịch nói chung và
đăng ký, quản lý GKS, làm cho cán bộ, công chức, nhân dân hiểu rõ
ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác đăng ký và quản lý khai sinh,
nhận thức rõ giá trị pháp lý của GKS – “giấy tờ hộ tịch gốc” của
mỗi xã nhân, mọi hồ sơ, giấy tờ khác phải phù hợp vơi giấy khai
sinh của người đó. Từ đó mọi công dân sẽ tự giác thực hiện các nội
dung về ĐKKS theo quy định, các cấp chính quyền mà đặc biệt cán
bộ tư pháp hộ tịch sẽ làm tốt công tác quản lý ĐKKS tại địa
phương.
 UBND xã có trách nhiệm chỉ đạo ban tư pháp xã triển
khai thực hiện nghị định số 158/2005/NĐ-CP về đăng ký và quản lý
hộ tịch.
- Cấp kinh phí để trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật, cải
thiện điều kiện làm việc cho cán bộ tư pháp - hộ tịch; mua sắm các
giấy tờ, sổ sách về khai sinh thay thế sổ sách, biểu mẫu cũ theo quy
định của Bộ Tư pháp về sử dụng biểu mẫu GKS và Sổ ĐKKS mới.
- Có chính sách đãi ngộ, phụ cấp cho cán bộ làm công tác
tư pháp - hộ tịch.
- Kịp thời giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý nghiêm
khắc những vi phạm trong các tác đăng ký và quản lý ĐKKS của
công dân cũng như cán bộ tư pháp nhằm nâng cao ý thức, tinh thần
trách nhiệm của họ.
- Triển khai thực hiện tốt đề án “cải cách thủ tục hành
chính trong đăng ký hộ tịch và phân cấp việc in, phát hành số, biểu
mẫu hộ tịch” theo quyết định 3924/QĐ-BTP ngày 18/12/2009 của
Bộ trưởng Bộ Tư pháp.
- Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra giám sát quá
trình thực hiện nghiệp vụ về đăng ký và quản lý ĐKKS để kịp thời
phát hiện uốn nắn sai sót trong công tác đăng ký và quản lý.
- UBND xã phối hợp với trưởng thôn, trưởng xóm lập
danh sách, mẫu điều tra trẻ em chưa có GKS, lưu giữ phiếu kê khai
khi ĐKKS đồng thời kịp thời tiến hành khai sinh theo thủ tục quá
hạn cho các trường hợp này.
 Ban tư pháp phối hợp với các trường học, phòng giáo
dục đào tạo, công an và các cơ quan có liên quan giải quyết sai sót
về GKS của các đối tượng
- Tổng hợp, kiến nghị, đề xuất với cơ quan có thẩm
quyền các giải pháp tháo gỡ vướng mắc, bất cập trong công tác
đăng ký, quản lý ĐKKS.
- Tổ chức tập huấn chuyên sâu, tập trung hướng dẫn
nghiệp vụ và triển khai thực hiện nghị định 158 của Chính phủ
nhằm khắc phục bất cập trong công tác tư pháp hộ tịch.
- Đảm bảo số lượng, chất lượng, bố trí cán bộ tư pháp -
hộ tịch có trình độ trung cấp luật trở lên, có kế hoạch đào tạo, đào
tạo lại hoặc chuyển vị trí công tác khác đối với người chưa qua đào
tạo chuyên ngành luật.
 Về cán bộ tư pháp - hộ tịch nâng cao tinh thần trách
nhiệm, tận tâm với công việc.
- Thường xuyên vận động nhân dân, làm họ hiểu được giá
trị pháp lý của GKS để họ đi đăng ký kịp thời.
- Thực hiện tốt công tác lưu trữ giấy tờ, biểu mẫu, sổ
ĐKKS theo quy định.
- Cần kiểm tra các giấy tờ theo quy định của pháp luật,
không những đối chiếu các dữ kiện của người được khai sinh mà
còn đối chiếu các dữ kiện phần khai về cha của người được khai
sinh. Cần giải thích rõ cho người dân hiểu con được mang họ cha
hoặc mẹ, dân tộc của cha hoặc mẹ, theo phong tục tập quán hoặc
thỏa thuận. Nếu có những điều khác với phong tục tậpquan hoặc
không bình thường thì cần kiểm tra, bổ sung cá giấy tờ cần thiết
khác: giấy thỏa thuận của cha mẹ về họ tên, dân tộc, quốc tich theo
quy định của pháp luật để tránh sai sót, khiếu nại sau này.
Đặc biệt trong tình hình hiện nay, khi việc ĐKKS đa số là
quá hạn, lại không có giấy chứng sinh, nên người dân không nhớ
chính xác năm sinh của con. Vì vậy cán bộ tư pháp cần lập một
bảng tra cứu con giáp tương ứng năm sinh để hạn chế việc sai năm
sinh do lỗi của người dân. Trường hợp cha, mẹ đặt tên con quá dài
(cả họ và tên tới 6-7 chữ) thì phân tích sự bất lợi sau này khi ghi họ
tên trong giấy tờ, giao dịch để họ có quyền lựa chọn.
- Trước khi trao các giấy tờ khai sinh cho đối tượng cần
kiểm tra lại lần cuối tất cả các dữ kiện ghi trong đó, giải thích rõ
giá trị pháp lý của GKS, giúp họ phân biệt đâu là bản chính đâu là
bản sao, cách bảo quản, sử dụng bản chính, bản sao.
- Không được hách dịch, cửa quyền, nhận hối lộ, tự đặt
thêm giấy tờ, các khoản thu trái với quy định của pháp luật để
hưởng lợi.
 Đối với người đi đăng ký khai sinh
- Cần có sự chuẩn bị đầy đủ các giấy tờ theo quy định
của pháp luật về ĐKKS. Trước khi đi ĐKKS vợ chồng cần có sự
bàn bạc về họ tên, dân tộc cho đứa trẻ (nếu cha mẹ không cùng dân
tộc). Lưu ý việc đặt tên con cần rà soát tên ông, bà, chú bác (những
người thân) hai bên hoặc tên gọi tục tĩu gọi lên nghe chướng tai để
tránh tình trạng cải chính sau này.
- Trước khi nhận lại GKS từ cán bộ tư pháp - hộ tịch cần
kiểm tra kỹ lưỡng lại một lần xem thông tinh ghi trong đó đã đầy
đủ và chính xác chưa (số lưu, đóng dấu, chữ ký …), phát hiện sai
sót thì yêu cầu cán bộ tư pháp - hộ tịch bổ sung hoặc cấp lại cho
đúng.
- Nếu chưa rõ giá trị pháp lý, cách sử dụng, bảo quản,
phân biệt bản chính, bản sao thì phải hỏi ngay cán bộ tư pháp - hộ
tịch để tránh nhẫm lẫn sai sót khi sử dụng.
Với tư cách là sinh viên ngồi trên ghế nhà trường và đã được
tìm hiểu về công tác đăng ký - quản lý hộ tịch nói chung và công tác
quản lý ĐKKS nói riêng em xin đưa ra một số kiến nghị nhằm tăng
cường hơn nữa hiệu lực quản lý của Nhà nước cũng như chính
quyền địa phương trong việc quản lý ĐKKS:
Tăng cường tuyên truyền, phổ biến những quy định của pháp
luật về việc đăng ký và quản lý hộ tịch nói chung, GKS nói riêng
tới người dân, nêu rõ vai trò quan trọng của “giấy tờ hộ tịch gốc”,
những quyền lợi chính đáng con em họ được hưởng khi có sự xác
định sự kiện sinh với tư cách một công dân của nước Việt Nam, để
nâng cao ý thức pháp luật cũng như trách nhiệm đi ĐKKS cho con
em mình của người dân.
Tổ chức những cuộc hội thảo, báo cáo, chuyên đề, những
cuộc thi tìm hiểu quy định pháp luật về đăng ký và quản lý hộ tịch,
về dân số, kế hoạch hóa gia đình, quy định của pháp luật trong việc
bảo vệ quyền lợi bà mẹ và trẻ em, luật Hôn nhân - gia đình, các
quy định của Nhà nước về đăng ký và việc quản lý ĐKKS cho
trẻ….
Đối với cán bộ tư pháp hộ tịch cần có trình độ chuyên môn
nghiệp vụ cao, kiến thức tin học văn phòng nhằm nâng cao chất
lượng sử dụng, quản lý các số liệu, biểu mẫu giấy khai sinh, con
dấu, cũng như công tác lưu trữ. Trong quá trình tập huấn cần đi sâu
vào nội dung nghiệp vụ, tuyền truyền phổ biến những quy định
của pháp luật về đăng ký và quản lý ĐKKS cũng như những quy
định khác về công tác quản lý hộ tịch.
Cần trang bị kỹ thuật hiện đại đi đôi với đào tạo và sử dụng
hợp lý nguồn cán bộ tư pháp hộ tịch, ưu tiên những cán bộ có trình
độ, nhiệt huyết với công việc, có chế độ đãi ngộ thích hợp để họ
yên tâm công tác.
Ngoài việc tổ chức các lớp tập huấn nghiệp vụ chuyên môn,
cần tổ chức những lớp đào tạo ngắn hạn hướng dẫn cán bộ tư
pháp hộ tịch sử dụng và sử dụng có hiệu quả các phần mềm quản
lý hộ tịch.
Trong biểu mẫu giấy khai sinh nên thêm phần ghi chi tiết về
cha (mẹ) người được khai sinh như: tuổi, nghề nghiệp, số chứng
minh nhân dân … để đứa trẻ khi lớn lên cũng có thể biết khi sinh ra
mình cha (mẹ) bao nhiêu tuổi.
C. KẾT LUẬN
Là một trong những nội dung quan trọng của công tác quản lý
Nhà nước, trong những năm qua, được sự quan tâm chỉ đạo của
UBND tỉnh, huyện, của các ngành Trung ương, đặc biệt từ sau năm
1983 thực hiện chuyển giao công tác đăng ký quản lý hộ tịch nói
chung của công an sang cơ quan tư pháp, công tác đăng ký và quản
lý hộ tịch nói chung và quản lý ĐKKS nói riêng đã có sự chuyển
biến tích cực. Cơ qua tư pháp đã có nhiều cố gắng giúp cho UBND
các cấp thực hiện việc ĐKKS đạt kết quả khá tốt, góp phần quan
trọng trong việc thống kê, điều tra dân số, từ đó xây dựng kết
hoạch phát triển kinh tế xã hội, an ninh quốc phòng địa phương.
Việc ban hành Nghị định 158/2005 thay thế Nghị định
83/1998 đã tạo “chuyển biến” mới khi mở rộng thẩm quyền ĐKKS
cho trẻ của cấp cơ sở. Trên cơ sở thực thi những điểu khoản của
Nghị định mới UBND cấp cơ sở, cán bộ tư pháp hộ tịch nói chung
trên địa bàn cả nước nói chung và UBND xã Yên Đồng nói riêng đã
tiến hành ĐKKS và quản lý ĐKKS cho trẻ trên địa bàn mình quản
lý. Thông qua công tác quản lý ĐKKS đó sẽ là cơ sở chính quyền
địa phương ban hành những chính sách phát triển kinh tế - xã hội,
có những biện pháp hỗ trợ pháp lý kịp thời nhằm bảo vệ quyền, lợi
ích hợp pháp cho trẻ và gia đình.
Để phát huy hơn nữa hiệu quả và khắc phục những hạn chế
trong công tác quản lý ĐKKS, UBND xã cần đẩy mạnh hơn nữa
công tác giáo dục, tuyên truyền, nâng cao ý thức pháp luật của
người dân; có chính sách biên chế, tập huấn chuyên sâu nghiệp vụ
cho cán bộ tư pháp hộ tịch, trang bị phương tiện, kỹ thuật đầy đủ,
hiện đại phục vụ công tác chuyên môn. Đồng UBND thường xuyên
kiểm tra, giám sát, đôn đốc việc thực thi pháp luật của cán bộ tư
pháp cũng như người dân về công tác quản lý ĐKKS, thông qua đó
phát hiện những sai sót uốn nắn kịp thời, phối hợp với cán bộ tư
pháp tháo gỡ những khó khăn, nâng cao hiệu lực quản lý trong
ĐKKS trên địa bàn xã.




TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Giáo trình Quản lý xã hội cấp cơ sở - Học viện báo chí
và tuyên truyền.
2. Bộ luật dân sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam
3. Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của
Chính phủ về công tác đăng ký và quản lý hộ tịch.
4. Nghị định số 83/1998/NĐ-CP ngày 10/10/1998 của Chính
phủ về công tác đăng ký và quản lý hộ tịch.
5. Trang điện tử www.baodatviet.vn.
6. Bài viết Tiến sĩ Lê Quốc Hùng - theo Tạp chí nghiên cứu
lập pháp.
7. Từ điển Bách khoa toàn thư Wikipedia.
8. Website Bộ Tư pháp

Tài Liệu Kinh tế - Thương mại Mới Xem thêm » Tài Liệu mới cập nhật Xem thêm »

Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản