Tiểu luận: Thuế thu nhập tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Chia sẻ: Nguyễn Quang Minh Trân | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:61

2
1.420
lượt xem
671
download

Tiểu luận: Thuế thu nhập tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Việt Nam đang đi trên con đường đổi mới và hội nhập với nền kinh tế thế giới. Những quy luật kinh tế khách quan và tất yếu đang từng giờ, từng phút điều chỉnh nền kinh tế toàn cầu, nền kinh tế của từng khu vực, từng quốc gia và bản thân mỗi chúng ta. Quá trình mở cửa, hội nhập kinh tế trong khu vực tiến đến toàn cầu hoá nền kinh tế đang dần chứng tỏ là một quy luật của loài người tiến bộ. Để bắt kịp với quá trình này thì mỗi quốc gia phải...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tiểu luận: Thuế thu nhập tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

  1. ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH BỘ MÔN: TÀI CHÍNH TIỀN TỆ Lớp KI 03, 04 – K35 Tiểu luận: THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN TẠI VIỆT NAM: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
  2. DANH SÁCH CÁC THÀNH VIÊN CỦA NHÓM: 1. Nguyễn Thị Hiểu – KI04 Thực hiện: Phần mở đầu và chương 1 2. Phạm Thị Minh Trang – KI04 Thực hiện: chương 2 3. Nại Thị Ngọc Diễm – KI04 Thực hiện: chương 3 4. Nguyễn Ngọc Tường Vi – KI03 Thực hiện: chương 4 5. Nguyễn Quang Minh Trân – KI04 Thực hiện: chương 5 và phần kết luận 2
  3. MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU .................................................................. 4 CHƯƠNG I: MỘT SỐ KHÁI NIỆM VỀ THUẾ ........................... 6 CHƯƠNG II: KHÁI NIỆM THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN ................ 10 CHƯƠNG III: HỆ THỐNG QUẢN LÝ THUẾ TNCN Ở VIỆT NAM.. 18 CHƯƠNG IV: THỰC TRẠNG THUẾ TNCN Ở VIỆT NAM .......... 27 CHƯƠNG V: KẾT QUẢ VÀ MỘT SỐ BIỆN PHÁP ĐỀ RA ................ 45 KẾT LUẬN ...................................................................... 57 3
  4. PHẦN MỞ ĐẦU Việt Nam đang đi trên con đường đổi mới và hội nhập với nền kinh tế thế giới. Những quy luật kinh tế khách quan và tất yếu đang từng giờ, từng phút điều chỉnh nền kinh tế toàn cầu, nền kinh tế của từng khu vực, từng quốc gia và bản thân mỗi chúng ta. Quá trình mở cửa, hội nhập kinh tế trong khu vực tiến đến toàn cầu hoá nền kinh tế đang dần chứng tỏ là một quy luật của loài người tiến bộ. Để bắt kịp với quá trình này thì mỗi quốc gia phải liên tục có những cải cách nhằm làm phù hợp và thích nghi với môi trường bên ngoài. Trong công cuộc cải cách đó, cải cách về thuế luôn đươc các quốc gia chú trọng. Đối với Việt Nam trong thời gian tới sau khi Việt Nam đ ược gia nhập WTO thì những biến đổi về cơ cấu thuế và nguồn thu ngân sách sẽ là một điều không thể tránh khỏi. Thuế là một vấn đề nhạy cảm ở khắp mọi nơi trên thế giới không riêng gì Việt Nam, thế nhưng tính trên dân số 82 triệu đa số người dân chỉ quen trả thuế gián thu qua tiêu sài mua hàng hoá, ít người phải đóng thuế lợi tức. Thuế là một trong những khoản thu ngân sách quan trọng nhất của nhà nước. Nộp thuế là trách nhiệm và nghĩa vụ của mội người dân và các tổ chức xã hội khác. Hiện nam, các Nhà nước thong qua việc thuế điều tiết một phần thu nhập của người giàu, nhằm góp phần giảm khoảng cách giàu nghèo đang ngày một nới rộng. Thuế là khoản thu không hoàn trả trực tiếp của Ngân sách nhà nước. Hệ thống thuế hiện nay bao gồm nhiều sắc thuế khác nhau, lập nên nguồn thu cho Ngân sách nhà nước. Việt nam là một đất nước đang trên đà phát triển, trước bối cảnh mở cửa nền kinh tế hiện nay khoảng cách về thu nhập của người dân ngày càng rộng ra, Vì thế, thuế thu nhập cá nhân là điều đáng quan tâm không chỉ đối với Nhà nước mà còn đối với mỗi người dân. Việt nam mới ban hành Luật thuế thu nhập cá nhân năm 2007, và nó vẫn đang là một vấn đề nóng được toàn xã hội quan tâm. 4
  5. Thuế thu nhập cá nhân là một sắc thuế trực thu có vai trò hết sức quan trọng. Nó đã ra đời tương đối sớm ở các nước phát triển và ngày nay thì phát triển rộng rãi ở hầu hết các quốc gia trên thế giới. Sự phát triển của nó đồng hành với sự phát triển của nền kinh tế và ngày càng khằng định được vai trò, chức năng là một nguồn thu quan trong trong ngân sách nhà nước và là công cụ góp phần đảm bảo công bằng xã hội một cách đắc lực. Chính vì vậy, việc nghiên cứu và hoàn chỉnh pháp lệnh thuế thu nhập cá nhân, đồng thời sớm xây dựng thành Luật thuế thu nhập cá nhân là một việc làm cần thiết từ bây giờ. Bởi vậy, mong muốn được tìm hiểu và nghiên cứu sâu hơn về thuế, đặc biệt là về thuế thu nhập các nhâ n, nhóm em đã chọn đề tài: “ Thuế thu nhập cá nhân và thực trạng ở Việt Nam ”. 5
  6. CHƯƠNG I: TÌM HIỂU CHUNG VỀ HỆ THỐNG THUẾ CỦA VIỆT NAM 1. Khái niệm chung về thuế: Hiện nay, có nhiều cách hiểu khác nhau về thuế, vì thế chúng ta vẫn chưa có một khái niệm thống nhất về thuế. Một khái niệm về thuế đ ược coi là hoàn hảo nhất được nêu trong cuốn “ economics” của hai nhà kinh tế học của Mỹ ( Makkollhell và Brury) như sau: “ thuế là một khoản chuyển giao bắt buộc bằng tiền hoặc chuyển bằng hàng hóa, dịch vụ của công ty và các hộ gia đình cho chính phủ, mà trong sự trao đổi đó họ không được nhận trực tiếp hàng hóa, dịch vụ nào cả, khoản nộp đó không phải là khoản tiền phạt mà tòa án phạt do hành vi vi phạm pháp luật. Các định nghĩa về thuế có thể khác nhau về cách hiểu nhưng nhìn chung trong các cách hiểu đấy thuế là nguồn thu và ngân sách nhà nước mang tính bắt buộc, gắn với quyền lực của nhà nước và người nộp thuế đóng góp bắt buộc theo luật thuế mà không được hoàn trả trực tiếp nhằm đáp ứng nhu chi tiêu của nhà nước. 2. Hệ thống thuế của nước ta: Hệ thống thuế của nước ta bao gồm nhiều sắc thuế mà nhà nước swe dụng để tạo lập nguồn thu ngân sách nhà nước và thực hiện các mục tiêu nhất định trong quản lý nề kinh tế. Hệ thống thuế nước ta qua nhiều lần cải cách bằng nhiều văn bản luật thuế, pháp lệnh về áp dụng chung cho mọi thành viên trong cả nước. hệ thống của Việt Nam bao gồm:  Thuế giá trị gia tăng  Thuế thu nhập doanh nghiệp  Thuế tiêu thụ đặc biệt 6
  7.  Thuế xuất khẩu, nhập khẩu  Thuế nhà đất  Thuế tài nguyên  Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao  Thuế môn bài  Ngoài ra, còn có một số loại thuế khác có tính chất như thuê: lệ phí trước bạ, lệ phí chứng thư, lệ phí hải quan, phí giao thong, phí cầu phà, phí đường, phí bay qua bầu trơi… 3. Phân loại thuế: Có hai cách phân biệt để phân loại thuế như sau a. Phân loại theo tính chất chuyển giao của thuế: - Thuế trực thu: là loại thuế huy động trực tiếp một phần thu nhập của người làm nghĩa vụ, người nộp thuế là người chịu thuế, không có sự chuyển giao gánh nặng cho người khác chịu. ở nước ta, thuế trực thu là các loại thuế như: thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân, thuế sử dụng đất nông nghiệp. - Thuế gián thu: là loại thuế mà người nộp thuế gián tiếp nộp cho người tiêu dung, họ không phải là người chịu thuế. Ở đây có sự chuyển giao gánh nặng thuế từ người nộp thuế sang người tiêu dung thông qua cơ chế giá cả. Ở nước ta, đó là các loại thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế nhập khẩu, thuế xuất khẩu… b. Phân loại theo đối tượng đánh thuế: Thuế thu nhập như: thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp… Thuế tài sản như: thuế sử dụng tài sản nhà nước( thuế sử dụng đất nông nghiệp, thuế tài nguyên...) thuế chuyển nhượng tài sản( thuế chuyển giao quyền sử dụng đất, thuế mua, bán các tài sản như nhà, xe cộ…) 7
  8. Thuế tiêu dung đánh vào hàng hóa, dịch vụ lưu thông trên thị trường trong nước và xuất khẩu như thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế nhập khẩu, thuế xuất khẩu… 4. Các yếu tố cấu thành một sắc thuế bao gồm: Tên gọi của thuế: bất kì một loại thuế nào cũng có tên gọi; tên gọi của thuế xác định nội dung kinh tế của thuế. Thông thường người ta dựa vào đối tượng đánh thuế để đặt tên cho một sắc thuế. Ví dụ: thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế giá trị gia tăng… Tên gọi của thuế cần ngắn gonk dễ hiểu, phản ánh được mục tiêu của thuế, từ dung mang tính phổ thông. Đối tượng nộp thuế: người nộp thuế được qui định rõ rang trong luật thuế. Đối tượng chịu thuế: là người phải gánh chịu khoản thuế, là người gánh chịu sau cùng khoản thuế phải nộp cho ngân sách nhà nước. Đối tượng đánh thuế: là các khách thể của luật thuế, là những thu nhập, tài sản, hàng hóa mà một luật thuế nhất định tác động vào. Đối tượng đánh thuế là mục tiêu tác động của thuế. Căn cứ tính thuế: là những yếu tố mà người thu thuế dựa để tính số tiền thuế phải nộp. các loại thuế khác nhau thì có cách tính khác nhau. Khi càn xem xét căn cứ tính thuế thì cần xem xét các yếu tố sau đây: + Thuế suất: là phần thuế phải nộp trên mỗi đơn vị của đói tượng đánh thuế. + Đợn vị tính thuế: là đơn vị được sử dụng làm phương tiện tính toán của đối tượng đánh thuế. + Giá tính thuế: là giá trị của đối tượng đánh thuế. + Miễn giảm thuế: qui định cho phép người nộp thuế không phải thực hiện nghĩa vụ nộp toàn bộ số tiền thuế mà người đó phải nộp cho nhà nươc( miễn thuế) hoặc chỉ nộp một phần số tiền thuế đó( giảm thuế). Miến giảm thuế chỉ là yếu tố ngoại lệ được qui định trong một số sắc thuế. 8
  9. + Thưởng phạt: thưởn là hình thức nhà nươc khuyến khích người có thành tích trong thực hiện các luật thuế. Phạt là hình thức kỉ luật đối với người vi phạm luật thuế. + Thủ tục thuế: đó là những qui định về giấy tờ và trình tự thu nộp mang tính chất hành chính để thi hành luật thuế( như thủ tục kê khai, tính thuế và nộp thuế). + Ngoài những yếu tố trên, trong luật thuế cũng bao giờ qui định rõ quyền hạn trách nhiệm của chính phủ, UBND các cấp, của bộ tài chính, cơ quan thuế ở tung ương và các địa phương, nghĩa vụ của người nộp thuế. 5. Các tiêu thức xây dưng hệ thống thuế hiện đại:  Tính công bằng( theo chiều dọc và chiều ngang)  Tính hiệu quả( đối với công tác thuế và với nền kinh tế)  Tính trung lập  Tính rõ rang, minh bạch.  Tính thân thiện.  Tính ổn định. 9
  10. CHƯƠNG II: ĐỊNH NGHĨA VỀ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN 1. Định nghĩa: Thuế thu nhập cá nhân đã được áp dụng từ lâu ở các nước phát triển, đối tượng nộp thuế này là mọi dân cư trong nước và người nước ngoài có thu nhập phát sinh ở nước sở tại không phân biệt nghề nghiệp và địa vị xã hội. Ðồng thời, tùy theo tính chất của các khoản thu nhập cá nhân, người ta chia thu nhập làm hai loại: thu nhập thường xuyên và thu nhập không thường xuyên để tính thuế cho phù hợp. Lần đầu tiên ở Anh vào năm 1799 thuế thu nhập cá nhân được đưa vào thực hiện như một hình thức thu tạm thời nhằm mục đích trang trải cho cuộc chiến tranh chống Pháp và được chính thức áp dụng vào năm 1942. Sau đó nhiều nước tư bản phát triển khác cũng áp dụng thuế này như: ở Nhật năm 1887, Ðức 1899, Mỹ 1903, pháp 1916 và Liên Xô năm 1922. 2. Đặc điểm: Thuế thu nhập cá nhân là lại thuế trực thu đánh vào thu nhập chính đáng của từng cá nhân. Do là thuế trực thu nên nó phản ánh sự đồng nhất giữa đối tượng nộp thuế theo luật và đối tượng chịu thuế theo ý nghĩa kinh tế. Người chịu thuế thu nhập cá nhân không có khả năng chuyển giao gánh nặng thuế khoá sang cho các đối tượng khác tại thời điểm đánh thuế. Thuế TNCN có diện đánh thuế rất rộng, thể hiện trên hai khía cạnh: một là đối tượng đánh thuế TNCN là toàn bộ các khoản thu nhập của cá nhân thuộc diện đánh thuế không phân biệt thu nhập đó có nguồn gốc phát sinh trong nước hay ở nước ngoài; hai là đối tượng phải kê khai nộp thuế TNCN là toàn bộ những người có thu nhập, bao gồm tất cả công dân của nước sở tại và những người nước ngoài cư trú thường xuyên hay không thường xuyên nhưng có số ngày có mặt, làm việc, có thu nhập theo mức độ quy định của pháp luật thuế TNCN. 10
  11. Thuế TNCN là một loại thuế thu nhập nhưng khác với thuế Thu nhập doanh nghiệp ở chỗ nó có tính tất yếu gắn với chính sách xã hội của mỗi quốc gia cho dù quốc gia đó có mục tiêu hoàn thiện chính sách thuế, xây dựng một chính sách thuế có tính trung lập không nhằm nhiều mục tiêu khác nhau. Thể hiện, nó luôn quy định loại trừ một số khoản thu nhập trước khi tính thuế TNCN như thu nhập mang tính trợ cấp xã hội, khoản chi cần thiết cho cuộc sống cá nhân, gia đình người nộp thuế, khoản chi mang tính nhân đạo xã hội Thuế TNCN có góc độ kỹ thuật tính thuế khá phức tạp bởi diện đánh thuế rộng, liên quan chặt chẽ với hoành cảnh cá nhân, chính sách xã hội cụ thể, có áp dụng phương pháp luỹ tiến. Có như vậy mới đảm bảo công bằng xã hội, người có thu nhập cao hơn thì trước và sau khi nộp thuế họ vẫn còn một khoản thu nhập cao hơn so với người có thu nhập thấp khi chưa nộp thuế 3. Vai trò đối với thị trường Việt Nam: a. Lịch sử hình thành thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam: Ở miền Nam Việt Nam trước 1975, chính quyền Sài Gòn đã áp dụng thuế thu nhập cá nhân nhưng với tên gọi là thuế lợi tức lương bổng năm 1962 và sau đó được cải cách vào năm 1972. Ngày 27/12/1990, Chủ tịch nước đã ký lệnh công bố Pháp lệnh Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao (Income Tax on high - Income earner) và đã được ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua. Ðể cho phù hợp với tình hình thực tế của từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, từ đó đến nay đã có 06 lần sửa đổi, bổ sung Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao: lần thứ nhất vào ngày 10/3/1992, lần thứ hai vào ngày 1/6/1994, lần thứ ba vào ngày 6/2/1997, lần thứ 4 vào ngày 30/6/1999 và lần thứ năm vào ngày 13/6/2001( có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2001) và lần thứ 6 là pháp lệnh sửa đổi, bổ sung số 14/2004/PL- 11
  12. UBTVQH11 ban hàng năm 2004 (có hiệu lực từ ngày 01/07/2004 đến nay). Hiện nay việc thực hiện các quy định của pháp lệnh số 14 này được hướng dẫn bởi thông tư 81/2004/TT-BTC và thông tư số 12/2005/TT-BTC. Để nâng cao hơn nữa tính chất quan trọng và phải có các biện pháp chế tài đủ mạnh để việc thực hiện thu thuế TNCN được đi vào ổn định, có hiệu quả, công bằng, tại kỳ họp Quốc hội khoá XII đã thông qua Luật số 04/2007/QH12 - Luật thuế thu nhập cá nhân. Luật này sẽ có hiệu lực thi hành chính thức từ ngày 01/01/2009. Tại thời điểm người viết bài này thì chính phủ đang trình dự thảo nghị định quy định chi tiết thi hành Luật thuế thu nhập cá nhân. Sau khi có Nghị định của Chính phủ hướng dẫn thi hành thì sẽ có thể có các Thông tư của Bộ tài chính hướng dẫn chi tiết hơn. Các thông tư số 81 và 12 sẽ đồng thời hết hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2009. Do tại thời điểm viết bài này Luật thuế TNCN chưa có hiệu lực thi hành nên người viết chủ yếu dẫn chứng các quy định tại Pháp lệnh số 14, thông tư 81 và thông tư 12, các thay đổi được điều chỉnh từ ngày 01/01/2009. b. Vai trò của thuế thu nhập cá nhân trong xã hội: - Góp phần tăng nguồn thu cho ngân sách Nhà nước: Sự giảm dần các loại thuế xuất nhập khẩu do yêu cầu tự do hóa thương mại nên thuế thu nhập cá nhân ngày càng trở thành nguồn thu quan trọng cho ngân sách Nhà nước. Nền kinh tế nước ta ngày càng phát triển, thu nhập bình quân đầu người của cá nhân ngày càng tăng từ đó thuế thu nhập cá nhân sẽ góp phần quan trọng vào việc tăng thu cho ngân sách Nhà nước. Thực tế tỷ trọng thu thuế TNCN trong tổng thu ngân sách của nhiều quốc gia đã phản án,h tiến trình đó, tại các nước khối ASEAN: 5-10%, các nước phát triển có tỷ trọng 15-16% có nước đạt tới tỷ trọng 30- 40% như Anh, Mỹ. Tại Việt Nam, mới tiếp cận chính sách thu và còn phân tán ở nhiều sắc thuế nhưng cũng đã có kết quả tăng trưởng thu khá lớn trong những năm gần đây: năm 1991 thu theo chính sách thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao là 62 tỷ, thì đến năm 2000 thu được 1.832 tỷ và đến 12
  13. năm 2005 số thu đã đạt 8.300 tỷ. Tuy vậy tỷ trọng thu cũng mới chỉ đạt khoảng 5% tổng thu ngân sách. - Góp phần thực hiện công bằng xã hội: Thông thường, thuế thu nhập cá nhân chỉ đánh vào thu nhập cao hơn mức khởi điểm thu nhập chịu thuế, không đánh thuế vào những cá nhân có thu nhập vừa đủ nuôi sống bản thân và gia đình ở mức cần thiết. Thêm vào đó khi thu nhập cá nhân tăng lên thì tỷ lệ thu thuế cũng tăng thêm. Ở nhiếu nước còn có quy định miễn, giảm thuế cho những cá nhân mang gánh nặng xã hội. Ở nước ta hiện nay, thu nhập của các tầng lớp nhân dân có sự chênh lệch nhau, số đông dân cư có thu nhập còn thấp, nhưng cũng có một số cá nhân có thu nhập khá cao, nhất là những cá nhân làm việc trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, trong khu chế xuất hoặc có một số cá nhân người nước ngoài làm việc tại Việt Nam. Mặc dù thuế thu nhập cá nhân chưa mang lại số thu lớn cho ngân sách Nhà nước, song xét trên phương diện công bằng xã hội và phương diện công cụ quản lý vĩ mô của Nhà nước thì thuế thu nhập cá nhân có vị trí cực kỳ quan trọng, do đó việc điều tiết thuế thu nhập đối với những người có thu nhập cao là cần thiết, đảm bảo thực hiện chính sách công bằng xã hội. 4. Cách tính thuế: Theo luật thuế thu nhập cá nhân ban hành ngày 21 tháng 11 năm 2007. Căn cứ chương 2, chương 3 của luật này. a. Căn cứ tính thuế thu nhập cá nhân: Căn cứ tính thuế thu nhập cá nhân là thu nhập chịu thuế và thuế suất được quy định tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước và khả năng thu nhập, yêu cầu điều tiết trong từng điều kiện cụ thể. Thu nhập chịu thuế. + Thu nhập thường xuyên. Thu nhập thường xuyên chịu thuế là tổng thu nhập của từng cá nhân bình quân tháng trong năm nằm trong giới hạn phải nộp thuế do biểu thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao quy định (đối với công dân Việt 13
  14. Nam và cá nhân khác định cư tại Việt Nam thu nhập bình quân tháng trong năm là trên 5.000.000 đồng; trên 8.000.000 đối với người nước ngoài cư trú tại Việt Nam và công dân Việt Nam lao động, công tác ở nước ngoài). Riêng đối với ca sỹ như diễn viên thanh nhạc biểu diễn các loại hình nghệ thuật ca-nhạc kịch, cải lương, tuồng, chèo, dân ca; nghệ sỹ xiếc, múa; cầu thủ bóng đá; vận động viên chuyên nghiệp có xác nhận của cơ quan quản lý Nhà nước chuyên ngành, được trừ 25% thu nhập khi xác định thu nhập chịu thuế Thu nhập thường xuyên chịu thuế được tính như sau: Công dân Việt Nam ở trong nước hoặc đi công tác, lao động ở nước ngoài, cá nhân khác định cư tại Việt Nam: lấy tổng thu nhập nhận được trong năm kể cả thu nhập phát sinh ở nước ngoài chia 12 tháng (theo năm dương lịch). Người nước ngoài được coi là cư trú tại Việt Nam nếu ở tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên: lấy tổng thu nhập nhận được trong năm bao gồm thu nhập phát sinh tại Việt Nam và thu nhập phát sinh ngoài Việt Nam chia cho 12 tháng. Người nước ngoài ở tại Việt Nam dưới 183 ngày thì được coi là không cứ trú ở Việt Nam, trong trường hợp này thu nhập thường xuyên chịu thuế là tổng thu nhập phát sinh tại Việt Nam trong thời gian đó. Thu nhập không thường xuyên. Thu nhập không thường chịu thuế là số thu nhập của từng cá nhân trong từng lần phát sinh thu nhập nằm trong mức giới hạn phải nộp thuế thu nhập do biểu thuế quy định. b. Thuế suất. Ðối với thu nhập thường xuyên. Thuế thu nhập đối với thu nhập thường xuyên được áp dụng biểu thuế suất lũy tiến từng phần có phân biệt giữa người Việt Nam và người nước ngoài. Biểu thuế chia thành các nhóm sau: Ðối với công dân Việt Nam và cá nhân khác định cư tại Việt Nam, thuế thu nhập theo biểu thuế lũy tiến từng phần như sau: 14
  15.  Ðối với công dân Việt Nam và cá nhân khác định cư tại Việt Nam, thuế thu nhập theo biểu thuế lũy tiến từng phần như sau: Bậc Phần thu nhập tính Phần thu nhập Thuế thuế thuế/năm tính thuế/tháng suất (%) (triệu đồng) (triệu đồng) Đến 60 Đến 5 1 5 Trên 60 đến 120 Trên 5 đến 10 2 10 Trên 120 đến 216 Trên 10 đến 18 3 15 Trên 216 đến 384 Trên 18 đến 32 4 20 Trên 384 đến 624 Trên 32 đến 52 5 25 Trên 624 đến 960 Trên 52 đến 80 6 30 7 Trên 960 Trên 80 35  Ðối với người nước ngoài cư trú tại Việt Nam và công dân Việt Nam lao động, công tác ở nước ngoài, thuế thu nhập theo biểu thuế lũy tiến từng phần như sau: Thu nhập tính thuế Thuế suất (%) a) Thu nhập từ đầu tư vốn 5 b) Thu nhập từ bản quyền, nhượng quyền thương mại 5 c) Thu nhập từ trúng thưởng 10 d) Thu nhập từ thừa kế, quà tặng 10 đ) Thu nhập từ chuyển nhượng vốn quy định tại 20 khoản 1 Điều 13 của Luật này Thu nhập từ chuyển nhượng chứng khoán quy định 0,1 tại khoản 2 Điều 13 của Luật này e) Thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản quy định 25 tại khoản 1 Điều 14 của Luật này 15
  16. Thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản quy định 2 tại khoản 2 Điều 14 của Luật này Riêng đối với người nước ngoài cư trú tại Việt Nam dưới 183 ngày trong năm tính thuế thì áp dụng thuế suất thống nhất là 25 % trên tổng số thu nhập.  Trường hợp công dân Việt Nam trong năm vừa có thời gian làm việc ở trong nước, vừa có thời gian làm việc ở nước ngoài thì thu nhập chịu thuế bình quân tháng được xác định bằng tổng thu nhập phát sinh ở trong nước và ở nước ngoài chia cho 12 tháng, hoặc xác định theo thu nhập chịu thuế bình quân tháng tính cho thời gian ở trong nước, thời gian ở nước ngoài Ðối với thu nhập không thường xuyên. i.) Đối với thu nhập về chuyển giao công nghệ là khoản thu nhập có giá trị trên 15 triệu đồng tính cho từng hợp đồng, không phân biệt số lần chi trả; ii.) Đối với thu nhập về trúng thưởng xổ số dưới các hình thức, kể cả trúng thưởng khuyến mại là khoản thu nhập có giá trị trên 15 triệu đồng tính cho từng lần trúng thưởng và nhận giải thưởng. c. Thuế thu nhập cá nhân và Hiệp định tránh đánh thuế hai lần. Hiệp định tránh đánh thuế trùng mà Chính phủ Việt Nam ký với Chính phủ một số nước có tác dụng đối với việc nộp thuế thu nhập cá nhân tại Việt Nam của người nước ngoài như sau: Hiệp định tránh đánh thuế trùng mà Việt Nam ký với các nước có tác dụng tránh đánh thuế trùng thuế thu nhập cá nhân của người nước ngoài có thu nhập tại Việt Nam. Trường hợp người nước ngoài đã nộp thuế thu nhập tại Việt Nam thì họ sẽ được cấp chứng từ để làm căn cứ miễn thuế hoặc giảm thuế ở nước họ. Trường hợp cá nhân Việt Nam trong năm vừa làm việc trong nước vừa làm việc ở nước ngoài thì thu nhập chịu thuế và thuế thu nhập được tính như sau: Trong trường hợp này, cá nhân phải thực hiện quyết toán thuế tại Việt Nam. Cá nhân phải tổng hợp thu nhập phát sinh tại Việt Nam và ngoài Việt 16
  17. Nam để tính thu nhập bình quân tháng, trên cơ sở tổng thu nhập cả năm chia cho 12 tháng và xác định số thuế phải nộp theo biểu thức tương ứng, cụ thể là: thời gian ở Việt Nam tính theo biểu thuế quy định đối với công dân Việt Nam và cá nhân khác định cư tại Việt Nam; thời gian ở nước ngoài thì tính theo biểu thuế quy định đối với người nước ngoài cư trú tại Việt Nam và công dân Việt Nam lao động công tác ở nước ngoài.  Trường hợp cá nhân đã nộp thuế cá nhân ở nước ngoài và có chứng từ nộp thuế thu nhập cá nhân tại nước đó thì được trừ số thuế đã nộp ở nước ngoài, nhưng không vượt qúa số thuế phải nộp tính trên số thu nhập chịu thuế từ nước ngoài theo biểu thuế của Việt Nam. Nếu cá nhân có thu nhập ở các nước đã ký Hiệp định tránh đánh thuế trùng với Chính phủ Việt Nam thì thực hiện theo nội dung của Hiệp định. d. Các trường hợp miễn thuế, giảm thuế. Cá nhân nộp thuế gặp khó khăn do thiên tai, địch họa, tai nạn ...làm thiệt hại về tài sản, thu nhập, ảnh hưởng đến đời sống bản thân thì cá nhân nộp thuế được xét miễn, giảm thuế trong năm tùy theo mức độ thiệt hại. Số thuế được xét miễn, giảm bằng tỷ lệ giữa số thiệt hại so với thu nhập chịu thuế trong năm, nhưng không vượt qúa số tiền thuế phải nộp cả năm. Với một số trường hợp đặc biệt, liên quan đến lợi ích kinh tế, chính trị, xã hội quốc gia thì được xem xét miễn, giảm thuế. Trong trường hợp chờ quyết định miễn, giảm thuế, cá nhân nộp thuế vẫn phải nộp đủ số thuế theo quy định. Khi có quyết định miễn, giảm thuế sẽ được thoái trả số thuế được miễn, giảm bằng cách trừ vào số thuế phải nộp kỳ sau hoặc được cơ quan ủy nhiệm thu trả lại tiền thuế đã khấu trừ theo quyết định của cơ quan thuế. 17
  18. CHƯƠNG III: HỆ THỐNG QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN Ở VIỆT NAM 1. Khái niệm công tác quản lý thuế TNCN: Quản lý thuế TNCN là sự tác động có chủ đích của cơ quan chức năng trong bộ máy nhà nước đối với quá trình tính và thu thuế TNCN để thay đổi quá trình này nhằm tạo nguồn thu cho ngân sách và đạt được các mục tiêu nhà nước đặt ra. Công tác quản lý thuế TNCN nhằm đạt được các mục tiêu sau: Tăng cường tập trung, huy động đầy đủ và kịp thời số thu cho ngân sách nhà nước trên cơ sở không ngừng nuôi dưỡng và phát triển nguồn thu.Thuế TNCN chiếm tỉ trọng chủ yếu trong số thu ngân sách nhà nước ở hầu hết các quốc gia trên thế giới.Vì vậy, làm tốt công tác quản lý thuế thu nhập nói chung và TNCN nói riêng sẽ có tác dụng lớn trong việc tập trung, huy động đầy đủ và kịp thời số thu cho ngân sách nhà nước. Góp phần tăng cường ý thức chấp hành pháp luật cho các tổ chức kinh tế và dân cư. Phát huy tốt nhất vai trò của thuế TNCN trong nề kinh tế 2. Nội dung công tác quản lý thuế TNCN Công tác quản lý là 1 phần quan trọng của quản lý tài chính nhà nước, công tác này cần được nhìn nhận ở tầm vĩ mô và phải bao gồm toàn bộ các công việc thuộc các lĩnh vực lập pháp , hành pháp , tư pháp về thu. a. Ban hành chính sách thuế TNCN Đây là công việc thuộc lĩnh vực lập pháp.Việc ban hành chính sách thuế TNCN sẽ tạo ra những quy định pháp luật làm cơ sở để tính và thu thuế.Đồng thời, ban hành chính sách cũng đưa ra những căn cứ để kiểm tra, thanh tra, và áp dụng các chế tài đối với quá trình tính và thu này Để mỗi công dân đều sống và làm việc theo pháp luật thì chính sách thuế TNCN cần được xây dựng dựa trên các nguyên tắc cơ bản sau: 18
  19. Việc xây dựng các văn bản pháp luật và chính sách thuế cần đảm bảo tính đơn giản, rõ rang, chặt chẽ.Vì loại thuế này khá phức tạp nên nguyên tắc này cần được đảm bảo để hạn chế hành vi trốn thuế của các đối tượng nộp thuế. Quy định trong chính sách thuế này cần đảm bảo được yêu cầu đặt ra trong việc huy động nguồn thu cho ngân sách , đồng thời phù hợp với điều kiện kinh tế-xã hội và đảm bảo tính công bằng đối với cả người nộp thuế và xã hội. Thuế TNCN đóng vai trò phân phối lại thu nhập trong xã hội , giảm bớt sự cách biệt quá lớn về mức sống giữa các cá nhân trong xã hội nhưng cũng cần động viên sự phấn đấu làm việc của người lao động. Các quy định phải đảm bảo cho thu nhập thực tế sau khi nộp thuế của các đối tượng nộp thuế tương xứng với công sức lao động và sự đóng góp của họ. Để đảm bảo chính sách thuế TNCN phát huy hiệu quả cần chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho quá trình triển khai thực hiện , bao gồm: Phát triển mạnh hệ thống thanh toán qua ngân hàng, không dùng tiền mặt bằng các phương pháp bắt buộc và khuyến khích tự nguyện, cải tiến và hoàn thiện chế độ kế toán, thống kê, thông tin,báo cáo để tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quản lý thuế TNCN, đặc biệt đối với cá nhân , hộ gia đình tự doanh; phát triển hệ thống dịch vụ kế toán, tư vấn , kê khai thuế chuyên nghiệp; Tăng cường phối hợp giữa cơ quan thuế với các cơ quan quản lý nhà nước, các tổ chức cá nhân có liên quan.Nâng cao vai trò và thẩm quyền của cơ quan thuế trong việc kiểm tra, kiểm soát, thanh tra thuế, cưỡng chế thuế; Tăng cường tuyên truyền, vận động sâu rộng về chính sách thuế TNCN, xây dựng cơ chế tiếp thu ý kiến thông tin phản hồi từ người nộp thuế . b. Những nội dung cơ bản của chính sách thuế TNCN:  Đối tượng nộp thuế: Thuế TNCN thuộc loại thuế trực thu nên đối tượng chịu thuế cũng đồng thời là đối tượng nộp thuế.Xác định đối tượng nộp thuế là một trong những nội dung quan trọng của thuế TNCN, từ đó mới có thể vận dụng cách tính 19
  20. thuế cho phù hợp. Khi tiến hành xác định đối tượng nộp thuế , người ta thường dựa vào hai tiêu thức là “nơi cư trú” và “nguồn phát sinh thu nhập”.  Đối tượng tính thuế: Việc xác định đối tượng tính thuế là 1trong những vấn đề quan trọng hàng đầu được đề cập đến trong chính sách thuế TNCN của các nước. Căn cứ vào đó, người ta có thể thấy rằng loại thuế TNCN mà từng nước cụ thể áp dụng có công bằng không, thuế này tạo được nguồn thu như thế nào cho ngân sách nước đó. Đối tượng tính thuế ở đây là một số khoản thu nhập nằm trong trong diện tích thuế TNCN theo quy định trong chính sách thuế TNCN của từng quốc gia. Để tính được thuế TNCN cá nhân phải nộp trước tiên phải xác định những khoản thu nhập nào là đối tượng tính thuế và tính toán thu nhập đó như thế nào. Sau đó , căn cứ vào 1 số quy định khác trong chính sách thuế như các khoản miễn giảm, khấu trừ…cơ quan thuế xác định được thu nhập tính thuế, từ thu nhập tính thuế và thuế suất sẽ xác định thuế phải nộp.  Các phương pháp tính thuế TNCN: Thông thường, thuế TNCN được chia làm 2 loại riêng biệt : thuế TNCN theo khoản và thuế TNCN tổng hợp. + Thuế thu nhập cá nhân theo khoản: là thuế được xác định theo từng nguồn thu nhập. Ứng với mỗi nguồn thu nhập khác nhau. Do đó, tổng số thuế phải nộp chính là tổng số thuế thu nhập mà họ phải nộp theo từng nguồn. Thuế TNCN theo khoản này tồn tại với 2 nguyên tắc: tính thuế độc lập và có phân biệt thuế suất với các loại thu nhập khác nhau. Từ đó, nó cho phép điều chỉnh tăng giảm mức đóng góp về thuế tùy theo nguồn gốc thu nhập , có sự phù hợp giữa kỹ thuật tính thuế với đặc điểm của mỗi loại thu nhập. + Thuế thu nhập cá nhân tổng hợp: là loại thuế được tính trên tổng thu nhập tương ứng với tổng số các khoản thu nhập cộng lại. Thông thường, theo cách tính này, người có thu nhập cao phải nộp thuế nhiều hơn người có thu nhập thấp.  Đơn vị tính thuế: 20

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản