Tiểu luận "Vùng kinh tế Tây Nguyên"

Chia sẻ: Dang Thi Lien | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:21

0
892
lượt xem
284
download

Tiểu luận "Vùng kinh tế Tây Nguyên"

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Vùng Tây Nguyên, một thời gọi là Cao nguyên Trung phần Việt Nam là khu vực cao nguyên bao gồm 5 tỉnh, xếp theo thứ tự vị trí địa lý từ bắc xuống nam gồm Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông và Lâm Đồng.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tiểu luận "Vùng kinh tế Tây Nguyên"

  1. 1. Giới thiệu khái quát vùng Vùng Tây Nguyên, một thời gọi là Cao nguyên Trung phần Việt Nam là khu vực cao nguyên bao gồm 5 tỉnh, xếp theo thứ tự vị trí địa lý từ bắc xuống nam gồm Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông và Lâm Đồng. Tây Nguyên là một tiểu vùng, cùng với vùng Duyên hải Nam Trung Bộ hợp thành vùng Nam Trung Bộ, thuộc Trung Bộ Việt Nam. Thời Việt Nam Cộng hòa, nơi đây được gọi là Cao nguyên Trung phần. Hiện nay đôi khi được gọi là Cao nguyên Trung Bộ. Trước đó, thời Bảo Đại làm Quốc trưởng, vùng đất này còn được hưởng quy chế riêng là vùng Hoàng triều Cương thổ. Theo Nguyễn Đình Tư trong bài Tây Nguyên xưa và nay, tạp chí Xưa và nay, số 61B, tháng 3 năm 1999, thì địa danh Tây Nguyên được biết đến từ năm 1960, khi công bố Hiến pháp 1959 của Việt Nam Cộng hòa, trong đó có điều khoản về các khu tự trị của các sắc tộc thiểu số và có nhắc đến Tây Nguyên. Trước đó, từ thời Pháp thuộc, vùng đất này chưa có tên gọi riêng mà chỉ là đơn vị hành chính trực thuộc Khâm sứ Trung Kỳ, nên có tên là vùng Cao nguyên Trung Kỳ. Ngoài ra, người Pháp còn gọi nơi này là Les Hauts Plateaux du Sud (Cao nguyên miền Nam). Thời nhà Nguyễn, vùng đất này được thuộc về châu Thượng Nguyên (bao gồm Thủy Xá, Hỏa Xá là vùng đất cư trú của người Êđê, Gia Rai, Ba Na và là một phần Tây Nguyên ngày nay) Sau khi Nhật đảo chính Pháp, chính phủ Trần Trọng Kim đã đổi tên đơn vị hành chính cấp Kỳ thành cấp Bộ. Từ đó vùng đất này được gọi là Cao nguyên Trung Bộ. Khi Quốc gia Việt Nam thành lập, Quốc trưởng Bảo Đại đã đổi tên đơn vị hành chính cấp Bộ thành cấp Phần. Riêng khu vực cao nguyên được tách ra và được hưởng quy chế hành chính đặc biệt có tên là Hoàng triều cương thổ. Tại vùng này thì Quốc trưởng Bảo Đại vẫn giữ vai trò là Hoàng đế. Đến năm 1955, chính phủ Ngô Đình Diệm chấm dứt chế độ Bảo đại và thành lập nền Đệ nhất Cộng hòa. Hoàng triều cương thổ lại được sát nhập
  2. vào Trung phần và được gọi là vùng Cao nguyên Trung phần. Tên gọi này được chế độ Việt Nam Cộng hòa sử dụng mãi cho đến năm 1975. Tây Nguyên là vùng cao nguyên, giáp với Hạ Lào và Đông Bắc Campuchia. trong khi Kon Tum có biên giới phía tây giáp với cả Lào và Campuchia, thì Gia Lai, Đắk Lắk và Đắk Nông chỉ có chung đường biên giới với Campuchia. Còn Lâm Đồng không có đường biên giới quốc tế. Vùng đất Tây Nguyên từ xưa vốn là vùng đất tự trị, địa bàn sinh sống của các bộ tộc thiểu số, chưa phát triển thành một quốc gia hoàn chỉnh. Do đất rộng, người thưa, các bộ tộc thiểu số ở đây thỉnh thoảng trở thành nạn nhân trước các cuộc tấn công của vương quốc Champa hoặc Chân Lạp nhằm cướp bóc nô lệ. Tháng 2 năm Tân Mão niên hiệu Hồng Đức thứ 2 (1471), vua Lê Thánh Tông thân chinh đi đánh Chiêm Thành, phá được thành Chà Bàn, bắt sống vua Chăm Pa là Trà Toàn, sáp nhập 3 phần 5 lãnh thổ Chăm Pa thời đó vào Đại Việt. Hai phần Chăm Pa còn lại, được Lê Thánh Tông chia thành các tiểu quốc nhỏ thuần phục Đại Việt. Phần đất Phan Lung (tức Phan Rang ngày nay) do viên tướng Chăm là Bồ Trì trấn giữ, được vua Lê coi là phần kế thừa của vương quốc Chiêm Thành. Một phần đất nay là tỉnh Phú Yên, Lê Thánh Tông phong cho Hoa Anh vương tạo nên nước Nam Hoa. Vùng đất phía Tây núi Thạch Bi, tức miền Tây Nguyên ngày nay được lập thành nước Nam Bàn, vua nước này được phong là Nam Bàn vương.[2] Sau khi Nguyễn Hoàng xây dựng vùng cát cứ phía Nam, các chúa Nguyễn ra sức loại trừ các ảnh hưởng còn lại của Champa và cũng phái một số sứ đoàn để thiết lập quyền lực ở khu vực Tây Nguyên. Các bộ tộc thiểu số ở đây dễ dàng chuyển sang chịu sự bảo hộ của người Việt, vốn không có thói quen buôn bán nô lệ. Tuy nhiên, các bộ tộc ở đây vẫn còn manh mún và mục tiêu của các chúa Nguyễn nhắm trước đến các vùng đồng bằng, nên chỉ thiết lập quyền lực rất lỏng lẻo ở đây. Trong một số tài liệu vào thế kỷ 16, 17 đã có những ghi nhận về các bộ tộc Mọi Đá Vách (Hré), Mọi Hời (Hroi, Kor, Bru,
  3. Ktu và Pacoh), Mọi Đá Hàm (Djarai), Mọi Bồ Nông (Mnong) và Bồ Van (Rhadé Epan), Mọi Vị (Raglai) và Mọi Bà Rịa (Mạ) để chỉ các bộ tộc thiểu số sinh trú ở vùng Nam Tây Nguyên ngày nay. Tuy sự ràng buộc lỏng lẻo, nhưng về danh nghĩa, vùng đất Tây Nguyên vẫn thuộc phạm vi bảo hộ của các chúa Nguyễn. Thời nhà Tây Sơn, rất nhiều chiến binh thuộc các bộ tộc thiểu số Tây Nguyên gia nhập quân Tây Sơn, đặc biệt với đội tượng binh nổi tiếng trong cuộc hành quân của Quang Trung tiến công ra Bắc xuân Kỷ Dậu (1789). Tây Sơn thượng đạo, vùng đất phía Tây đèo An Khê là một căn cứ chuẩn bị lực lượng cho quân Tây Sơn thủa ban đầu. Người lãnh đạo việc hậu cần này của quân Tây Sơn là người vợ dân tộc Ba Na của Nguyễn Nhạc. Sang đến triều nhà Nguyễn, quy chế bảo hộ trên danh nghĩa dành cho Tây Nguyên vẫn không thay đổi nhiều, mặc dù vua Minh Mạng có đưa phần lãnh thổ Tây Nguyên vào bản đồ Việt Nam (Đại Nam nhất thống toàn đồ - 1834). Người Việt vẫn chú yếu khai thác miền đồng bằng nhiều hơn, đặc biệt ở các vùng miền Đông Nam Bộ ngày nay, đã đẩy các bộ tộc thiểu số bán sơn địa lên hẳn vùng Tây Nguyên (như trường hợp của bộ tộc Mạ). Trong cuốn Đại Việt địa dư toàn biên, Phương Đình Nguyễn Văn Siêu có viết: Thủy Xá, Hỏa Xá ở ngoài cõi Nam Bàn nước Chiêm Thành. Bấy giờ trong Thượng đạo tỉnh Phú An có núi Bà Nam rất cao. Thủy Xá ở phía Đông núi ấy, ... Hỏa Xá ở phía Tây núi ấy, phía Tây tiếp giáp với xứ Sơn Bốc sở nam nước Chân Lạp, phía Nam thì là Lạc man (những tộc người du cư). Phía trên là sông Đại Giang, phía dưới là sông Ba Giang làm giới hạn bờ cõi hai nước ấy..... Sau khi người Pháp nắm được quyền kiểm soát Việt Nam, họ đã thực hiện hàng loạt các cuộc thám hiểm và chinh phục vùng đất Tây Nguyên. Trước đó, các nhà truyền giáo đã đi tiên phong lên vùng đất còn hoang sơ và chất phác này.
  4. Năm 1888, một người Pháp gốc đảo Corse tên là Mayréna sang Đông Dương, chọn Dakto làm vùng đất cát cứ và lần lượt chinh phục được các bộ lạc thiểu số. Ông ta thành lập Vương quốc Sedang có quốc kỳ, có giấy bạc, có cấp chức riêng và tự mình lập làm vua tước hiệu Marie đệ nhất. Nhận thấy được vị trí quan trọng của vùng đất Tây Nguyên, nhân cơ hội Mayréna về châu Âu, chính phủ Pháp đã đưa công sứ Quy Nhơn lên “đăng quang” thay Mayréna. Vùng đất Tây Nguyên được đặt dưới quyền quản lý của Công sứ Quy Nhơn. Sau đó vài năm, thì vương quốc này cũng bị giải tán. Năm 1891, bác sĩ Alexandre Yersin mở cuộc thám hiểm và phát hiện ra cao nguyên Lang Biang. Ông đã đề nghị với chính phủ thuộc địa xây dựng một thành phố nghỉ mát tại đây. Nhân dịp này, người Pháp bắt đầu chú ý khai thác kinh tế đối với vùng đất này. Tuy nhiên, về danh nghĩa, vùng đất Tây Nguyên vẫn thuộc quyền kiểm soát của triều đình Đại Nam. Vì vậy, năm 1896, khâm sứ Trung kỳ Boulloche đề nghị Cơ mật viện triều Nguyễn giao cho Pháp trực tiếp phụ trách an ninh tại các cao nguyên Trung kỳ. Năm 1898, vương quốc Sedang bị giải tán. Một tòa đại lý hành chính được lập ở Kontum, trực thuộc Công sứ Quy Nhơn. Năm 1899, thực dân Pháp buộc vua Đồng Khánh ban dụ trao cho họ Tây Nguyên để họ có quyền tổ chức hành chính và trực tiếp cai trị các dân tộc thiểu số ở đây. Năm 1900, Toàn quyền Paul Doumer đích thân thị sát Đà Lạt và quyết định chọn Đà Lạt làm thành phố nghỉ mát. Vùng đất cao nguyên Trung kỳ (Tây Nguyên) hoàn toàn thuộc quyền cai trị của chính quyền thực dân Pháp. Năm 1907, tòa đại lý ở Kontum đổi thành tòa Công sứ Kontum, cùng với việc thành lập các trung tâm hành chính Kontum và Cheo Reo. Những thực dân người Pháp bắt đầu lên đây xây dựng các đồn điền đồng thời cũng ngăn cấm người Việt lên theo, trừ số phu họ mộ được. Năm 1917, tại đó, thị xã Đà Lạt được thành lập. 2. Điều kiện tự nhiên và tài nguyên nổi bật
  5. Tây Nguyên là vùng cao nguyên, giáp với Hạ Lào và Đông Bắc Campuchia trong khi Kon Tum có biên giới phía tây giáp với cả Lào và Campuchia, thì Gia Lai, Đắk Lắk và Đắk Nông chỉ có chung đường biên giới với Campuchia. Còn Lâm Viên không có đường biên giới quốc tế. 2.1. Địa hình: Địa hình vùng Tây Nguyên đa dạng hơn các vùng khác.Đó là các dãy Cao Nguyên có độ cao thấp khác nhau liền kề nhau như: cao nguyên kom tum cao khoảng 500 m, cao nguyên kon plong, cao nguyên kon hà nừng playku cao khoảng 800 m, cao nguyên M’Drăk cao khoảng 500 m, cao nguyên Buôn Ma Thuột cao khoảng 500 m, MơNông cao khoảng 800-1000 m, cao nguyên Lâm Viên cao khoảng 1500 m và cao nguyên Di linh cao khoảng 900-1000 m. Tất cả các cao nguyên này đều được bao bọc về phía Đông bởi những dãy núi và khối núi cao Tây Nguyên lại có thể chia thành ba tiểu vùng địa hình đồng thời là ba tiểu vùng khí hậu, gồm Bắc Tây Nguyên (tương ứng với các tỉnh Kon Tum và Gia Lai, trước là một tỉnh), Trung Tây Nguyên (tương ứng với các tỉnh Đắk Lắk và Đắk Nông), Nam Tây Nguyên (tương ứng với tỉnh Lâm Đồng). Trung Tây Nguyên có độ cao thấp hơn và nền nhiệt độ cao hơn hai tiểu vùng phía Bắc và Nam. Với đặc điểm thổ nhưỡng đất đỏ bazan ở độ cao khoảng 500 m đến 600 m so với mặt biển, Tây Nguyên rất phù hợp với những cây công nghiệp như cà phê, ca cao, hồ tiêu, dâu tằm,cây điều và cây cao su cũng đang được phát triển tại đây. Cà phê là cây công nghiệp quan trọng số một ở Tây Nguyên. Tây Nguyên cũng là vùng trồng cao su lớn thứ hai sau Đông Nam Bộ và đang tiến hành khai thác Bô xit. Tây Nguyên cũng là khu vực ở Việt Nam còn nhiều diện tích rừng với thảm sinh vật đa dạng, trữ lượng khoáng sản phong phú hầu như chưa khai thác và tiềm năng du lịch lớn, Tây nguyên có thể coi là mái nhà của miền trung, có chức năng phòng hộ rất lớn. Tuy nhiên, nạn phá rừng, hủy diệt tài nguyên
  6. thiên nhiên và khai thác lâm sản bừa bãi chưa ngăn chận được tại đây có thể dẫn đến nguy cơ làm nghèo kiệt rừng và thay đổi môi trường sinh thái. 2.1. Khí hậu cao trên 1000 m như Đà Lạt thì khí hậu lại mát mẻ quanh năm như vùng ôn đới Khí hậu ở Tây Nguyên được chia làm hai mùa: mùa mưa từ tháng 5 đến hết tháng 10 và mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4, trong đó tháng 3 và tháng 4 là hai tháng nóng và khô nhất.Do ảnh hưởng của độ cao nên trong khi ở các cao nguyên cao 400-500 m khí hậu tương đối mát và mưa nhiều, riêng cao nguyên. 2.3. Tài ngyên thiên nhiên. 2.3.1.Tài nguyên đất Một trong những tài nguyên lớn được thiên nhiên ưu đãi cho Tây Nguyên, đó là tài nguyên đất. Toàn vùng có diện tích tự nhiên là 13.085 km2, trong đó chủ yếu là nhóm đất xám, đất đỏ bazan và một số nhóm khác như: đất phù sa, đất gley, đất đen. Tây Nguyên có 1,8 triệu ha đất đỏ bazan (chiếm 33,08% diện tích toàn vùng) tập trung nhiều nhất ở các tỉnh Đăk Lăk, Đăk Nông, Gia Lai, Lâm Đồng rất thuận lợi cho việc phát triển cây công nghiệp; có 91.000 ha đất phù sa, 52.000 ha đồng cỏ tự nhiên thuận lợi cho việc phát triển chăn nuôi đại gia súc.Các đất hình thành từ đá bazan có độ phì khá cao (pH/H2O từ trung tính đến chua, đạm và lân tổng số khá). Sự đồng nhất cao giữa độ phì nhiêu tự nhiên và độ phì nhiêu thực tế của các nhóm đất và loại đất. Hiện trạng sử dụng đất của vùng năm 2008: (Đơn vị: Nghìn ha) Tổng diện Đất nông Đất Đất Đất tích nghiệp lâm nghiệp chuyên dùng thổ cư Cả nước 33115,0 9420,3 14816,6 1553, 620,4 Tây 5464 1626 3122,5 142 43,5 Nguyên (Theo Nguồn đơn vị hành chính, đất đai và khí hậu của Tổng cục thống kê)
  7. - Nhóm đất phù sa. Được hình thành và phân bố tập trung ven các sông, suối trong tỉnh. Tính chất của loại đất này phụ thuộc vào sản phẩm phong hoá của mẫu chất. - Nhóm đất glay. Phân bố tập trung ở các khu vực thấp trũng thuộc các huyện Lắk, Krông Ana và Krông Bông - Nhóm Đất Xám. Là nhóm lớn nhất trong số các nhóm đất có mặt tại Đắk Lắk, phân bố ở hầu hết các huyện. -Nhóm Đất Đỏ: chủ yếu là nhóm đất đỏ bazan Là nhóm đất chiếm diện tích lớn thứ hai (sau đất xám) chiếm tới 55,6% diện tích đất đỏ bazan toàn Tây Nguyên. Đất đỏ bazan còn có tính chất cơ lý tốt, kết cấu viên cục độ xốp bình quân 62 - 65%, khả năng giữ nước và hấp thu dinh dưỡng cao... rất thích hợp với các loại cây công nghiệp có giá trị kinh tế như cà phê, cao su, chè, hồ tiêu... và nhiều loại cây ăn quả, cây công nghiệp ngắn ngày khác. Đây là một lợi thế rất quan trọng về điều kiện phát triển nông nghiệp của tỉnh Đắk Lắk. 2.3.2. Tài nguyên nước -Nguồn nước mặt: Với những đặc điểm về khí hậu - thủy văn và với 3 hệ thống sông ngòi phân bố tương đối đều trên lãnh thổ (hệ thống sông Srepok; hệ thống sông Ba, hệ thống sông Đồng Nai) cùng với hàng trăm hồ chứa và 833 con suối có độ dài trên 10 km, đã tạo cho Đắk Lắk một mạng lưới sông, hồ khá dày đặc. Vì vậy, nhiều vùng trong tỉnh có khả năng khai thác nguồn nước mặt thuận lợi để phục vụ sản xuất và đời sống, nhất là các địa bàn phân bố dọc theo hai bên sông Krông Ana thuộc các huyện:Krông Ana, Krông Pắc,Lắk,.... - Nguồn nước ngầm: Tập trung chủ yếu trong các thành tạo BaZan & Trầm tích Neogen đệ tứ, tồn tại chủ yếu dưới 2 dạng: Nước lỗ hổng và nước khe nứt. Tổng trữ
  8. lượng ước tính: Chất lượng nước thuộc loại nước siêu nhạt, độ khoáng hoá M= 0,1 - 0,5, pH = 7-9. Loại hình hoá học thường là Bicacbonat Clorua - Magie, Can xi hay Natri. 2.3.3. Tài nguyên rừng Sau khi chia tách tỉnh, diện tích đất có rừng của Đắk Lắk là 608.886,2 ha, trong đó rừng tự nhiên là 594.488,9 ha, rừng trồng là 14.397,3 ha. Độ che phủ rừng đạt 46,62% (số liệu tính đến ngày 01/01/2004). Rừng Đắk Lắk được phân bố đều khắp ở các huyện trong tỉnh, đặc biệt là hành lang biên giới của tỉnh giáp Campuchia. Rừng Đắk Lắk phong phú và đa dạng, thường có kết cấu 3 tầng: cây gỗ, các tác dụng phòng hộ cao; có nhiều loại cây đặc sản vừa có giá trị kinh tế, vừa có giá trị khoa học; phân bố trong điều kiện lập địa thuận lợi, nên rừng tái sinh có mật độ khá lớn. Do đó rừng có vai trò quan trọng trong phòng chống xói mòn đất, điều tiết nguồn nước và hạn chế thiên tai. Rừng Đắk Lắk có nhiều loại động vật quý hiếm phân bổ chủ yếu ở vườn Quốc gia Yôk Đôn và các khu bảo tồn Nam Kar, Chư Yangsin... có nhiều loại động vật quý hiếm ghi trong sách đỏ nước ta và có loại được ghi trong sách đỏ thế giới. Rừng và đất lâm nghiệp có vị trí quan trọng trong quá trình phát triển KT-XH của tỉnh. 2.3.4. Tài nguyên khoáng sản: Dak lak không những được thiên nhiên ưu đãi về tài nguyên đất, rừng mà còn rất phong phú và đa dạng về các loại hình khoáng sản. Trên địa bàn tỉnh có nhiều mỏ khoáng sản với trữ lượng khác nhau, nhiều loại quý hiếm như Sét cao lanh (ở M’DRăk, Buôn Ma Thuột - trên 60 triệu tấn), sét gạch ngói (Krông Ana, M’DRăk, Buôn Ma Thuột - trên 50 triệu tấn), vàng (Ea Kar), chì (Ea H’Leo), phốt pho (Buôn Đôn), Than Bùn (Cư M’Gar), đá quý (Opan, Jectit), đá ốp lát, đá xây dựng, cát xây dựng... phân bố ở nhiều nơi trong tỉnh. 3. Dân cư, xã hội 3.1. Dân số:
  9. Tây Nguyên là vùng có dân số tăng nhanh nhất nước ta từ 1 triệu người năm 1975 lên 5 triệu người năm 2005 với tỉ lệ tăng dân số trung bình 10 %/năm trong vòng 30 năm và là tăng cơ học (theo kinh nghiệm của thế giới thì tăng dân số cơ học 3 %/năm là ở mức báo động). Việc tăng dân số cơ học với mật độ quá cao và tốc độ quá nhanh gây ra sự đảo lộn toàn diện về xã hội chưa từng có. Theo thống kê của Tổng cục thống kê thì dân số năm 2008 của Tây Nguyên là 5.004.200 người chiếm 5,8 % dân số của cả nước. Với mật độ dân số trung bình là 92 người/km2 (mật độ trung bình của cả nước là 260 người/km2). 3.2. Dân tộc: Cơ cấu dân cư ở Tây Nguyên bị đảo lộn lớn, cư dân bản địa trở thành thiểu số với tỷ lệ chênh lệch lớn trên chính đất đai rừng núi ngàn đời của họ. Đầu thế kỷ XX: người bản địa chiếm 95% dân số. Năm 1975: 50% dân số. Hiện nay còn 15-20% dân số (Đắc Lắc còn 15%, Đắc Nông còn 10%, Kontum còn 45-50%…). Nhưng các dân tộc ở đây vẫn đã và đang gìn giữ, phát huy được nét đẹp trong truyền thống văn hóa của mình. - Người Ê Đê: Còn gọi là người Anăk Ea Ðê, Ra Ðê (hay Rhađê), ê Ðê, êgar, Ðê. Thuộc nhóm ngôn ngữ Malayô-Pôlinêxia (ngữ hệ Nam Ðảo). Người ê Ðê là cư dân đã có mặt lâu đời ở miền trung Tây nguyên. Dấu vết về nguồn gốc hải đảo của dân tộc ê Ðê đã phản ánh lên từ các sử thi và trong nghệ thuật kiến trúc, nghệ thuật tạo hình dân gian. Cho đến nay, cộng đồng ê Ðê vẫn còn là một xã hội đang tồn tại những truyền thống đậm nét mẫu hệ ở nước ta. Ðịa bàn cư trú chủ yếu hiện nay là tỉnh Ðắc Lắc, phía nam tỉnh Gia Lai. Ngôi nhà truyền thống của người ê Ðê là nhà sàn dài, kiến trúc mô phỏng hình thuyền với 2 đặc trưng cơ bản là: hai vách dọc dựng thượng thách - hạ thu; hai đầu mái nhô ra. Gia đình ê Ðê là gia đình mẫu hệ, hôn nhân cư trú phía nhà vợ, con mang họ mẹ, con gái út là người thừa kế. Xã hội ê Ðê vận hành theo tập quán pháp truyền của tổ chức gia đình mẫu hệ. Cả cộng đồng được chia làm hai hệ
  10. dòng để thực hiện hôn nhân trao đổi. Làng gọi là buôn và là đơn vị cư trú cơ bản, cũng là tổ chức xã hội duy nhất. Về văn chương, khan là sử thi, trường ca cổ xưa; về hình thức biểu diễn là loại ngâm kể kèm theo một số động tác để truyền cảm. Về dân ca có hát đối đáp, hát đố, hát kể gia phả... Nền âm nhạc ê Ðê nổi tiếng ở bộ cồng chiêng gồm 6 chiêng bằng, 3 chiêng núm, một chiêng giữ nhịp và một trống cái mặt da. Không có một lễ hội nào, một sinh hoạt văn hoá nào của cộng đồng lại có thể vắng mặt tiếng cồng chiêng. Bên cạnh cồng chiêng là các loại nhạc cụ bằng tre nứa, vỏ bầu khô như các dân tộc khác ở Trường Sơn, Tây Nguyên, nhưng với ít nhiều kỹ thuật riêng mang tính độc đáo. - Người Ba Na: Còn gọi là người Bơ Nâm, Roh, Kon Kđe, Ala Kông, Kpang Kông... Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khơ Me (ngữ hệ Nam Á). Dân tộc Ba Na là một trong những cư dân sinh tụ lâu đời ở Trường Sơn - Tây Nguyên đã kiến lập nên nền văn hoá độc đáo ở đây. Họ là tộc người có dân số đông nhất, chiếm vị trí rất quan trọng trong các lĩnh vực văn hoá, xã hội ở các cao nguyên miền Trung nước ta. Người Ba Na canh tác lúa trên ruộng khô và rẫy. Ðịa bàn cư trú của người Ba Na trải rộng trên các tỉnh Gia Lai, Kon Tum. Họ cư trú trên nhà sàn, cửa ra vào mở về phía mái, trên hai đầu đốc đều có trang trí hình sừng, ở giữa làng được xây cất một ngôi nhà công cộng - nhà làng, nhà rông với hai mái vồng và cao vút. Ðó là nhà khách của làng, nơi diễn ra mọi sinh hoạt chung của cộng đồng làng như giáo dục thanh thiếu niên, tổ chức nghi lễ, hội làng, xử án... Làng là đơn vị xã hội hoàn chỉnh và duy nhất. Tàn dư mẫu hệ vẫn thể hiện rõ trong quan hệ gia đình, tộc họ và trong hôn nhân. Dân ca rất phong phú nhưng phổ biến là điệu hmon và roi. Nhạc cụ rất đa dạng gồm cả bộ dây, bộ hơi và bộ gõ. Múa dân gian Ba Na trong đó có múa phục vụ nghi lễ và biểu diễn ở hội hè được nhiều người ưa chuộng. - Người Gia Rai: Giơ Ray, Chơ Ray, tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ hệ Malayô Pôlynêixa (ngữ hệ Nam Ðảo). Dân tộc Gia Rai là một trong những cư dân sớm sinh tụ ở vùng núi Tây Nguyên, lan sang một phần đất Campuchia.
  11. Trong xã hội Gia Rai xưa đã có Pơ tao ia (vua nước) và Pơ tao pui (vua lửa) chuyên cúng trời, đất, cầu mưa thuận gió hoà... Làng (Plơi hoặc Bôn) vừa là đơn vị cư trú vừa cấu kết thành tổ chức xã hội, có một hội đồng gồm những ông già chủ trì chung (Phun pơ bút). Dòng họ theo chế độ mẫu hệ nên phả hệ hoàn toàn tính về dòng mẹ. Khối cộng đồng máu mủ được tập hợp thành từng họ - Kơ nung hoặc Ðgioai. Người Gia Rai có nhiều trường ca như Ðăm San, Xinh Nhã, Ðăm Di... thể hiện dưới hình thức hát thơ có đệm đàn Tưng nưng. Những điệu vũ dân gian Gia Rai có một số động tác mô phỏng những cuộc chiến tranh giữa các bộ tộc. Ðàn Tơ rưng, Krông put, Tưng nưng ... rất được phổ biến. 3.3. Lao động: Lao động ở Tây Nguyên chủ yếu là lao động phổ thông, hiện nay vùng này vẫn còn đang thiếu một lực lượng lao động lành nghề có trình độ chuyên môn cao để có thể phục vụ được cho công cuộc công nghiệp hóa hiện đại hóa vùng. Tỉ lệ người thất nghiệp và chưa có việc làm trong độ tuổi lao động ở Tây Nguyên năm 2008: (Đơn vị: %) Thất nghiệp Chưa có việc làm Thành Nông Thành Nông Chung Chung thị thôn Thị thôn Cả nước 2,38 4,65 1,53 5,10 2,34 6,1 Tây Nguyên 1,42 2,51 1,00 5,12 3,72 5,65 (Theo Nguồn dân số và lao động của Tổng cục thống kê) 4. Tình hình phát triển kinh tế Năm 2008, GDP toàn Tây Nguyên tăng 14% so với năm 2007, thu nhập bình quân đầu người đạt 11,34 triệu đồng (vượt cả mục tiêu đặt ra cho năm 2010 tới 1,34 triệu đồng). Cơ cấu kinh tế của vùng chuyển dịch theo hướng tích cực, ngành nông, lâm nghiệp có xu hướng giảm dần, ngành công nghiệp
  12. dịch vụ tăng lên: cơ cấu ngành nông, lâm nghiệp là 45%, ngành công nghiệp xây dựng 26%, ngành dịch vụ 29%. 4.1 Nông nghiệp: 4.1.1. Trồng trọt: Tuy không phải là vựa lúa của cả nước nhưng là nơi tập trung phần lớn diện tích cây công nghiệp - cây kinh tế thế mạnh và là nguồn lực phát triển của vùng. - Cây lương thực: Tuy Tây Nguyên không phải là vùng có thế mạnh về sản xuất lương thực nhưng sản lượng lương thực có hạt vẫn tăng nhanh: năm 2000 là 907 nghìn tấn và năm 2007 là trên 2 triệu tấn. Lương thực bình quân cũng tăng từ 214 kg lên 310 kg/người trong thời gian tương ứng. Từ năm 2003 đến 2007, khu vực Tây Nguyên đã sản xuất đạt bình quân lương thực đầu người trên 300kg/năm, về cơ bản đã chủ động được lương thực cho toàn bộ dân số trong vùng. Cây lương thực có hạt nói chung của toàn vùng năm 2008: Cả nước Tây Nguyên Diện tích (nghìn ha) 8542 448,9 Sản lượng (nghìn tấn) 43258,3 2032,7 Năng suất bình quân (tấn/ha) 5,06 4,53 (Theo Nguồn Nông – Lâm – Thủy sản của Tổng cục thống kê) Cây lương thực có hạt của vùng chiếm 5,25% tổng diện tích cây có hạt của cả nước với sản lượng chiếm khoảng 4,7% tổng sản lượng cây có hạt của cả nước. Năng suất bình quân 4,53 tấn/ha thấp hơn so với mức năng suất bình quân của cả nước là 5,06 tấn/ha. Và sản lượng cây lương thực có hạt bình quân đầu người của vùng là 406,2 kg thấp hơn mức so với cả nước là 501,8 kg. + Cây lúa: Diện tích lúa của vùng năm 2008 là 211,7 nghìn ha chiếm 2,86% tổng diện tích lúa cả nước, với sản lượng 938,4 nghìn tấn chiếm 2,42 % tổng sản lượng lúa của cả nước, năng suất bình quân là 44,3 tạ/ha thấp hơn mức năng suất bình quân của cả nước 52,2 tạ/ha. (Theo Nguồn Nông – Lâm – Thủy sản của Tổng cục thống kê) + Cây lương thực khác:
  13. Diện tích cây ngô của vùng năm 2008 là 236,9 nghìn ha chiếm 21% diện tích ngô của cả nước và sản lượng là 1093,9 nghìn tấn chiếm 24,1% sản lượng ngô của cả nước với năng suất bình quân là 46,2 tạ/ha. (Theo Nguồn Nông – Lâm – Thủy sản của Tổng cục thống kê). - Cây hoa màu: Đây là vùng có điều kiện thuận lợi để gieo trồng và sản xuất các loại rau, củ quả ôn đới - Cây công nghiệp hàng năm: Đây là vùng có nhiều điều kiện tự nhiên để phát triển các loại cây công nghiệp ngắn ngày như dâu tằm, đậu tương, lạc + Cây đậu tương: Tỷ trọng diện tích đậu tương của Tây Nguyên so với cả nước Năm 2004 2005 2006 2007 Diện tích gieo trồng cả 182568 183833 185600 190269 nước (nghìn ha) Diện tích gieo trồng của TN 23043 23081 23600 24920 (nghìn ha) % so với cả 12.62% 12.55% 12.71% 13.09% nước Tỉ trọng sản lượng đậu tương của Tây Nguyên so với cả nước Năm 2004 2005 2006 2007 Sản lượng cả 24209 nước (nghìn 292481 285100 275317 2 tấn) Sản lượng của TN (nghìn 24524 42571 37400 39833 tấn) % so với cả 9.84% 14.55% 13.11% 14.46% nước (Theo Nguồn thống kê ngành trồng trọt của Bộ NN&PTNT) + Cây lạc:
  14. Tỷ trọng diện tích lạc của Tây Nguyên so với cả nước Năm 2004 2005 2006 2007 Diện tích gieo trồngcả nước 285689 263683 246700 254249 (nghìn ha) Diện tích gieo trồng của TN 24787 25280 23100 20529 (nghìn ha) % so với cả 8.67% 9.58% 9.36% 8.07% nước Tỉ trọng sản lượng lạc của Tây Nguyên so với cả nước Năm 2004 2005 2006 2007 Sản lượng cả nước 451095 485610 462500 504921 (nghìn tấn) Sản lượng của TN 24273 31863 33100 32119 (nghìn tấn) % so với cả nước 5.38% 6.56% 7.15% 6.36% (Theo Nguồn thống kê ngành trồng trọt của Bộ NN&PTNT) - Cây công nghiệp lâu năm: Tây Nguyên được xem là vùng chuyên môn hóa cây công nghiệp lâu năm là một trong những thế mạnh của vùng trong phát triển nông nghiệp với các loại cây tiêu biểu như cà phê, cao su, chè… + Cây cà phê: Đặc điểm sinh thái: là cây ưa nóng, nhiệt độ thích hợp từ 16-20oC cần nhiều ánh sang, không chịu được sương muối, thích hợp nhất với các loại đất đỏ bazan, feralit, độ ẩm trong đất luôn trên 70% Phân loại: Cà phê vối Cà phê chè Cà phê mít Phân bố chủ yếu ở Đắc Lăk, Đắc Nông, Gia Lai, Lâm Đồng. Tây Nguyên được xem là vùng có lợi thế so sánh trong chuyên môn hóa sản xuất cây cà phê, có điều kiện đất đai, thời tiết, khí hậu thuận lợi để phát triển
  15. sản xuất cây cà phê cho năng suất, sản lượng cao với chi phí thấp. Trong ngành nông nghiệp của Tây Nguyên, sản xuất cà phê giữ vị trí quan trọng ảnh hưởng lớn tới giá trị sản lượng nông nghiệp. Sản xuất cà phê đóng góp khoảng gần 30% GDP của Tây Nguyên. Hiện khu vực này là vùng chuyên canh tập trung có qui mô lớn về sản xuất cà phê của Việt Nam. Trong những năm cuối của thập niên 90, sản lượng cà phê nhân của vùng Tây Nguyên chiếm trên dưới 70% sản lượng của cả nước. Tác động của ngành sản xuất này với tăng trưởng kinh tế của vùng là rất lớn. Sản xuất cà phê là nguồn thu ngoại tệ quan trọng với các tỉnh Tây Nguyên, trong tổng kinh ngạch xuất khẩu của các tỉnh Tây Nguyên, giá trị xuất khẩu của cà phê luôn chiếm khoảng 80%. Nếu giá trị xuất khẩu của cà phê tăng 1% thì kim ngạch xuất khẩu sẽ tăng 1.075%. Tác động của ngành sản xuất này không chỉ với tăng trưởng kinh tế mà quan trọng hơn là tạo ra thu nhập và việc làm cho người dân ở đây. Tỷ trọng diện tích cà phê của Tây Nguyên so với cả nước 2004 2005 2006 2007 Diện tích cả nước 503200 497000 506400 (ha) 520891 Diện tích của TN (ha) 434335 452026 449400 458200 % so với cả nước 86.3% 86.8% 90,42% 90,48% Tỉ trọng sản lượng cà phê của Tây Nguyên so với cả nước Năm 2004 2005 2006 2007 Sản lượng cả nước (nghìn 834,6 767,7 985,3 961,2 tấn) Sản lượng của 768,5 706,8 928,2 897,9 TN (nghìn tấn) % so với cả 92,08% 92,06% 94,2% 93,4% nước (Theo Nguồn thống kê ngành trồng trọt của Bộ NN&PTNT) Diện tích cà phê hiện nay của các tỉnh Tây Nguyên là 436.000 ha, giảm khoảng 50.000 - 60.000ha so với thời kỳ đạt đỉnh cao vào năm 2002. Với diện tích này, cà phê Tây Nguyên vẫn chiếm khoảng 90% diện tích cà phê cả nước.
  16. + Cây cao su: Đặc điểm sinh thái: cây Caosu là cây cực kỳ khó tính, nhiệt độ từ 25- 30oC, độ cao dưới 600m, độ ẩm đất trên 60%, không mưa nhiều nhưng độ ẩm đất cao, không chịu được gió mạnh. Tỉ trọng diện tích gieo trồng cao su của Tây Nguyên so với cả nước: Năm 2004 2005 2006 2007 Diện tích gieo 450, trồng cả nước 480,2 522,2 549,6 8 (nghìn ha) Diện tích gieo 104, trồng của TN 110 117,5 124,9 4 (nghìn ha) % so với cả nước 23% 22,7% 23,2% 22,9% Tỉ trọng sản lượng cao su của Tây Nguyên so với cả nước: Năm 2004 2005 2006 2007 Sản lượng cả nước 400, 468,6 55,4 601 (nghìn tấn) 1 Sản lượng của TN 56,8 80 93,2 106,6 (nghìn tấn) % so với cả 17% 17,7% 14,2% 17,1% nước (Theo Nguồn thống kê ngành trồng trọt của Bộ NN&PTNT) + Cây chè: Đặc điểm sinh thái: thích nghi ở nhiệt độ từ 15-25oC , tổng nhiệt độ trong năm phải đạt 8000oC độ ẩm không khí trên 70%, chịu được sương muối và thích hợp nhất với đất feralit đỏ vàng. Phân loại: Chè Tuyên Quang lá to Chè Tuyên Quang lá nhỏ Chè Shan Chè Ấn Độ
  17. Cây chè được trồng nhiều ở Mộc Châu, Phú Thọ, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Lâm Đồng. Tỉ trọng diện tích chè của Tây Nguyên so với cả nước: Năm 2004 2005 2006 2007 Diện tích cả nước 118,7 118,4 122,9 125,7 (nghìn ha) Diện tích của TN 26,9 26,8 28 27,8 (nghìn ha) % so với cả nước 22,7% 22,6% 22,8% 22,1% Tỉ trọng sản lượng chè của Tây Nguyên so với cả nước: Năm 2004 2005 2006 2007 Sản lượng cả 487,6 534,2 648,9 704,9 nước (nghìn tấn) Sản lượng của TN 149,2 157,4 175,6 193,1 (nghìn tấn) % so với cả nước 30,6% 29,5% 27,1% 27,4% (Theo Nguồn thống kê ngành trồng trọt của Bộ NN&PTNT) 4.1.2. Chăn nuôi: Phát huy thế mạnh của khu vực có lợi thế về điều kiện tự nhiên, đồng cỏ, nguồn nguyên liệu chế biến thức ăn gia súc phong phú, trong vài năm trở lại đây, nhất là từ năm 2001 đến nay ngành chăn nuôi của các tỉnh Tây Nguyên đã có những bước phát triển mới, nâng dần tỷ trọng trong sản xuất nông nghiệp (tỷ trọng ngành chăn nuôi trong nông nghiệp đã chiếm 10,7%, còn thấp nhiều so với cả nước). Hiện nay, các tỉnh Tây Nguyên đã có tổng đàn bò trên 747.900 con, tăng 21,21% so cùng kỳ này năm ngoái và cao hơn so với tăng trưởng chung toàn quốc là 17,5%, đàn trâu 79.025 con, tăng gần 10%, tổng đàn dê, cừu 116.100 con, tăng 81,8% so cùng kỳ năm ngoái. Các tỉnh Tây Nguyên hiện cũng có tổng đàn lợn gần 1,4 triệu con, 7,8 triệu con gia cầm và 272.194 đàn ong (chiếm 40,08% tổng đàn, và 64,5% sản lượng mật của cả nước). Tây Nguyên đã có sự chuyển biến tích cực về tổ chức sản xuất trong chăn nuôi, từ phân tán, nhỏ lẻ, ít đầu tư, thậm chí có vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa "tự cung, tự cấp" sang chăn nuôi tập trung ở qui mô trang trại,
  18. hoặc đồng bào dân tộc đã làm chuồng trại để chăn nuôi trâu, bò, lợn, gia cầm... xuất bán ra thị trường. Cơ cấu giống cũng đã có sự chuyển đổi từ những giống địa phương, giống truyền thống sang chăn nuôi bằng các giống mới ngoại nhập, giống lai cho năng suất, chất lượng thịt cao. Hiện nay, các tỉnh Tây Nguyên đã phát triển hàng ngàn trang trại chăn nuôi bò, trâu, lợn, dê với qui mô mỗi trang trại từ 100 con trở lên, trong đó, riêng bò có 919 trang trại. Hệ thống tổ chức ngành chăn nuôi, thú y tại khu vực Tây Nguyên cũng đã được tăng cường mở rộng và ngày càng được củng cố, các loại dịch bệnh nguy hiểm từng bước được khống chế. Công tác phát triển chăn nuôi đã mang lại những kết quả nhất định góp phần thúc đẩy nền kinh tế của các tỉnh Tây Nguyên, các thành phần kinh tế khác cùng phát triển, tạo công ăn việc làm cho người lao động, tăng thu nhập cho xã hội, tăng tích luỹ ngân sách, giúp cho một bộ phận đồng bào các dân tộc xoá đói giảm nghèo, đồng thời, tạo ra những tiền đề tốt hơn để phát triển chăn nuôi trong những năm kế tiếp. 4.2. Lâm nghiệp Tổng diện tích rừng của Tây Nguyên năm 2008 (Đơn vị: Nghìn ha) Tổng diện tích rừng Rừng tự nhiên Rừng trồng Cả nước 13118,6 10348,6 2770,2 Tây Nguyên 2928,7 2713,4 197,3 (Theo Nguồn Nông - lâm – ngư nghiệp Tổng cục thống kê) Đất lâm nghiệp chiếm 57,1% tổng diện tích đất của vùng. Diện tích rừng của Tây Nguyên chiếm 22,32 % tổng diện tích rừng của cả nước. Trong đó, diện tích rừng tự nhiên chiếm 93,26% diện tích rừng của Tây Nguyên và chiếm 26,39% tổng diện tích rừng tự nhiên của cả nước. Nhưng do sự suy giảm tài nguyên rừng nên sản lượng khai thác gỗ giảm không ngừng, từ 600 – 700 nghìn m3 vào cuối thập kỉ 80 - đầu thập kỉ 90, nay chỉ còn khoảng 200 – 300 nghìn m3/năm. Năm 2008 tổng sản lượng gỗ khai thác của vùng là là 373,6 nghìn m3 chiếm 10,49 % tổng sản lượng gỗ khai thác của cả nước. (Theo Nguồn Nông – Lâm – Thủy sản của Tổng cục thống kê)
  19. 4.3 Công nghiệp Đây là vùng có công nghiệp kém nhất cả nước với tổng giá trị sản xuất công nghiệp là 10926,1 tỷ đồng chiếm 0,74 % tổng giá trị sản xuất công nghiệp của cả nước (năm 2007 - Theo Tổng cục thống kê). Công nghiệp của vùng chủ yếu là các ngành công nghiệp chế biến nông, lâm sản như chế biến cà phê, gỗ… - Thủy điện: Nhờ địa thế cao nguyên và nhiều thác nước, nên tài nguyên thủy năng của vùng lớn và được sử dụng ngày càng có hiệu quả hơn. Trước đây đã xây dựng các nhà máy thủy điện Đa Nhim (160.000 kW) trên sông Đa Nhim (thượng nguồn sông Đồng Nai), Đray H'inh (12.000 kW) trên sông Serepôk. Mới đây, công trình thủy điện Ya ly (700.000 kW) đưa điện lên lưới từ năm 2000 và đang có dự kiến xây dựng các công trình thủy điện khác như Bon Ron - Đại Ninh, Plây Krông. 5. Những vấn đề còn tồn tại của vùng 1.Những vấn đề tồn tại trong phát triển kinh tế, giáo dục…của vùng. - Điều kiện kinh tế – xã hội còn nhiều khó khăn: + Thiếu lao động lành nghề, cán bộ khoa học kĩ thuật. + Mức sống của nhân dân còn thấp, tỉ lệ chưa biết đọc biết viết còn cao. + Cơ sở hạ tầng còn thiếu thốn nhiều, trước hết là mạng lưới đường giao thông, các cơ sở dịch vụ y tế, giáo dục, dịch vụ kỹ thuật. + Công nghiệp trong vùng mới trong giai đoạn hình thành, với các trung tâm công nghiệp quy mô nhỏ - Vấn đề trong việc khai thác và chế biến lâm sản. - Vào đầu thập kỉ 90, rừng che phủ 60% diện tích lãnh thổ. - Còn nhiều rừng gỗ quý (cẩm lai, gụ mật, nghiến, trắc, sến), nhiều chim, thú quý (voi, bò tót, gấu...). rừng chiếm 36% diện tích đất có rừng và 52% sản lượng gỗ có thể khai thác của cả nước. - Sản lượng gỗ khai thác hiện nay khoảng 200 – 300 nghìn m3/ năm. Phần lớn gỗ khai thác được đem xuất ra ngoài dưới dạng gỗ tròn chưa qua chế biến.
  20. - Vấn đề đặt ra: + Phải ngăn chặn nạn phá rừng. + Khai thác rừng hợp lí đi đôi với khoanh nuôi, trồng rừng mới. + Công tác giao đất giao rừng cần được đẩy mạnh. + Đẩy mạnh việc chế biến gỗ tại địa phương, hạn chế xuất khẩu gỗ tròn.p nhỏ và * Khó khăn & biện pháp khắc phục để phát triển kinh tế vùng: - Mùa khô kéo dài cần giải quyết vấn đề thuỷ lợi, mùa mưa cần có biện pháp chống xói mòn đất. - Thiếu lao động lành nghề, đã thu hút lao động từ nơi khác đến tạo ra tập quán sản xuất mới. - Bảo đảm LT-TP cho vùng thông qua trao đổi hàng hóa với các vùng khác, tạo điều kiện ổn định diện tích cây công nghiệp. - Hoàn thiện quy hoạch các vùng chuyên canh cây công nghiệp, mở rộng diện tích có kế hoạch, đi đôi với việc bảo vệ rừng và phát triển thuỷ lợi. - Đa dạng hoá cơ cấu cây công nghiệp. Phát triển mô hình KT vườn trồng café, hồ tiêu… để nâng cao hiệu quả sản xuất. - Nâng cấp mạng lưới GTVT như đường 14 xuyên Tây Nguyên, đường 19, 26 nối với đồng bằng duyên hải. - Đẩy mạnh các cơ sở chế biến, XK & thu hút đầu tư nước ngoài. điểm công nghiệp. 2.Văn hóa - Khác biệt văn hóa với các vùng khác, nên dễ xảy ra xung đột văn hóa, sắc tộc. Nên cần phải có những chính sách phát triển kinh tế, xã hội phù hợp với vùng như quan tâm hơn tới đời sống nhân dân, có chính sách đầu tư phát triển kinh tế, xã hội… - Trong tình hình hiện đại hóa, công nghiệp hóa có nhiều bản sắc dân tộc đã dần dần bị mai một như cồng chiêng Tây Nguyên đã không còn giữ được nét truyền thống như trước, nhiều người trẻ bây giờ không biết chơi cồng chiêng, những bộ cồng chiêng cổ thì không còn đủ bộ…nên cần có

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản