Tiểu luận: thực trạng nghiên cứu và vận dụng giá trị thặng dư trong nền kinh tế định hướng XHCN ở nước ta hiện nay

Chia sẻ: Tran Tuan Hung | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:30

2
2.755
lượt xem
1.388
download

Tiểu luận: thực trạng nghiên cứu và vận dụng giá trị thặng dư trong nền kinh tế định hướng XHCN ở nước ta hiện nay

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Kinh tế chính trị Mác-Lênin có vai trò quan trọng trong đời sống Xã hội. Trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay yêu cầu học tập, nghiên cứu kinh tế chính trị Mác-Lênin càng được đặt ra một cách bức thiết, nhằm khắc phục lạc hậu về lý luận kinh tế, sự giáo điều, tách rời lý luận với cuộc sống, góp phần hình thành tư duy kinh tế mới. Nước ta đang xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, mà nền kinh tế thị trường thì luôn gắn liền với các...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tiểu luận: thực trạng nghiên cứu và vận dụng giá trị thặng dư trong nền kinh tế định hướng XHCN ở nước ta hiện nay

  1. Phần mở đầu Kinh tế chính trị Mác-Lênin có vai trò quan trọng trong đời sống Xã hội. Trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay yêu cầu học tập, nghiên cứu kinh tế chính trị Mác-Lênin càng được đặt ra một cách bức thiết, nhằm khắc phục lạc hậu về lý luận kinh tế, sự giáo điều, tách rời lý luận với cuộc sống, góp phần hình thành tư duy kinh tế mới. Nước ta đang xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, mà nền kinh tế thị trường thì luôn gắn liền với các phạm trù và các quy luật kinh tế của nó. Trong đó có phạm trù giá trị thặng dư hay nói cách khác “sự tồn tại giá trị Tiểu luận thặng dư là một tất yếu khách quan ở Việt Nam khi mà ở Việt Nam ta đang áp dụng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN”.Tuy nhiên hiện nay chúng ta đang thực hiện nền kinh tế thị trường nhiều thành phần theo định hướng XHCN nhưng trong chừng mực nào đó vẫn tồn tại thành kiến đối với các thành phần kinh tế tư nhân, tư bản, coi các thành phần kinh tế này là bóc lột, những nhận thức này không thể xảy ra với một số cán bộ, đảng Thực trạng nghiên cứu và vận viên làm công tác quản lý mà còn xảy ra ngay trong những người trực tiếp làm kinh tế tư nhân ở nước ta. Mà theo lý luận của Mác thì vấn đề bóc lột lại liên quan đến “giá trị thặng dư”. Vì thế việc nghiên cứu về chất và dụng giá trị thặng dư trong lượng của giá trị thặng dư sẽ giúp chúng ta có nhận thức đúng đắn về con đường đi lên xây dựng CNXH ở Việt Nam mà đảng và nhà nước ta đã nền kinh tế định hướng XHCN chọn. Với kiến thức còn hạn hẹp bài viết này chỉ nêu ra những nội dung cơ bản của “giá trị thặng dư” , cùng một vài ý nghĩa thực tiễn rút ra được khi nghiên cứu vấn đề này và một số ý kiến để việc vận dụng “giá trị thặng dư” ở nước ta hiện nay trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta. Bài viết này được chia thành 3 chương: Chương I: Mặt chất và mặt lượng của giá trị thặng dư. ý nghĩa thực tiễn của vấn đề nghiên cứu đối với nước ta khi chuyển sang nền kinh tế thị trường đinh hướng xã hội chủ nghĩa Chương II: Thực trạng việc nghiên cứu và vận dụng giá trị thặng dư ở nước ta hiện nay  Chương III: Một số gải pháp để vận dụng lý luận giá trị thặng dư nhằm phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay Mặt chất và lượng của giá trị thặng dư và ý nghĩa thực tiễn đối với nước ta 1
  2. Bài viết đã được hoàn thành dưới sự hướng dẫn của thầy giáo hướng dẫn, đồng thời được sự giúp đỡ của thư viện trường về nhiều tài liệu tham khảo bổ ích. Phần nội dung Chương 1: Mặt chất và mặt lượng của giá trị thặng dư. ý nghĩa thực tiễn của vấn đề nghiên cứu này đối với nước ta khi chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Cần phải nghiên cứu về giá trị thặng dư bởi sự tồn tại của giá trị thặng dư trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta là một tất yếu khách quan, có nghiên cứu về giá trị thặng dư ta mới thấy rõ những đặc tính phổ biến của sản xuất và phân phối giá trị thặng dư trong nền kinh tế thị trường, từ đó tìm ra các giải pháp để vận dụng học thuyết giá trị thặng dư nhằm phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta, theo mục tiêu đã được Đảng và Nhà nước ta vạch ra, làm dân giàu nước mạnh, xây dựng thành công CNXH ở Việt Nam. Khi nghiên cứu về phạm trù giá trị thặng dư, Mác đã sử dụng nhuần nhuyễn phương pháp duy vật biện chứng để nghiên cứu. Người đã gạt bỏ đi những cái không bản chất của vấn đề để rút ra bản chất của nó, đi từ cái chung đến cái riêng, từ trừu tượng đến cụ thể và đặc biệt là việc sử dụng phương pháp trừu tượng hoá khoa học. A. Mặt chất của giá trị thặng dư. Mối quan hệ kinh tế giữa người sở hữu tiền và người sở hữu sức lao động là điều kiện tiên quyết để sản xuất ra giá trị thặng dư vì vậy việc phân tích của Mác về quá trình sản xuất ra giá trị thặng dư về bản chất và nguồn gốc là một vấn đề cần lưu ý. I. Sự chuyển hoá của tiền thành tư bản. 1. Công thức chung của tư bản Tiền là sản phẩm cuối cùng của quá trình lưu thông hàng hoá. Đồng thời tiền cũng là hình thức biểu hiện đầu tiên của tư bản. Song bản thân tiền không phải là tư bản mà tiền chỉ trở thành tư bản khi chúng được sử dụng để bóc lột lao động của người khác. Tiền được coi là tiền thông thường thì vận động theo công thức H-T-H. còn tiền được coi là tư bản thì vận động theo công thức T-H-T. Ta thấy hai công thức này có những điểm giống và khác nhau: Mặt chất và lượng của giá trị thặng dư và ý nghĩa thực tiễn đối với nước ta 2
  3. Giống nhau: Cả hai sự vận động đều bao gồm hai nhân tố là tiền và hàng và đều có hai hành vi là mua và bán, có người mua, người bán. Khác nhau: Trình tự hai giai đoạn đối lập nhau (mua và bán) trong hai công thức lưu thông là đảo ngược nhau. Với công thức H-T-H thì bắt đầu bằng việc bán (H-T) và kết thúc bằng việc mua (T-H), bán trước mua sau nhưng tiền chỉ đóng vai trò trung gian và kết thúc quá trình đều là hàng hoá. Ngược lại, với công thức T-H-T thì bắt đầu bằng việc mua (T-H) và kết thúc bằng việc bán (H-T). ở đây tiền vừa là điểm xuất phát vừa là điểm kết thúc còn hàng hoá đóng vai trò trung gian, tiền ở đây chỉ để chi ra để mua rồi lại thu lại sau khi bán. Vởy tiền trong công thức này chỉ được ứng trước mà thôi. Từ đó ta thấy giá trị sử dụng là mục đích cuối cùng của vòng chu chuyển H-T-H giá trị sử dụng tức là nhằm thoả mãn những nhu cầu nhất định. Như vậy qua trình này là hữu hạn, nó sẽ kết thúc khi nhu cầu được thoả mãn. Động cơ và mục đích của vòng chu chuyển T-H-T là bản thân giá trị trao đổi trong lưu thông điểm đầu và điểm cuối đều là tiền chúng không khác nhau về chất. Do vậy nếu số tiền thu về bằng số tiền ứng ra thì quá trình vận động trở nên vô nghĩa. Mà như ta đã biết, một món tiền chỉ có thể khác với một món tiền khác về mặt số lượng. Kết quả là qua lưu thông số tiền ứng trước không những được bảo tồn mà còn tự tăng thêm giá trị. Nên công thức vận động đầy đủ của tư bản là T-H-T’. Trong đó T’=T+t số tiền trội hơn so với số tiền ứng ra là t, Các Mác gọi là giá trị thặng dư số tiền ứng ra ban đầu chuyển hoá thành tư bản. Vậy tư bản là giá trị mang lại giá trị thặng dư nên sự vận động của tư bản là không có giới hạn vì sự lớn lên của giá trị là không có giới hạn. Từ phân tích trên Mác đã phân biệt rõ ràng tiền thông thường và tiền tư bản. Tiền thông thường chỉ đóng vai trò trung gian trong lưu thông. Còn tiền tư bản là giá trị vận động, nó ra khỏi lĩnh vực lưu thông rồi lại trở lại lưu thông, tự duy trì và sinh sôi nảy nở trong lưu thông quay trở về dưới dạng đã lớn lên và không ngừng bắt đầu lại cùng một vòng chu chuyển ấy.T-H-T’mới nhìn thì nó là công thức vận động của riêng tư bản thương nghiệp nhưng ngay cả tư bản công nghiệp và cả tư bản cho vay thì cũng vậy.Tư bản chủ nghĩa cũng là tiền được chuyển hoá thành hàng hoá thông qua sản xuất rồi lại chuyển hoá thành một số tiền lớn hơn bằng việc bán hàng hoá đó. Tư bản cho vay thì lưu thông T-H-T’được biểu hiện dưới dạng thu ngắn lại là T-T’ một số tiền thành một số tiền lớn hơn. Như vậy T-H-T’thực sự là công thức chung của tư bản. Nhưng bên cạnh đó công thức: T-H-T’mâu thuẫn với tất cả các quy luật về bản chất của hàng hóa, giá trị, tiền và bản thân lưu thông. 2. Những mâu thuẫn của công thức chung: Mặt chất và lượng của giá trị thặng dư và ý nghĩa thực tiễn đối với nước ta 3
  4. -Trong lưu thông có thể có hai trường hợp xảy ra: một là trao đổi tuân theo quy luật giá trị (trao đổi ngang giá); hai là trao đổi không tuân theo quy luật giá trị (trao đổi không ngang giá). - Trường hợp trao đôi ngang giá : Nếu hàng hoá được trao đổi ngang giá thì chỉ có sự thay đổi hình thái của giá trị, từ T-H và H-T còn tổng giá trị cũng như phần giá trị nằm trong tay mỗi bên tham gia trao đổi, trước sau không đổi. Tuy nhiên về giá trị sử dụng thì cả hai bên đều có lợi.ở đây không có sự hình thành giá trị thặng dư. Trường hợp trao đổi không ngang giá: Nếu hàng hóa bán cao hơn giá trị của chúng khi đó người bán được lợi một khoản là một phần chênh lệch giữa giá bán và giá trị thực của hàng hóa,còn người mua bị thiệt một khoản đúng bằng giá trị mà người bán được lợi. Còn nếu người bán hàng hoá dưới giá trị của chúng (bán rẻ) thì người mua được lợi một khoản là phần chênh lệch giữa giá trị thực và giá bán của hàng hoá còn người bán bị thiệt một giá trị đúng bằng giá trị mà người mua được lợi. Vậy trong cả hai trường hợp trên cho thấy,nếu người này được lợi thì người kia thiệt nhưng tổng hàng hoá vẫn không tăng lên nên cả hai trường hợp này không hình thành nên giá trị thặng dư. Tiền đưa vào lưu thông, qua lưu thông thì thu được giá trị thặng dư mà lưu thông không tạo ra giá trị nên không tạo ra giá trị thặng dư, tiền rút khỏi lưu thông làm chức năng lưu thông thì làm chức năng cất trữ thì không thu được giá trị thăng dư.Như vậy cùng với lưu thông và lại không cùng với lưu thông đây chính là mâu thuẫn của công thức chung của tư bản . Để giải quyết vấn đề này ta phải đứng trên các quy luật của lưu thông hàng hoá và lưu thông tiền tệ. Vấn đề cơ bản là nhà tư bản đã gặp trên thị trường một loại hàng hoá đặc biệt mà khi tiêu dùng nó sẽ đem lại giá trị thặng dư đó là sức lao động. 3.Hàng hoá - sức lao động a. Sức lao động và điều kiện tạo ra hàng hoá Sức lao động bao gồm toàn bộ sức thần kinh, sức cơ bắp, thể lực, trí lực tồn tại trong bản thân con người sống, nó chỉ được bộc lộ qua lao động và là yếu tố chủ thể không thể thiếu được của mọi quá trình sant xuất Xã hội . Sức lao động không phải bao giờ cũng là hàng hoá nó chỉ biến thành hàng hoá khi có đầy đủ hai điều kiện: Thứ nhất:người lao động phải được tự do về thân thể, tự do về năng lực lao động của mìnhvà chỉ bán sức lao động đó trong một thời gian nhất định Mặt chất và lượng của giá trị thặng dư và ý nghĩa thực tiễn đối với nước ta 4
  5. . Bởi vì sức lao động chỉ có thể xuất hiện trên thị trường với tư cách là hàng hoá khi nó được đưa ta thị trường tức là bản thân người có sức lao động đó đem bán nó. Muốn vậy người lao động phải đựoc tự do về thân thể có quyến sở hữu sức lao động của mình thì mới đem bán sức lao động được. Người sở hữu sức lao động chỉ nên bán sức lao động trong một thời gian nhất định thôi nếu bán hẳn sức lao động đó trong một lần thì người đó sẽ trở thành nô lệ. Thứ hai: Người lao động phải bị tước hết tư liệu sản xuất,muốn sống họ phải bán sức lao động của mình. Vì nếu người lao động được tự do về thân thể mà lại có tư liệu sản xuất thì họ sẽ sản xuất ra hàng hoá và bán hàng hoá do mình sant xuất ra chứ không bán sức lao động. Khi sức lao động trở thành hàng hoá,nó cũng xó hai thuộc tính là giá trị và giá trị sử dụng nhưng nó là hàng hoá đặc biệt vì vậy, giá trị và giá trị sử dụng của nó có những nét đặc thù so với những hàng hoá khác. b. Hai thuộc tính của hàng hoá sức lao động: Hàng hoá sức lao động cũng có hai thuộc tính là giá trị sử dụng và giá trị. *Giá trị của hàng hoá sức lao động: Giá trị hàng hoá sức lao động do thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất và tái sản xuất ra sức lao động quyết định. Mà sức lao động lại gắn liền với cơ thể sống. Do đó việc sản xuất và tái sản xuất ra sức lao động cũng bao hàm việc duy trì cuộc sống của con người đó.Muốn duy trì cuộc sống của bản thân mình, con người cần có một số tư liệu sinh hoạt nhất định. Mặt khác số lượng của những nhu cầu cần thiết ấy, cũng như phương thức thoả mãn những nhu cầu đó ở mỗi một người, nhóm người lao động lại khác nhau,do các yếu tố lịch sử, tinh thần, nên giá trị của sức lao động còn mang tính tinh thần, thể chất lịch sử. Nhưng những người sở hữu sức lao động có thể chết đi do vậy muốn cho người ấy không ngừng xuất hiện trên thị trường hàng hoá sức lao động thì người bán sức lao động ấy phải trở nên vĩnh cửu bằng cách sinh xon đẻ cái. Vì vậy tổng số những tư liệu sinh hoạt cho những người thay thế đó tức là con cái của những người lao động. Giá trị những tư liệu sinh hoạt về vất chất và tinh thần cần thiết để tái sản xuất sức lao động,duy trì đời sống công nhân.Muốn cho mgười lao động có kiến thức và sức lao động vận dụng khoa học trong một ngành lao động nhất định thì cần phải tốn nhiều hay ít chi phí đào tạo. *Giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động: Nó cũng giống như các hàng hoá thông thường khác ở chỗ là nó cũng phải thoả mãn nhu cầu nào đó của người mua. Còn khác ở chỗ các hàng Mặt chất và lượng của giá trị thặng dư và ý nghĩa thực tiễn đối với nước ta 5
  6. hoá thông thường qua tiêu dùng thì giảm dần còn sức lao động qua tiêu dùng tức là qua lao động thì nó tạo ra lượng giá trị mới lớn hơn giá trị bản thân nó do người công nhân theo thời gian đã tích luỹ được kinh nghiệm sản xuất. Và phần lớn hơn đó chính là giá trị thặng dư cho nhà tư bản. Đến đây ta đã hiểu được mâu thuẫn công thức chung của tư bản là cùng lưu thông và không cùng với lưu thông từ đó ta thấy khi sức lao động trở thành hàng hóa,tiền tệ thành tư bản. II. Sản xuất ra giá trị thặng dư. Khi người có sức lao động đem bán sức lao động thì người mua sẽ tiêu dùng sức lao động của họ bằng cách bắt người bán đó phải lao động. Mà giá trị sử dụng của sức lao động chỉ thể hiện ra trong quá trình tiêu dùng sức lao động tức là quá trình lao động và trong quá trình ấy sức lao động tạo ra giá trị thặng dư. Do đó để nghiên cứu quá trình sản xuất ra giá trị thặng dư sẽ bắt đầu nghiên cứu quá trình lao động. 1. Quá trình lao động : Lao động là hoạt động có mục đích có ý thức của con người nhằm thay đổi những vật thể tự nhiên cho phù hợp với nhu cầu con người Như vậy quá trình lao động là sự kết hợp của 3 yếu tố: Đối tượng lao động, tư liệu lao động và sức lao động. - Sức lao động: Như đã nói ở trên thì nó là yếu tố cơ bản của quá trình lao động vì sức lao động gắn với con người mà con người luôn sáng tạo ra tư liệu lao động, đối tượng lao động đồng thời sử dụng chúng để phục vụ lợi ích của mình. Lao động và sức lao động khác nhau ở chỗ sức lao động mới chỉ là khả năng của lao động còn lao động là sự tiêu dùng sức lao động trong hiện thực. Mà sức lao động + đối tượng lao động và tư liệu lao động tạo ra của cải vật chất. Trong quá trình lao động, sức lao động kết hợp với dụng cụ lao động tác động với đối tượng lao động và chuyển toàn bộ giá trị của những tư liệu sản xuất vào sản phẩm được tạo ra. - Đối tượng lao động: là bộ phận của giới tự nhiên mà lao động của con người tác động vào làm thay đổi hình thái của nó cho phù hợp với mục đích con người. Đối tượng lao động có hai loại: Loại có sẵn như gỗ, rừng, quặng trong lòng đất,tôm,cá dưới sông biển...lao động của con người tác động vàậ phục vụ ngay cho nhu cầu của con người.Và một loại phải qua chế biến được gọi là nguyên vật liệu. Mặt chất và lượng của giá trị thặng dư và ý nghĩa thực tiễn đối với nước ta 6
  7. - Tư liệu lao động: là những vật hoặc hệ thống những vật mà con người dùng để tác động vào đối tượng lao động cho phù hợp với nhu cầu con người.Trong tư liệu lao động trước hết phải kể đến công cụ lao động,đây là yếu tố trực tiếp cải biến đối tượng lao động. Sự phát triển của công cụ lao động nói lên thời đại khác. Tư liệu lao động và đối tượng lao động có sự phân biệt tương đối. Đối tượng lao động và tư liệu lao động trong quá trình lao động sản xuất hợp thành tư liệu sản xuất, do đó, có thể nói rằng: quá trình lao động là sự kết hợp của hai yếu tố: sức lao động và tư liệu sản xuất. Đi từ cái chung là việc nghiên cứu quá trình lao động, Mác đã đi đến phân tích quá trình sản xuất giá trị thặng dư dưới CNTB. 2. Sản xuất ra giá trị thặng dư: Mụcđích của sản xuất tư bản chủ nghĩa không phải là giá trị sử dụng mà là giá trị, hơn nữa cũng không phải là giá trị đơn thuần mà là giá trị thặng dư.Nhưng để sản xuất giá trị thặng dư trước hết nhà tư bản phải sản xuất ra một giá trị sử dụng nàậ đó,vì giá trị sử dụng là vật mang giá trị và giá trị thặng dư. Để hiểu rõ hơn quá trình sản xuất giá trị thặng dư, chúng ta lấy việc sản xuất sợi của một nhà tư bản làm ví dụ: Giả sử để có sợi bán nhà tư bản đã mua (giả định theo đúng giá trị) 20kg bông giá 20đôla; tiền hao mòn máy móc 3 đôla, tiền thuê công nhân là 4đôla (Ngang bằng tư liệu sinh hoạt để họ sống trong một ngày)và giả sử họ kéo hết số bông trên trong 4 giờ và mỗi giờ tạo ra một lượng giá trị mới là 1 đôla. Việc mua bán trên là đúng giá trị và điều kiện sản xuất trung bình của Xã hội. Quá trình sản xuất được tiến hành trong 4 giờ lao động với tư cách là lao động cụ thể công nhân kéo hết 20kg bông thành sợi. Giá trị của bông và hao mòn máy mócđược lao động cụ thể của công nhân chuyển dịch và bảo tồn vào giá trị của sợi, hình thành ra bộ phận giá trị cũ (C) là 23 đôla.Như vậy để sản xuất ra 20kg sợi thì nhà tư bản phải ứng trước một số tiền là 23 đôla. Để sản xuất ra 20kg sợi thì cần phải có 20kg bông và sự hao mòn của máy móc,khi 5kg sợi được sản xuất ra thì không có nghĩa là giá trị của 5kg bông và phần máy móc bị hao mòn mất đi mà phần giá trị đó được chuyển nguyên vẹn vào giá trị của 20kg sợi. Như vậy, giá trị của nhưng tư liệu sản xuất 20kg bông và hao mòn máy móc được biểu hiện bằng 23 đôla, là những bộ phận cấu thành giá trị của 20kg sợi.Chú ý là người ta chỉ chi phí một thời gian lao động cần thiết trong những điều kiện sản xuất Xã hội nhất định mà thôi, vì vậy dù nhà tư bản có sử dụng những tư liệu sản xuất nàậ có giá trị lớn hơn 23đôla như trên đi nữa thì giá nhập vàậ của giá trị của 5kg Mặt chất và lượng của giá trị thặng dư và ý nghĩa thực tiễn đối với nước ta 7
  8. sợi cũng chỉ là 23 đôla, tức là số lao động Xã hội cần thiết của nền sản xuất mà thôi. Xét về phần giá trị mà lao động của người công nhân đã kết hợp vào bông. Giả định muốn sản xuất một lượng trung bình những tư liệu sinh hoạt cần thiết hàng ngày cho một người lao động thì mất 4 giờ lao động trung bình và giả sử 4 giờ lao động trung bình đã được vật hoá trong 4 đôla. Việc nhà tư bản trả 4 đôla cho một ngày lao động của người công nhân là đúng giá trị của sức lao động.Trong quá trình lao động, lao động không ngừng chuyển hoá từ hình thái hoạt động sang hình thái tồn tại, từ hình thái vận động sang hình thái vật thể.Như vậy 4 giờ lao động Xã hội cần thiết,vận động kéo sợi sẽ biểu hiện ra trong một lượng sợi nhất định là 20kg sợi.Do đó thành phần giá trị do lao động của người công nhân kết hợp vào giá trị của 20kg sợi là 4 giờ lao động xã hội cần thiết và chỉ là lượng vật chất hoá của số giờ lao động xã hội đó mà thôi.Vậy cũng với 4 giờ lao động trên với tư cách là lao động trừu tượng sức lao động của công nhân tạo ra lượng giá trị mới (V+m) là 4 đôla, kết tinh vào giá trị của sợi. Bây giờ ta thấy tổng giá trị của 20kg sợi gồm giá trị của 20kg bông là 20 đôla, với hao mòn máy móc là 3 đôla và 4 giờ lao động của người công nhân kéo sợi biểu hiện là 4 đôla.Vậy giá trị của 20kg sợi là 27đôla. Họ ứng ra 27đôla thu về 27 đôla như vậy họ không đạt được mục đích. Nhà tư bản suy nghĩ công nhân lao động được trả tiền họ cũng lao động nhưng không được gì. Họ suy nghĩ công nhân được trả 4 đôla ngang bằng với tư liệu sinh hoạt sống trong một ngày do đó không thể chỉ lao động 4 giờ mà nhiều hơn nữa là 8 giờ chẳng hạn, 4 giờ sau nhà tư bản chỉ phải mua 20kg bông trị giá 20 đôla, hao mòn máy móc là 3 đôla. Vậy tổng số tiền nhà tư bản ứng trước để sản xuất 40kg sợi là 40 đôla cho 40kg bông, 6 đôla cho hao mòn máy móc, 4đôla để thuê công nhân. Tổng là 50 đôla, mà giá trị của 40kg sợi là 54 đôla. Nếu nhà tư bản đem bán 40kg sợi (đúng giá trị) với giá 54 đôla thì thu được lượng trội hơn là 4 đôla (54-50) là giá trị thặng dư của nhà tư bản. Để làm sáng tỏ thêm CácMác đã lấy ngày lao động của công nhân để chứng minh. Ông chia ngày lao động của công nhân làm hai phần là thời gian lao động cần thiết và thời gian lao động thặng dư. Công nhân làm việc trong phần thời gian lao động cần thiết tạo ra sản phẩm cần thiết với tiền công của mình còn làm việc trong thời gian lao động thặng dư là tạo ra sản phẩm thặng dư cho nhà tư bản. Nhà tư bản bán nó thu về giá trị thặng dư. Từ đó cho ta biết được nguồn gốc và bản chất của giá trị thặng dư: là một bộ phận của giá trị mới, bộ phận giá trị dôi ra ngoài giá trị sức lao động của công nhân. Do lao động của công nhân làm thuê sáng tạo ra và bị nhà tư bản chiếm không là lao động không công của công nhân cho tư bản. Là quá trình sản xuất ra giá trị thặng dư, quá trình sản xuất ra giá trị đến một Mặt chất và lượng của giá trị thặng dư và ý nghĩa thực tiễn đối với nước ta 8
  9. thời hạn mà ở đó giá trị sức lao động của công nhân được hoàn lại bằng một bộ phận của giá trị mới. Tư bản ứng trước của nhà tư bản được chia làm hai bộ phận. Một là bộ phận tư bản được chi ra để mua tư liệu sản xuất (tư bản bất biến) ký hiệu là C. Hai là bộ phận tư bản được chi ra để mua sức lao động (tư bản khả biến) ký hiệu là V, bộ phận tư bản này cũng chỉ là một số tiền như tư bản chi ra để mua tư liệu sản xuất nhưng nhờ mua được sức lao động là loại hàng hoá đặc biệt mà khi tiêu dùng nó tạo ra giá trị thặng dư nên trở thành lượng khả biến. Việc phân chia này càng chỉ rõ nguồn gốc của giá trị thặng dư là sức lao động chứ không phải là máy móc hay tư liệu sản xuất khác. Có hai phương thức sản xuất ra giá trị thặng dư: a. Phương thức sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối: Đây là phương thức sản xuất giá trị thặng dư bằng cách kéo dài tuyệt đối ngày lao động trong khi phần thời gian lao động cần thiết của công nhân không đổi. Phần thời gian giá trị thặng dư kéo dài bao nhiêu là được hưởng bấy nhiêu. Ví dụ: Ngày lao động là 8 giờ trong đó gồm thời gian lao động cần thiết là 4 giờ và 4 giờ là thời gian lao động thặng dư. Nay ngày lao động kéo dài tuyệt đối thành 10 giờ mà thời gian lao động cần thiết không đổi thì thời gian lao động thặng dư tăng từ 4 giờ đến 6 giờ. Điều này dẫn đến việc đấu tranh của công nhân và sự đấu tranh đó buộc nhà tư bản phải rút ngắn thời gian lao động. Khi đó độ dài ngày lao động được xác định và nhà tư bản phải tìm phương thức khác để sản xuất ra giá trị thặng dư đó là phương thức sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối. b. Phương thức sản xuất giá trị thặng dư tương đối: Là giá trị thặng dư thu được bằng cách rút ngắn thời gian lao động cần thiết của công nhân trong khi thời gian lao động của người công nhân không đổi dựa trên cơ sở tăng năng suất lao động xã hội. Ví dụ: Người lao động làm việc 8 giờ trong đó 4 giờ là thời gian lao động cần thiết và 4 giờ là thời gian lao động thặng dư. Nay ngày lao động vẫn giữ nguyên là 8 giờ nhưng thời gian lao động cần thiết của công nhân rút ngắn xuỗng còn 2 giờ nên thời gian lao động thặng dư tăng lên từ 4 giờ đến 6 giờ. Như vậy muốn rút ngắn thời gian lao động của công nhân phải tăng năng suất lao động xã hội và năng suất lao động xã hội tăng ên làm cho giá trị hàng hoá tiêu dùng giảm xuống kéo theo sức lao động giảm. Vì vậy 2 giờ lao động cần thiết cũng đảm bảo khối lượng tư liệu sinh hoạt để công nhân tái sản xuất sức lao động, đồng thời để tăng năng suất lao động phải cải tiến sản xuất, đổi mới công nghệ. Những doanh nghiệp nào đi đầu Mặt chất và lượng của giá trị thặng dư và ý nghĩa thực tiễn đối với nước ta 9
  10. trong đổi mới công nghệ sẽ thu được giá trị thặng dư siêu ngạch. Giá trị thặng dư siêu ngạch chính là giá trị thặng dư tương đối vì nó đều do tăng năng suất lao động mà có. Nhưng khác ở chỗ giá trị thặng dư tương đối do tăng năng suất lao động xã hội do đó tất cả các nhà tư bản đều được hưởng. Còn giá trị thặng dư siêu ngạch là do tăng năng suất lao động cá biệt nên chỉ có những nhà tư bản nào có năng suất lao động cá biệt hơn năng suất lao động xã hội thì mới được hưởng giá trị thặng dư siêu ngạch. ở đây máy móc công nghệ tiên tiến không tạo ra giá trị thặng dư mà nó tạo điều kiện để tăng sức lao động của người lao động, hạ giá trị cá biệt của hàng hoá thấp hơn giá trị của thị trường. Nhờ đó mà giá trị thặng dư tăng lên. B. Mặt lượng của giá trị thặng dư: Mặt lượng của giá trị thặng dư biểu hiện ở tỷ suất giá trị thặng dư, ở khối lượng giá trị thặng dư, và ở trong các hình thức của giá trị thặng dư. I. Tỷ suất giá trị thặng dư: Tỷ suất giá trị thặng dư là tỷ lệ so sánh giữa giá trị thặng dư và tư bản khả biến (ký hiệu là m’). Tỷ suất giá trị thặng dư chỉ rõ trong tổng giá trị mới so sức lao động tạo ra thì công nhân được hưởng bao nhiêu, nhà tư bản chiếm được bao nhiêu đồng thời nó còn chỉ rõ trong một ngày lao động, phần thời gian lao động thặng dư mà người công nhân làm cho nhà tư bản chiếm bao nhiêu phần trăm so với thời gian lao động tất yếu làm cho mình. Nói lên sự bóc lột của nhà tư bản với công nhân làm thuê, nó chưa nói rõ quy mô bóc lột. Để phản ánh quy mô bóc lột CácMác sử dụng phạm trù khối lượng giá trị thặng dư. II. Khối lượng giá trị thặng dư: Khối lượng giá trị thặng dư là tích số giữa tỷ suất giá trị thặng dư và tổng số tư bản khả biến được sử dụng. Ký hiệu là M. Như vậy, khối lượng giá trị thặng dư có thể được biểu hiện bằng công thức: M = m’.V (Trong đó, V là tổng số tư bản khả biến được sử dụng.) Nhìn vào công thức trên ta thấy,ở cùng một trình độ bóc lột (m’) nhất định, nếu nhà tư bản sử dụng càng nhiều tư bản khả biến thì khối lượng giá trị thặng dư thu được sẽ càng lớn. Như vậycó thể thấy giá trị thặng dư phản ánh quy mô của sự bóc lột, hay đó là sự bóc lột theo chiều rộng. Mặt chất và lượng của giá trị thặng dư và ý nghĩa thực tiễn đối với nước ta 10
  11. III. Sự thay đổi trong đại lượng của giá trị thặng dư: Khi ta bán hàng hoá thì giá cả phải luôn luôn cao hơn giá trị của nó. Trong giá cả của hàng hoá gồm giá trị của nó và phần giá trị thặng dư, mà phần giá trị thặng dư được quyết định bởi ba nhân tố là độ dài ngày lao động, cường độ bình thường của lao động và sức sản xuất của lao động. 1. Đại lượng của ngày lao động và cường độ lao động không đổi (cho sẵn), sức sản xuất của lao động thay đổi: Đại lượng của ngày lao động không đổi, có nghĩa là giá trị của ngày lao động đó không đổi, hay giá trị mới được tạo ra trong ngày lao động là không đổi. Giá trị mới tạo ra này bao gồm giá trị sức lao động và giá trị thặng dư. Mà giá trị của sức lao động không giảm xuống, thì giá trị thặng dư không tăng lên, nên để có sự thay đổi đó cần phải thay đổi sức sản xuất. Giả định: thời gian lao động cần thiết là 4 giờ, nếu sức sản xuất của lao động tăng lên, thì chỉ cần một thời gian ít hơn 4 giờ để sản xuất ra khối lượng tư liệu sinh hoạt hàng ngày cần thiết mà trước đây phải cần 4 giờ để sản xuất. Do đó, giá trị của sức lao động sẽ giảm xuống. Ngược lại, nếu sức sản xuất của lao động giảm xuống, thì giá trị của sức lao động tăng lên. Như vậy, việc tăng năng suất lao động sẽ làm giảm giá trị của sức lao động, và đồng thời làm tăng giá trị thặng dư mà việc tăng hay giảm của giá trị thặng dư luôn là mối quan tâm hàng đầu của các nhà sản xuất nó là kết quả chứ không phải là nguyên nhân của việc tăng hay giảm tương ứng của giá trị sức lao động. 2. Ngày lao động không đổi, sức sản xuất của lao động không đổi, cường độ lao động thay đổi: Khi cường độ lao động cao thì sản phẩm làm ra trong ngày sẽ nhiều hơn so với số lượng sản phẩm làm ra trong một ngày có cường độ lao động thấp hơn mà số giờ lao động thì như nhau. Trong trường hợp này cũng gần giống như trên là đều đem lại số lượng sản phẩm lớn hơn trong cùng một thời gian lao động. Song cũng có điểm khác là giá trị của mỗi đơn vị sản phẩm trong trường hợp này không đổi vì trước cũng như sau để làm ra một sản phẩm đều hao phí một lượng lao động như nhau còn trong trường hợp tăng sức sản xuất của lao động giá trị của mỗi đơn vị sản phẩm giảm đi vì nó tốn ít lao động hơn trước. Việc tăng cường độ lao động, làm khối lượng sản phẩm sản xuất ra khi đó tăng lên, giá trị lại không giảm, làm tổng giá trị tăng, trong khi đó giá trị của sức lao động không đổi, do đó, làm giá trị thặng dư tăng lên. Việc đó khác với việc tăng sức sản xuất của lao động, làm cho giá trị của sức lao động giảm đi, mà tổng số giá trị không tăng lên (vì tuy khối lượng sản Mặt chất và lượng của giá trị thặng dư và ý nghĩa thực tiễn đối với nước ta 11
  12. phẩm tăng, nhưng giá trị của mỗi sản phẩm lại giảm đi tương ứng), do đó giá trị thặng dư tăng lên. 3. Sức sản xuất của lao động và cường độ lao động không thay đổi, ngày lao động thay đổi: Ngày lao động có thể thay đổi theo hai chiều, nó có thể được rút ngắn lại hay kéo dài ra. Việc rút ngắn ngày lao động, trong điều kiện năng suất lao động và cường độ lao động không thay đổi, không làm thay đổi giá trị của sức lao động, hay không làm thay đổi số thời gian lao động cần thiết, vì thế nó làm thời gian lao động thặng dư bị rút ngắn, hay làm giá trị thặng dư giảm. Đại lượng tuyệt đối của giá trị thặng dư giảm làm đại lượng tương đối của nó so với đại lượng không đổi của giá trị sức lao động cũng giảm xuống. Nên chỉ có bằng cách giảm giá cả của sức lao động xuống thì nhà tư bản mới không bị tổn thất. Nếu không thì việc rút ngắn thời gian lao động bao giờ cũng gắn liền với sự thay đổi của năng suất lao động và cường độ lao động. Kéo dài thời gian lao động: Giả sử thời gian lao động cần thiết là 4 giờ, hay giá trị của sức lao động là 4 đồng, thời gian lao động thặng dư là 4 giờ và giá trị thặng dư là 4 đồng. Toàn bộ ngày lao động là 8 giờ, và biểu hiện trong sản phẩm là 8 đồng. Nếu ngày lao động được kéo dài thêm 2 giờ, và giá cả sức lao động không thay đổi, thì đại lượng tương đối của giá trị thặng dư tăng lên cùng với đại lượng tuyệt đối của nó. Mà vì giá trị của sức lao động không đổi, giá trị thặng dư lại tăng lên, do đó, đại lượng tương đối của giá trị sức lao động so với giá trị thặng dư sẽ giảm xuống. Như vậy, giá trị thặng dư tăng lên là nguyên nhân làm đại lượng tương đối của giá trị sức lao động giảm. Khi kéo dài ngày lao động cho đến một điểm nhất định, thì sự hao mòn sức lao động tăng lên, người lao động cần nhiều tư liệu sinh hoạt hơn để bù đắp hao mòn đó, do đó, giá cả của sức lao động phải tăng lên, nhưng ngay cả khi giá cả của sức lao động có tăng lên thì giá trị của sức lao động cũng giảm đi tương đối so với giá trị thặng dư. 4. Sự thay đổi cùng lúc của ngày lao động, sức sản xuất và cường độ của lao động: Có hai trường hợp quan trọng sau cần phải nghiên cứu: Sức sản xuất của lao động giảm xuống, đồng thời ngày lao động bị kéo dài. Chúng ta nói đến sức sản xuất của lao động giảm xuống là nói đến những ngành lao động mà sản phẩm quyết định giá trị của sức lao động, như ngành nông nghiệp, sức sản xuất của lao động đã giảm xuống do độ màu mỡ của đất kém đi, và giá cả sản phẩm đó đắt lên một cách tương ứng. Mặt chất và lượng của giá trị thặng dư và ý nghĩa thực tiễn đối với nước ta 12
  13. Khi sức sản xuất của lao động giảm đi, thì như phân tích ở trên, giá trị của sức lao động sẽ tăng lên, thời gian lao động cần thiết tăng lên, làm thời gian lao động thặng dư giảm đi, giá trị thặng dư cũng vì thế mà giảm xuống. Nếu như ngày lao động được kéo dài để giá trị thặng dư được sinh ra khi đó đúng bằng lượng giá trị thặng dư trước đó, thì đại lượng của nó vẫn giảm xuống tương đối so với giá trị sức lao động. Và nếu tiếp tục kéo dài thời gian lao động thì có thể cả hai đại lượng tuyệt đối và tương đối của giá trị thặng dư có thể tăng lên. Cường độ và năng suất lao động tăng lên cùng với việc rút ngắn ngày lao động Khi cường độ và sức sản xuất của lao động tăng lên có nghĩa là thời gian lao động cần thiết được rút ngắn lại, đồng thời, thời gian lao động thặng dư được kéo dài ra, giá trị thặng dư được sinh ra tăng lên. Và do đó, có thể rút ngắn ngày lao động đến khi thời gian lao động thặng dư không còn nữa, nhưng cả khi sức sản xuất và cường độ của lao động có tăng đi nữa, giới hạn thời gian lao động cần thiết vẫn sẽ được nới rộng, bởi vì, càng ngày con người càng có nhu cầu sinh sống, hoạt động phong phú hơn, đồng thời một phần lao động thặng dư ngày nay sẽ được tính vào lao động cần thiết, cụ thể là phần lao động cần thiết cho việc thành lập quỹ dự trữ và quỹ tích luỹ xã hội. Năng suất lao động càng phát triển, thì lại càng có thể rút ngắn ngày lao động, và ngày lao động càng rút ngắn lại thì cường độ lao động càng có thể tăng lên. IV. Các hình thức biểu hiện của giá trị thặng dư Giá trị thặng dư là một phạm trù nói lên bản chất của nền sản xuất TBCN. Trong đời sống thực tế của xã hội tư bản, giá trị thặng dư chuyển hoá và biểu hiện thành lợi nhuận công nghiệp, lợi nhuận thương nghiệp, lợi nhuận ngân hàng, lợi tức cho vay, địa tô TBCN. 1. Lợi nhuận: Muốn tạo ra giá trị hàng hoá tất yếu phải chi ra một số lao động nhất định gọi là chi phí lao động, bao gồm lao động quá khứ và lao động hiện tại. Lao động quá khứ (lao động vật hoá) tức là giá trị của tư liệu sản xuất (C), lao động hiện tại (lao động sống) tức là lao động tạo ra giá trị mới (V+m). Chi phí lao động đó là chi phí thực tế của xã hội, chi phí tạo ra giá trị hàng hóa (W). W=C+V+m Mặt chất và lượng của giá trị thặng dư và ý nghĩa thực tiễn đối với nước ta 13
  14. Song đối với nhà tư bản họ không phải chi phí lao động để sản xuất hàng hóa cho nên họ không quan tâm đến còn trên thực tế họ chỉ quan tâm đến việc ứng tư bản để mua tư liệu sản xuất (C) và mua sức lao động (V). Do đó nhà tư bản chỉ xem hao phí hết bao nhiêu tư bản chứ không tính đến hao phí hết bao nhiêu lao động xã hội. CácMác gọi chi phí đó là chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa (k) (k=C+V). Như vậy chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa là chi phí về tư bản mà nhà tư bản bỏ ra để sản xuất hàng hoá. Như vậy giá trị hàng hóa là W= C+V+m sẽ chuyển thành W= k+m. Nhìn vào công thức trên thì ta thấy sự phân biệt giữa C và V đã biến mất, người ta thấy dường như k sinh ra m. Chính ở đây chi phí lao động bị che lấp bởi chi phí tư bản (k) lao động là thực thể, là nguồn gốc của giá trị thì bị biến mất và giờ đây hình như toàn bộ chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa sinh ra giá trị thặng dư. Giữa giá trị hàng hoá và chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa luôn luôn có một khoảng chênh lệch cho nên sau khi bán hàng (giá cả bằng giá trị) nhà tư bản không những bù đắp đủ số tư bản đã ứng ra mà còn thu được một số tiền lời ngang bằng với m, số tiền này được gọi là lợi nhuận (p) do đó cơ cấu sản phẩm là W=k+p. Giữa giá trị thặng dư và lợi nhuận có sự khác nhau cơ bản về chất và lượng. Giá trị thặng dư thì sinh ra từ V (tức là lao động của công nhân) còn lợi nhuận thì được coi là đã được sinh rat từ C+V (tư bản ứng trước). Nhưng chúng cũng có sự giống nhau ở chỗ đều có chung một nguồn gốc là kết quả lao động không công của công nhân làm thuê. Thực chất lợi nhuận và giá trị thặng dư đều là một, lợi nhuận chẳng qua chỉ là một hình thái thần bí hoá của giá trị thặng dư. Như CácMác viết: “Giá trị thặng dư hay là lợi nhuận chính là phần giá trị dôi ra ấy của giá trị hàng hóa so với chi phí sản xuất của nó nghĩa là phần dôi ra của tổng số lượng lao động chứa đựng trong hàng hoá so với số lượng lao động được trả công chứa đựng trong hàng hoá. Nếu như nhà tư bản bán hàng hoá với giá cả bằng giá trị thì khi đó m =p, nếu bán với giá cả cao hơn giá trị thì khi đó m p. Nhưng trong toàn xã hội thì tổng giá cả luôn bằng tổng lợi nhuận bằng tổng giá trị thặng dư. Chính sự không nhất trí giữa m và p nên càng che dấu thực chất bóc lột của chủ nghĩa tư bản. Trong nền kinh tế tư bản mặc dù lợi nhuận là mục đích trực tiếp và tối cao của các nhà tư bản nhưng khi bắt đầu đầu tư vào một ngành sản xuất kinh doanh nào đó thì cái mà nhà tư bản quan tâm đến trước hết là tỷ suất lợi nhuận. Tỷ suất lợi nhuận là tỷ số tính theo phần trăm giữa giá trị thặng dư mà nhà tư bản đã bóc lột được của công nhân làm thuê so với tổng tư bản ứng trước ký hiệu là p’ vì thế có công thức p’(C+V) = m x 100%. P’ Mặt chất và lượng của giá trị thặng dư và ý nghĩa thực tiễn đối với nước ta 14
  15. không phản ánh trình độ bóc lột mà nó chỉ phản ánh nơi đầu tư vốn có lợi nhất cho nhà tư bản về lượng. Do đó việc thu lợi nhuận và theo đuổi tỷ suất lợi nhuận là động lực thúc đẩy, là mục tiêu cạnh tranh của các nhà tư bản. Sự thèm khát lợi nhuận của các nhà tư bản là không có giới hạn. Mức tỷ suất lợi nhuận cao bao nhiêu cũng không thoả mãn được lòng tham vô đáy của chúng. Nhưng tỷ suất lợi nhuận lại phụ thuộc vào những yếu tố khách quan: Tỷ suất giá trị thặng dư càng cao thì tỷ suất lợi nhuận cáng lớn và ngược lại, tỷ suất giá trị thặng dư không đổi, cấu tạo hữu cơ tư bản càng cao thì tỷ suất lợi nhuận càng giảm và ngược lại. Nếu tốc độ chu chuyển của tư bản càng lờn thì tỷ suất giá trị thặng dư hàng năm càng tăng lên do đó tỷ suất lợi nhuận cũng càng tăng. Trong điều kiện tỷ suất giá trị thặng dư và tư bản khả biến không đổi nếu tư bản khả biến càng nhỏ thì tỷ suất lợi nhuận càng lớn. 2.Lợi nhuận thương nghiệp: Đối với tư bản thương nghiệp trước chủ nghĩa tư bản thì lợi nhuận thương nghiệp được coi là do mua rẻ bán đắt mà có. CácMác nói: lợi nhuận thương nghiệp không những là kết quả việc ăn cắp và lừa đảo mà đại bộ phận lợi nhuận thương nghiệp chính là do những việc ăn cắp lừa đảo mà ra cả. Đối với tư bản thương nghiệp,tư bản chủ nghĩa thì nhìn bề ngoài hình như là lợi nhuận thương nghiệp là do mua rẻ bán đắt mà có do lưu thông tạo ra. Nhưng về bản chất thì lợi nhuận thương nghiệp một phần giá trị thặng dư sáng tạo ra trong lĩnh vực sản xuất mà nhà tư bản công nghiệp nhường cho nhà tư bản thương nghiệp. Vậy tại sao nhà tư bản công nghiệp lại nhường một phần giá trị thặng dư của mình cho nhà tư bản thương nghiệp.Sở dĩ như vậy là do nhà tư bản thương nghiệp đã đứng ra đảm nhiệm khâu bán hàng để nhà tư bản công nghiệp rảnh tay tập trung vào sản xuất. Nhờ đó mà nhà tư bản công nghiệp rút ngắn được vòng tuần hoàn vốn (tư bản), nhờ đó thu được nhiều lợi nhuận hơn. Hơn nữa khi tham gia vào quá trình đó nhà tư bản thương nghiệp cũng phải ứng vốn ra để kinh doanh do họ cũng muốn có lợi nhuận. Nhường bằng cách nào? Nhà tư bản công nghiệp nhường bằng cách bán hàng hoá cho nhà tư bản thương nghiệp với giá bán buôn hay giá trị công nghiệp, giá bán này nhỏ hơn giá trị hàng hoá, bằng chi phí sản xuất cộng lợi nhuận công nghiệp rồi nhà tư bản thương nghiệp đem hàng hoá bán cho người tiêu dùng theo giá bán lẻ bằng giá trị hàng hoá hay chi phí sản xuất cộng lợi nhuận công nghiệp và tư bản thương nghiệp. 3.Lợi tức: Mặt chất và lượng của giá trị thặng dư và ý nghĩa thực tiễn đối với nước ta 15
  16. Tư bản cho vay là tư bản sinh lợi tức. Đứng về phìa nhà tư bản cho vay thì do họ nhường quyền sử dụng tư bản của mình cho người khác trong một thời gian nhất định nên thu được lợi tức.Về bản chất của lợi tức là một phần giá trị thặng dư được tạo ra trong lĩnh vực sản xuất mà các nhà tư bản hoạt động trả cho nhà tư bản cho vay về món tiền mà nhà tư bản cho vay đã bỏ ra cho nhà tư bản hoạt động sử dụng. Như vậy thức chất lợi tức chỉ là một phần lợi nhuận mà nhà tư bản hoạt động thu được nhờ sử dụng tư bản đi vay, phải trả cho nhà tư bản cho vay. Trên thực tế lợi tức là một phần lợi nhuận bình quân mà nhà tư bản đi vay phải trả cho nhà tư bản cho vay, căn cứ vào số tư bản mà nhà tư bản cho vay đã đưa cho nhà tư bản đi vay sử dụng. 4. Địa tô tư bản chủ nghĩa: Dưới chủ nghĩa tư bản có hình thức sở hữu độc quyền về đất đai, nó cho phép địa chủ có quyền chiếm hữu một phần giá trị thặng dư do những hoạt động diễn ra trên mảnh đất ấy sinh ra, không kể đất đai đó được dùng trong nông nghiệp, cho xây dựng, cho đường sắt hay cho bất kỳ một mục đích sản xuất nào khác. Địa tô chỉ là một phần của giá trị thặng dư sau khi đã trừ đi phần lợi nhuận của tư bản kinh doanh nông nghiệp. Như thế, có thể nói lợi nhận công nghiệp, lợi nhuận thương nghiệp, lợi tức, địa tô chỉ là các phần khác nhau của giá trị thặng dư - được sinh ra từ lao động của người công nhân làm thuê - phân giải thành. C. ý nghĩa thực tiễn rút ra được khi nghiên cứu về giá trị thặng dư đối với nước ta khi chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN: 1. Nghiên cứu để có nhận thức đúng về giá trị thặng dư là nhằm tránh những nghi ngờ về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà nước ta đang thực hiện: Sau khi mô hình CNXH ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, các học giả tư sản đã thừa cơ đẩy mạnh công kích, phủ nhận chủ nghĩa Mác- Lênin; nhiều nhà khoa học ở các nước XHCN cũng hoài nghi, thậm chí phê phán, đòi xét lại các nguyên lý của chủ nghĩa Mác-Lênin, trong đó có học thuyết giá trị thặng dư. Họ làm như vậy là bởi vì họ không hiểu được cốt lõi lý luận của Mác, nhất là không nắm được phương pháp duy vật biện chứng của Mác trong nghiên cứu và trình bày học thuyết giá trị thặng dư. Do đó, việc nghiên cứu về giá trị thặng dư sẽ giúp tránh được những sai lầm như thế. Mặt chất và lượng của giá trị thặng dư và ý nghĩa thực tiễn đối với nước ta 16
  17. Hơn nữa, như Ph. Ăng-ghen đã nói: “Nhờ hai phát hiện ấy (chủ nghĩa duy vật lịch sử và lý luận giá trị thặng dư), chủ nghĩa xã hội đã trở thành một khoa học, và giờ đây vấn đề trước hết là phải tiếp tục nghiên cứu nó trong mọi chi tiết và mọi mối quan hệ tương hỗ của nó”, điều đó có nghĩa là việc nghiên cứu về giá trị thặng dư không bao giờ là thừa. Đặc biệt, hiện nay, chủ nghĩa tư bản đã và đang có sự thay đổi, có sự điều chỉnh để bảo vệ cho chính mình, mà những chính sách điểu chỉnhh ấy đã làm cho sự bóc lột trở nên ngày càng tinh vi hơn, bản chất bóc lột được che giấu. Nếu như không nghiên cứu về lý luận giá trị thặng dư này và đặt nó trong tình hình mới, nhằm bổ sung, hoàn chỉnh lý luận giá trị thặng dư, cho phù hợp với tình hình mới, thì chúng ta rất dễ có những nghi ngờ. 2.Việc nghiên cứu về mặt chất và mặt lượng của giá trị thặng dư giúp chúng ta thấy được thực chất của giá trị thặng dư, từ đó không đồng nhất giá trị thặng dư với sự bóc lột, tránh có những nhận thức sai lầm về nền kinh tế thị trường định hướng XHCN đang được áp dụng ở nước ta hiện nay: Quá trình đi lên xã hội chủ nghĩa ở nước ta là một quá trình phấn đấu lâu dài và gian khổ. Từ khi chuyển từ kinh tế tập trung bao cấp chuyển sang kinh tế thị trừơng định hướng xã hội chủ nghĩa chúng ta đã đạt được rất nhiều thành tựu về mọi mặt kinh tế, chính trị, văn hoá... Nâng cao và cải thiện đời sống của nhân dân. Do Đảng và nhà nước ta đã áp dụng nhưng cuộc sống để kích thích sản xuất, khuyến khích tinh thần năng động sáng tạo của người lao động, giải phóng sức sản xuất thúc đẩy công nghiệp hoá - hiện đại hoá. Với những biện pháp như trên đã làm hoạt động kinh tế nước ta ngày càng tăng trưởng thu được nhiều lợi nhuận, đang từng bước tham gia và hội nhập, đuổi kịp các nước trong khu vực và trên thế giới. Việc nghiên cứu lý luận giá trị thặng dư sẽ cho ta những giải pháp để tăng khối lượng giá trị thặng dư của nền kinh tế. Nó góp phần thay đổi nhận thức sai lầm trước đây về giá trị thặng dư, coi nó là phạm trù riêng của chủ nghĩa tư bản, đồng thời nó với sự bóc lột cần phải xoá bỏ. Việc nghiên cứu sẽ nhận thức đúng rằng: giá trị thặng dư là phạm trù chung của bất kì chế độ xã hội nào có thời gian lao động xã hội lớn hơn thời gian lao động cần thiết. Và các quyết định sự bóc lột không phải là lượng giá trị thặng dư được sinh ra nhiều hay ít mà là việc phân phối giá trị thặng dư đã được tạo ra như thế nào. Từ đó chúng ta có được những quan niệm tốt phá bỏ được nhiều định kiến không hay, để có thể mở rộng khả năng kinh doanh và phát triển nền kinh tế, phát huy hết tiềm năng của mình. 3. Nghiên cứu giá trị thặng dư có ý nghĩa trong việc đề ra các chính sách kinh tế phù hợp Mặt chất và lượng của giá trị thặng dư và ý nghĩa thực tiễn đối với nước ta 17
  18. Với lý luận giá trị thặng dư và thực tiễn của nó, không những giúp chúng ta phá vỡ những định kiến về kinh tế tư nhân mà còn giúp đưa ra các chính sách kinh tế phù hợp như áp dụng kỹ thuật và sản xuất sẽ giúp xây dựng hoàn thiện các chính sách chiến lược phát triển khoa học công nghệ thực hiện công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước. Giúp chúng ta thấy được sự tác động của quy luật giá trị thặng dư sẽ dẫn tới cạnh tranh gay gắt, hình thành độc quyền, do đó làm cho sự phân hoá giàu nghèo càng trở nên rõ rệt. Song song với việc phát triển kinh tế, có nhiều mặt tích cực vẫn còn tồn tại rất nhiều những tiêu cực theo sự phát triển kinh tế. Vì vậy cần phải có những chính sách để khắc phục những hạn chế (xoá đói giảm nghèo, điều tiết thu nhập dân cư...) Chương 2 : Thực trạng việc nghiên cứu và vận dụng phạm trù giá trị thặng dư ở nước ta hiện nay A. Quan điểm của Đảng về việc nghiên cứu và vận dụng học thuyết giá trị thặng dư trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN hiện nay Nền kinh tế nước ta khi bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội còn mang nặng tính tự túc, tự cấp. Vì vậy sản xuất hàng hoá phát triển sẽ phá vỡ dần kinh tế tự nhiên và chuyển dần thành nền kinh tế hàng hoá, thúc đẩy sự xã hội hóa sản xuất. Chính trên cơ sở này Đảng và Nhà nước ta đã xác định: “Mô hình kinh tể ở Việt Nam được xác định là nền kinh tế nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước, định hướng xã hội chủ nghĩa đồng thời sản xuất hàng hoá không đối lập với chủ nghĩa xã hội mà là những thành tựu phát triển của nền văn minh nhân loại, tồn tại khách quan cần thiết cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và cả khi chủ nghĩa xã hội được xác định”. Điều này cho thấy Đảng ta thừa nhận sự tồn tại của các phạm trù kinh tế trong đó có phạm trù giá trị thặng dư. Mà trong cương lĩnh thông qua tại đại hội VII Đảng ta đã khẳng định: “Chủ nghĩa Mác-LêNin và tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng và kim chỉ nam cho mọi hoạt động của Đảng”. Thế có nghĩa là việc vận dụng giá trị lý luận về giá trị thặng dư của Mác vào sự hoạt động của nền kinh tế nước ta đã được khẳng định. Ta vận dụng một quan điểm nào đó của Mác-LêNin, tư tưởng Hồ Chí Minh phải nắm chắc bối cảnh ra đời, phạm vi nhiệm vụ không nên bê nguyên si vận dụng cứng nhắc vào tình hình thực tiễn. Từ đó khi vận dụng lý luận giá trị thặng dư của Mác vào hoạt động của nền kinh tế nước ta phải nghiên cứu để nắm vững lý luận này. Để hạn chế bớt mặt tiêu cực của sự hoạt động quy luật giá trị thặng dư đó là sự phân hoá giàu Mặt chất và lượng của giá trị thặng dư và ý nghĩa thực tiễn đối với nước ta 18
  19. nghèo tình trạng cạnh tranh gay gắt thì theo đại hội IX nhấn mạnh: “Thực hiện các chính sách xã hội hướng vào phát triển và lành mạnh hoá xã hội, thực hiện công bằng trong phân phối, tạo động lực mạnh mẽ phát triển sản xuất khuyến khích nhân dân làm giàu hợp pháp”. B. Thực trạng nghiên cứu và vận dụng lý luận giá trị thặng dư ở nước ta hiện nay I.Tình hình nghiên cứu lý luận giá trị thặng dư hiện nay ở nước ta Trong những năm qua Đảng và Nhà nước ta đã xây dựng, nghiên cứu vận dụng học thuyết kinh tế của Mác và cụ thể là học thuyết giá trị thặng dư. Trong điều kiện hoàn cảnh mới hiện nay các nghiên cứu đã chứng minh những luận điểm đúng đắn của Mác: “ Chỉ có lao động mới tạo ra giá trị và giá trị thặng dư, máy móc tuy có vai trò không thể thiếu trong quá trình sản xuất, là điều kiện để sản xuất giá trị thặng dư song nó không làm tăng giá trị mà chỉ chuyển dần giá trị của nó vào trong sản phẩm mới; phân tích rõ đặc điểm vai trò của lao động trí tuệ, lao động quản lý trong quá trình lao động và quá trình tạo ra giá trị thặng dư; khẳng định sản xuất tạo ra giá trị thặng dư hay lợi nhuận vẫn là quy luật tuyệt đối của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, chủ nghĩa tư bản ngày nay vẫn là chế độ xã hội dựa trên cơ sở bóc lột lao động làm thuê...”. Điều này cho thấy lý luận giá trị thặng dư của Mác trong điệu kiện mới của thời đại được khẳng định. II. Thực trạng sản xuất giá trị thặng dư ở nước ta Vận dụng lý luận giá trị thặng dư trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, là việc phát triển nguồn nhân lực; khuyến khích đầu tư và sử dụng vốn có hiệu quả kinh tế; áp dụng khoa học công nghệ vào sản xuất, nâng cao năng suất lao động; và việc phân phối giá trị thặng dư. 1.Phát triển và sử dụng nguồn nhân lực ở nước ta Nước ta có nguồn lao động dồi dào, số người trong độ tuổi lao động chiếm phần đa số ngoài ra còn phải kể đến hàng triệu người già vẫn còn khả năng lao động và mong muốn được lao động. Thêm vào đó người lao động Việt Nam lại cần cù, chăm chỉ, năng động có khả năng thích ứng thị trường cao, nhanh chóng nắm bắt kỹ thuật mới ứng dụng vàậ sản xuất kinh doanh. Tuy đây là một thuận lợi lớn của nước ta song chất lượng lao động và trình độ kỹ thuật, tay nghề của lao động Việt Nam còn thấp, cơ cấu ngành không hợp lý, tỷ lệ người trong độ tuổi lao động không có việc làm cao. Muốn khắc phục nhược điểm này ta phải biết tăng chất lượng của nguồn lao động như nâng cao trình độ học vấn của nhân nhất là phổ cập Mặt chất và lượng của giá trị thặng dư và ý nghĩa thực tiễn đối với nước ta 19
  20. tiểu học, trung học cơ sở, mở trường dạy nghề, học phải gắn với thực hành. Trước tình hình đó Đảng đã có chủ trương: “ Xã hội hoá giáo dục nhằm đa dạng hoá các loại hình giáo dục, đào tạo với phương châm nhà nước và nhân dân cùng làm”. Với những chủ trương đó chất lượng nguồn lao động đã có những sự biến đổi so với trước đây. 2. Khuyến khích đầu tư và sử dụng vốn có hiệu quả Đứng trước xu thế toàn cầu hoá kinh tế và sự tác động của cuộc cách mạng khoa học công nghệ nền kinh tế nước ta không thể là một nền kinh tế khép kín mà phải tích cực mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại. Chúng ta “mở cửa” nền kinh tế thực hiện đa dạng hoá đa phương hoá quan hệ kinh tế quốc tế nhằm thu hút các nguồn lực phát triển từ bên ngoài và phát huy lợi thế kinh tế trong nước làm thay đổi mạnh mẽ công nghệ, cơ cấu ngành và sản phẩm...mở rộng phân công lao động quốc tế, tăng cường liên doanh liên kết hợp tác để tạo điều kiện khuyến khích sản xuất trong nước phát triển bắt kịp vởi trình độ thế giới. Từ năm 1991, nguồn vốn đầu tư trong nước liên tục tăng, tổng vốn đầu tư trong nước năm 1991 mới là 11545 tỷ đồng, đến năm 1996 là 54912 tỷ đồng, tăng gần 5 lần. Đến năm 1998, con số này là 72084 tỷ đồng, tăng gần 7 lần so với năm 1991 và tăng 31% so với năm 1996. Trong đó, vốn đầu tư khu vực quốc doanh thường cao hơn khu vực ngoài quốc doanh. ở giai đoạn 1999 – 2001, tổng vốn đầu tư vẫn tiếp tục tăng, riêng năm 2001, tăng lên hơn 10.000 tỷ đồng so với năm 2000. Đối với việc thu hút vốn đầu tư nước ngoàit ta đã tranh thủ được nguồn viện trợ phát triển chính thức (ODA) ngày càng lớn, Cho đến nay, tổng mức cam kết tài trợ là13,04 tỷ USD, trong đó vốn đã được ký là gần 10 tỷ USD và số vốn đã giải ngân tới cuối 1999 là gần 6 tỷ USD. Nhà nước đã ban hành “luật đầu tư nước ngoài”. Cho đến hết 2000, đã có 66 nước và vùng lãnh thổ với nhiều công ty, tập đoàn lớn đã đầu tư trực tiếp vào Việt Nam. Trong cơ cấu vốn đầu tư phân theo ngành ta thấy, vốn đầu tư thuộc kinh tế nhà nước phần lớn dành cho ngành dịch vụ từ 51,02% năm 1999 lên 51,45% năm 2001, vốn đầu tư cho công nghiệp giảm từ 36,13% năm 1999 xuống 35,81% năm 2001. Còn phân theo ngành của kinh tế ngoài quốc doanh và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, tỷ trọng vốn đầu tư dành cho công nghiệp và nông nghiệp không ngừng tăng lên, vốn đầu tư dành cho ngành dịch vụ giảm từ 45,83% năm 1999 xuống 44,04% năm 2001. Như vậy muốn tạo được chỗ đứng cho mình trên thị trường quốc tế chúng ta phải có những sản phẩm hàng hóa mang thương hiệu Việt Nam. Vì thế phải phát triển công nghiệp, thu hút vốn đầu tư nhằm nâng cao sức mạnh cho công nghiệp. Mặt chất và lượng của giá trị thặng dư và ý nghĩa thực tiễn đối với nước ta 20

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản