Tiểu luận triết học "Sự khác biệt căn bản của triết học phương Tây và phương Đông"

Chia sẻ: mrlongqb

Tham khảo tài liệu 'tiểu luận triết học "sự khác biệt căn bản của triết học phương tây và phương đông"', luận văn - báo cáo phục vụ nhu cầu học tập, nghiên cứu và làm việc hiệu quả

Nội dung Text: Tiểu luận triết học "Sự khác biệt căn bản của triết học phương Tây và phương Đông"

Tri ế t h ọ c là hình thái ý th ứ c xã h ộ i ra đ ờ i t ừ khi ch ế đ ộ c ộ ng
s ả n nguyên thu ỷ đ ượ c thay th ế b ằ ng ch ế đ ộ chi ế m h ữ u nô l ệ . Nh ữ ng
tri ế t h ọ c đ ầ u tiên trong l ị ch s ử xu ấ t hi ệ n vào kho ả ng th ế k ỷ VIII –
VI tr ướ c công nguyên ở Ấ n Đ ộ c ổ đ ạ i, Trung qu ố c c ổ đ ạ i, Hy L ạ p và
La Mã c ổ đ ạ i và ở các n ướ c khác.

Theo quan đi ể m c ủ a mác xít tri ế t h ọ c là m ộ t hình thái ý th ứ c xã
h ộ i, là h ọ c thuy ế t v ề nh ữ ng nguyên t ắ c chung nh ấ t c ủ a t ồ n t ạ i và
nh ậ n th ứ c v ề thái đ ộ c ủ a con ng ườ i đ ố i v ớ i th ế gi ớ i, là khoa h ọ c v ề
nh ữ ng quy lu ậ t chung nh ấ t c ủ a t ự nhiên, xã h ộ i và t ư duy. Nh ư v ậ y
tri ế t h ọ c là m ộ t hình thái ý th ứ c xã h ộ i, là s ự ph ả n ánh t ồ n t ạ i c ủ a
xã h ộ i và đ ặ c bi ệ t s ự t ồ n t ạ i này ở xã h ộ i ph ươ ng Đông khác h ẳ n
v ớ i ph ươ ng Tây v ề c ả đi ề u ki ệ n t ự nhiên, đ ị a lý dân s ố mà h ơ n c ả là
ph ươ ng th ứ c c ủ a s ả n xu ấ t c ủ a ph ươ ng Đông là ph ươ ng th ứ c s ả n
xu ấ t nh ỏ còn ph ươ ng Tây là ph ươ ng th ứ c s ả n xu ấ t c ủ a t ư b ả n do
v ậ y mà cái ph ả n ánh ý th ứ c cũng khác: văn hoá ph ươ ng Đông mang
n ặ ng tính ch ấ t c ộ ng đ ồ ng còn ph ươ ng Tây mang tính cá th ể .

S ự khác bi ệ t căn b ả n c ủ a tri ế t h ọ c ph ươ ng Tây và ph ươ ng Đông
còn đ ượ c th ể hi ệ n c ụ th ể nh ư sau:

Th ứ nh ấ t đó là tri ế t h ọ c ph ươ ng Đông nh ấ n m ạ nh s ự th ố ng
nh ấ t trong m ố i quan h ệ gi ữ a con ng ườ i và vũ tr ụ v ớ i công th ứ c thiên
đ ị a nhân là m ộ t nguyên t ắ c “thiên nhân h ợ p nh ấ t”. C ụ th ể là:

Tri ế t h ọ c Trung qu ố c là n ề n tri ế t h ọ c có truy ề n th ố ng l ị ch s ử
lâu đ ờ i nh ấ t, hình thành cu ố i thiên niên k ỷ II đ ầ u thiên niên k ỷ I
tr ướ c công nguyên. Đó là nh ữ ng kho tàng t ư t ưở ng ph ả n ánh l ị ch s ử
phát tri ể n c ủ a nh ữ ng quan đi ể m c ủ a nhân dân Trung hoa v ề t ự nhiên,
xã h ộ i và quan h ệ con ng ườ i v ớ i th ế gi ớ i xung quanh, h ọ coi con
ng ườ i là ti ể u vũ tr ụ trong h ệ th ố ng l ớ n... tr ờ i đ ấ t v ớ i ta cùng sinh,
v ạ n v ậ t v ớ i ta là m ộ t. Nh ư v ậ y con ng ườ i cũng ch ứ a đ ự ng t ấ t c ả
nh ữ ng tính ch ấ t, nh ữ ng đi ề u huy ề n bí c ủ a vũ tr ụ bao la. T ừ đi ề u này
cho ta th ấ y hình thành ra các khuynh h ướ ng nh ư : khuynh h ướ ng duy
tâm c ủ a M ạ nh T ử thì cho r ằ ng vũ tr ụ , v ạ n v ậ t đ ề u t ồ n t ạ i trong ý



1
th ứ c ch ủ quan v ầ trong ý ni ệ m đ ạ o đ ứ c Tr ờ i phú cho con ng ườ i. Ông
đ ư a ra quan đi ể m “v ạ n v ậ t đ ề u có đ ầ y đ ủ trong ta”. Ta t ự xét mình
mà thành th ự c, thì có cái thú vui nào l ớ n h ơ n n ữ a. Ông d ạ y m ọ i
ng ườ i ph ả i đi tìm chân lý ở ngoài th ế gi ớ i khách quan mà ch ỉ c ầ n suy
xét ở trong tâm, “t ậ n tâm” c ủ a mình mà thôi. Nh ư v ậ y theo ông ch ỉ
c ầ n tĩnh tâm quay l ạ i v ớ i chính mình thì m ọ i s ự v ậ t đ ề u yên ổ n,
không có gì vui thú h ơ n. Còn theo Thi ệ n Ung thì cho r ằ ng: vũ tr ụ
trong lòng ta, lòng ta là vũ tr ụ . Đ ố i v ớ i khuynh h ướ ng duy v ậ t thô s ơ
- kinh d ị ch thì bi ế t đ ế n cùng cái tính c ủ a con ng ườ i thì cũng có th ể
bi ế t đ ế n cái tính c ủ a v ạ n v ậ t, tr ờ i đ ấ t: tr ờ i có chín ph ươ ng, con
ng ườ i có chín khi ế u. Ở ph ươ ng Đông khuynh h ướ ng duy v ậ t ch ư a rõ
ràng đôi khi còn đan xen v ớ i duy tâm, m ặ c dù nó là k ế t qu ả c ủ a quá
trình khái quát nh ữ ng kinh nghi ệ m th ự c ti ế n lâu dài c ủ a nhân dân
Trung hoa th ờ i c ổ đ ạ i. Quan đi ể m duy v ậ t đ ượ c th ể hi ệ n rõ ở h ọ c
thuy ế t Âm d ươ ng, tuy nó còn mang tính ch ấ t tr ự c quan, ch ấ t phác,
ngây th ơ và có nh ữ ng quan đi ể m duy tâm, th ầ n bí v ề l ị ch s ử xã h ộ i
nh ư ng tr ườ ng phái tri ế t h ọ c này đã b ộ l ộ rõ khuynh h ướ ng duy v ậ t
và t ư t ưở ng bi ệ n ch ứ ng t ự phát c ủ a mình trong quan đi ể m v ề c ơ c ấ u
và s ự v ậ n đ ộ ng, bi ế n hoá c ủ a s ự v ậ t hi ệ n t ượ ng trong t ự nhiên cũng
nh ư trong xã h ộ i.

Ở Ấ n đ ộ t ư t ưở ng tri ế t h ọ c Ấ n đ ộ c ổ đ ạ i đ ượ c hình thành t ừ
cu ố i thiên niên k ỷ II đ ầ u thiên niên k ỷ I tr ướ c công nguyên, b ắ t
ngu ồ n t ừ th ế gi ớ i quan th ầ n tho ạ i, tôn giáo, gi ả i thích vũ tr ụ b ằ ng
bi ể u t ượ ng các v ị th ầ n mang tính ch ấ t t ự nhiên, có ngu ồ n g ố c t ừ
nh ữ ng hình th ứ c tôn giáo t ố i c ổ c ủ a nhân lo ạ i. Ở Ấ n đ ộ nguyên t ắ c
“thiên nhiên h ợ p nh ấ t” l ạ i có màu s ắ c riêng nh ư :

Xu h ướ ng chính c ủ a Upanishad lành ằ m bi ệ n h ộ cho h ọ c
thuy ế t duy tâm, tôn giáo trong kinh Vêđa v ề cái g ọ i là “tinh th ầ n
sáng t ạ o t ố i cao” sángt ạ o và chi ph ố i th ế gi ớ i này. Đ ể tr ả l ờ i câu
h ỏ i cái gì là th ự c t ạ i cao nh ấ t, là căn nguyên c ủ a t ấ t c ả mà khi nh ậ n
th ứ c đ ượ c nó, ng ườ i ta s ẽ nh ậ n th ứ c đ ượ c m ọ i cái còn l ạ i và có th ể
gi ả i thoát đ ượ c linh h ồ n kh ỏ i s ự lo âu kh ổ nào c ủ a đ ờ i s ố ng tr ầ n t ụ c



2
và ràng bu ộ c c ủ a th ế gi ớ i này là “tinh th ầ n vũ tr ụ t ố i cao” Brahman,
là th ự c th ể duy nh ấ t, có tr ướ c nh ấ t, t ồ n t ạ i vĩnh vi ễ n, b ấ t di ệ t, là
cái t ừ đó t ấ t c ả th ế gi ớ i đ ề u n ả y sinh ra và nh ậ p v ề v ớ i nó sau khi
ch ế t. Tóm l ạ i Brahman là tinh th ầ n vũ tr ụ , là đ ấ ng sáng t ạ o duy
nh ấ t, là đ ạ i ngã, đ ạ i đinh, là vũ tr ụ xung quanh cái t ồ n t ạ i th ự c s ự ,
là khách th ể .

Còn Atman là tinh th ầ n con ng ườ i, là ti ể u ngã, là cái có th ể
mô hình hoá, là ch ủ th ể và ch ẳ ng qua ch ỉ là linh h ồ n vũ tr ụ c ư trú
trong con ng ườ i mà thôi. Linh h ồ n con ng ườ i (Atman) ch ỉ là s ự bi ể u
hi ệ n, là m ộ t b ộ ph ậ n c ủ a “tinh th ầ n t ố i cao”. Vì Atman “linh h ồ n” là
cái t ồ n t ạ i trong th ể xác con ng ườ i ở đ ờ i s ố ng tr ầ n t ụ c, nên ý th ứ c
con ng ườ i l ầ m t ưở ng r ằ ng linh h ồ n, “cái ngã” là cái khác v ớ i “linh
h ồ n vũ tr ụ ”, khác v ớ i ngu ồ n s ố ng không có sinh, không có di ệ t vong
c ủ a vũ tr ụ .

V ậ y nên kinh Vêđa n ố i con ng ườ i v ớ i vũ tr ụ b ằ ng c ầ u
kh ẩ n, cúng t ế b ắ t ch ướ c hoà đi ệ u c ủ a vũ tr ụ b ằ ng l ễ nghi, hành l ễ ở
hình th ứ c bên ngoài. Còn kinh Upanishad quay vào h ướ ng n ộ i đ ể đi
t ừ trong ra, đ ồ ng nh ấ t cá nhân v ớ i vũ tr ụ b ằ ng tri th ứ c thu ầ n tuý
kinh nghi ệ m.

Đ ố i v ớ i ph ươ ng Tây l ạ i nh ấ n m ạ nh tách con ng ườ i ra kh ỏ i vũ
tr ụ , coi con ng ườ i là ch ủ th ể , chúa t ể đ ể nghiên c ứ u chinh ph ụ c vũ
tr ụ – th ế gi ớ i khách quan. Và cũng chính t ừ th ế gi ớ i khách quan
khách nhau nên d ẫ n đ ế n h ướ ng nghiên c ứ u ti ế p c ậ n cũng khác nhau:

T ừ th ế gi ớ i quan tri ế t h ọ c “thiên nhân h ợ p nh ấ t” là c ơ s ở
quy ế t đ ị nh nhi ề u đ ặ c đi ể m khác c ủ a tri ế t h ọ c ph ươ ng Đông nh ư : l ấ y
con ng ườ i làm đ ố i t ượ ng nghiên c ứ u ch ủ y ế u – tính ch ấ t h ướ ng n ộ i;
hay nh ư nghiên c ứ u th ế gi ớ i cũng là đ ể làm rõ con ng ườ i và v ấ n đ ề
b ả n th ả o lu ậ n trong tri ế t h ọ c ph ươ ng Đông b ị m ờ nh ạ t. Nh ư ng
ng ượ c l ạ i tri ế t h ọ c ph ươ ng Tây l ạ i đ ặ tr ọ ng tâm nghiên c ứ u vào th ế
gi ớ i – tính ch ấ t h ướ ng ngo ạ i; còn v ấ n đ ề con ng ườ i ch ỉ đ ượ c nghiên




3
c ứ u đ ể gi ả i thích th ế gi ớ i mà thôi. Cho nên ph ươ ng Tây bàn đ ậ m nét
v ề b ả n th ể lu ậ n c ủ a vũ tr ụ .

Cái khác bi ệ t n ữ a là ngay trong v ấ n đ ề con ng ườ i ph ươ ng
Đông cũng quan ni ệ m khác ph ươ ng Tây:

Ở Ph ươ ng Đông ng ườ i ta đ ặ t tr ọ ng tâm nghiên c ứ u m ố i
quan h ệ ng ườ i v ớ i ng ườ i và đ ờ i s ố ng tâm linh, ít quan tâm đ ế n m ặ t
sinh v ậ t c ủ a con ng ườ i, ch ỉ nghiên c ứ u m ặ t đ ạ o đ ứ c thi ệ n hay ác
theo l ậ p tr ườ ng c ủ a giai c ấ p tr ố ng tr ị cho nên nghiên c ư ú con ng ườ i
không ph ả i là đ ể gi ả i phóng con ng ườ i mà là đ ể cai tr ị con ng ườ i,
không th ấ y quan h ệ gi ữ a ng ườ i v ớ i ng ườ i trong lao đ ộ ng s ả n xu ấ t.

Ở Ph ươ ng Tây h ọ l ạ i ít quan tâm đ ế n m ặ t xã h ộ i c ủ a con
ng ườ i, đ ề cao cái t ự nhiên – m ặ t sinh v ậ t trong con ng ườ i, chú ý gi ả i
phóng con ng ườ i v ề m ặ t nh ậ n th ứ c, không chú ý đ ế n nguyên nhân
kinh t ế – xã h ộ i, cái g ố c đ ể gi ả i phóng con ng ườ i.

Th ứ hai , ở ph ươ ng Đông nh ữ ng t ư t ưở ng tri ế t h ọ c ít khi t ồ n t ạ i
d ướ i d ạ ng thu ầ n tuý mà th ườ ng đan xen v ớ i các hình thái ý th ứ c xã
h ộ i khác. Cái n ọ l ấ y cái kia làm ch ỗ d ự a và đi ề u ki ệ n đ ể t ồ n t ạ i và
phát tri ể n cho nên ít có nh ữ ng tri ế t gia v ớ i nh ữ ng tác ph ẩ m tri ế t h ọ c
đ ộ c l ậ p. Và có nh ữ ng th ờ i kỳ ng ườ i ta đã l ầ m t ưở ng tri ế t h ọ c là
khoa h ọ c c ủ a khoa h ọ c nh ư tri ế t h ọ c Trung hoa đan xen v ớ i chính tr ị
lý lu ậ n, còn tri ế t h ọ c Ấ n đ ộ l ạ i đan xen tôn giáo v ớ i ngh ệ thu ậ t. Nói
chung ở ph ươ ng Đông thì tri ế t h ọ c th ườ ng ẩ n d ấ u đ ằ ng sau các khoa
h ọ c.

Ở ph ươ ng Tây ngay t ừ th ờ i kỳ đ ầ u tri ế t h ọ c đã là m ộ t
khoa h ọ c h ọ c đ ộ c l ậ p v ớ i các môn khoa h ọ c khác mà các khoa h ọ c
l ạ i th ườ ng ẩ n d ấ u đ ằ ng sau tri ế t h ọ c. Và th ờ i kỳ Trung c ổ là đi ể n
hình: khoa h ọ c mu ố n t ồ n t ạ i ph ả i khoác áo tôn giáo, ph ả i t ự bi ế n
mình thành m ộ t b ộ ph ậ n c ủ a giáo h ộ i.

Th ứ ba, L ị ch s ử tri ế t h ọ c ph ươ ng Đông ít th ấ y có nh ữ ng
b ướ c nh ả y v ọ t v ề ch ấ t có tính v ạ ch ra ở các th ờ i đi ể m, mà ch ỉ là s ự




4
phát tri ể n c ụ c b ộ , k ế ti ế p xen k ẽ . Ở Ấ n đ ộ , cũng nh ư Trung qu ố c
các tr ườ ng phái có t ừ th ờ i c ổ đ ạ i v ẫ n gi ữ nguyên tên g ọ i cho t ớ i
ngày nay (t ừ th ế k ỷ VIII – V tr ướ c công nguyên đ ế n th ế k ỷ 19).

N ộ i dung có phát tri ể n nh ư ng ch ỉ là s ự phát tri ể n c ụ c
b ộ , thêm b ớ t hay đi sâu vào t ừ ng chi ti ế t nh ư : Nho ti ề n t ầ n, Hán nho,
T ố ng nho v ẫ n trên c ơ s ở nhân – l ễ – chính danh, nh ư ng có c ả i biên
v ề m ộ t ph ươ ng di ệ n nào đó ví nh ư L ễ th ờ i ti ề n T ầ n là cung kính, l ễ
phép, văn hoá, th ờ i Hán bi ế n thành tam c ươ ng ngũ th ườ ng, đ ờ i T ố ng
bi ế n thành ch ữ Lý...

Các nhà tri ế t h ọ c ở các th ờ i đ ạ i ch ỉ gi ớ i h ạ n mình
trong khuôn kh ổ ủ ng h ộ , b ả o v ệ quan đi ể m hay m ộ t h ệ th ố ng nào đó
đ ể hoàn thi ệ n và phát tri ể n nó h ớ n là v ạ ch ra nh ữ ng sai l ầ m và
không đ ặ t ra m ụ c đích t ạ o ra th ứ c tri ế t h ọ c m ớ i. Do v ậ y nó không
mâu thu ậ n v ớ i các h ọ c thuy ế t đã đ ượ c đ ặ t n ề n móng t ừ ban đ ầ u,
không ph ủ đ ị nh nhau hoàn toàn và d ẫ n đ ế n cu ộ c đ ấ u tranh trong các
tr ườ ng phái không gay g ắ t và cũng không tri ệ t đêt. Có tình tr ạ ng đó
chính là do ch ế đ ộ phong ki ế n quá kéo dài và b ả o th ủ , k ế t c ấ u kinh
t ế , giai c ấ p trong xã h ộ i đan xen c ộ ng sinh bên nhau.

Ng ượ c l ạ i ở ph ươ ng Tây l ạ i có đi ể m khác bi ệ t. Ở m ỗ i
giai đo ạ n, m ỗ i th ờ i kỳ, bên c ạ nh các tr ườ ng phái cũ l ạ i có nh ữ ng
tr ườ ng phái m ớ i ra đ ờ i có tính ch ấ t v ạ ch th ờ i đ ạ i nh ư th ờ i c ố đ ạ i
bên c ạ nh tr ườ ng phái Talét, Hêraclit... đ ế n Đêmôcrit r ồ i th ờ i đ ạ i
khai sáng Pháp, CNDV ở Anh, Hà lan, tri ế t h ọ c c ổ đi ể n Đ ứ c... Và
h ơ n n ữ a cu ộ c đ ấ u tranh gi ữ a duy tâm và duy v ậ t mang tính ch ấ t
quy ế t li ệ t, tri ệ t đ ể h ơ n.

Th ứ t ư , S ự phân chia tr ườ ng phái tri ế t h ọ c cũng khác:

Ở ph ươ ng Đông đan xen các tr ườ ng phái, y ế u t ố duy v ậ t,
duy tâm bi ệ n ch ứ ng, siêu hình không rõ nét. S ự phân chia ch ỉ xét v ề
đ ạ i th ể , còn đi sâu vào nh ữ ng n ộ i dung c ụ th ể th ườ ng là có m ặ t duy
tâm có m ặ t duy v ậ t, s ơ kỳ là duy v ậ t, h ậ u kỳ là nh ị nguyên hay duy
tâm, th ể hi ệ n rõ th ế gi ớ i quan thi ế u nh ấ t quán, thi ế u tri ệ t đ ể c ủ a



5
tri ế t h ọ c vì phân kỳ l ị ch s ử trong các xã h ộ i ph ươ ng Đông cũng
không m ạ ch l ạ c nh ư ph ươ ng Tây.

Ng ượ c l ạ i tri ế t h ọ c ph ươ ng Tây thì s ự phân chia các
tr ườ ng phái rõ nét h ơ n và các hình th ứ c t ồ n t ạ i l ị ch s ử r ấ t rõ ràng
nh ư duy v ậ t ch ấ t phác thô s ơ đ ế n duy v ậ t siêu hình r ồ i đ ế n duy v ậ t
bi ệ n ch ứ ng.

Th ứ năm , H ệ th ố ng thu ậ t ng ữ c ủ a tri ế t h ọ c ph ươ ng Đông
cung khác so v ớ i tri ế t h ọ c ph ươ ng Tây ở 3 m ả ng:

- V ề b ả n th ể lu ậ n: Ph ươ ng Tây dùng thu ậ t ng ữ “gi ớ i t ự
nhiên”, “b ả n th ể ”, “v ậ t ch ấ t”. Còn ở ph ươ ng Đông l ạ i
dùng thu ậ t ng ữ “thái c ự c” đ ạ o s ắ c, hình, v ạ n pháp,...
hay ngũ hành: Kim, M ộ c, Thu ỷ , Ho ả , Th ổ ... Đ ể nói v ề
b ả n ch ấ t c ủ a vũ tr ụ đ ặ c bi ệ t là khi bàn v ề m ố i quan h ệ
gi ữ a con ng ườ i và vũ tr ụ thì ph ươ ng Tây dùng ph ạ m trù
khách th ể – ch ủ th ể ; con ng ườ i v ớ i t ự nhiên, v ậ t ch ấ t
v ớ i ý th ứ c, t ồ n t ạ i và t ư duy. Còn ph ươ ng Đông l ạ i dùng
Tâm – v ậ t, năng – s ở , lí – khí, hình – th ầ n. Trong đó
hình th ầ n là nh ữ ng ph ạ m trù xu ấ t hi ệ n s ớ m và dùng
nhi ề u nh ấ t.

- Nói v ề tính ch ấ t, s ự bi ế n d ổ i c ủ a th ế gi ớ i: ph ươ ng Tây
dùng thu ậ t ng ữ “bi ệ n ch ứ ng” siêu hình, thu ộ c tính, v ậ n
đ ộ ng, đ ứ ng im nh ư ng l ấ y cái đ ấ u tranh cái đ ộ ng là
chính. Đ ố i v ớ i ph ươ ng Đông dùng thu ậ t ng ữ đ ộ ng –
tĩnh, bi ế n d ị ch, vô th ườ ng, th ườ ng còn, vô ngã và l ấ y cái
th ố ng nh ấ t, l ấ y cái tĩnh làm g ố c là vì ph ươ ng Đông tri ế t
h ọ c đ ượ c xây d ự ng trên quan đi ể m vũ tr ụ là m ộ t, ph ả i
mang tính nh ị p đi ệ u.

- Khi di ễ n đ ạ t v ề m ố i liên h ệ c ủ a các s ự v ậ t, hi ệ n t ượ ng
trên th ế gi ớ i thì ph ươ ng Tây dùng thu ậ t ng ữ “liên h ệ ”,
“quan h ệ ” “quy lu ậ t”. Còn ph ươ ng Đông dùng thu ậ t ng ữ
“đ ạ o” “lý” “m ệ nh” “th ầ n”, cũng xu ấ t phát t ừ th ế gi ớ i



6
quan thiên nhân h ợ p nh ấ t nên t ấ t c ả ph ả i mang tính nh ị p
đi ệ u, tính quy lu ậ t, tính so ắ n ố c c ủ a vũ tr ụ nh ư thái c ự c
đ ế n l ưỡ ng nghi... Có nh ị p đi ệ u là hài hoà âm d ươ ng, còn
vũ tr ụ là t ậ p h ợ p kh ổ ng l ồ các so ắ n ố c...

Th ứ sáu , Tuy c ả hai dòng tri ế t h ọ c ph ươ ng Đông và ph ươ ng
Tây đ ề u nh ằ m gi ả i quy ế t v ấ n đ ề c ơ b ả n c ủ a tri ế t h ọ c nh ư ng
ph ươ ng Tây nghiêng n ặ ng v ề gi ả i quy ế t m ặ t th ứ nh ấ t còn m ặ t th ứ
hai ch ỉ gi ả i quy ế t nh ữ ng v ấ n đ ề có liên quan. Ng ượ c l ạ i ở ph ươ ng
Đông n ặ ng v ề gi ả i quy ế t m ặ t th ứ hai cho nên d ẫ n đ ế n hai ph ươ ng
pháp t ư duy khác nhau.

Ph ươ ng Tây đi t ừ c ụ th ể đ ế n khái quát cho nênlà t ư duy t ấ t
đ ị nh – t ư duy v ậ t lý chính xác nh ư ng l ạ i không gói đ ượ c cái ng ẫ u
nhiên xu ấ t hi ệ n. Còn ph ươ ng Đông đi t ừ khái quát đ ế n c ụ th ể b ằ ng
các ẩ n d ụ tri ế t h ọ c v ớ i nh ữ ng c ấ u cách ngôn, ng ụ ngôn nên không
chính xác nh ư ng l ạ i hi ể u cách nào cũng đ ượ c, nó gói đ ượ c c ả cái
ng ẫ u nhiên mà ngày nay khoa h ọ c g ọ i là khoa h ọ c h ỗ n mang – d ự
báo.

Trên đây là m ộ t vài đi ể m khác bi ệ t căn b ả n gi ữ a tri ế t h ọ c
ph ươ ng Đông và ph ươ ng Tây mà chúng ta có th ể nh ậ n th ấ y, ngoài ra
chúng còn có nhi ề u đi ể m khác bi ệ t v ớ i nhau n ữ a mà trong th ờ i gian
có h ạ n tôi có th ể ch ư a tìm ra đ ượ c. R ấ t mong s ự góp ý c ủ a cô giáo.




7
Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản