Tiểu luận triết học: Quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và sự nhận thức, vận dụng quy luật này ở Việt Nam

Chia sẻ: Đinh Phan Quỳnh | Ngày: | Loại File: DOCX | Số trang:26

0
232
lượt xem
112
download

Tiểu luận triết học: Quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và sự nhận thức, vận dụng quy luật này ở Việt Nam

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Xã hội loài ngườ đã trải qua 5 phương thức sản xuất đó là : Nguyên thuỷ, chiếm hữu nô lệ, xã hội phong kiến, xã hội chủ nghĩa, tư bản chủ nghĩa. Tư duy nhận thức của con người không dừng lại ở một chỗ mà theo thời gian tư duy của con người càng phát triển càng hoàn thiện hơn. Từ đó kéo theo sự thay đổi phát triển lực lượng sản xuất cũng như cơ sở sản xuất. Từ khi sản xuất chủ yếu bằng hái lượm săn bắt, trình độ khoa học kỹ thuật lạc hậu thì ngày nay trình độ khoa...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tiểu luận triết học: Quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và sự nhận thức, vận dụng quy luật này ở Việt Nam

  1. Tr-êng §HCSND - TiÓu luËn TriÕt häc Tiểu luận Quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lƣợng sản xuất và sự nhận thức, vận dụng quy luật này ở Việt Nam Bïi xu©n Khëi - CH5 KTT 1
  2. Tr-êng §HCSND - TiÓu luËn TriÕt häc Mục Lục Tiểu luận ..................................................................................................................................................... 1 Mở Đầu ........................................................................................................................................................ 3 Nội dung ...................................................................................................................................................... 5 CHƢƠNG 1. NHẬN THỨC CHUNG ........................................................................................................ 5 1.1. Đôi nét về lực lƣợng sản xuất và quan hệ sản xuất .......................................................................... 5 Lực lƣợng sản xuất .................................................................................................................................. 5 Quan hệ sản xuất ..................................................................................................................................... 8 1.2. Qui luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lƣợng sản xuất. .... 12 Tính chất và trình độ của lực lƣợng sản xuất......................................................................................... 12 Tính chất ................................................................................................................................................ 12 Quan hệ sản xuất và lực lƣợng sản xuất mâu thuẫn hay phù hợp.......................................................... 13 Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lƣợng sản xuất. .......... 15 CHƢƠNG 2. SỰ VẬN DỤNG CỦA ĐẢNG TA TRONG ĐƢỜNG LỐI ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM ...... 17 2.1. Sự hình thành và phát triển nền kinh tế nhiều thành phần trong giai đoạn hiện nay ở nƣớc ta. ..... 17 2.2. Vận dụng quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lƣợng sản xuất trong quá trình công nghiệp hoá - Hiện đại hóa nƣớc ta hiện nay. ................................................ 19 2.3. Học thuyết về hình thái kinh tế - xã hội cơ sở lý luận của sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá trong giai đoạn hiện nay.................................................................................................................. 23 Kết Luận .................................................................................................................................................... 25 Danh sách tà iliệu tham khảo ................................................................................................................. 26 Bïi xu©n Khëi - CH5 KTT 2
  3. Tr-êng §HCSND - TiÓu luËn TriÕt häc Mở Đầu Xã hội loài ngƣời đã trải qua năm phƣơng thức sản xuất đó là: Nguyên thuỷ, chiếm hữu nô lệ, xã hội phong kiến, xã hội chủ nghĩa, tƣ bản chủ nghĩa. Tƣ duy nhận thức của con ngƣời không dừng lại ở một chỗ mà theo thời gian tƣ duy của con ngƣời càng phát triển càng hoàn thiện hơn. Từ đó kéo theo sự thay đổi phát triển lực lƣợng sản xuất cũng nhƣ cơ sở sản xuất. Từ khi sản xuất chủ yếu bằng hái lƣợm săn bắt, trình độ khoa học kỹ thuật lạc hậu thì ngày nay trình độ khoa học đạt tới mức tột đỉnh. Không ít các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu đổ sức bỏ công cho các vấn đề này cụ thể là nhận thức con ngƣời, trong đó có trƣờng phái triết học. Với ba trƣờng phái trong lịch sử phát triển của mình chủ nghĩa duy vật, chủ nghĩa duy tâm và trƣờng phái nhị nguyên luận. Nhƣng họ đều thống nhất rằng thực chất của triết học đó là sự thống nhất biện chứng giữa quan hệ sản xuất với lực lƣợng sản xuất nhƣ thống nhất giữa hai mặt đối lập tạo nên chỉnh thể của nền sản xuất xã hội. Tác động qua lại biện chứng giữa lực lƣợng sản xuất với quan hệ sản xuất đƣợc mác và Ănghen khái quát thành qui luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với lực lƣợng sản xuất. Từ những lý luận trên đƣa Mác - Ănghen vƣơn lên đỉnh cao trí tuệ của nhân loại. Không chỉ trên phƣơng diện triết học mà cả chính trị kinh tế học và chủ nghĩa cộng sản khoa học. Dƣới những hình thức và mức độ khác nhau, dù con ngƣời có ý thức và mức độ khác nhau, dù con ngƣời có ý thức đƣợc hay không thì nhận thức của hai ông về qui luật vẫn xuyên suốt lịch sử phát triển. Nƣớc ta lựa chọn con đƣờng xã hội chủ nghĩa bỏ qua chế độ tƣ bản chủ nghĩa từ một nƣớc nông nghiệp lạc hậu, do đó xây dựng phƣơng thức sản xuất xã hội chủ nghĩa là một quá trình lâu dài và đầy khó khăn, phức tạp. Kinh nghiệm thực tế chỉ rõ, lực lƣợng sản xuất bị kìm hãm không chỉ trong trƣờng hợp quan hệ sản xuất lạc hậu, mà cả khi quan hệ sản xuất phát triển không đồng Bïi xu©n Khëi - CH5 KTT 3
  4. Tr-êng §HCSND - TiÓu luËn TriÕt häc bộ và có những yếu tố đi quá xa so với trình độ phát triển của lực lƣợng s ản xuất Tình hình thực tế của nƣớc ta đòi hỏi phải coi trọng những hình thức kinh tế trung gian, quá độ từ thấp đến cao, từ quy mô nhỏ lên quy mô lớn. Để xây dựng phƣơng thức sản xuất xã hội chủ nghĩa, chúng ta chủ trƣơng xây dựng một nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần với cơ chế thị trƣờng có sự quản lý của nhà nƣớc nhằm phát huy mọi tiềm năng của các thành phần kinh tế, phát triển mạnh mẽ lực lƣợng sản xuất để xây dựng cơ sở kinh tế của chủ nghĩa xã hội. Xuất phát từ những lý do trên, tôi đã chọn đề tài "Quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lƣợng sản xuất và sự nhận thức, vận dụng quy luật này ở Việt Nam " làm đề tài tiểu luận; tuy nhiên do trình độ nhận thức hiểu biết về mọi mặt còn nhiều hạn chế, nên không tránh khỏi những sai sót. Rất mong nhận đƣợc sự chỉ bảo của các Thầy, Cô. Bïi xu©n Khëi - CH5 KTT 4
  5. Tr-êng §HCSND - TiÓu luËn TriÕt häc Nội dung CHƢƠNG 1. NHẬN THỨC CHUNG 1.1. Đôi nét về lực lƣợng sản xuất và quan hệ sản xuất Lực lƣợng sản xuất Lực lƣợng sản xuất là toàn bộ những tƣ liệu sản xuất do xã hội tạo ra, trƣớc hết là công cụ lao động và những ngƣời lao động với kinh ngiệm và thói quen lao động nhất định đã sử dụng những tƣ liệu sản xuất đó để tạo ra của cải vật chất cho xã hội. Lực lƣợng sản xuất bao gồm ngƣời lao động và kỹ năng lao động và tƣ liệu sản xuất. Trong quá trình sản xuất công cụ lao động tác động vào đối tƣợng lao động để tạo ra của cải vật chất thì tƣ liệu lao động đƣợc hoàn thiện nhằm đạt đƣợc năng suất lao động cao. Còn trong tƣ liệu lao động tức là tất cả các yếu tố vật chất mà con ngƣời sử dụng để tác động vào đối tƣợng lao động thì công cụ lao động là yếu tố quan trọng nhất linh hoạt nhất. Bởi vậy khi công cụ lao động đã đạt đến trình độ tin học hoá đƣợc tự động hoá thì vai trò của nó lại càng quan trọng. Trong mọi thời đại công cụ sản xuất luôn là yếu tố đông nhất của lực lƣợng sản xuất. Chính sự chuyển đổi cải tiến và hoàn thiện không ngừng của nó đã gây lên những biến đổi sâu sắc trong toàn bộ tƣ liệu sản xuất. Trình độ phát triển công cụ lao động là thƣớc đo trình độ chinh phục tự nhiên của con ngƣời. Tuy nhiên LêNin viết: “Lực lƣợng sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại là công nhân, ngƣời lao động” có thể cói yếu tố quan trọng nhất trong lực lƣợng sản xuất chính là con ngƣời. Từ thực trạng đó lý luận về lực lƣợng sản xuất của xã hội đƣợc C.Mác nêu lên và phát triển một cách sâu sắc trong các tác phẩm chuẩn bị cho bộ "Tƣ bản" và chính trong bộ "Tƣ bản" Mác đã trình bày hết sức rõ ràng quan điểm của mình về các yếu tố cấu thành lực lƣợng sản xuất của xã hội trong đó bao Bïi xu©n Khëi - CH5 KTT 5
  6. Tr-êng §HCSND - TiÓu luËn TriÕt häc gồm sức lao động và tƣ liệu sản xuất. Đối với Mác cùng với tƣ liệu lao động đối với lao động cũng thuộc về tƣ liệu sản xuất, còn trong tƣ liệu lao động tức là tất cả những yếu tố vật chất mà con ngƣời sử dụng để tác động và đối tƣợng lao động nhƣ công cụ lao động, nhà xƣởng, phƣơng tiện lao động, cơ sở vật chất kho tàng... thì vai trò quan trọng hơn cả thuộc về công cụ lao động. Công cụ lao động là yếu tố quan trọng nhất linh hoạt nhất của tƣ liệu sản xuất. Mọi thời đại muốn đánh giá trình độ sản xuất thì phải dựa vào tƣ liệu lao động. Tuy nhiên yếu tố quan trọng nhất trong lực lƣợng sản xuất chính là con ngƣời cho dù những tƣ liệu lao động đƣợc tạo ra từ trƣớc có sức mạnh đến đâu và đối tƣợng lao động có phong phú nhƣ thế nào thì con ngƣời vẫn là bậc nhất. Lịch sử loài ngƣời đƣợc đánh dấu bởi các mốc quan trọng trong sự phát triển của lực lƣợng sản xuất trƣớc hết là công cụ lao động. Sau bƣớc ngoặt sinh học, sự xuất hiện công cụ lao động đánh dấu một bƣớc ngoặt khác trong sự chuyển từ vƣợn thành ngƣời. Từ kiếm sống bằng săn bắt hái lƣợm sang hoạt động lao động thích nghi với tự nhiên và dần dần cải tạo tự nhiên. Từ sản xuất nông nghiệp công nghệ lạc hậu chuyển lên cơ khí hoá sản xuất. Sự phát triển lực lƣợng sản xuất trong giai đoạn này không chỉ giới hạn ở việc tăng một cách đáng kể số lƣợng thuần tuý với các công cụ đã có mà chủ yếu là ở việc tạo ra những công cụ hoàn toàn mới sử dụng cơ bắp con ngƣời. Do đó con ngƣời đã chuyển một phần công việc năng nhọc cho máy móc có điều kiện để phát huy các năng lực khác của mình. Ở nƣớc ta từ trƣớc tới nay nền kinh tế lấy nông nghiệp làm chủ yếu, nên trình độ khoa học kỹ thuật kém phát triển. Hiện nay chúng ta đang ở trong tình trạng kế thừa những lực lƣợng sản xuất vừa nhỏ, vừa lạc hậu so với trình độ chung của thế giới, hơn nữa trong một thời gian khá dài, những lực lƣợng ấy bị kìm hãm, phát huy tác dụng kém. Chính vì vậy, ngay từ sau Đại hội Đảng toàn Bïi xu©n Khëi - CH5 KTT 6
  7. Tr-êng §HCSND - TiÓu luËn TriÕt häc quốc lần thứ VI chúng ta đã đặt ra nhiệm vụ là "Giải phóng mọi năng lực sản xuất hiện có. Khai thác mọi khả năng tiềm tàng của đất nƣớc, sử dụng có hiệu quả sự giúp đỡ quốc tế để phát triển mạnh mẽ lực lƣợng sản xuất ”. Mặt khác chúng ta đang ở trong giai đoạn mới trong sự phát triển của cách mạng khoa học kỹ thuật đang chứng kiến những biến đổi cách mạng trong công nghệ. Chính điều này đòi hỏi chúng ta lựa chọn một mặt tận dụng cái hiện có mặt khác nhanh chóng tiếp thu cái mới do thời đại tạo ra nhằm dùng chúng để nhân nhanh các nguồn lực từ bên trong. Nếu phân tích một cách khách quan thì rõ ràng lực lƣợng sản xuất của ta đang ứng với cả ba giai đoạn phát triển của lực lƣợng sản xuất trong nền văn minh loài ngƣời. Thực tế hiện nay trong nhiều ngành sản xuất công cụ thủ công vẫn đang còn hiện diện, lao động chân tay vẫn còn chiếm tỉ lệ cao, đến nay vẫn chƣa hoàn thành công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Cần khẳng định một vấn đề có tính quy luật là trong lịch sử bao giờ cũng có sự đan xen của trình độ phát triển khác nhau trong từng yếu tố cấu thành lực lƣợng sản xuất. Trong thời đại ngày nay khoa học đã phát triển tới mức trở thành nguyên nhân trực tiếp của nhiều biến đổi to lớn trong sản xuất và đời sống nó đã trở thành lực lƣợng sản xuất trực tiếp. Nó vừa là ngành sản xuất riêng vừa thâm nhập vào các yếu tố cấu thành lực lƣợng sản xuất đem lại thay đổi về chất cho lực lƣợng sản xuất. Tuy nhiên trên thực tế song song với tình trạng lạc hậu trong phạm vi hẹp nhất định, chúng ta đang dần dần đi lên với tự động hoá, sử dụng thành thạo máy móc vi tính... Đối tƣợng lao động thấp kém đang đƣợc bổ sung. Chính vì lẽ đó mà sẽ không có câu trả lời đơn thuần về việc chỉ nên phát triển loại tƣ liệu sản xuất nào, công cụ gì và đối tƣợng lao động nào là chính. Bïi xu©n Khëi - CH5 KTT 7
  8. Tr-êng §HCSND - TiÓu luËn TriÕt häc Quan hệ sản xuất Trong hệ thống các khái niệm của chủ nghĩa duy vật lịch sử, khái niệm lực lƣợng sản xuất biểu thị mặt thứ nhất của mối “ quan hệ song trùng” của bản thân sự sản xuất xã hội- quan hệ của con ngƣời với tự nhiên; còn khía niệm quan hệ sản xuất biểu thị mặt thứ hai của quan hệ đó- quan hệ của con ngƣời với con ngƣời trong sản xuất. Sở dĩ qúa trình sản xuất xã hội có thể diễn ra bình thƣờng, chính là vì trong sự sản xuất đó, mối quan hệ giữa con ngƣời với con ngƣời tồn tại thống nhất với mối quan hệ giữa con ngƣời với giới tự nhiên. Trong sản xuất, mối quan hệ giữa con ngƣời với tự nhiên thể hiện thành những trình độ khác nhau của lực lƣợng sản xuất. Tuy nhiên, mối quan hệ đó đƣợc xây dựng trong và thông qua những quan hệ khác nhau giữa ngƣời với ngƣời, tức là những quan hệ sản xuất. Trong tác phẩm Lao động làm thuê và tƣ bản, C. Mác viết: “ Trong sản xuất, ngƣời ta không chỉ quan hệ với giới tự nhiên. Ngƣời ta không thể sản xuất đƣợc nếu không kết hợp với nhau theo một cách nào đó để hoạt động chung và để trao đổi hoạt động với nhau. Muốn sản xuất đƣợc ngƣời ta phải có những mối liên hệ và quan hệ nhất định với nhau; và quan hệ của họ với giới tự nhiên, tức là việc sản xuất”( 5). Nhƣ vậy, trong sự sản xuất ra đời sống xã hội của mình, con ngƣời ta, dù muốn hay không cũng buộc phải duy trì và thực hiện những quan hệ nhất định với nhau. những quan hệ này mang tính tất yếu và không phụ thuộc vào ý muốn của ai cả. Đó chính là những quan hệ sản xuất( 6). Cố nhiên, quan hệ sản xuất là do con ngƣời tạo ra, song nó tuân theo những quy luật tất yếu, khách quan sự vận động của đời sống xã hội. Quan hệ sản xuất bao gồm những mặt cơ bản sau đây: + Quan hệ giữa ngƣời với ngƣời đối với việc sở hữu về tƣ liệu sản xuất. Bïi xu©n Khëi - CH5 KTT 8
  9. Tr-êng §HCSND - TiÓu luËn TriÕt häc + Quan hệ giữa ngƣời và ngƣời đối với việc tổ chức quản lý. + Quan hệ giữa ngƣời và ngƣời đối với việc phân phối sản phẩm lao động. Với tính cách là những quan hệ kinh tế khách quan, không phụ thuộc vào ý muốn của con ngƣời, quan hệ sản xuất là những quan hệ mang tính vật chất thuộc đời sống xã hội. Quan hệ sản xuất là hình thức xã hội của lực lƣợng sản xuất và là cơ sở sâu xa của đời sống tinh thần xã hội. Ba mặt quan hệ đó trong quá trình sản xuất xã hội luôn gắn bó với nhau, tạo thành một hệ thống mang tính ổn định tƣơng đối so với sự vận động không ngừng của lực lƣợng sản xuất. Các quan hệ sản xuất của một phƣơng thức sản xuất là một hệ thống bao gồm nhiều mối quan hệ phong phú và đa dạng biểu hiện dƣới nhiều hình thức. Mỗi mặt quan hệ của hệ thống quan hệ sản xuất có vai trò và ý nghĩa riêng biệt, xác định, khi nó tác động tới nền sản xuất xã hội nói riêng và tới toàn bộ tiến trình lịch sử nói chung. Tính chất của quan hệ sản xuất trƣớc hết đƣợc quy định bởi quan hệ sở hữu đối với tƣ liệu sản xuất- biểu hiện thành chế độ sở hữu- là đặc trƣng cơ bản của phƣơng thức sản xuất. Trong hệ thống các quan hệ sản xuất của mỗi nền kinh tế- xã hội xác định, quan hệ sở hữu về tƣ liệu sản xuất luôn luôn có vai trò quyết định đối với tất cả các quan hệ xã hội khác . Quan hệ sở hữu là quan hệ xuất phát, quan hệ cơ bản, quan hệ trung tâm của các quan hệ sản xuất. Chính quan hệ sở hữu- quan hệ giữa các tập đoàn ngƣời trong việc chiếm hữu các tƣ liệu sản xuất đã quy định địa vị của từng tập đoàn trong hệ thống sản xuất xã hội. Đến lƣợt mình, địa vị của từng tập đoàn ngƣời trong hệ thống sản xuất lại quy định cách thức mà các tập đoàn trao đổi hoạt động cho nhau, quy định cách thức mà các tập đoàn tổ chức quản lý quá trình sản xuất. Cuối cùng, chính quan hệ sở hữu là cái quyết định phƣơng thức phân phối sản phẩm cho các tập đoàn ngƣời theo địa vị của họ đối Bïi xu©n Khëi - CH5 KTT 9
  10. Tr-êng §HCSND - TiÓu luËn TriÕt häc với hệ thống sản xuất xã hội. “ Định nghĩa quyền sở hữu tƣ sản không phải là gì khác mà là trình bày tất cả những quan hệ xã hội của sản xuất tƣ sản”.( 7). Trong các hình thái kinh tế- xã hội mà loài ngƣời đã từng trải qua, lịch sử đã chứng kiến sự tồn tại của hai loại hình thức sở hữu cơ bản đối với tƣ liệu sản xuất: sở hữ tƣ nhân và sở hữu công cộng. Sở hữu công cộng là loại hình mà trong đó tƣ liệu sản xuất thuộc về mọi thành viên của mỗi cộng đồng. Nhờ cơ sở đó nên về mặt nguyên tắc, các thành viên của mỗi cộng đồng bình đẳng với nhau trong tổ chức lao động và trong phân phối sản phẩm. Do tƣ liệu sản xuất là tài sản chung của cả cộng đống nên các quan hệ xã hội trong sản xuất vật chất và trong đời sống xã hội nói chung, trở thành quan hệ hợp tác, tƣơng trợ giúp đỡ lẫn nhau. Ngƣợc lại, trong các chế độ tƣ hữu, do tƣ liệu chỉ nằm trong tay một số ít ngƣời nên của cải xã hội không thuộc về số đông mà thuộc về số ít ngƣời đó. Các quan hệ xã hội, do vậy, trở thành bất bình đẳng, quan hệ thống trị và bị trị. Đối kháng xã hội trong các xã hội tồn tại chế độ tƣ hữu tiềm tàng khả năng trở thành đối kháng gay gắt. Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác- Lê nin đã chỉ rõ trong các chế độ sở hữu tƣ nhân của các xã hội điển hình trong lịch sử( sở hữu tƣ nhân của xã hội chiếm hữu nô lệ, sở hữu tƣ nhân trong chế độ phong kiến và sở hữu tƣ nhân trong chế độ tƣ bản) thì chế độ sở hữu tƣ nhân tƣ bản chủ nghĩa là đỉnh cao của loại sở hữu này. C. Mác và Ph. Ăngghen đã chứng minh rằng chế độ tƣ bản chủ nghĩa không phải là hình thức sở hữu cuối cùng trong lịch sử xã hội loài ngƣời. Chủ nghĩa xã hội dựa trên chế độ công hữu về tƣ liệu sản xuất, dù sớm hay muộn cũng sẽ đóng vai trò phủ định đối với chế độ tƣ hữu. Trong hệ thống các quan hệ sản xuất, các quan hệ về mặt tổ chức, quản lý sản xuất là các quan hệ có khả năng quyết định một cách trực tiếp quy mô, tốc độ, hiệu quả và xu hƣớng của mỗi nền sản xuất cụ thể. Bằng cách nắm bắt các nhân tố Bïi xu©n Khëi - CH5 KTT 10
  11. Tr-êng §HCSND - TiÓu luËn TriÕt häc xác định của một nền sản xuất, điều khiển và tổ chức cách thức vận động của các nhân tố đó, các quan hệ tổ chức và quản lý sản xuất có khả năng đẩy nhanh hoặc kìm hãm các quá trình khách quan của sản xuất. Các quan hệ về mặt tổ chức và quản lý sản xuất luôn luôn có xu hƣớng thích ứng với kiểu quan hệ sở hữu thống trị của mỗi nền sản xuất cụ thể. Do vậy, việc sử dụng hợp lý các quan hệ tổ chức và quản lý sản xuất sẽ cho phép toàn bộ hệ thống quan hệ sản xuất có khả năng vƣơn tới tối ƣu. Trong trƣờng hợp ngƣợc lại, các quan hệ quản lý và tổ chức có thể làm biến dạng quan hệ sở hữu, ảnh hƣởng tiêu cực đến sự phát triển kinh tế- xã hội. Hiện nay, nhờ ứng dụng những thành tựu to lớn của khoa học quản lý hiện đại nên vai trò của các quan hệ tổ chức và quản lý đối với sản xuất, đặc biệt đối với việc điều hành sản xuất, đặc biệt đối với việc điều hành sản xuất ở tầm vĩ mô, trên thực tế đã tăng lên gấp bội so với vài thập kỷ trƣớc đây. Đây là điều rất đáng lƣu ý trong việc phân tích và đánh giá vai trò của các quan hệ sản xuất hiện đại. Bên cạnh các quan hệ về mặt tổ chức- quản lý, trong hệ thống các quan hệ sản xuất, các quan hệ về mặt phân phối sản phẩm lao động cũng là những nhân tố có ý nghĩa hết sức to lớn đối với sự vân động của toàn bộ nền kinh tế- xã hội. Mặc dù bị phụ thuộc vào các quan hệ sở hữu và vào trình độ tổ chức quản lý sản xuất, song do có khả năng kích thích trực tiếp vào lợi ích của con ngƣời, nên các quan hệ phân phối là “ chất xúc tác” của các quá trình kinh tế- xã hội. Quan hệ phân phối có thể thúc đẩy tốc độ và nhịp điệu của sự sản xuất, làm năng động toàn bộ đời sống kinh tế- xã hội; hoặc trong trƣờng hợp ngƣợc lại, nó có khả năng kìm hãm sản xuất, kìm hãm sự phát triển của xã hội. Bïi xu©n Khëi - CH5 KTT 11
  12. Tr-êng §HCSND - TiÓu luËn TriÕt häc Nhận thức về phạm trù hình thái kinh tế - xã hội cộng sản Bắt nguồn từ nhận thức về qui luật phát triển của xã hội loài ngƣời là một quá trình lịch sử tự nhiên, đồng thời xuất phát từ những điều kiện mới của thực tế lịch sử hiện nay có thể khẳng định các nƣớc chậm phát triển cũng có khả năng tiến lên CNXH tùy theo hoàn cảnh và khả năng của mình. Khả năng quá độ lên CNXH này thƣờng đƣợc gọi là con đƣờng quá độ gián tiếp lên CNXH, con đƣờng bỏ qua giai đoạn phát triển chế độ tƣ bản chủ nghĩa. Con đƣờng phát triển theo khả năng này còn đƣợc gọi là con đƣờng theo định hƣớng xã hội chủ nghĩa. Theo kinh nghiệm thực tế của Lênin đây là một con đƣờng khá lâu dài phải qua nhiều bƣớc trung gian, phát triển qua đấu tranh giai cấp rất phức tạp. Sự đi lên phải có sự ủng hộ và giúp đỡ bên ngoài kể cả cơ sở sản xuất. Trƣớc hết trong nƣớc đó cần có một Đảng của giai cấp vô sản lãnh đạo, một đảng có quan hệ mật thiết "sống còn" với dân. Từ đó tổ chức áp dụng lãnh đạo trong đó có cả vận dụng qui luật sản xuất phù hợp với nƣớc đó một cách tích cực để không ngừng tiến bƣớc. 1.2. Qui luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lƣợng sản xuất. Tính chất và trình độ của lực lƣợng sản xuất Tính chất Tính chất của lực lƣợng sản xuất là tính chất của tƣ liệu sản xuất và lao động. Khi nền sản xuất đƣợc thực hiện với những công cụ ở trình độ phổ thông, lực lƣợng sản xuất chủ yếu mang tính chất cá nhân. Khi trình độ sản xuất đạt tới trình độ cơ khí hoá, lực lƣợng sản xuất đòi hỏi phải đƣợc vận động cho sự hợp tác xã hội rộng rãi trên cơ sở chuyên môn hoá. Tính chất tự cấp tự túc cô lập của nền sản xuất nhỏ lúc đó phải đƣợc thay thế bởi tính chất xã hội hoá. Trình độ của lực lượng sản xuất Bïi xu©n Khëi - CH5 KTT 12
  13. Tr-êng §HCSND - TiÓu luËn TriÕt häc Lực lƣợng sản xuất là yếu tố có tác dụng quyết định đối với sự phát triển của phƣơng thức sản xuất: Trình độ của lực lƣợng sản xuất trong từng giai đoạn của lịch sử loài ngƣời thể hiện trình độ chinh phục tự nhiên của loài ngƣời trong giai đoạn đó. Khái niệm trình độ của lực lƣợng sản xuất nói lên khả năng của con ngƣời thông qua việc sử dụng công cụ lao động thực hiện quá trình cải biến tự nhiên nhằm đảm bảo cho sự sinh tồn và phát triển của mình. Trình độ lực lƣợng sản xuất thể hiện ở: Trình độ công cụ lao động, trình độ quản lý xã hội trình độ ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, kinh nghiệm và kỹ năng của con ngƣời và trình độ phân công lao động. Trên thực tế tính chất và trình độ của lực lƣợng sản xuất không tách biệt nhau Quan hệ sản xuất và lực lƣợng sản xuất mâu thuẫn hay phù hợp Trong tác phẩm góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị năm 1858 C.Mác viết "Trong sự sản xuất xã hội ra đời sống của mình, con ngƣời ta có những quan hệ nhất định, tất yếu không phụ thuộc ý muốn của họ, tức những quan hệ sản xuất. Những qui luật này phù hợp với một trình độ phát triển nhất định của lực lƣợng sản xuất. Những quan hệ này phù hợp với một trình độ phát triển nhất định của lực lƣợng sản xuất vật chất của họ..." Ngƣời ta thƣờng coi tƣ tƣởng này của Mác là tƣ tƣởng về "Qui luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lƣợng sản xuất". Cho đến nay hầu nhƣ qui luật này đã đƣợc khẳng định cũng nhƣ các nhà nghiên cứu triết học Mác xít. Khái niệm "phù hợp" đƣợc hiểu với nghĩa chỉ phù hợp mới tốt, mới hợp qui luật, không phù hợp là không tốt, là trái qui luật. Có nhiều vấn đề mà nhiều lĩnh vực đặt ra với từ "phù hợp" này. Các mối quan hệ trong sản xuất bao gồm nhiều dạng thức khác nhau mà nhìn một cách tổng quát thì đó là những dạng quan hệ sản xuất và dạng những lực lƣợng sản xuất từ đó Bïi xu©n Khëi - CH5 KTT 13
  14. Tr-êng §HCSND - TiÓu luËn TriÕt häc hình thành những mối liên hệ chủ yếu cơ bản là mối liên hệ giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lƣợng sản xuất. Nhƣng mối liên hệ giữa hai yếu tố cơ bản này là gì? Phù hợp hay không phù hợp. Thống nhất hay mâu thuẫn? Trƣớc hết cần xác định khái niệm phù hợp với các ý nghĩa sau. - Phù hợp là sự cân bằng, sự thống nhất giữa các mặt đối lập hay "sự yên tĩnh" giữa các mặt. - Phù hợp là một xu hƣớng mà những dao động không cân bằng sẽ đạt tới. Trong phép biện chứng sự cân bằng chỉ là tạm thời và sự không cân bằng là tuyệt đối. Chính đây là nguồn gốc tạo nên sự vận động và phát triển . Ta biết rằng trong phép biện chứng cái tƣơng đối không tách khỏi cái tuyệt đối nghĩa là giữa chúng không có mặt giới hạn xác định. Nếu chúng ta nhìn nhận một cách khác có thể hiểu sự cân bằng nhƣ một sự đứng im, còn sự không cân bằng có thể hiểu nhƣ sự vận động. Tức sự cân bằng trong sản xuất chỉ là tạm thời còn không cân bằng không phù hợp giữa chúng là tuyệt đối. Chỉ có thể quan niệm đƣợc sự phát triển chừng nào ngƣời ta thừa nhận tính chân lý vĩnh hằng của sự vận động. Cũng vì vậy chỉ có thể quan niệm đƣợc sự phát triển chừng nào ngƣời ta thừa nhận, nhận thức đƣợc sự phát triển trong mâu thuẫn của lực lƣợng sản xuất và quan hệ sản xuất chừng nào ta thừa nhận tính vĩnh viễn không phù hợp giữa chúng. Từ những lý luận đó đi đến thực tại nƣớc ta cũng vậy với quá trình phát triển lịch sử lâu dài của mình từ thời đồ đá đến nay thời văn minh hiện đại. Nƣớc ta đi từ sự không phù hợp hay sự lạc hậu từ trƣớc lên đến nay nền văn minh đất nƣớc. Tuy nhiên quá trình vận động và phát triển của sản xuất là quá trình đi từ sự không phù hợp đến sự phù hợp, nhƣng trạng thái phù hợp chỉ là sự tạm thời, ngắn ngủi, ý muốn tạo nên sự phù hợp vĩnh hằng giữa lực lƣợng Bïi xu©n Khëi - CH5 KTT 14
  15. Tr-êng §HCSND - TiÓu luËn TriÕt häc sản xuất với quan hệ sản xuất là trái tự nhiên, là thủ tiêu cái không thủ tiêu đƣợc, tức là sự vận động. Tóm lại, có thể nói thực chất của qui luật về mối quan hệ giữa lực lƣợng sản xuất và quan hệ sản xuất là qui luật mâu thuẫn. Sự phù hợp giữa chúng chỉ là một cái trục, chỉ là trạng thái yên tĩnh tạm thời, còn sự vận động, dao động sự mâu thuẫn là vĩnh viễn chỉ có khái niệm mâu thuẫn mới đủ khả năng vạch ra động lực của sự phát triển mới có thể cho ta hiểu đƣợc sự vận động của qui luật kinh tế. Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lƣợng sản xuất. Tất cả chúng ta đều biết, quan hệ sản xuất và lực lƣợng sản xuất là hai mặt hợp thành của phƣơng thức sản xuất có tác động qua lại biện chứng với nhau. Việc đẩy quan hệ sản xuất lên quá xa so với tính chất và trình độ phát triển của lực lƣợng sản xuất là một hiện tƣợng tƣơng đối phổ biến ở nhiều nƣớc xây dựng xã hội chủ nghĩa. Nguồn gốc của tƣ tƣởng sai lầm này là bệnh chủ quan, duy ý chí, muốn có nhanh chủ nghĩa xã hội thuần nhất bất chấp qui luật khách quan. Về mặt phƣơng pháp luận, đó là chủ nghĩa duy vật siêu hình, quá lạm dụng mối quan hệ tác động ngƣợc lại của quan hệ sản xuất đối với sự phát triển của lực lƣợng sản xuất. Sự lạm dụng này biểu hiện ở "Nhà nƣớc chuyên chính vô sản có khả năng chủ động tạo ra quan hệ sản xuất mới để mở đƣờng cho sự phát triển của lực lƣợng sản xuất". Nhƣng khi thực hiện ngƣời ta đã quên rằng sự "chủ động" không đồng nghĩa với sự chủ quan tuỳ tiện, con ngƣời không thể tự do tạo ra bất cứ hình thức nào của quan hệ sản xuất mà mình muốn có. Ngƣợc lại quan hệ sản xuất luôn luôn bị qui định một cách nghiêm ngặt bởi trạng thái của lực lƣợng sản xuất, bởi quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ phát triển của lực lƣợng sản Bïi xu©n Khëi - CH5 KTT 15
  16. Tr-êng §HCSND - TiÓu luËn TriÕt häc xuất. Quan hệ sản xuất chỉ có thể mở đƣờng cho lực lƣợng sản xuất phát triển khi mà nó đƣợc hoàn thiện tất cả về nội dung của nó, nhằm giải quyết kịp thời những mâu thuẫn giữa quan hệ sản xuất và lực lƣợng sản xuất. + Lực lƣợng sản xuất quyết định sự hình thành biến đổi của quan hệ sản xuất: lực lƣợng sản xuất là cái biến đổi đầu tiên và luôn biến đổi trong sản xuất con ngƣời muốn giảm nhẹ lao động nặng nhọc tạo ra năng suất cao phải luôn tìm cách cải tiến công cụ lao động. Chế tạo ra công cụ lao động mới. Lực lƣợng lao động qui định sự hình thành và biến đổi quan hệ sản xuất ki quan hệ sản xuất không thích ứng với trình độ, tính chất của lực lƣợng sản xuất thì nó kìm hãm thậm chí phá hoại lực lƣợng sản xuất thì nó kìm hãm thậm chí phá hoại lực lƣợng sản xuất và ngƣợc lại. + Sự tác động trở lại của quan hệ sản xuất đối với lực lƣợng sản xuất. Quan hệ sản xuất khi đã đƣợc xác lập thì nó độc lập tƣơng đối với lực lƣợng sản xuất và trở thành những cơ sở và những thể chế xã hội và nó không thể biến đổi đồng thời đối với lực lƣợng sản xuất. Thƣờng lạc hậu so với lực lƣợng sản xuất và nếu quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ sản xuất, tính chất của lực lƣợng sản xuất thì nó thúc đẩy sự phát triển của lực lƣợng sản xuất. Nếu lạc hậu so với lực lƣợng sản xuất dù tạm thời thì nó kìm hãm sự phát triển của lực lƣợng sản xuất. Sở dĩ quan hệ sản xuất có thể tác động mạnh mẽ trở lại đối với lực lƣợng sản xuất vì nó qui định mục đích của sản xuất qui định hệ thống tổ chức quản lý sản xuất và quản lý xã hội, qui định phƣơng thức phân phối và phần của cải ít hay nhiều mà ngƣời lao động đƣợc hƣởng. Do đó nó ảnh hƣởng tới thái độ tất cả quần chúng lao động. Nó tạo ra những điều kiện hoặc kích thích hoặc hạn chế sự phát triển công cụ sản xuất, áp dụng thành tựu khoa học kỹ thuật vào sản xuất hợp tác phân công lao động quốc tế. Bïi xu©n Khëi - CH5 KTT 16
  17. Tr-êng §HCSND - TiÓu luËn TriÕt häc CHƢƠNG 2. SỰ VẬN DỤNG CỦA ĐẢNG TA TRONG ĐƢỜNG LỐI ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM 2.1. Sự hình thành và phát triển nền kinh tế nhiều thành phần trong giai đoạn hiện nay ở nƣớc ta. Sau khi giành đƣợc chính quyền từ tay đế quốc Pháp nền kinh tế nƣớc ta đi lên theo nền kinh tế tự nhiên tự cung tự cấp, nền sản xuất nhỏ trình độ khoa học kém phát triển, quan hệ giữa lực lƣợng sản xuất với trình độ sản xuất rời rạc, tẻ nhạt. Tuy nhiên nó cũng có phần phù hợp với thời đó bởi vì nƣớc ta không phải nhƣ các nƣớc bình thƣờng khác mà nƣớc ta là một nƣớc tràn ngập chiến tranh. Đánh thắng đế quốc Pháp thì giặc Mỹ lại xâm chiếm đánh phá nƣớc ta. Sau chiến tháng 30/04/1975, đất nƣớc hoàn toàn thống nhất, non sông về một mối cả nƣớc đi lên xã hội chủ nghĩa với một lực lƣợng sản xuất lớn và tiềm năng mọi mặt còn non trẻ đòi hỏi nƣớc ta phải có một chế độ kinh tế phù hợp với nƣớc nhà và do đó nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần ra đời. Nhìn thẳng vào sự thật chúng ta thấy rằng, trong thời gian qua do quá cƣờng điệu vai trò của quan hệ sản xuất do quan niệm không đúng về mối quan hệ giữa sở hữu và quan hệ khác, do quên mất điều cơ bản là nƣớc ta quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội từ một xã hội tiền tƣ bản chủ nghĩa. Đồng nhất chế độ công hữu với chủ nghĩa xã hội lẫn lộn đồng nhất giữa hợp tác hoá và tập thể hoá. Không thấy rõ các bƣớc đi có tính qui luật trên con đƣờng tiến lên CNXH nên đã tiến hành ngay cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nền kinh tế quốc dân và xét về thực chất là theo đƣờng lối "đẩy mạnh cải tạo xã hội chủ nghĩa, đƣa quan hệ sản xuất đi trƣớc mở đƣờng cho lực lƣợng sản xuất phát triển. Thiết lập chế độ công hữu thuần nhất giữa hai hình thức sở hữu toàn dân và tập thể". Quan niệm cho rằng có thể đƣa quan hệ sản xuất đi trƣớc để tạo địa bàn rộng rãi, thúc đẩy lực lƣợng sản xuất phát triển đã bị bác bỏ. Sự phát triển của lực lƣợng sản xuất xã hội này đã mâu thuẫn với những cái phân tích trên. Trên con đƣờng tìm tòi Bïi xu©n Khëi - CH5 KTT 17
  18. Tr-êng §HCSND - TiÓu luËn TriÕt häc lối thoát của mình từ trong lòng nền xã hội đã nảy sinh những hiện tƣợng trái với ý muốn chủ quan của chúng ta có nhiều hiện tƣợng tiêu cực nổi lên trong đời sống kinh tế nhƣ quản lý kém, tham ô,... Nhƣng thực ra mâu thuẫn giữa yêu cầu phát triển lực lƣợng sản xuất với những hình thức kinh tế - xã hội xa lạ đƣợc áp đặt một cách chủ quan kinh tế thích hợp cần thiết cho lực lƣợng sản xuất mới nảy sinh và phát triển. Khắc phục những hiện tƣợng tiêu cực trên là cần thiết về mặt này trên thực tế chúng ta chƣa làm hết nhiệm vụ mình phải làm. Phải giải quyết đúng đắn giữa mâu thuẫn lực lƣợng sản xuất với quan hệ sản xuất từ đó khắc phục những khó khăn và tiêu cực của nền kinh tế. Thiết lập quan hệ sản xuất mới với những hình thức và bƣớc đi phù hợp với trình độ phát triển của lực lƣợng sản xuất luôn luôn thúc đâỷ sản xuất phát triển với hiệu quả kinh tế cao. Trên cơ sở củng cố những đỉnh cao kinh tế trong tay nhà nƣớc cách mạng. Cho phép phục hồi và phát triển chủ nghĩa tƣ bản và buôn bán tự do rộng rãi có lợi cho sự phát triển sản xuất. Trong một bài phỏng vấn với báo giới nƣớc ngoài, khi đƣợc hỏi "với một ngƣời có bằng cấp về quân sự nhƣng không có bằng cấp về kinh tế ông có thể đƣa nƣớc Việt Nam tiến lên không", nguyên Tổng bí thƣ Lê Khả Phiêu khẳng định “ Việt Nam chúng tôi khác với các nƣớc ở chỗ chúng tôi đào tạo một ngƣời lính thì ngƣời lính ấy phải có khả năng cầm súng và làm kinh tế rất giỏi ”… và ông còn khẳng định là không chấp nhận Việt Nam theo con đƣờng chủ quan của tƣ bản, nhƣng không phải triệt tiêu tƣ bản trên đất nƣớc Việt Nam và vẫn quan hệ với chủ nghĩa tƣ bản trên cơ sở có lợi cho đôi bên và nhƣ vậy cho phép phát triển thành phần kinh tế tƣ bản là sáng suốt. Quan điểm từ đại hội VI đến Đại hội X cũng đã luôn khẳng định không những khôi phục thành phần kinh tế tƣ bản tƣ nhân và kinh tế cả thế mà phải còn phát triển chúng rộng rãi theo chính sách của Đảng và Nhà nƣớc. Nhƣng điều quan trọng là phải nhận thức đƣợc vai trò của thành phần kinh tế nhà nƣớc trong thời kỳ quá độ. Để thực hiện vai trò này một mặt nó phải thông Bïi xu©n Khëi - CH5 KTT 18
  19. Tr-êng §HCSND - TiÓu luËn TriÕt häc qua sự nêu gƣơng về các mặt năng suất, chất lƣợng và hiệu quả. Đối với thành phần kinh tế tƣ bản tƣ nhân và kinh tế cá thể thực hiện chính sách khuyến khích phát triển. Tuy nhiên với thành phần kinh tế này phải có những biện pháp để cho quan hệ sản xuất thực hiện phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lƣợng sản xuất trong thời kỳ quá độ. Vì nhƣ thế mới thực sự thúc đẩy sự phát triển của lực lƣợng lao động. 2.2. Vận dụng quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lƣợng sản xuất trong quá trình công nghiệp hoá - Hiện đại hóa nƣớc ta hiện nay. Thuộc phạm trù của lực lƣợng sản xuất và vận động không ngoài biện chứng nội tại của phƣơng thức sản xuất, vấn đề công nghiệp hoá gắn chặt với hiện đại hoá, trƣớc hết phải đƣợc xem xét từ tƣ duy triết học. Trƣớc khi đi vào công nghiệp hoá - hiện đại hoá và muốn thành công trên đất nƣớc thì phải có tiềm lực về kinh tế con ngƣời, trong đó lực lƣợng lao động là một yếu tố quan trọng. Ngoài ra phải có sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ phát triển lực lƣợng sản xuất đây mới là nhân tố cơ bản nhất. Đất nƣớc ta đang trong quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá với tiềm năng lao động lớn cần cù, thông minh, sáng tạo và có kinh nghiệm lao động nhƣng công cụ của chúng ta còn thô sơ. Nguy cơ tụt hậu của đất nƣớc ngày càng đƣợc khắc phục. Đảng ta đang triển khai mạnh mẽ một số vấn đề của đất nƣớc về công nghiệp hoá - hiện đại hoá trƣớc hết trên cơ sở một cơ cấu sở hữu hợp quy luật gắn liền với một cơ cấu các thành phần kinh tế hợp qui luật, cũng nhƣ cơ cấu một xã hội hợp giai cấp. Cùng với thời cơ lớn, những thử thách ghê gớm phải vƣợt qua để hoàn thành sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nƣớc vì dân giàu nƣớc mạnh công bằng văn minh hãy còn phía trƣớc mà nội dung cơ bản trong việc thực hiện là phải nhận thức đúng đắn về qui luật quan Bïi xu©n Khëi - CH5 KTT 19
  20. Tr-êng §HCSND - TiÓu luËn TriÕt häc hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lƣợng sản xuất trong giai đoạn hiện nay của nƣớc ta. Thực tế phát triển kinh tế ở nƣớc ta gần 40 năm qua đã chứng minh rằng: quan hệ sản xuất kìm hãm sự phát triển của lực lƣợng sản xuất không chỉ khi nó trở nên lạc hậu, mà cả khi nó đƣợc áp đặt một hình thức đi trƣớc quá xa so với lực lƣợng sản xuất, một lần nữa quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lƣợng sản xuất lại thể hiện rõ tính tất yếu và tính phổ biến mạnh mẽ của nó bất chấp cả ý muốn chủ quan của con ngƣời. Dù mong muốn đẩy mạnh phát triển sản xuất, nhanh chóng thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế, chúng ta cũng không thể bất chấp quy luật, mà trái lại phải tôn trọng và hành động đúng quy luật khách quan. Đó là một trong những bài học lớn mà Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng đã chỉ rõ. Đảng ta đã nhận thức đúng quy luật khách quan nên đã có những đƣớng lối, chủ trƣơng đúng đắn, kịp thời. Chỉ thị 100- CT/ TƢ của ban bí thƣ ngày 13- 1- 1981 về khoán sản phẩm cuối cùng đến nhóm và ngƣời lao động trong lĩnh vực nông nghiệp là khâu đột phá đầu tiên trong tiến trình đổi mới. Nhƣng cái mốc quan trọng đánh dấu sự đổi mới toàn diện và sâu sắc nền kinh tế xã hội là Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng tháng 12 năm 1986. Với Nghị quyết Đại hội VI, chúng ta đã dứt khoát đoạn tuyệt với cơ chế hành chính, tập trung, quan liêu, bao cấp, chuyển dần kinh tế sang cơ chế thị trƣờng theo định hƣớng xã hội chủ nghĩa. Cơ chế kinh tế mới khuyến khích phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, mở rộng quan hệ kinh tế với các nƣớc, các khu vực trên thế giới, động viên mọi ngƣời làm giàu trong khuôn khổ luật pháp cho phép. Bïi xu©n Khëi - CH5 KTT 20

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản