Tiểu luận về hệ thống tiền tệ quốc tế và chế độ tỷ giá

Chia sẻ: Mai Linh | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:24

3
936
lượt xem
380
download

Tiểu luận về hệ thống tiền tệ quốc tế và chế độ tỷ giá

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Từ xa xưa, khi con người chuyển từ săn bắt, hái lượm sang trồng trọt, chăn nuôi và bắt đầu có sản phẩm dư thừa, nhu cầu trao đổi hàng hóa đã xuất hiện. Ban đầu là hình thức hàng đổi hàng giữa những cá nhân riêng lẻ, sau đó, để thuận tiện hơn cho việc trao đổi, mỗi vùng có một hàng hóa được quy định là vật ngang giá chung. Ví dụ như ở Trung Quốc vật ngang giá chung là da, hoặc là vỏ trai; Còn ở Hy Lạp, La Mã đã từng dùng súc vật, đồng… làm vật ngang giá chung;...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tiểu luận về hệ thống tiền tệ quốc tế và chế độ tỷ giá

  1. Trường Đại học Ngân hàng thành phố Hồ Chí Minh KHOA TÍN DỤNG MÔN TÀI CHÍNH QUỐC TẾ ĐỀ TÀI: HỆ THỐNG TIỀN TỆ QUỐC TẾ VÀ CHẾ ĐỘ TỶ GIÁ NHÓM 5 – LỚP ĐH23A05 Khổng Thị Mai Linh (NT) Nguyễn Thị Kim Ngân Nguyễn Hồng Phúc Nguyễn Kỳ Thanh Phùng Thị Cẩm Uyên GVHD: Nguyễn Xuân Trường Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 07 tháng 11 năm 2009
  2. MỤC LỤC Trang I/ MỞ ĐẦU 2 II/ CÁC HỆ THỐNG TIỀN TỆ QUỐC TẾ 3 1. Giai đoạn trước chiến tranh thế giới thứ nhất 3 1.1. Hệ thống song bản vị 3 1.2. Hệ thống bản vị vàng cổ điển 5 2. Hệ thống tiền tệ quốc tế giữa hai cuộc đại chiến thế giới 7 3. Giai đoạn sau chiến tranh thế giới thứ hai 8 3.1. Hệ thống Bretton Woods 8 3.2. Hậu Bretton Woods 12 3.2.1. Quyền rút vốn đặc biệt - SDR 12 3.2.2. Chế độ tiền tệ Jamaica 13 3.2.3. Hiệp định Plaza, thỏa ước Louvre 15 3.2.4. Hệ thống tiền tệ quốc tế hiện nay 15 3.2.5. Hệ thống tiền tệ Châu Âu - EMS 19 III/ KẾT LUẬN 21 Tài liệu tham khảo 23 1
  3. I/ MỞ ĐẦU Từ xa xưa, khi con người chuyển từ săn bắt, hái lượm sang trồng trọt, chăn nuôi và bắt đầu có sản phẩm dư thừa, nhu cầu trao đổi hàng hóa đã xuất hiện. Ban đầu là hình thức hàng đổi hàng giữa những cá nhân riêng lẻ, sau đó, để thuận tiện hơn cho việc trao đổi, mỗi vùng có một hàng hóa được quy định là vật ngang giá chung. Ví dụ như ở Trung Quốc vật ngang giá chung là da, hoặc là vỏ trai; Còn ở Hy Lạp, La Mã đã từng dùng súc vật, đồng… làm vật ngang giá chung; Mông Cổ, Tây Tạng có lúc dùng chè làm vật ngang giá chung. Nhưng khi nền sản xuất hàng hóa phát triển cao hơn dẫn đến việc trao đổi hàng hóa giữa các vùng, các quốc gia ngày càng được mở rộng cả quy mô và chất lượng. Để việc trao đổi diễn ra nhanh chóng và thuận lợi, cần có một hàng hóa trung gian được mọi người cùng chấp nhận làm tiền tệ phục vụ nhu cầu trao đổi giữa các quốc gia. Trong lịch sử có nhiều loại hàng hóa đã được sử dụng làm tiền tệ, nhưng vì một vài tính chất đặc biệt như sự quý giá, tính bền dẻo, dễ gia công, dễ vận chuyển hay cất trữ, chất lượng được duy trì lâu bền… nên lúc này kim loại đã được chọn làm vật trung gian trao đổi hàng hóa, trong đó, vàng và bạc là hai kim loại được ưa chuộng hơn cả. Đến đầu thế kỷ 19, vàng đã được sử dụng phổ biến để đúc thành tiền ở hầu hết các nước. Mặt khác, sự phát triển khoa học kỹ thuật đã làm cho nền sản xuất hàng hóa ngày càng phát triển, việc trao đổi hàng hóa ngày càng qui mô hơn, phức tạp hơn, nó không còn gói gọn trong một quốc gia hay một vùng lãnh thổ nữa, mà ngày càng mở rộng ra phạm vi toàn cầu. Khi đó ắt nổi lên một thách thức hai mặt: làm sao để vừa tôn trọng chủ quyền tiền tệ của các nhà nước, vừa làm dễ dàng các trao đổi giữa các quốc gia luôn tranh nhau được lợi. Do vậy, các quốc gia trên thế giới đã cùng đi tới những thỏa thuận, những quy ước chung về giao dịch thương mại toàn cầu, từ đó, hệ thống tiền tệ quốc tế ra đời. Hệ thống tiền tệ quốc tế (The International Monetery System – IMS) là hệ thống các tập quán, quy tắc, thủ tục và các tổ chức quốc tế điều hành các quan hệ tài chính giữa các quốc gia. Hệ thống tiền tệ quốc tế được hình thành trên cơ sở quan hệ thương mại - tài chính giữa các nước, bao gồm các chế tài điều tiết quan hệ tài chính giữa các quốc gia, các định chế tài chính quốc tế và chế độ tỉ giá của các quốc gia. Trong đó, chế độ tỷ giá (exchange rate regime) của một quốc gia là tập hợp các quy tắc, cơ chế xác định và điều tiết tỷ giá của quốc gia đó. Về mặt thuật ngữ, chế độ tỉ giá còn có tên gọi khác là cơ chế tỷ giá (exchange rate mechanism) hay cấu trúc tỷ giá (exchange rate arrangement). Tỷ giá vừa là một phạm trù kinh tế vừa là một công cụ của chính sách kinh tế của chính phủ. Do vậy, chế độ tỉ giá chứa đựng yếu tố chủ quan, tức là mỗi quốc gia có thể lựa chọn cho mình một chế độ tỉ giá nhất định, và chế độ tỉ giá của mỗi quốc gia có thể thay đổi theo thời gian. 2
  4. II/ CÁC HỆ THỐNG TIỀN TỆ QUỐC TẾ 1. Giai đoại trước chiến tranh thế giới thứ nhất (trước năm 1914) 1.1. Hệ thống song bản vị (Bimetallism) Từ thời cổ cho đến cận đại, thương mại quốc tế hoạt động trên cơ sở “bản vị hàng hóa”, trong đó kim loại (chủ yếu là vàng và bạc) được đúc thành khối theo những hình thức tùy ý và thực hiện chức năng là phương tiện trao đổi và lưu thông trong nền kinh tế. Dần dần, vàng và bạc trong lưu thông đã được tiêu chuẩn hóa và đúc thành tiền với những quy định cụ thể về hàm lượng kim loại, kí hiệu, nhãn mác… Đây là cơ sở hình thành chế độ song bản vị vàng và bạc. Chế độ song bản vị là chế độ tiền tệ trong đó cùng một lúc có hai thứ kim loại đóng vai trò làm vật ngang giá chung và là cơ sở của toàn bộ chế độ lưu thông tiền tệ của một nước. (Theo giáo trình tiền tệ ngân hàng Trường ĐH Ngân hàng thành phố Hồ Chí Minh, Trang 27) Chế độ song bản vị hoạt động trên cơ sở giá trị đầy đủ của những đồng xu (gọi là tiền đúc đủ giá – Full-bodied coins). Căn cứ vào cách quy định về mối quan hệ trao đổi giữa tiền đúc bằng vàng và tiền đúc bằng bạc mà có thể chia chế độ song bản vị làm hai loại cụ thể: 1. Chế độ bản vị song song: Là chế độ song bản vị mà trong đó quy định tỷ lệ trao đổi giữa tiền vàng và tiền bạc trong lưu thông phụ thuộc vào giá trị thực tế của lượng vàng và lượng bạc chứa trong hai đồng tiền đó quyết định. Do đó, giá cả hàng hóa và dịch vụ trên thị trường tất nhiên được thể hiện bằng chỉ hai loại giá cả: Giá cả tính bằng tiền vàng và giá cả tính bằng tiền bạc. Hai loại giá cả này sẽ thay đổi theo sự thay đổi tỷ giá giữa kim loại vàng và kim loại bạc hình thành tự phát trên thị trường. Đặc biệt, trong chế độ bản vị song song, mọi người có thể tự đúc tiền sử dụng trong lưu thông. Việc giá cả của hàng hóa trong lưu thông được thể hiện bằng hai loại giá cả đã mâu thuẫn với vai trò làm thước đo giá trị của tiền tệ, chính đặc điểm này của chế độ bản vị song song đã dẫn đến việc thay vì làm hàng hóa lưu thông dễ dàng thì lại tạo ra những rắc rối trong việc tính toán giá cả và lưu thông hàng hóa. Trên thực tế, chế độ bản vị song song chỉ tồn tại trong thời kì đầu mới xuất hiện chế độ song bản vị, trong đó dân chúng sử dụng tiền vàng và tiền bạc với giá trị quy đổi theo giá thị trường. Để tạo cho thị trường có sự thống nhất trong việc lưu thông tiền tệ, nhà nước đã quy định tỉ lệ cố định của đồng tiền vàng và bạc, đó chính là chế độ bản vị kép. 2. Chế độ bản vị kép: Là chế độ song bản vị mà trong đó nhà nước quy định cụ thể tỷ giá trao đổi giữa tiền đúc bằng vàng và tiền đúc bằng bạc. Tuy nhiên, trên thực tế, các quốc gia thường đúc những đồng xu bằng vàng và bạc hay với những 3
  5. kim loại khác rẻ tiền hơn. Hiện tượng này được gọi là hiện tượng “Bào mòn giá trị thực tế của tiền xu – Debasement”. Ví dụ rõ ràng nhất cho hiện tượng này là những gì diễn ra tại Anh giữa những năm 1540 và 1560: Đồng tiền bị bào mòn giá trị (đồng tiền được định giá cao trong phương tiện trao đổi) đã loại đồng tiền có giá trị đầy đủ (đồng tiền bị định giá thấp trong phương tiện trao đổi) ra khỏi lưu thông theo quy luật Gresham: “Đồng tiền xấu đuổi đồng tiền tốt” (Bad money drives out good money). Điều này dẫn đến việc nữ hoàng Anh phải tuyên bố thu hồi và đúc lại toàn bộ số tiền xu trong lưu thông. Một minh chứng nữa cho quy luật Gresham xảy ra tại Mĩ. “Luật đúc tiền” được quốc hội Mĩ thông qua năm 1792, theo đó, đồng đôla là đơn vị tiền tệ của Mỹ có giá cố định với vàng và bạc với tỷ lệ trao đổi cố định là “1USD = 24.75 grains vàng = 371.25 grains bạc”, tức tỉ lệ trao đổi vàng : bạc là 15:1. Nhưng càng về gần cuối thế kỉ 18, giá bạc trên thị trường thế giới ngày càng giảm do lượng bạc khai thác ngày càng nhiều. Mặt khác, một số nước trên thế giới cũng ấn định tỉ lệ giữa vàng và bạc, việc chênh lệch tỉ lệ trao đổi của vàng và bạc giữa các nước đã kích thích việc trao đổi hàng hóa với phương tiện là vàng hay bạc sao cho có lợi nhất ở từng quốc gia. Ví dụ như nước Pháp khi đó quy định tỉ lệ trao đổi vàng: bạc là 15.5:1. Do đó, với vai trò là phương tiện lưu thông, vàng bị định giá quá thấp ở Mĩ nhưng lại được định giá cao ở Pháp, hay bạc bị định giá thấp ở Pháp nhưng được định giá cao ở Mĩ. Hiện tượng này làm cho quy luật Gresham phát huy tác dụng, dẫn đến vàng từ từ biến khỏi lưu thông của nước Mĩ. Và đến năm 1834, Quốc hội Mĩ quyết định tăng giá vàng lên đến mức tỉ lệ trao đổi vàng : bạc là 16:1 trong khi các quốc gia khác vẫn giữ nguyên tỉ lệ trao đổi đã quy định. Đến lúc này, quy luật Gresham lại tác động theo chiều ngược lại, vàng dần loại bạc ra khỏi lưu thông tại Mĩ. Đây chính là cơ sở ra đời chế độ đơn bản vị. Quy luật Gresham: “Đồng tiền xấu đuổi đồng tiền tốt” (Bad money drives out good money) được Thomas Gresham (1529 – 1579) đưa ra nhằm giải thích hiện tượng xảy ra tại Anh những năm 1540-1560, đồng tiền bị bào mòn giá trị đẩy đồng tiền đầy đủ giá trị ra khỏi lưu thông. Khi hai đồng tiền cùng ở trong lưu thông, đồng tiền bị bào mòn giá trị sẽ được người dân đưa ra sử dụng trong trao đổi hàng hóa, trong khi đó, đồng tiền đầy đủ giá trị sẽ được đưa vào cất trữ hoặc bị nấu chảy ra để đúc thành những đồng tiền thiếu giá sử dụng trong lưu thông. Còn tại Mĩ, việc quy định tỉ lệ trao đổi giữa vàng và bạc ở các quốc gia khác nhau dẫn đến việc kinh doanh chênh lệch giá. Các nhà đầu cơ có thể mua 1ounce vàng ở Mĩ với giá là 15ounce bạc, sau đó bán lại ở Pháp với giá 15.5ounce bạc, như vậy, không tính đến chi phí vận chuyển (mọi hàng rào thương mại về vàng và bạc trong giai đoạn này đều không có) thì với mỗi ounce vàng các nhà đầu cơ lãi được 0.5ounce bạc. Điều này dẫn đến vàng dần dần chảy ra khỏi nước Mĩ và bạc thì dần chảy ra khỏi nước Pháp. Nói một cách tổng quát, quy luật Gresham cho rằng: “Khi hai hàng hóa khác nhau trên thị trường được định giá khác nhau trên thị trường chính thức và trên thị trường tự do, thì hàng hóa nào được định giá quá thấp sẽ dần bị loại khỏi lưu thông trong khi hàng hóa được định giá quá cao sẽ ở lại trong lưu thông”. 4
  6. Từ cuối những năm 1860, các mỏ bạc được phát hiện nhiều, việc khai thác hàng loạt khiến bạc trở nên mất giá so với vàng, do đó nhiều quốc gia không còn sử dụng bạc làm bản vị cho đồng tiền quốc gia nữa, chế độ song bản vị bước đầu sụp đổ. Mặt khác, tại Mĩ, sau sự gián đoạn do cuộc nội chiến năm 1861, vào năm 1879, chính phủ chính thức tuyên bố không chuyển đổi tiền ra bạc nữa mà chỉ chuyển đổi ra vàng. Chế độ song bản vị sụp đổ, hình thành chế độ bản vị vàng cổ điển. 1.2. Hệ thống bản vị vàng cổ điển Tại Mỹ, quyết định chuyển đổi từ USD ra vàng mà không chuyển đổi ra bạc vào năm 1879 là bước ngoặt quan trọng cho sự ra đời của hệ thống bản vị vàng. Nhưng đến năm 1900, hệ thống này mới được chính thức phê chuẩn thông qua Đạo luật bản bị vàng. Trong khoảng thời gian 30 năm từ 1880 đến 1914, hệ thống bản vị vàng đã phát triển và thống trị ở hầu hết các quốc gia, nó đã liên kết chặt chẽ các quốc gia với nhau cũng như giữa các nước thống trị và các nước thuộc địa. Hệ thống bản vị vàng thực chất là chế độ tỉ giá cố định dựa trên tỉ lệ ngang giá vàng của mỗi đồng tiền quốc gia. Hệ thống này hoạt động dựa trên ba nguyên tắc: Thứ nhất, dưới chế độ bản vị vàng, các quốc gia ấn định giá trị đồng tiền của mình với vàng, hay nói cách khác là chính phủ ấn định giá vàng tính bằng tiền quốc gia, đồng thời sẵn sàng không hạn chế mua và bán vàng tại mức giá đã ấn định. Tỉ giá hối đoái giữa các đồng tiền của các quốc gia được xác định thông qua vàng. Thứ hai, dưới chế độ bản vị vàng, xuất và nhập khẩu vàng giữa các quốc gia được tự do hoạt động. Do vàng được chu chuyển tự do giữa các quốc gia với nhau nên tỷ giá trao đổi thực tế trên thị trường tự do không biến động đáng kể so với bản vị vàng. Thứ ba, dưới chế độ bản vị vàng, Ngân hàng trung ương luôn phải duy trì một lượng vàng dự trữ trong mối quan hệ trực tiếp với số tiền phát hành, tức tiền do NHTW phát hành được “bảo đảm bằng vàng 100%” và tiền được chuyển đổi tự do không hạn chế ra vàng. Qua đó, ta có thể thấy trong chế độ bản vị vàng, lượng vàng dự trữ của một quốc gia quyết định lượng cung tiền của quốc gia đó. Chính phủ điều tiết mức cung tiền nội địa theo cùng chiều với dòng lưu chuyển vàng: Khi dòng vàng nhập vào tăng (cán cân thanh toán thặng dư, phần thặng dư được thanh toán bằng vàng) thì dự trữ vàng tăng dẫn đến lượng cung tiền tăng và ngược lại, khi dòng xuất vàng tăng (cán cân thanh toán thâm hụt, phần thâm hụt phải thanh toán bằng vàng) dẫn đến dự trữ vàng giảm và cung tiền giảm. 5
  7. Trong hệ thống bản vị vàng, cán cân thanh toán của các nước được điều chỉnh theo cơ chế dòng vàng – giá cả (price-specie flow mechanism), tác động của cơ chế này được tóm tắt qua bảng dưới đây: Quốc gia có thâm hụt BOP Quốc gia có thặng dư BOP Dòng vàng chảy ra Dòng vàng chảy vào Cung tiền giảm Cung tiền tăng Giảm thu nhập Giảm giá cả Tăng thu nhập Tăng giá cả Giảm nhập khẩu Tăng xuất khẩu Tăng nhập khẩu Giảm xuất khẩu BOP trở về trạng thái cân bằng Trong những năm từ 1880- 1914, chế độ bản vị vàng được nhìn nhận như một hệ thống hoạt động hoàn hảo, với những quy tắc lưu thông tiền tệ được áp dụng tương đối phổ biến và triệt để ở các quốc gia. Tuy nhiên, khi chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ, các quốc gia tham chiến cần có tiền để tài trợ cho chiến tranh dẫn đến việc phát hành tiền mà không cần bảo đảm bằng vàng như quy tắc của hệ thống, dòng lưu chuyển vàng cũng không được tự do như trước nữa, điều này dẫn đến sự sụp đổ của hệ thống bản vị vàng. Tuy nhiên, chế độ bản vị vàng vẫn được công nhận là chế độ hoạt động hoàn hảo nhất cho đến thời điểm này với những ưu điểm: - Giúp cho thương mại và đầu tư thế giới phát triển và hưng thịnh. Điều này được chứng minh trong thời kì 1880 – 1914, với hàng rào thương mại vàng được gỡ bỏ hoàn toàn và kiểm soát ngoại hối và chu chuyển vốn ít khi được áp dụng cộng với việc không có một sự phá giá hay nâng giá nào giữa các đồng tiền của các quốc gia lớn trên thế giới đã giúp cho thị trường vốn quốc tế phát triển với trung tâm là London. - Khuyến khích phân công lao động quốc tế, giúp gia tăng phúc lợi thế giới. Trong chế độ bản vị vàng, các nhà đầu tư gần như được đảm bảo chắc chắn trước những rủi ro về tỉ giá, điều này khiến cho thương mại và đầu tư thế giới phát triển, luồng vốn lưu chuyển tự do giữa các quốc gia để tìm kiếm lợi nhuận cao nhất. - Cơ chế điều chỉnh cán cân thanh toán vận hành trơn tru. Với cơ chế dòng vàng - giá cả như đã nêu ở trên, những bất cân đối trong cán cân thanh toán của các quốc gia sẽ tự động được điều chỉnh về trạng thái cân bằng. Trong trường 6
  8. hợp các quốc gia tuân thủ những quy tắc của hệ thống, cơ chế dòng vàng – giá cả trên sẽ vận hành một cách trơn tru và hiệu quả. - Mâu thuẫn quyền lợi giữa các quốc gia ít khi xảy ra. Vì có sự tác động của cơ chế dòng vàng – giá cả nên những thâm hụt hay thặng dư trong cán cân thanh toán của một quốc gia được điều chỉnh một cách tự động theo quan hệ cung cầu phổ biến, do đó, trong thời kì này ít khi xảy ra những mâu thuẫn về quyền lợi giữa các quốc gia. Tuy nhiên, chế độ bản vị vàng cũng tồn tại một số hạn chế như: - Nền kinh thế thường xuyên phải trải qua sự bất ổn định vì cơ chế điều chỉnh cán cân thanh toán quốc tế thông qua sự thay đổi mức giá cả, lãi suất, thu nhập và thất nghiệp. - Quốc gia có thâm hụt cán cân thanh toán quốc tế phải trải qua thời kì kinh tế đình đốn, tỷ lệ thất nghiệp cao; trong khi đó quốc gia có thặng dư cán cân thanh toán thì phải trải qua thời kì lạm phát. - Những mỏ vàng có thể phát hiện bất cứ lúc nào, do đó làm tăng lượng cung ứng tiền và có thể dẫn đến tình trạng lạm phát. Ngược lại, ở những quốc gia khan hiếm vàng thì sẽ bị hạn chế lượng cung ứng tiền, và trở thành nguyên nhân gây kìm hãm nền kinh tế. - Mặt khác, trong chế độ bản vị vàng không có những cơ chế ràng buộc các quốc gia phải tuân thủ các quy tắc của hệ thống nên trên thực tế, quy tắc về đảm bảo số tiền phát hành trên cơ sở lượng vàng dự trữ thường bị bỏ qua. - Với cơ chế điều chỉnh thông qua dòng vàng lưu chuyển tự do giữa các quốc gia và việc phát hành tiền dựa trên lượng vàng dự trữ khiến cho việc điều hành của Ngân hàng trung ương kém linh động, vai trò của Ngân hàng trung ương trong nền kinh tế cũng không rõ nét. 2. Hệ thống tiền tệ quốc tế giữa hai cuộc đại chiến thế giới: Khi chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ năm 1914, hệ thống tiền tệ thế giới rơi vào thời kì hỗn loạn, hệ thống bản vị vàng tồn tại hơn 35 năm đã phải nhường chỗ cho hệ thống tỷ giá thả nổi. Các quốc gia không ngừng in thêm tiền để tài trợ cho chiến tranh dẫn đến khi chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc, các nước rơi vào tình trạng lạm phát, thậm chí siêu lạm phát. Tại Đức, từ năm 1913 đến năm 1918, tốc độ phát hành tiền tệ tăng 8.5 lần, đồng DEM sụt giá 50% so với USD. Năm 1921, tốc độ phát hành tiền của NHTW Đức tăng gấp 5 lần so với năm 1918, năm 1922 tăng gấp 10 lần so với năm 1921, và đến tháng 8/1923, một chiếc bánh mì hay một phong thư ở Đức đã có giá 1000DEM. Trong nỗ lực khôi phục lại thời kì hoàng kim của thương mại thế giới trong chế độ bản vị vàng, năm 1922, các nước đã tham gia hội nghị tiền tệ - tài chính 7
  9. quốc tế tổ chức tại Genoa (Italia) mở đường hình thành hệ thống bản vị hối đoái vàng, trong đó, đồng GBP là đồng tiền thanh toán và dự trữ quốc tế. Năm 1925, nước Anh ấn định bản vị vàng như lúc trước chiến tranh trong khi lúc này tỉ lệ lạm phát của nước Anh cao hơn nhiều so với mức trước chiến tranh, điều này khiến cho nền kinh tế Anh rơi vào tình trạng thiểu phát, thất nghiệp tăng cao. Tỉ lệ thất nghiệp của nước Anh từ 3% năm 1920 tăng vọt lên đến 18% năm 1926, các cuộc bãi công diễn ra khắp nơi, nước Anh rơi vào khủng hoảng. Đến năm 1929, cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu bùng nổ, cuối cùng, ngày 21/9/1931, nước Anh buộc phải từ bỏ chế độ tỉ giá cố định và bản vị vàng. Hệ thống Genoa sụp đổ. Trong giai đoạn sau chiến tranh thế giới thứ nhất, Mĩ vẫn duy trì chuyển đổi USD ra vàng, bên cạnh đó, do không bị tàn phá do chiến tranh nên lạm phát ở Mĩ thấp hơn ở các nước Châu Âu vì vậy lúc này vai trò của USD cũng được nâng lên, một số quốc gia dự trữ bằng USD bên cạnh GBP. Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng kinh tế 1929 – 1933 dẫn đến sự sụp đổ của hệ thống tài chính và thương mại quốc tế, hệ thống tiền tệ quốc tế rơi vào thời kì hỗn mang, các quốc gia bất hợp tác chính sách cho đến khi bùng nổ chiến tranh thế giới thứ hai vào năm 1939. 3. Giai đoạn sau chiến tranh thế giới thứ hai (từ năm 1946 đến nay) 3.1. Hệ thống Bretton Woods: Sau chiến tranh thế giới thứ hai, các nước Châu Âu bị tàn phá nặng nề, nền kinh tế thế giới rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Tuy nhiên, vào thời điểm này, tiềm lực kinh tế của nước Mỹ lại trở nên mạnh mẽ hơn bao giờ hết, trong vòng hai thập kỉ đầu sau chiến tranh thế giới thứ hai Mỹ là trung tâm kinh tế, tài chính duy nhất của thế giới. Đặc biệt, Mỹ nắm đến gần 75% trữ lượng vàng thế giới. Nhằm khôi phục nền kinh tế thế giới, cải tổ hệ thống tiền tệ quốc tế tránh được những sai lầm trước đây, cũng như tạo ra một trật tự tiền tệ quốc tế mới để tránh sự tan rã các mối quan hệ tiền tệ trên phạm vi quốc tế vào những năm 1930s, một hội nghị đã được tổ chức tại Bretton Woods, New Hampshire, Mỹ với sự tham gia của 730 đại biểu tới từ 44 quốc gia trên thế giới trong đó có Mỹ, Anh, Pháp, Đức,… Tại hội nghị này, hệ thống Bretton Woods đã được phê chuẩn cùng với sự ra đời của hai tổ chức tài chính quốc tế: - Quỹ tiền tệ quốc tế (International Monetary Fund – IMF) có nhiệm vụ theo dõi giám sát hoạt động của hệ thống tiền tệ quốc tế. - Ngân hàng thế giới (World Bank – WB) có nhiệm vụ hỗ trợ cho các nước Châu Âu phục hồi nền kinh tế sau chiến tranh và huy động vốn từ những nước phát triển để cho vay lại với lãi suất thấp ở những nước nghèo, kém phát triển nhằm giúp họ phát triển nền kinh tế. Tại hội nghị Bretton Woods, các quốc gia đã thống nhất những quy định của hệ thống tiền tệ quốc tế: 8
  10. Thứ nhất là hệ thống tỉ giá cố định nhưng có thể điều chỉnh. Hệ thống Bretton Woods quy định các quốc gia ấn định tỉ giá trung tâm của đồng nội tệ với USD và tỉ giá này chỉ được phép dao động trong khoảng +-1%. Bên cạnh đó, các quốc gia phải đồng ý chuyển đổi không hạn chế đồng nội tệ ra USD và ngược lại tại mức tỉ giá đã ấn định cho các giao dịch trên tài khoản vãng lai. Trong khi đó, Mĩ đảm bảo giữ giá trị đồng USD với vàng theo tỉ lệ $35/ounce vàng và Mĩ cam kết chuyển đổi không hạn chế USD ra vàng tại mức giá này. Thứ hai là các quốc gia thành viên sẽ đóng góp vốn vào quỹ của IMF với tỉ lệ ¼ là bằng vàng và ¾ là bằng bản tệ để hình thành nên quỹ tiền tệ của IMF. Căn cứ vào tỉ trọng vốn góp của các quốc gia, IMF cung cấp mỗi quốc gia một hạn mức tín dụng. Khi một quốc gia thành viên gặp vấn đề về thâm hụt cán cân thanh toán, họ sẽ được rút lần đầu là 25% hạn mức tín dụng, sau đó, những quốc gia nào chấp nhận những chính sách kinh tế do IMF đưa ra sẽ được rút vốn 4 lần tiếp theo, mỗi lần là 25% hạn mức tín dụng. Thứ ba là khi gặp những bất cân đối nghiêm trọng trong cán cân thanh toán, các quốc gia có thể thay đổi tỉ giá trung tâm. Tuy nhiên, nếu mức thay đổi trên 10% thì phải được sự đồng ý của IMF. Khả năng thay đổi tỉ giá trung tâm là giải pháp cuối cùng giúp cân bằng cán cân thanh toán và đây được xem là một trong những đặc điểm cơ bản của hệ thống Bretton Woods. Với những thỏa thuận trên, có thể thấy trong chế độ Bretton Woods, đồng USD đã trở thành đồng tiền dự trữ quốc tế và quyền lực trung tâm đã tập trung trong tay Mĩ, quốc gia duy nhất có quyền phát hành USD. Ngoài ra, Mĩ cũng là quốc gia duy nhất thực sự theo hệ thống bản vị vàng, còn các quốc gia khác theo chế độ bản vị hối đoái vàng dựa trên dolar Mĩ, hay chế độ bản vị dolar Mĩ. Thời gian đầu sau khi hệ thống Bretton Woods ra đời, các nước Châu Âu lâm vào tình trạng thiếu trầm trọng nguồn cung USD để khôi phục nền kinh tế, trong khi đó, lượng USD được giao dịch trên thị trường ngoại hối còn rất hạn chế. Trong giai đoạn này, Mĩ luôn bội thu cán cân vãng lai trong khi các nước Châu Âu thì luôn thậm hụt do năng lực xuất khẩu cũng như cở sở hạ tầng và nền kinh tế bị tàn phá nặng nề do chiến tranh. Mặt khác, trong thời kì này, IMF cũng không đủ nguồn vốn để tài trợ thậm hụt cán cân vãng lai của các nước Châu Âu. Do đó, năm 1948, Mĩ đã quyết định cung cấp cho các nước Châu Âu một gói trợ cấp trọn gói cho phát triển kinh tế gọi là trợ cấp Marshall, theo tên của ngoại trưởng Mĩ George Marshall – người khởi xướng và ban hành kế hoạch này. Kế hoạch Marshall được dự định tiến hành trong 6 năm từ 1948 đến 1953, theo đó, Mĩ yêu cầu các nước Châu Âu cần có sự hợp tác chặt chẽ hơn nữa, để đáp ứng đòi hỏi, “Tổ chức Hợp tác Kinh tế châu Âu (OEEC)” ra đời hoạt động trên cơ sở nguồn vốn trợ cấp Marshall. Sau đó, tổ chức này chuyển thành “Tổ chức Hợp tác và phát triển Kinh tế châu Âu (OECD)”. Và để hạn chế tối đa sự tham gia của USD, năm 1950, “Hiệp 9
  11. hội thanh toán Châu Âu - EPU” chính thức hoạt động giúp các nước thành viên có thể thanh toán bù trừ lẫn nhau. Tuy nhiên, những nguy cơ đe dọa xảy ra chiến tranh lạnh bắt đầu từ cuộc chiến tranh Triều Tiên cùng với quá trình tái vũ trang dẫn đến kế hoạch Marshall phải kết thúc vào năm 1951 dù viện trợ Mĩ dưới nhiều hình thức khác nhau vẫn tiếp tục sau đó. Mặc dù vậy, kế hoạch Marshall vẫn đóng vai trò quan trọng trong quá trình khôi phục nền kinh tế các nước Châu Âu. Trong những năm từ 1948 đến 1951, tổng số viện trợ nằm trong kế hoạch này lên đến hơn 12,7 triệu USD, giai đoạn này nền kinh tế các nước Châu Âu cũng phát triển chưa từng có, sản lượng công nghiệp tăng 35%, sản xuất nông nghiệp vượt mức trước chiến tranh. Vào những năm 1950s, nền sản xuất các nước Châu Âu và Nhật phát triển mạnh mẽ, cán cân thanh toán thặng dư, nguồn dự trữ USD trở nên dồi dào trong khi cán cân cơ bản của Mỹ lại trở nên thâm hụt. Những thâm hụt trong cán cân cơ bản của Mĩ chưa trở thành vấn đề nghiệm trọng nếu tổng lượng vàng dự trữ của Mĩ vẫn lớn hơn tổng tài sản nợ bằng USD của Mĩ. Tuy nhiên, khi gói trợ cấp Marshall kết thúc, nền kinh tế các nước Châu Âu phục hồi mạnh mẽ và tích đủ dự trữ ngoại hối phục vụ nhu cầu chuyển đổi, nhiều nước tiến hành chuyển dự trữ USD của mình ra vàng, hàng rào thương mại cũng được dỡ bỏ thì “Hiệp hội thanh toán Châu Âu – EPU” cũng được giải thể. Lúc này, vấn đề cán cân cơ sở bị thâm hụt của Mĩ trở nên nghiêm trọng. Trong giai đoạn này, đồng USD cũng phải đối mặt với sự tấn công mạnh mẽ của những nhà đầu cơ tiền tệ trên thế giới, đứng trước sức ép phá giá so với vàng. Tuy nhiên, vì những thỏa ước của hệ thống Bretton Woods với chế độ tỉ giá cố định, đồng USD không thể phá giá so với vàng. Trong khi đó, các nước có cán cân vãng lai thặng dư cũng không muốn tăng giá đồng tiền của mình hay thực hiện chính sách tiền tệ thu hẹp. Điều này khiến cho tình trạng dư thừa USD càng sâu sắc hơn, hệ thống Bretton Woods đứng trước nguy cơ khủng hoảng. Nhằm tránh những khủng hoảng hệ thống, ngăn chặn những toan tính đầu cơ vào đồng USD, năm 1962, “Thỏa thuận chung về vay mượn – GAB” ra đời. Các nước GAB gồm Mĩ và 9 nước khác thỏa thuận cho IMF vay những khoản vốn bổ sung trong trường hợp một trong các nước thành viên có nhu cầu vốn với quy mô lớn. Ngoài ra, Ngân hàng trung ương Mĩ và 7 nước công nghiệp phát triển khác còn có những thỏa hiệp can thiệp lên giá vàng trên thị trường thế giới nhằm giữ giá vàng ở mức $35/ounce. Tuy nhiên, đến năm 1967, người ta phát hiện ra rằng tổng lượng vàng dự trữ của Mĩ nhỏ hơn tài sản nợ của Mĩ tính bằng USD, và nếu các ngân hàng trung ương các nước vẫn tiếp tục chuyển đổi dự trữ ngoại hối ra vàng thì toàn bộ hệ thống sẽ sụp đổ. Vì vậy, các ngân hàng trung ương các nước quyết định không chuyển đổi USD ra vàng nữa và ngừng can thiệp vào giá vàng trên thị trường thế giới. Từ đó hình thành hai giá vàng. Tuy nhiên, vào giữa những năm 1960s, khi nước Mĩ tham gia vào cuộc chiến tranh Việt Nam, cuộc tấn công của các nhà đầu 10
  12. cơ vào đồng USD thật sự trở nên mạnh mẽ khi họ nhận ra USD và một số đồng tiền được định giá quá cao trong khi một số đồng tiền khác lại bị định giá quá thấp. Cuối cùng, trước sức ép của làn sóng đầu cơ vào USD, ngày 15/8/1971, Tổng thống Mỹ Nixon đã chính thức tuyên bố dừng chuyển đổi dự trữ dolar Mỹ ra vàng đồng nghĩa với thả nổi đồng dolar Mỹ và trên thực tế hệ thống Bretton Woods đã sụp đổ, thêm vào đó, Mỹ áp dụng mức thuế quan 10% đối với hàng hoá nhập khẩu nhằm buộc các quốc gia khác phải nâng giá đồng tiền. Trong những nỗ lực nhằm duy trì chế độ tỉ giá cố định, tháng 9/1971, các nước G10 đã nhóm họp và quyết định phá giá đồng USD so với vàng từ mức $35/1 ounce vàng xuống $38/1 ounce vàng, nâng giá các đồng tiền khác trung bình 8% so với USD và mở rộng biên độ dao động tỉ giá từ ±1% lên ±2.25%. Đổi lại, Mĩ rút lại việc đánh thuế 10% hàng nhập khẩu. Tuy nhiên, việc tấn công ồ ạt vào đồng USD vẫn không dừng lại. Do đó, vào năm 1973, các nước lần lượt thả nổi tỉ giá với đồng USD, hệ thống Bretton Woods chính thức sụp đổ.  Tại sao Bretton Woods sụp đổ? Theo Robert Triffin, hệ thống Bretton Woods chỉ hoạt động hiệu quả khi các nước trên thế giới dự trữ ngoại hối bằng USD, và việc này chỉ xảy ra khi đồng USD còn được tự do chuyển đổi ra vàng tại mức giá $35/ 1 ounce. Khi thương mại quốc tế phát triển, dự trữ ngoại hối của các quốc gia khác tăng, cán cân thanh toán thặng dư, đồng nghĩa với cán cân thanh toán của Mĩ phải luôn luôn thậm hụt mới đáp ứng được nhu cầu thanh khoản của hệ thống. Tuy nhiên, nếu cán cân thanh toán của Mĩ cứ thâm hụt trong dài hạn thì sẽ làm xói mòn lòng tin của các nước vào đồng USD, làm giảm tính hiệu lực của hệ thống Bretton Woods. Mặt khác, nếu Mĩ áp dụng các biện pháp nhằm cải thiện cán cân thanh toán thì sẽ dẫn đến thiếu hụt thanh khoản của hệ thống, tạo áp lực thiểu phát nền kinh tế thế giới. Hiện tượng trên được gọi là “nghịch lí Triffin”, là một trong những nguyên nhân cơ bản về sự sụp đổ của hệ thống Bretton Woods. Theo Jurg Niehans và Paul De Grawe, dựa vào quy luật Gresham: “Đồng tiền xấu đuổi đồng tiền tốt ra khỏi lưu thông – Bad money drives out good money”. Trong trường hợp hệ thống Bretton Woods, hai hàng hóa có liên quan là vàng và USD. Mĩ đồng ý chuyển đổi không hạn chế USD ra vàng tại mức giá $35/1 ounce trong khi chỉ số giá cả tại Mĩ tăng đến 40% trong khoảng thời gian từ năm 1959 đến năm 1969, tức là nếu các nhân tố khác không đổi, giá vàng trên thị trường tự do cũng tăng 40%. Sự chênh lệch giữa giá chính thức và giá trên thị trường tự do đã dẫn đến vàng bị định giá quá thấp trong khi đồng USD được định giá cao trong lưu thông, điều này khiến cho vàng dần biến mất khỏi lưu thông, tạo áp lực phá giá đồng USD buộc tổng thống Nixon tuyên bố ngừng chuyển đổi USD ra vàng, hệ thống Bretton Woods sụp đổ. 11
  13. Do sự thiếu vắng một cơ chế điều chỉnh. Trong chế độ Bretton Woods, Mỹ luôn phải chịu sự thâm hụt cán cân thanh toán để đảm bảo thanh khoản cho toàn hệ thống. Chính phủ Mĩ cũng không thể phá giá đồng USD với vàng vì như vậy sẽ làm xói mòn lòng tin vào hệ thống Bretton Woods. Mĩ cũng không thể cải thiện cán cân thanh toán nếu các nước nhập khẩu duy trì tỉ giá cố định với đồng USD. Điều này khiến Mĩ phải áp dụng chính sách thiểu phát nền kinh tế. Trên thực tế, Mĩ cực kì miễn cưỡng khi phải áp dụng chính sách này. Bên cạnh đó, những quốc gia có thặng dư cán cân thanh toán sẽ không muốn điều chỉnh tăng tỉ giá đồng tiền của mình vì lo ngại làm giảm tăng trưởng xuất khẩu cũng như nguy cơ lạm phát. Trong khi đó, những nước bị thâm hụt cán cân thanh toán cũng cực kì miễn cưỡng khi buộc phải phá giá đồng nội tệ hay áp dụng chính sách thiểu phát nền kinh tế vì lo ngại sự mất ổn định chính trị, tỉ lệ thất nghiệp cao. Cuối cùng, các quốc gia tìm đến giải pháp đi vay nguồn dự trữ của mình nhằm duy trì tỉ giá cố định, nhưng biện pháp này về cơ bản không thể khắc phục được những bất ổn của hệ thống mà chỉ kéo dài sự sụp đổ của chế độ Bretton Woods mà thôi. Vấn đề đặc quyền phát hành USD.Trong chế độ Bretton Woods, Mĩ là quốc gia duy nhất có quyền phát hành đồng tiền dự trữ quốc tế. Điều này đồng nghĩa với để cung cấp thanh khoản cho toàn thế giới, cán cân thanh toán của Mĩ luôn ở trong tình trạng thâm hụt trong khi cán cân thanh toán của các quốc gia khác phải ở trong tình trạng thặng dư. Điều này dẫn đến nhiều bất đồng vì trong khi các quốc gia khác phải tiêu dùng ít hơn những gì nó sản xuất ra thì nước Mĩ lại được tiêu dùng nhiều hơn những gì nó sản xuất ra. Bên cạnh đó, dự trữ ngoại hối của các quốc gia bằng đồng USD thường có lãi suất rất thấp, lại chịu ảnh hưởng của lạm phát nên lãi suất thực của khoản dự trữ này càng nhỏ, điều này có nghĩa là Mĩ có đặc quyền vay vốn từ các quốc gia khác với lãi suất thực rất thấp. Những mâu thuẫn này đã góp phần vào sự sụp đổ của hệ thống Bretton Woods. Tóm lại, từ sau năm 1973, chế độ tỉ giá cố định chính thức sụp đổ, các đồng tiền đều thả nổi tỉ giá và không còn chuyển đổi tiền ra vàng nữa. Mặc dù vậy, cho đến hiện nay, vai trò của đồng USD trong dự trữ quốc tế có thể nói là không thể thay thế, nó vẫn chiếm 60% tổng dự trữ quốc tế của các quốc gia. Tuy nhiên, kể từ khi đồng EURO ra đời cùng với sự lớn mạnh của nền kinh tế Châu Âu, đồng USD đang phải đối mặt với những thách thức to lớn nhằm duy trì ngôi vị độc tôn của mình. 3.2. Hậu Bretton Woods 3.2.1. Quyền rút vốn đặc biệt - SDR Thương mại quốc tế phát triển mạnh mẽ, tốc độ tăng trưởng thương mại vượt qua tốc độ tăng dự trữ quốc tế. Mặt khác, dự trữ quốc tế phụ thuộc quá nhiều vào mức độ thâm hụt cán cân thanh toán của Mĩ. Điều này làm dấy lên mối lo ngại 12
  14. tăng trưởng kinh tế quốc tế có thể bị kìm hãm. Nhận thấy nguy cơ này, các nước thành viên IMF đã thống nhất đưa ra “Sửa đổi lần thứ nhất các điều khoản của IMF năm 1967”, theo đó trao cho IMF quyền mở các tài khoản rút vốn đặc biệt để bổ sung vào hạn mức tín dụng của mình. Đến năm 1969, Quyền rút vốn đặc biệt (Special Drawing Rights – SDR) chính thức ra đời. SDR là một tài sản dự trữ quốc tế, giá trị của nó được hình thành trên cơ sở sự chấp nhận là phương tiện thanh toán của các ngân hàng trung ương các nước thành viên với IMF. SDR trên thực tế là một đồng tiền ghi sổ, IMF sẽ phân bổ cho mỗi quốc gia một lượng SDR tỉ lệ thuận với hạn mức tín dụng của nó tại IMF. Khi gặp những thiếu hụt về thanh khoản hay thâm hụt cán cân thanh toán, các quốc gia có thể rút SDR từ tài khoản của mình tại IMF mà không cần tham khảo ý kiến IMF, không cần có bất cứ điều kiện nào kèm theo và không là đối tượng hoàn trả. Quốc gia rút SDR có thể đổi lấy đồng tiền quốc gia khác để tăng dự trữ ngoại hối và phải trả lãi cho quốc gia đó. Các mức lãi suất của SDR cung cấp trên cơ sở tính toán lãi suất cho từng thành viên. Lãi suất SDR được điều chỉnh hàng tuần theo thay đổi của lãi suất ngắn hạn trên các thị trường tiền tệ chủ yếu. Ban đầu, giá trị của 1SDR được quy định bằng 1/35 ounce vàng tương đương với $1. Từ năm 1976, giá trị SDR được chuyển sang xác định bằng giá trị của một rổ tiền tệ gồm 16 đồng tiền. Bắt đầu từ năm 1981, giá trị của SDR được điều chỉnh 5 năm một lần và được xác định dựa vào giá trị của 5 đồng tiền mạnh trên thế giới và tầm quan trọng tương đối của nó đối với thương mại và tài chính toàn cầu.  Từ năm 1981–1985: USD 42%, DEM 19%, JPY 13%, GBP 13%, FRF 13%  Từ năm 1986–1990: USD 42%, DEM 19%, JPY 15%, GBP 12%, FRF 12%  Từ năm 1991–1995: USD 40%, DEM 21%, JPY 17%, GBP 11%, FRF 11%  Từ năm 1996–2000: USD 39%, DEM 21%, JPY 18%, GBP 11%, FRF 11%  Từ năm 2001–2005: USD 45%, EUR 29%, JPY 15%, GBP 11%  Từ năm 2006–2010: USD 44%, EUR 34%, JPY 11%, GBP 11% SDRs có thể giúp các nước thành viên ổn định cung cầu tiền tệ, tỷ giá hối đoái và giúp cân bằng cán cân thanh toán ngắn hạn. Nhưng từ khi ra đời đến nay nó chưa thực sự phát huy vai trò của mình và đặc biệt đối với chế độ tỷ giá thả nổi, SDRs chỉ được biết đến với tư cách là tài sản dự trữ rất hạn chế, nó chủ yếu phát huy tác dụng như một đơn vị tính toán. 3.2.2. Chế độ tiền tệ Jamaica Từ khi chế độ Bretton Woods chính thức sụp đổ vào năm 1973, các quốc gia chủ yếu theo chế độ tỉ giá thả nổi, tuy nhiên, chế độ này chưa có được sự thừa 13
  15. nhận quốc tế chính thức. Đến năm 1976, tại Jamaica, hội nghị ủy ban lâm thời IMF quyết định “Sửa đổi lần thứ hai các điều khoản của IMF”, các điều khoản này được các quốc gia thành viên chính thức thông qua vào tháng 4/1978. Theo đó, hệ thống Jamaica có các đặc điểm: - Bãi bỏ cơ chế cố định tỉ giá theo vàng, các quốc gia thành viên không được cố định giá trị đồng tiền của mình với vàng. Vàng được giao dịch như một hàng hóa bình thường trên thị trường. Dự trữ của IMF lúc này sẽ được tính theo SDR. - Thừa nhận chế độ tỉ giá thả nổi. Bên cạnh đó, các quốc gia có quyền tự lựa chọn chế độ tỉ giá mà mình cho là phù hợp. - Các quốc gia tự chịu trách nhiệm về việc điều chỉnh cán cân thanh toán của mình, miễn là không gây ảnh hưởng tiêu cực đến các quốc gia đối tác thương mại và nền kinh tế thế giới. - IMF cũng khuyến khích các quốc gia phối hợp chính sách nhằm ổn định tỉ giá, thúc đẩy thương mại quốc tế phát triển, cho phép hình thành các khu vực tiền tệ. - IMF giữ vai trò giám sát chặt chẽ hệ thống tiền tệ quốc tế và chính sách tỉ giá của các quốc gia. Tuy vai trò của IMF được nâng cao trong sửa đổi lần hai này nhưng thực sự IMF vẫn không được trao quyền trừng phạt những quốc gia không tuân thủ những quy tắc này. Trên thực tế, hệ thống Jamaica là một khẳng định chính thức cho sự chấm dứt của hệ thống Bretton Woods. Tuy nhiên, trong giai đoạn này, các quốc gia vẫn nắm giữ dự trữ bằng vàng, USD, hoặc bằng SDR, ngoài ra, một số đồng tiền như EUR, JPY, GBP trở thành những ngoại tệ mạnh trên thế giới. Do mỗi quốc gia có quyền chọn một chế độ tỉ giá phù hợp trong khi mỗi chế độ tỉ giá đều có ưu và nhược điểm khác nhau, bên cạnh đó, các quốc gia thì luôn luôn theo đuổi lợi ích cho riêng mình nên trong giai đoạn này tỉ giá biến động mạnh và đôi khi các quốc gia lâm vào tình trạng bất cân đối cán cân thanh toán nghiêm trọng. Trong giai đoạn từ năm 1980 – 1985, Mĩ áp dụng chính sách thắt chặt tiền tệ đồng thời mở rộng tài khóa nhằm kiềm chế lạm phát, dẫn đến đồng USD tăng giá, thâm hụt ngân sách và thâm hụt cán cân vãng lai. Chính sách kiềm chế lạm phát khiến cho lãi suất ở Mĩ tăng, lãi suất bình quân tăng từ 11.2% năm 1979 lên 20% năm 1981, lãi suất cơ bản cao hơn đến 21.5%, lãi suất công trái tăng vọt lên 17.3%, dòng vốn đầu tư ồ ạt chảy vào Mĩ. Tuy nhiên, việc USD tăng giá tác động làm thu hẹp xuất khẩu của Mỹ, cán cân vãng lai của Mỹ ngày càng xấu đi nhanh chóng, đến năm 1985, thâm hụt cán cân vãng lai của Mĩ đã chiếm đến 3.5% GDP. Những mối quan tâm ngày càng tăng về nền kinh tế Mĩ và sự kiện lên giá của USD 14
  16. đã trở thành một trong những lí do căn bản để đi đến Hiệp định Plaza (Plaza Accord). 3.2.3. Hiệp định Plaza, thỏa ước Louvre: Ngày 22/09/1985, hiệp định Plaza (Plaza Accord) được bộ trưởng tài chính 5 nước Mĩ, Anh, Nhật, Đức, Pháp kí tại khách sạn Plaza, New York, Mĩ. Mục đích của hiệp định là làm cho đồng USD mất giá một cách có kiểm soát so với các tiền tệ chủ yếu khác. Theo hiệp định này, các nước đã cam kết “hợp tác với nhau chặt chẽ hơn nữa để khiến cho đồng USD tiếp tục giảm giá”. Để thực hiện cam kết này, các nước đã tiến hành mua vào DEM và JPY, bán ra USD. Chỉ trong vòng mấy tháng sau khi “Hiệp định Plaza” được kí kết, tỉ giá JPY/USD từ 250 JPY/USD đã lên đến 149 JPY/USD. Tuy nhiên, việc đồng USD giảm giá quá nhanh dẫn đến những lo ngại về nguy cơ sụp đổ của đồng USD. Điều này dẫn đến ngày 22/2/1987, hiệp định Louvre được nhóm các nước G7 thông qua tại Bảo tàng Louvre, Paris, Pháp đã tuyên bố chấm dứt những thỏa thuận nhằm phá giá USD trong hiệp định Plaza. Các nước cũng thỏa thuận sẽ hợp tác với nhau chặt chẽ để duy trì sự biến động tỉ giá xung quanh mức tỉ giá hiện hành. Sau hiệp định Louvre, tỉ giá được duy trì tương đối ổn định cho đến tháng 10/1987, khi diễn ra sự sụp đổ của thị trường chứng khoán New York và hàng loạt các thị trường chứng khoán trên thế giới. Để giảm thiểu rủi ro do suy thoái kinh tế, các nước đồng loạt áp dụng chính sách nới lỏng tiền tệ, giảm lãi suất. Đến năm 1988, khi cán cân thương mại của Mĩ bắt đầu có dấu hiệu được cải thiện, giá trị của USD cũng bắt đầu được khôi phục. 3.2.4. Hệ thống tiền tệ quốc tế hiện nay Sau khi áp dụng chính sách nới lỏng tiền tệ nhằm đối phó với cuộc khủng hoảng năm 1987, các quốc gia lại phải đối mặt với lạm phát. Tình hình này buộc các nước phải hi sinh mục tiêu tăng trưởng để kiềm chế lạm phát. Lãi suất tăng cao, tỉ giá biến động mạnh và liên tục đã tạo cơ hội cho các nhà đầu cơ liên tục tấn công vào các đồng tiền trên thị trường ngoại hối. Làn sóng đầu cơ lên cao trong những năm 1990 khiến thế giới được chứng kiến tình trạng hỗn loạn tiền tệ với quy mô và nội dung chưa từng có trước đây. Ngày nay, nhìn chung nền kinh tế toàn cầu phát triển theo hướng đa phương hóa và hội nhập mạnh mẽ, hoạt động của các định chế tài chính quốc tế được tăng cường trên nhiều lĩnh vực đời sống, kinh tế - xã hội của các nước. Đặc biệt, từ sau năm 1973, các quốc gia có quyền tự chọn cho mình một chế độ tỉ giá phù hợp. Do đó, hệ thống tiền tệ quốc tế hiện hành được gọi là một hệ thống “không hệ thống”, trong đó có nhiều chế độ tỉ giá song song cùng tồn tại: 15
  17.  Chế độ tỉ giá không có đồng tiền pháp định riêng: Chế độ tỉ giá không có đồng tiền pháp định riêng là chế độ tỉ giá trong đó một quốc gia không sử dụng đồng tiền pháp định riêng mà sử dụng đồng tiền của một nước khác trong lưu thông như đồng tiền pháp định duy nhất hoặc là thành viên của một liên minh tiền tệ, trong đó các nước thành viên thống nhất sử dụng một đồng tiền pháp định chung. Theo phân loại của IMF vào tháng 4/2008, hiện trên thế giới có 10 nước áp dụng chế độ tỉ giá này như: Ecuador, El Sanvador, Marshall Island, Liên bang Micronesia, Panama, Timor – Lester (dùng đồng USD), Montenegro, San Marino (dùng đồng Euro), Kiribati (dùng đồng AUD). Chế độ tỉ giá không có đồng tiền pháp định riêng có lợi thế là giúp cho nền kinh tế các nước nhỏ tránh khỏi những biến động về tỉ giá khi họ sử dụng một đồng tiền mạnh của một quốc gia có nền kinh tế phát triển. Tuy nhiên, việc không có đồng tiền pháp định riêng mà phải dùng một đồng tiền của nước khác như đồng tiền pháp định của mình khiến nền kinh tế các nước này bị phụ thuộc vào nền kinh tế của quốc gia phát hành đồng tiền đó.  Chế độ bản vị tiền tệ Theo chế độ này, chính phủ phải cam kết chính thức về việc chuyển đổi nội tệ sang ngoại tệ là đồng tiền bản vị tại một mức tỷ giá cố định. Đặt ra những hạn chế nghiêm ngặt để đảm bảo việc thực thi cam kết. Chính phủ neo đồng tiền của mình (chính thức hay ngầm) với một đồng tiền chính hay một rổ các đồng tiền tại một mức giá cố định, tỷ giá dao động trong một biên độ hẹp là ±1% quanh tỷ giá trung tâm. Theo phân loại của IMF (tháng 4/2008), hiện trên thế giới có 13 quốc gia áp dụng chế độ tỉ giá này, trong đó có 8 quốc gia chọn bản vị USD (như Hong Kong SAR, Dominica…), 4 quốc gia chọn bản vị đồng EUR (như Estonia, Lithuania…) và Brunei Darussalam chọn bản vị đồng dollar Singapore. Tương tự như chế độ tỉ bản vị vàng, trong chế độ bản vị tiền tệ, chính phủ cam kết chuyển đổi nội tệ sang đồng bản vị tại một mức giá cố định và mức giá này chỉ được dao động trong biên độ ± 1%, điều này buộc NHTW phải nắm giữ lượng ngoại tệ trong mối tương quan với lượng tiền phát hành. Chế độ này chỉ vận hành tốt khi đồng tiền bản vị có giá trị ổn định và dự trữ ngoại hối của NHTW đủ để đảm bảo thanh khoản trong nước. Tuy nhiên, khi lượng dự trữ ngoại hối không đủ, NHTW buộc phải đi vay ngoại tệ để phát hành tiền và bù đắp thâm hụt cán cân thanh toán và thâm hụt ngân sách, điều này có thể dẫn đến khủng hoảng nợ chính phủ như những gì đã diễn ra ở Argentina vào năm 2001. Mặt khác, tỉ giá hối đoái quy định một cách cứng nhắc và lãi suất được quyết định bởi NHTW phát hành 16
  18. đồng tiền bản vị khiến nền kinh tế bị phụ thuộc và khó tránh khỏi những cú sốc từ bên ngoài.  Chế độ tỉ giá cố định thông thường Chế độ tỉ giá cố định thông thường là chế độ tỉ giá trong đó Chính phủ neo đồng tiền của mình (chính thức hay ngầm) với một đồng tiền chính hay một rổ các đồng tiền tại một mức giá cố định, đồng thời cho phép tỉ giá dao động trong một biên độ hẹp là ±1% quanh tỷ giá trung tâm. Theo phân loại của IMF (tháng 4/2008), hiện nay trên thế giới có 68 quốc gia áp dụng chế độ tỉ giá này trong đó có Việt Nam (được xếp vào nhóm những quốc gia neo tỉ giá vào đồng USD). Theo phân loại của IMF vào năm 2002, Việt Nam được xếp vào nhóm nước áp dụng chế độ tỉ giá thả nổi có điều tiết, tuy nhiên, giai đoạn cuối năm 2007, đầu năm 2008, do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu với áp lực giảm giá đồng USD khiến tỉ giá biến động bất lợi cho nền kinh tế Việt Nam. Chính phủ Việt Nam đã thực hiện can thiệp trên thị trường ngoại hối nhằm làm giảm áp lực tăng giá VND khiến cho tỉ giá USD/VND trong thời gian này biến động không nhiều trong khi giá USD đang giảm mạnh so với các ngoại tệ mạnh khác trên thế giới. Tuy nhiên, đây chỉ là tình trạng tạm thời, trong dài hạn, Chính phủ Việt Nam vẫn cam kết áp dụng chính sách tỉ giá thả nổi có sự điều tiết của nhà nước.  Chế độ tỉ giá cố định với biên độ dao động rộng Chế độ tỉ giá cố định với biên độ dao động rộng là chế độ tỉ giá mà trong đó Chính phủ neo đồng tiền của mình (chính thức hay ngầm) tại một tỷ giá cố định, đồng thời cho phép tỉ giá dao động trong một biên độ rộng hơn ±1% quanh tỷ giá trung tâm. Theo thống kê của IMF (tháng 4/2008), hiện trên thế giới chỉ có 3 quốc gia áp dụng chế độ tỉ giá này là Cộng hòa Slovak (neo tỉ giá với EUR), Syria và Tonga (neo tỉ giá với một rổ tiền tệ). Chế độ tỉ giá cố định với biên độ dao động rộng tuy có giảm bớt tính cứng nhắc của tỉ giá nhưng nó vẫn không tránh khỏi những nhược điểm của chế độ tỉ giá cố định nói chung như không phản ánh đúng tương quan cung cầu ngoại tệ trên thị trường, việc duy trì tỉ giá cố định sẽ tác động trực tiếp đến dự trữ ngoại hối của NHTW, tuy nhiên trong dài hạn thì tỉ giá vẫn có xu hướng trở về mức giá thị trường.  Chế độ tỉ giá cố định trượt Đây là chế độ tỷ giá cố định, nhưng định kỳ, tỷ giá trung tâm sẽ được điều chỉnh theo một tỷ lệ nhất định được thông báo trước, hoặc để phản ánh thay đổi trong một chỉ tiêu nhất định đã được lựa chọn (lạm phát, cán cân thương mại). 17
  19. Theo thống kê của IMF (tháng 4/2008), hiện trên thế giới có 8 quốc gia áp dụng chế độ tỉ giá này như: Trung Quốc, Bolivia, Iraq…  Chế độ tỉ giá cố định trượt có biên độ Đây là chế độ tỉ giá cố định với các nội dung: - Tỷ giá được dao động trong một biên độ nhất định xung quanh tỷ giá trung tâm. - Tỷ giá trung tâm được điều chỉnh định kỳ theo tỷ lệ nhất định được thông báo trước hoặc để phản ánh những thay đổi trong một chỉ tiêu nhất định đã được lựa chọn. Theo thống kê của IMF (tháng 4/2008), hiện trên thế giới chỉ có hai quốc gia áp dụng chế độ tỉ giá này là Costa Rica và Azerbaijan. Chế độ tỉ giá cố định trượt và chế độ tỉ giá cố định trượt có biên độ về bản chất vẫn là chế độ tỉ giá cố định nhưng nó khắc phục phần nào những nhược điểm của chế độ tỉ giá cố định, tỉ giá trung tâm được điều chỉnh định kì sẽ phản ánh đúng hơn tương quan cung cầu trên thị trường ngoại hối, giảm gánh nặng duy trì tỉ giá trên vai NHTW trong điều kiện nền kinh tế có biến động, các NHTW thường chọn những mục tiêu như mục tiêu về lượng cung tiền, mục tiêu về kiểm soát lạm phát hay mục tiêu về cán cân thanh toán để làm căn cứ đưa ra tỉ giá trung tâm trong từng thời kì. Các chế độ tỉ giá cố định thường được áp dụng ở những nước đang phát triển, thị trường ngoại hối còn non trẻ, để phát triển kinh tế cần có sự điều tiết của chính phủ trong chính sách tỉ giá nhằm đảm bảo mục tiêu chính sách kinh tế của quốc giá.  Chế độ tỉ giá thả nổi có điều tiết không thông báo trước Chính phủ tác động ảnh hưởng lên xu hướng vận động của tỷ giá thông qua hành động can thiệp tích cực trên thị trường ngoại hối, nhưng không có thông báo trước hay cam kết về hướng và mức độ can thiệp. Theo thống kê của IMF (tháng 4/2008), hiện trên thế giới có 44 quốc gia áp dụng chế độ tỉ giá này trong đó có Singapore, Thái Lan, Peru…  Chế độ tỉ giá thả nổi độc lập Trong chế độ tỷ giá thả nổi độc lập, tỷ giá được xác định theo thị trường, các hoạt động can thiệp ngoại hối chỉ nhằm mục đích giảm sự biến động quá mức của tỷ giá, chứ không theo đuổi một hướng vận động hay một giới hạn cụ thể về tỷ giá. 18
  20. Theo thống kê của IMF (tháng 4/2008), hiện trên thế giới có 40 quốc gia áp dụng chế độ tỉ giá này, là những nước có nền kinh tế phát triển như Anh, Mĩ, Đức, Pháp… Đối với những quốc gia có nền kinh tế phát triển, giá trị đồng tiền được duy trì ổn định thì chế độ tỉ giá thả nổi sẽ giúp tự điều chỉnh những quan hệ cung cầu trên thị trường ngoại hối, lúc này NHTW đóng vai trò trung lập. Tuy nhiên, trên thực tế, kể cả trong chế độ tỉ giá thả nổi độc lập, các NHTW cũng không hoàn toàn chỉ đóng vai trò trung lập trên thị trường ngoại hối. Đặc biệt, trong giai đoạn khủng hoảng, các NHTW luôn áp dụng tích cực những công cụ nhằm tác động vào tỉ giá để ổn định tỉ giá, ổn định nền kinh tế. 3.2.5. Hệ thống tiền tệ Châu Âu - EMS Kể từ sau khi Cộng đồng kinh tế Châu Âu - EEC ra đời vào năm 1957, quan hệ thương mại giữa các nước thành viên ngày càng phát triển, nền kinh tế của các quốc gia Châu Âu ngày càng chiếm vai trò quan trọng trong kinh tế toàn cầu. Xuất phát từ những lo ngại cho tiến trình phát triển thương mại trong điều kiện tỉ giá không ổn định, các nước thành viên Cộng đồng Kinh tế Châu Âu đã thống nhất hình thành cơ chế tỉ giá Châu Âu (Exchange Rate Mechanism – ERM) vào năm 1971. Cơ chế tỉ giá này còn được biết đến với tên gọi chế độ “Con rắn trong hang”, một tên gọi đầy hình tượng của chế độ thỏa thuận tỉ giá giữa các quốc gia Châu Âu. Đến tháng 3 năm 1979, Hệ thống tiền tệ Châu Âu (European Monetary System – EMS) chính thức ra đời. Trong hệ thống này, đơn vị tiền tệ chung của Châu Âu là đồng ECU – một đồng tiền ghi sổ, các quốc gia xác định tỉ giá trung tâm theo ECU. Giá trị của đồng ECU được neo vào một giỏ các đồng tiền Châu Âu với số lượng được xác định từ trước và 5 năm tái định. Mỗi thành viên của EMS buộc phải đóng góp 20% lượng vàng và USD đang nắm giữ vào Quỹ hợp tác tiền tệ Châu Âu và họ được quyền nhận lại khối lượng tương đương bằng đồng ECU. EMS cũng quy định tỉ giá hối đoái giữa mỗi cặp tiền của các nước tham gia được xác định theo tỉ giá chéo trung tâm và không được biến động vượt ra ngoài giới hạn quy định chung là ±2.25%. Nếu tỉ giá vượt ra ngoài vùng thỏa thuận, hai chính phủ sẽ phải can thiệp để tỉ giá về lại mức quy định. EMS yêu cầu sự can thiệp phải có tính đối xứng, ví dụ khi đồng FRF giảm giá nhiều hơn giới hạn cho phép so với đồng DEM, ngân hàng trung ương của Pháp buộc phải bán đồng DEM và mua vào FRF, điều này làm giảm dự trữ bằng đồng DEM của ngân hàng trung ương Pháp. Mặt khác, ngân hàng trung ương Đức cũng phải bán đồng DEM và mua vào đồng FRF qua đó buộc phải tăng dự trữ bằng đồng FRF của mình. Với chế độ tỉ giá cố định như trên, EMS lại mắc phải sai lầm như trong chế độ Bretton Woods, khi các nhà đầu cơ tấn công vào một đồng tiền, nó sẽ làm cho tỉ 19

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản