Tiểu luận triết học "Vận dụng quan điểm triết học Mác xít về quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ lực lượng sản xuất để phát triển những thành tựu, hạn chế trong phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam trong giai đoạn từ đổi mới đến nay"

Chia sẻ: Phan Xuân Long | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:14

0
315
lượt xem
158
download

Tiểu luận triết học "Vận dụng quan điểm triết học Mác xít về quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ lực lượng sản xuất để phát triển những thành tựu, hạn chế trong phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam trong giai đoạn từ đổi mới đến nay"

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tham khảo luận văn - đề án 'tiểu luận triết học "vận dụng quan điểm triết học mác xít về quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ lực lượng sản xuất để phát triển những thành tựu, hạn chế trong phát triển kinh tế xã hội của việt nam trong giai đoạn từ đổi mới đến nay"', luận văn - báo cáo phục vụ nhu cầu học tập, nghiên cứu và làm việc hiệu quả

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tiểu luận triết học "Vận dụng quan điểm triết học Mác xít về quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ lực lượng sản xuất để phát triển những thành tựu, hạn chế trong phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam trong giai đoạn từ đổi mới đến nay"

  1. Tiểu luận triết học "Vận dụng quan điểm triết học Mác xít về quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ lực lượng sản xuất để phát triển những thành tựu, hạn chế trong phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam trong giai đoạn từ đổi mới đến nay" 1
  2. MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU ............................................................................................................... 1 PHẦN NỘI DUNG ........................................................................................................... 4 I. LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT - QUAN HỆ SẢN XUẤT - QUY LUẬT VỀ SỰ PHÙ HỢP CỦA QUAN HỆ SẢN XUẤT VỚI TRÌNH ĐỘ PHÁT TRIỂN CỦA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT ................................................................................................... 4 1. Lực lượng sản xuất ............................................................................................... 4 2. Quan hệ sản xuất .................................................................................................. 5 3. Quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất .......................................................................................................................... 6 II. SỰ VẬN DỤNG CỦA ĐẢNG TA TRONG ĐƯỜNG LỐI PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI NƯỚC TA TỪ ĐỔI MỚI ĐẾN NAY ........................................................... 8 1. Sự hình thành và phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần ....................... 8 2. Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất được vận dụng trong quá trình CNH- HĐH đất nước ................................................ 9 III. THÀNH TỰU VÀ HẠN CHẾ TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA VIỆT NAM TỪ ĐỔI MỚI ĐẾN NAY .......................................................................... 9 1. Thành tựu đạt được............................................................................................... 9 2. Hạn chế .............................................................................................................. 12 PHẦN KẾT LUẬN ......................................................................................................... 14 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................... 15 2
  3. PHẦN MỞ ĐẦU Từ khi xuất hiện con người trên hành tinh này đến ngày nay đã trải qua 5 phương thức sản xuất tồn tại trong 5 chế độ xã hội: công xã nguyên thuỷ, chiếm hữu nô lệ, phong kiến tập quyền, tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa. Tư duy nhận thức của con người không dừng lại ở một chỗ mà ngày càng phát triển hoàn thiện hơn. Từ đó kéo theo sự thay đổi phát triển lực lượng sản xuất cũng như quan hệ sản xuất. Từ hái lượm săn bắt để duy trì cuộc sống đến trình độ khoa học kỹ thuật lạc hậu và đến ngày nay trình độ khoa học đã đạt tới mức tột đỉnh. Mà cốt lõi của nền sản xuất xã hội chính là sự thống nhất biện chứng giữa quan hệ sản xuất với lực lượng sản xuất, như Mác và Ăngen nói, đó là quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với lực lượng sản xuất. Từ quan điểm này của chủ nghĩa Mác xít, Đảng và Nhà nước ta đã vận dụng vào quá trình phát triển kinh tế xã hội nước ta trong giai đoạn từ đổi mới đến nay. Biện chứng quan hệ sản xuất với lực lượng sản xuất tạo điều kiện cho chúng ta có được nhận thức về sản xuất xã hội và kinh tế. Thấy được ý nghĩa đó, tôi xin bày tỏ một vài ý kiến bản thân về vấn đề: "Vận dụng quan điểm triết học Mác xít về quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ lực lượng sản xuất để phát triển những thành tựu, hạn chế trong phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam trong giai đoạn từ đổi mới đến nay" 3
  4. PHẦN NỘI DUNG I. LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT - QUAN HỆ SẢN XUẤT - QUY LUẬT VỀ SỰ PHÙ HỢP CỦA QUAN HỆ SẢN XUẤT VỚI TRÌNH ĐỘ PHÁT TRIỂN CỦA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT 1. Lực lượng sản xuất Lực lượng sản xuất biểu hiện giữa con người với tự nhiên trong quá trình sản xuất, đồng thời thể hiện năng lực thực tiễn của con người trong quá trình sản xuất ra của cải vật chất. Lực lượng sản xuất bao gồm: người lao động với kỹ năng lao động của họ và tư liệu sản xuất(trước hế là công cụ lao động) kết hợp với nhau thành lực lượng sản xuất. Trong các yếu tố của lực lượng sản xuất, lực lượng sản xuất hàng đầu là người công nhân, người lao động. Chính người lao động là chủ thể của quá trình lao động sản xuất, với sức mạnh và kỹ năng lao động của mình, sử dụng tư liệu lao động, trước hết là công cụ lao động, tác động vào đối tượng lao động để sản xuất ra của cải vật chất. Cùng với quá trình lao động sản xuất, sức mạnh và kỹ năng lao động của con người này càng được tăng lên, đặc biệt là trí tuệ của con người không ngừng phát triển, hàm lượng trí tuệ của lao động ngày càng cao. Ngày nay, với cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, lao động trí tuệ ngày càng đóng vai trò chủ yếu. Cùng với người lao động công cụ lao động cũng là một yếu tố cơ bản trong lực lượng sản xuất đóng vài trò quyết định trong tư liệu sản xuất. Công cụ lao động do con người tạo ra, nó "Nhân" sức mạnh của con người trong quá trình lao động sản xuất. Công cụ lao động là yếu tố động nhất của lực lượng sản xuất. Cùng với quá trình tích luỹ kinh nghiệm, với những phát minh và sáng chế kỹ thuật, công cụ lao động không ngừng được cải tiến và hoàn thiện. Chính sự cải tiến và hoàn thiện không ngừng công cụ lao động đã làm biến đổi toàn bộ tư liệu sản xuất. Xét đến cùng đó là nguyên nhân sâu xa của mọi biến đổi xã hội. Trình độ phát triển của công cụ lao động là thước đo trình độ chinh phục tự nhiên của con người, là tiêu chuẩn phân biệt các thời đại kinh tế trong lịch sử. Trong sự phát triển của lực lượng sản xuất, khoa học đóng vai trò ngày càng to lớn. Sự phát triển khoa học gắn liền với sản xuất và là động lực mạnh mẽ thúc đẩy sản xuất phát triển. Ngày nay, khoa học đã phát triển đến mức độ trở thành nguyên nhân trực tiếp của nhiều biến đổi to lớn trong sản xuất, trong đời sống và trở thành "lực lượng sản xuất trực tiếp". Những phát minh khoa học trở thành điểm xuất phát ra đời những ngành sản xuất mới, những máy móc thiết bị mới, công nghệ mới, nguyên vật liệu mới, năng lượng mới. Sự thâm nhập ngày càng sâu của khoa học vào sản xuất, trở thành 1 yếu tố không thể 4
  5. thiếu được của sản xuất của sản xuất đã làm cho lực lượng sản xuất có bước phát triển nhảy vọt, tạo thành cuộc cách mạng khoa học và cách mạng hiện đại. Yếu tố trí lực trong sức lao động đặc trưng cho lao động hiện đại không còn là kinh nghiệm và thói quen của họ mà là tri thức khoa học. Có thể nói: khoa học và công nghệ hiện đại là đặc trưng cho lực lượng sản xuất hiện đại. Nước ta từ trước tới nay nền kinh tế lấy nông nghiệp là chủ yếu, trình độ khoa học kỹ thuật kém phát triển. Công cụ sản xuất của ta vừa nhỏ, vừa lạc hậu so với trình độ phát triển chung trên thế giới. Thực tế trong nhiều ngành sản xuất thủ công vẫn là chủ yếu, lao động thủ công chiếm tỉ lệ cao, cơ giới hoá vẫn còn chưa phát triển. Mặt khác, trong 1 thời gian khá dài, lực lượng sản xuất bị kìm hãm trong lối suy nghĩ bảo thủ, trì trệ. Chính bởi vậy, Đại hội Đảng 6 đặt ra nhiệm vụ "Giải phóng mọi năng lực sản xuất hiện có, khai thác mọi khả năng tiềm tàng của đất nước, sử dụng có hiệu quặ giúp đỡ của quốc tế để phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất". Chúng ta đang ở trong giai đoạn mà cách mạng khoa học kỹ thuật trên thế giới phát triển một cách mạnh mẽ, nó đòi hỏi chúng ta tiếp thu cái mới một cách nhanh chóng để phát triển nguồn lực bên trong. Hiện nay nước ta đang tiến dần lên với tự động hoá, lực lượng lao động có trình độ, có khả năng vận hành máy móc, tay nghề thành thạo, được đào tạo căn bản đang dần tăng lên. Cùng với sự đầu tư máy móc thiết bị tiên tiến, Việt Nam hy vọng có thể thay đổi căn bản trình độ lực lượng sản xuất. 2. Quan hệ sản xuất Quan hệ sản xuất là quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất (sản xuất và tái sản xuất xã hội). Do con người không thể tách khỏi cộng đồng nên trong quá trình sản xuất phải có những mối quan hệ với nhau. Vậy việc phải thiết lập các mối quan hệ trong sản xuất tự nó đã là một vấn đề có tính quy luật. Nhìn tổng thể, quan hệ sản xuất gồm 3 mặt. - Quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất, tức là quan hệ giữa người với tư liệu sản xuất, nói cách khác là tư liệu sản xuất thuộc về ai? - Quan hệ trong tổ chức quản ly sản xuất, tức là quan hệ giữa người với người trong sản xuất và trao đổi của cải vật chất như: phân công chuyên môn hoá và hợp tác hoá lao động, quan hệ giữa người quản lý và công nhân… - Quan hệ trong phân phối sản phẩm sản xuất ra, tức là quan hệ chặt chẽ giữa sản xuất vsà sản phẩm với cùng một mục tiêu chung là sử dụng hợp lý và có hiệu quả tư liệu sản xuất. Quan hệ sản xuất do con người tạo ra, nhưng nó hình thành một cách khách quan trong quá trình sản xuất, không phụ thuộc theo ý muốn chủ quan của con người. Quan hệ 5
  6. sản xuất là hình thức xã hội của sản xuất, giữa 3 mặt của quan hệ sản xuất thống nhất với nhau, tạo thành một hệ thống mang tính ổn định tương đối so với sự vận động và phát triển không ngừng của lực lượng sản xuất. Trong 3 mặt của quan hệ sản xuất, quan hệ sở hữu với tư liệu sản xuất là quan hệ xuất phát, quan hệ cơ bản, đặc trưng cho quan hệ sản xuất trong từng xã hội. Nó quyết định quan hệ về tổ chức quản lý sản xuất, quah hệ phân phối sản phẩm cũng như các quan hệ sản xuất khác (sự phát triển của nhân loại đã chứng kiến có 2 loại hình sở hữu cơ bản về tư liệu sản xuất; sở hữu tư nhân và sở hữu công cộng. Sở hữu tư nhân là loại hình sở hữu trong đó tư liệu sản xuất tập trung vào tay một số ít người, còn đại đa số không có hoặc có rất ít tư liệu sản xuất. Vì vậy quan hệ giữa người với người trong sản xuất vật chất và trong đời sống xã hội là quan hệ thống trị và bị trị, bóc lột và bị bóc lột. Sở hữu công cộng là loại hình sở hữu mà trong đó tư liệu sản xuất thuộc về mọi thành viên trong cộng đồng. Nhờ đó, quan hệ người với người là quan hệ bình đẳng, hợp tác và giúp đỡ nhau. Quan hệ tổ chức và quản lý sản xuất trực tiếp tác động đến quá trình sản xuất, đến tổ chức, điều khiển quá trình sản xuất. Nó có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm quá trình sản xuất. Quan hệ tổ chức và quản lý sản xuất do quan hệ sở hữu quyết định và nó phải thích ứng với quan hệ sở hữu. Tuy nhiên, cũng có quan hệ tổ chức và quản lý không thích ứng với quan hệ sở hữu, làm biến dạng quan hệ sở hữu. Quan hệ phân phối sản phẩm sản xuất ra mặc dù do quan hệ sở hữu tư liệu sản xuất và quan hệ tổ chức quản lý sản xuất chi phối, song nó kích thích trực tiếp đến lợi ích của con người, tác động đến thái độ của con người trong lao động sản xuất, và do đó có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm sản xuất phát triển. Ở nước ta vừa tồn tại quan hệ sản xuất mởi của quá trình đi lên chủ nghĩa xã hội vừa tồn tại quan hệ sản xuất tàn dư của xã hội cũ. Chúng ta quan niệm chưa đúng về quan hệ sở hữu tư liệu sản xuất, tổ chức quản lý sản xuất và phân phối sản phẩm chưa hợp lý. Điều đó khiến nền kinh tế nước ta chưa thực sự phát triển. Muốn phát triển, Đảng và Nhà nước cần xác định rõ quan hệ sở hữu cần thiết của quá trình đổi mới, tổ chức quản lý sản xuất (đặc biệt là sự phân công chuyên môn hoá và hợp tác hoá lao động) một cách khoa học, phân phối sản phẩm mở rộng. Đó chính là xây dựng một quan hệ sản xuất lý tưởng trong tình hình hiện tại của nước ta. 3. Quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt của phương thức sản xuất, chúng tồn tại không tách rời nhau, tác động qua lại lẫn nhau một cách biện chứng, tạo 6
  7. thành quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình đọ phát triển của lực lượng sản xuất. Từ đó tạo nền quy luật cơ bản nhất của sự vận động, phát triển sản xuất xã hội. Khuynh hướng chung của sản xuất vận chuyển là không ngừng phát triển. Sự phát triển đó xét đến cùng là bắt nguồn từ sự biến đổi và phát triển của lực lượng sản xuất, trước hết là công cụ lao động. Sự phát triển của lực lượng sản xuất được đánh dấu bằng trình độ của lực lượng sản xuất. Trình độ lực lượng sản xuất trong từng giai đoạn lịch sử thể hiện trình độ chinh phục thiên nhiên của con người trong giai đoạn lịch sử đó. Trình độ lực lượng sản xuất biểu hiện ở trình độ của công cụ lao động, trình độ kinh nghiệm và kỹ năng lao động của con người, trình độ tổ chức và phân công lao động xã hội, trình độ ứng dụng khoa học và sản xuất. Sự vận động và phát triển của lực lượng sản xuất quyết định và làm thay đổi quan hệ sản xuất cho phù hợp với nó. Khi một phương thức sản xuất mới ra đời thì yêu cầu quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Sự phù hợp này tạo điều kiện sử dụng và kết hợp một cách tối ưu giữa người lao động với tư liệu sản xuất để lực lượng sản xuất có cơ sở để phát triển hoàn thiện. Sự phát triển của lực lượng đến một mức nhất định sẽ làm quan hệ sản xuất từ chỗ phù hợp trở thành không phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất. Điều này dẫn đến quan hệ sản xuất kìm hãm lực lượng sản xuất phát triển và yêu cầu khách quan tất yếu là phải thay thế quan hệ sản xuất. Như Các Mác đã viết; "Tới 1 giai đoạn phát triển nào đó, các lực lượng sản xuất vật chất của xã hội mâu thuẫn với những quan hệ sản xuất hiện có… trong khi đó từ trước đến giờ các lực lượng sản xuất vẫn phát triển. Từ chỗ là những hình thức phát triển của lực lượng sản xuất, những quan hệ ấy trở thành xiềng xích của các lực lượng sản xuất. Khi đó bắt đầu thời đại 1 cuộc cách mạng xã hội" Lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất, nhưng quan hệ sản xuất cũng có tính độc lập tương đối và tác động trở lại sự phát triển của lực lượng sản xuất. Quan hệ sản xuất quyết định mục đích của sản xuất, tác động đến thía độ của con người trong lao động sản xuất, đến tổ chức phân công lao động xã hội, đến phát triển và ứng dụng khoa học công nghệ… do đó tác động đến sự phát triển của lực lượng sản xuất. Quan hệ sản xuất phù hợp sẽ thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất, ngược lại sẽ kìm hãm. Và khi quan hệ sản xuất kìm hãm sự phát triển lực lượng sản xuất thì theo quy luật chung, quan hệ sản xuất cũ sẽ được thay thế bằng quan hệ sản xuất mới phù hợp để thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển Quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất vừa tác động cho nhau lại vừa mâu thuẫn với nhau. Việc giải quyết mâu thuẫn này là yêu cầu cần có. Nó phải thông qua nhận thức 7
  8. và cải tạo xã hội của con người. Trong xã hội có giai cấp phải thông qua đấu tranh giai cấp, quan cách mạng xã hội. II. SỰ VẬN DỤNG CỦA ĐẢNG TA TRONG ĐƯỜNG LỐI PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI NƯỚC TA TỪ ĐỔI MỚI ĐẾN NAY Đối với nước ta để phù hợp giữa lao động sản xuất và quan hệ sản xuất, Đảng nêu ra công nghiệp hoá đi đôi hiện đại hoá. Mặt khác chúng ta phải chú trọng xây dựng và phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước, định hướng xã hội chủ nghĩa. Đây là 2 nhiệm vụ thực hiện đồng thời chúng luôn tác động thúc đẩy và hỗ trợ lẫn nhau cùng phát triển. Bởi lẽ "Công nghiệp hoá - hiện đại hoá" tạo nên lực lượng sản xuất cần thiết cho chế độ xã hội mới thì việc xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chính là xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp đưa đất nước ta tiến lên từng ngày. 1. Sự hình thành và phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần Sau khi độc lập, nền kinh tế nước ta còn gặp vô vàn khó khăn do thói quen lao động tự cung tự cấp, nền sản xuất nhỏ lẻ, trình độ khoa học kém phát triển, đời sống xã hội vo cùng khó khăn… Với hoàn cảnh mới đất nước tiến lên chủ nghĩa xã hội, đòi hỏi nước ta phải có một chế độ kinh tế phù hợp, đó là nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần. Thời gian qua, chúng đã quá coi trọng vài trò của quan hệ sản xuất, cho rằng có thể đưa quan hệ sản xuất đi trước để mở đường san đất, thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, quan niệm ấy là sai lầm, sự phát triển của lực lượng sản xuất trong thời gian qua là minh chứng cho điều ấy và do đó gây ra sự mâu thuẫn giữa yêu cầu phát triển lực lượng sản xuất với hình thức kinh tế - xã hội được áp đặt một cách chủ quan trên đất nước ta. Mối mâu thuẫn ấy đem theo nhiều kết quả ngoài ý muốn: kinh tế kém phát triển, xã hội nảy sinh nhiều tiêu cực, tệ nạn, trình độ quản lý yếu kém… yêu cầu cấp thiết là phải giải quyết đúng đắn mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất - quan hệ sản xuất, từ đó khắc phục khó khăn và tiêu cực của nền kinh tế - xã hội. Thiết lập quan hệ sản xuất mới với những bước đi phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất để thúc đẩy sản xuất phát triển với hiệu quả kinh tế cao. Đó là sự cho phép phục hồi và phát triển chủ nghĩa tư bản, buôn bán tự do rộng rãi, nang cao đời sống xã hội,… Như lời của đồng chí Lê Khả Phiêu nói: … không chấp nhận Việt Nam theo con đường chủ quan của tư bản nhưng không phải triệt tiêu tư bản trên đất nước Việt Nam và vẫn quan hệ với chủ nghĩa tư bản trên cơ sở có lợi. Cho đôi bên và như vậy cho phép phát triển thành phần kinh tế tư bản là sáng suốt. Hay quan điểm từ Đại hội Đảng VI cũng khẳng định: Không những khôi phục thành phần kinh tế tư bản tư nhân và kinh tế cá thể mà còn phải phát triển chúng rộng rãi theo chính 8
  9. sách của Đảng và Nhà nước. Nhưng điều quan trọng là phải nhận thức được vai trò của thành phần kinh tế nhà nước trng thời kỳ quá độ. Ngoài ra nền kinh tế nhiều thành phần này còn được vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Việc thay đổi cơ chế quản lý kinh tế theo hướng: xoá bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp hình thành cơ chế kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN khẳng định việc thay đổi quan hệ sản xuất cũ bằng quan hệ sản xuất mới được tạo ra bởi nền kinh tế nhiều thành phần. 2. Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất được vận dụng trong quá trình CNH- HĐH đất nước CNH-HĐH được xem xét từ tư duy triết học là thuộc phạm trù của lực lượng sản xuất trong mối quan hệ biện chứng của phương thức sản xuất. Muốn CNH- HĐH đất nước cần phải có tiềm lực về kinh tế, con người, trong đó lực lượng lao động là yếu tố vô cùng quan trọng. Ngoài ra phải có sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Với tiềm năng lao động lớn nhưng công cụ lao động lại hết sức thô sơ, lạc hậu, CNH- HĐH đứng trước khó khăn lớn cần nhanh chóng khắc phục. Đảng ta đã thực hiện một cơ cấu sở hữu hợp quy luật, gắn liền với một cơ cấu thành phần kinh tế hợp lý, và trong thời cơ cũng như thách thức to lớn hiện nay, đất nước ta đang có rất nhiều tiềm năng phát triển, mà cốt lõi của sự phát triển cũng vẫn là quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Mục tiêu của CNH-HĐH đất nước đang được nỗ lực thực hiện và đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể. Cùng với nó vẫn là những khó khăn, hạn chế song tương lai phát triển đất nước vẫn mang nhiều yếu tố chủ quan. III. THÀNH TỰU VÀ HẠN CHẾ TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA VIỆT NAM TỪ ĐỔI MỚI ĐẾN NAY 1. Thành tựu đạt được Trong Đại hội Đảng VI (121986) là mốc thời gian quan trọng, đánh dấu bước chuyển mình phát triển của đất nước ta: xoá bỏ chế độ bao cấp sản phẩm, bãi bỏ sự cấm đoán phát triển kinh tế thị trường, sự phát triển yếu ớt của đời sống xã hội thay thế bằng sự hội nhập với thế giới, quan tâm và chú trọng phát triển đời sống của người dân… Đại hội VII (6/1991), Đại hội VIII (61996), Đại hội IX (4/2001) đã tiếp tục khẳng định bổ sung và hoàn thiện các chủ trương, chính sách đổi mới kinh tế - xã hội: phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, điều chỉnh cơ cấu các ngành kinh tế, đổi mới cơ chế quản lí, 9
  10. đổi mới về công cụ lao động và chính sách quản lý kinh tế - xã hội, mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại (cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân). Sau 16 năm thực hiện công cuộc đổi mới, nền kinh tế nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa quan trọng. - Nền kinh tế tăng trưởng liên tục, nhiều năm có tốc độ cao và trong 5 năm đầu đổi mới (86-90), khi chế độ bao cấp bị xoá bỏ dần, các doanh nghiệp nhà nước và hợp tác xã gặp nhiều khó khăn, khu vực kinh tế tư nhân và cá thể chưa phát triển, nền kinh tế rơi vào tình trạng bất ổn, bình quân chỉ đạt 3,9%/năm (riêng 1986: 0,3%) và lạm phát cao kéo dài. Nhưng đầu thập kỷ 90, nền kinh tế liên tục tăng trưởng ổn định và đạt đến đỉnh cao là 9,5% vào năm 1995. Đặc biệt trong kế hoạch 5 năm (1991 - 1995) ta đã hoàn thành vượt mức vì chỉ tiêu chủ yếu đưa nước ta thực sự thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, chuyển sang thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước. Toàn bộ các mục tiêu chuyển kế hoạch 5 năm 1996-2000 và chiến lược 10 năm đều đạt và vượt kế hoạch. GDP trong 10 năm này tăng bình quân 7,56%/năm, GDP năm 2000 gấp 2,07 lần năm 1990. Đến năm 2000-2002 tốc độ tăng trưởng bình quân đạt ổn định 6,7%; 6,8% và 7,0%. Nông nghiệp phát triển toàn diện cả trồng trọt và chăn nuôi, nghề rừng và thuỷ sản. Sản lượng lương thực tăng nhanh từ 21,5% triệu tấn (1990) lên 27,5 triệu tấn (1995) và 34,5 triệu tấn (năm 2000), gần 36 triệu tấn (năm 2002), bình quân mỗi năm tăng 1,4% triệu tấn. Tốc độ tăng lương thực bình quân 5%/năm, cao hơn tốc độ tăng dân số (1,8%) nên sản lượng lương thực bình quân đầu người tăng từ 304 kg (1985) lên 364 Kg (1995); 4448 Kg (2000) và 450 Kg (2002). Việt Nam từ một nước thiếu lương thực đến 1989 trở thành nước xuất khẩu gạo thứ 2 thế giới. Sở dĩ nông nghiệp tăng nhanh là nhờ những đổi mới trong cơ chế chính sách quản lý nông nghiệp: nhân dân được giao ruộng đất để sử dụng lâu dài, phát triển trang trại, khuyến khích khai hoang mở rộng diện tích canh tác, nâng cao năng suất cây trồng. Những thành tựu trên mặt trận lương thực đã góp phần quan trọng vào sự ổn định đời sống nhân dân. Trong 10 năm 1991- 2000, bình quân mỗi năm xuất khẩu gạo tăng 7,6%, cao su tăng 12,4%, cà phê tăng 17,7%, rau quả tăng 10,8%, hạt tiêu 24,8%, hạt điều tăng 37,5%. Tổng giá trị nông sản xuất khẩu chiếm 40% tổng giá trị xuất khẩu cả nước. Một nền nông nghiệp hàng hoá nhiều thành phần gắn với thị trường quốc tế. Công nghiệp tăng liên tục, bình quân trong thời kỳ 1991-1995 tăng 13,7%; 1996- 2000 tăng 13,2%. Công nghiệp tăng nhanh là do đầu tư lớn của nhà nước trong những năm trước đây cho một số ngành quan trọng như dầu khí, điện, xi măng, thép, giấy, đường.. 10
  11. nhưng quan trọng hơn là có sự đổi mới cơ chế, chính sách quản lý của nhà nước, xóa bỏ bao cấp, nhận vốn đầu tư nước ngoài. Hệ thống đường giao thông, bưu điện xây dựng mới và nâng cấp trên khắp mọi miền của tổ quốc: quốc lộ 1A, 5, 18, sân bay, bến cảng được nâng cấp và xây dựng, thương mại và dịch vụ có nhiều khởi sắc. - Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tiến bộ: chuyển từ khu vực I (Nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sản) sang khu vực II (Công nghiệ - xây dựng) và khu vực III (dịch vụ), chuyển từ khu vực quốc doanh, hợp tác xã sang đa thành phần và chuyển theo hướng hình thành 3 vùng kinh tế trọng điểm ở 3 miền Bắc -Trung - Nam. - Đẩy lùi lạm phát: 1986: 774,7%; 1990: 67,4%; 1994L 12,7%; 1997: 3,7%; 1999: 0,1%. - Kinh tế đối ngoại phát triển nhanh: Xuất khẩu: kim ngạch xuất khẩu năm 1996: 822,9 triệu USD; năm 2001: 15,027 tỉ USD. Nhập khẩu: 2,16 tỉ USD (1986); 16,16 tỉ USD (2001). Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện rõ nét: lao động có việc làm tăng nhanh, mỗi năm tạo 1,3 triệu việc làm mới, thu nhập bình quân đầu người đạt gần 400 USD/năm. Số hộ giàu tăng > 10%; số hộ nghèo giảm từ 55% (1989) xuống 11,4% (2000). Nhờ những thành tựu tăng trưởng ổn định hoá kinh tế, tình hình xã hội đã được cải thiện rất nhiều. Tỉ lệ tăng dân số tự nhiên giảm mỗi năm 1% và giữ mức bình quân 2,1%/năm, giảm so với thời kì trước (2,3%) nhưng vẫn cao hơn mục tiêu đề ra (1,9%). Số người đi học bình quân tính trên 1 vạn dân, tăng từ 1834 người (1990) tăng lên 2171 (1995). Tỉ trọng cho các lĩnh vực xã hội chiếm từ 24,4 - 28,4% tổng ngân sách nhà nước và có xu hướng tăng lên. Hệ thống y tế được cải thiện, đặc biệt là hệ thống bảo hiểm y tế. Tình hình nông thôn được cải thiện thêm một bước. Có khoảng 60,2% số xã có điện, 86,4% số xã có đường ô tô, 91,6% xa có trạm xá và 97,7% số xã có trường tiểu học; 76,2% số xã có trường PTCS. Những thành tựu đạt được là kết quả của con đường đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo. Nó là kết quả của nhận thức đúng đắn quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ lực lượng sản xuất để phát triển kinh tế - xã hội này. Ngoài ra, cũng không thể không kể đến một số nguyên nhân khách quan quan trọng, đó là: 11
  12. - Quá trình CNH-HĐH ở Việt Nam được tiến hành muộn, đi sau các nước phương tây và một số nước châu Á. Do bắt đầu muộn nên Việt Nam có thể học hỏi được nhiều kinh nghiệm, cả kinh nghiệm thành công lẫn không thành công của các nước đi trước, để trên cơ sở đó, rút ra bài học bổ ích cho cách đi riêng của bản thân mình. - Trong quá trình CNH-HĐH, Việt Nam có thể tranh thủ cơ hội đi tắt đón đầu bằng việc nhập các thiết bị kĩ thuật tiên tiến để đổi mới thiết bị kĩ thuật đã lạc hậu. - Quá trình CNH-HĐH ở Việt Nam được tiến hành trong môi trường hoà bình với xu hướng hoà hoãn và hợp tác quốc tế. Nhờ vậy, nước ta mở rộng quan hệ bạn bè và hợp tác với nhiều nước nhằm tranh thủ sự viện trợ, giúp đỡ của các nước trên thế giới. Đồng thời xu hướng quốc tế hoá đời sống kinh tế thế giới đã tạo điều kiện và thời cơ cho Việt Nam có thể sử dụng khoa học, công nghệ mới, nguồn vốn của các nước giàu vào sự nghiệp CNH-HĐH, trên cơ sở đó, tham gia vào quá trình phân công và hợp tác quốc tế. Có thể nói, môi trường quốc tế và xu hướng phát triển mới của thếgiới đang tạo tiền đề bên ngoài thuận lợi cho quá trình CNH-HĐH ở Việt Nam. Việc Việt Nam gia nhập các tổ chức quốc tế như ASEAN, OPEC, việc quốc hội Mĩ thông qua hiệp dịnh thương mại Việt - Mỹ gần đây… là những bằng chứng khẳng định điều đó. 2. Hạn chế Do nền kinh tế nước ta có điểm xuất phát thấp chủ yếu vẫn là nông nghiệp, công nghiệp còn nhỏ bém, kết cấu hạ tầng kém phát triển, cơ sở vật chất kỹ thuật chưa xác định được nhiều. Mặc dù cơ cấu các ngành GDP có chuyển dịch rõ rệt những cơ hội nhưng cơ cấu lao động chậm biến đổi. Hiện nay hơn 75% dân số vẫn sống ở nông thôn, lao động nông nghiệp vẫn chiếm > 60% tổng số lao động xã hội. Nền kinh tế có mức tăng trưởng khá nhưng năng suất, chất lượng hiệu quả còn thấp. Đất nước Việt Nam vẫn thuộc 20 nước nghèo nhất thế giới. Đây là thách thức cực kỳ to lớn cần phát huy mọi tiềm năng để giải quyết. Vai trò quản lý của nhà nước đối với nền kinh tế - xã hội còn yếu: khả năng kiềm chế lạm phát còn chưa vững chắc. Ngân sách thu không đủ chi, tỉ lệ bội chi ngân sách còn cao. Tình trạng bất công xã hội, tham nhũng, buôn lậu, vi phạm kỉ cương còn nặng và phổ biến. Nạn buôn lậu và tệ quan liêu được coi là quốc nạn, được đưa vào chương trình nghị sự quan trọng hàng đầu của Việt Nam. Song hiện vẫn chưa khắc phục được, thậm chí còn có phần nghiêm trọng hơn. Ngoài ra, sự thiếu hụt nguồn lực tài nguyên và nạn ô nhiễm môi trường cũng gây khó khăn cho quá trình CNH-HĐH ở nước ta. Hạn chế trong nền kinh tế - xã hội nước ta còn nhiều. Nhưng nguyên nhân của những yếu kém đó là do hậu quả của nhiều năm trước 12
  13. để lại khi không hiểu rõ mối quan hệ biện chứng giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất, sự phù hợp mang tính tất yếu của chúng, đồng thời những bất lợi của tình hình thế giới hiện nay và những khuyết điểm còn mang tính chủ quan duy ý chí trong công tác lãnh đạo của Đảng và quản lý của nhà nước ta, tạo ra một đội ngũ cán bộ hạn chế về trình độ, thiếu sự năng động trong làm ăn và quản lý kinh tế. 13
  14. PHẦN KẾT LUẬN Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là quy luật phổ biến trong toàn bộ tiến trình lịch sử của nhân loại. Sự thay thế, phát triển của lịch sử nhân loại từ chế độ công xã nguyên thuỷ, qua chế độ chiếm hữu nô lệ, chế độ phong kién và đến xã hội cộng sản là do sự tác dộng của hệ thống các quy luật xã hội, trong đó quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là quy luật cơ bản nhất. Chính vì vậy Đảng và Nhà nước ta cần phải hiểu và vận dụng tốt quy luật này để phát triển kinh tế. Trên thực tế không thể có sự phù hợp tuyệt đối giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất. Song phải tuỳ theo tình hình thực tế mà chọn giải pháp phù hợp. Sự vận dụng đúng đắn của Đảng và Nhà nước sẽ đem lại thành tựu vô cùng to lớn cho nền kinh tế - xã hội nước ta ta hoàn thành tốt mục tiêu CNH-HĐH đất nước. Tuy vậy, hạn chế, yếu kém còn rất nhiều, đòi hỏi cần có sự nỗ lực hết sức, phát huy mọi tiềm năng vốn có để khắc phục. Chỉ tính từ đổi mới đến nay, đất nước ta đã có những bước chuyển mình lớn lao trong đời sống kinh tế xã hội. Đó là nhờ sự nhận thức và vận dụng kịp thời quy luật về sự phù hợp quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất, mở ra con đường đầy hứa hẹn cho sự phát triển của đất nước. Trong tương lai, chúng ta sẽ là những người gánh vác nhiệm vụ xây dựng và phát triển đất nước, vì vậy ngay từ lúc này cần nhận thức rõ ràng và đúng đắn mối quan hệ biện chứng của quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất, như quan điểm triết học Macxit thì đó là quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. 14
  15. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Giáo trình Triết học Mác - Lênin NXB Chính trị Quốc gia 2. Giáo trình Lịch sử kinh tế 3. Văn kiện Đại hội Đảng 4. Một số bài báo, bài luận khác. 15

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản