Tìm hiểu bài Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài

Chia sẻ: cukcu999

Tìm hiểu các xung đột kịch trong đoạn trích: + Mâu thuẫn 1: Tình huống kịch xảy ra trong hồi V xuất phát từ mâu thuẫn giữa nhân dân lao động khốn khổ lầm than và bọn hôn quân bạo chúa cùng các phe cánh của chúng.

Bạn đang xem 7 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: Tìm hiểu bài Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài

Tìm hiểu bài Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài




1. Tìm hiểu các xung đột kịch trong đoạn trích:


+ Mâu thuẫn 1: Tình huống kịch xảy ra trong hồi V xuất


phát từ mâu thuẫn giữa nhân dân lao động khốn khổ lầm


than và bọn hôn quân bạo chúa cùng các phe cánh của


chúng.


- Qúa trình phát triển của mâu thuẫn này đã chỉ ra tính tất


yếu của hồi V :
+Mục đích xây Cửu Trùng Đài nguy nga tráng lệ để ăn


chơi hưởng lạc .


+Nguyên liệu và công sức để xây Cửu Trùng Đài, là tiền


bạc,của cải mà vua đã ra sức bắt thuế, tróc thợ từ dân


lành, làm cho nhân dân vất vả, đói khát, chết vì bệnh dịch,


tai nạn.


->Tương Dực không phải là một ông vua yêu nước,


thương dân. Điều này tất yếu dẫn đến “loạn” và “biến”.


-Kết quả : hôn quân bị giết, hoàng hậu nhảy vào lửa…


Cửu Trùng Đài hiện thân cho tham vọng ăn chơi của Lê


Tương Dực bị đốt thành tro.
+ Vũ Như Tô coi Cửu Trùng Đài là cả phần xác và phần


hồn của cuộc đời mình ( vì đây là công trình nghệ thuật tô


điểm cho vẻ đẹp của đất nước) .


->Vì nó, Ông sẵn sàng chấp nhận làm việc cho hôn quân


bạo chúa; dù bị thương vẫn tiếp tục chỉ đạo công việc; trị


tội những thợ bỏ trốn…


- Mâu thuẫn 2 : Giữa quan niệm nghệ thuật cao siêu,


thuần tuý và lợi ích trực tiếp, thiết thực của nhân dân.


-Ngược lại trong mắt dân chúng, Cửu Trùng Đài là hiện


thân của sự ăn cha đẻ của nó –Vũ Như Tô- chính là


kẻchơi xa xỉ, hiện thân của tội ác thù của họ cần phải bị
trị tội


-> Họ vui mừng khi Cửu Trùng Đài chaý, Vũ Như Tô ra


pháp trường.


- Vũ Như Tô chỉ đứng trên lập trường của người nghệ sĩ


thuần tuý, hết mình phụng sự cái đẹp.


- Ông không đứng về phía Lê Tương Dực, nhưng lại


muốn mượn uy quyền, tiền bạc của hắn để thực hiện hoài


bão nghệ thuật của mình.


- Nhưng lợi ích nghệ thuật mà Vũ Như Tô theo đuổi đã


mâu thuẫn với thực tế đời sống của nhân dân.


=>Kết thúc trên chỉ ra tính bi kịch không thể điều hoà của
mâu thuẫn.


2. Nhân vật Đan Thiềm và Vũ Như Tô :


a. Nhân vật Đan Thiềm :


- Đan Thiềm là một cung nữ nhưng lại có “bệnh” đam mê ,


trân trọng, nâng niu cái đẹp, cái tài của Vũ Như Tô - một


kiến trúc sư biết sáng tạo cái đẹp.


- Vì mê đắm cái tài mà Đan Thiềm không quản ngại


những điều thị phi, quên cả nguy hiểm của bản thân để


bảo vệ Vũ Như Tô.


->Đan Thiềm là một người biết “ biệt nhỡn liên tài”.


+ Đan Thiềm là người khuyên Vũ Như Tô ở lại để xây
Cửu Trùng Đài (ở hồi 1), nhưng khi có biến lại tìm mọi


cách thuyết phục ông trốn đi.


-> Cả 2 lời khuyên này đều “có ý nghĩa” duy nhất : bảo vệ


cái tài, cái đẹp ( “khi trước trốn đi thì ông nguy, bây giờ


trốn đi thì ông thoát chết”).


=> Đan Thiềm là một người không mơ mộng mà tỉnh táo,


thức thời, hiểu đời, hiểu người (đây là điểm khác biệt giữa


nàng và Vũ Như Tô).


-Tâm trạng của Đan Thiềm khi nhận ra thất bại của giấc


mộng Cửu Trùng Đài:


+ Nàng đau đớn khi nghĩ đến sự sống chết của Vũ Như
Tô.


+ Có đến 20 lần nàng thúc giục Vũ Như Tô


“ trốn đi, lánh đi, đi đi, chạy đi”.


+ Lời thúc giục vừa van xin, vừa khẩn thiết, quyết liệt:


“ Ông nghe tôi ! …. Đợi thời là thượng sách ! Đừng để phí


tài trời. Trốn đi !”


+ Có đến 4 lần nàng nhắc lại yêu cầu khẩn thiết đó. +


Nàng sẵn sàng lấy tính mạng của mình để đánh đổi sự


sống còn của Vũ Như Tô “Đừng giết ông Cả . Kẻo tướng


quân mang hận về muôn đời. Tha cho ông Cả. Tôi xin


chịu chết”.
+ Đến khi “có trốn cũng không được nữa”, Đan Thiềm tìm


mọi cách van xin tha tội cho Vũ Như Tô.


+ “Ông Cả! Đài lớn tanh tành! Ông Cả ơi! Xin cùng ông


vĩnh biệt!”. + “ Xin cùng ông vĩnh biệt”.


+ Kết thúc lớp kịch thứ VII, chỉ còn tiếng kêu thảng thốt,


đau đớn, nghẹn ngào, nức nở của Đan Thiềm.


+ Những đổ vỡ của một giấc mộng lớn bây giờ thật tan


hoang : ông cả, Đài lớn, cái tài, cái đẹp, tất cả đền tan


tành trong cơn biến loạn.


=> Mọi cố gắng giữ gìn, bảo vệ không thành. Câu nói cuối


cùng của Đan Thiềm là lời vĩnh biệt mãi mãi Cửu Trùng
Đài – vĩnh biệt một giấc mộng lớn trong máu và nước mắt.


b.Nhân vật Vũ Như Tô :


+ Cái tài của ông được ngợi ca đến mức siêu phàm, một


thiên tài “ngàn năm chưa dễ có một”, “có thể sai khiến


gạch đá như viên tướng cầm quân”. + “ Tài kia không nên


để uổng. Ông mà có mệnh hệ nào thì nước ta không còn


ai để tô điểm nữa”, “đừng để phí tài trời”.


- Vũ Như Tô là một kiến trúc sư tài ba.


- Nhưng Vũ Như Tô vì quá khao khát đam mê chìm đắm


trong cái đẹp mà trở nên mơ mộng, ảo vọng.


+ Gíâc mộng ấy bắt đầu từ khi ông quyết định xây Cửu
Trùng Đài cho Lê Tương Dực, mượn tay bạo chúa để xây


dựng một công trình tô điểm cho đời.


+ Càng sáng suốt trong sáng tạo, thiết kế, thi công Cửu


Trùng Đài, ông càng xa rời thực tế, càng ảo vọng.


-Trong thời khắc biến loạn dữ dội, Vũ Như Tô vẫn không


tỉnh, vẫn say sưa với giấc mơ Cửu Trùng Đài.


+ “ Ai ai cũng cho ông là thủ phạm. Vua xa xỉ là vì ông,


công khố hao hụt là vì ông, dân gian lầm than là vì ông…”,


ông vẫn cho là “họ hiểu nhầm”.


+ Tận mắt chứng kiến cảnh đốt phá, nghe tiếng quân reo


tìm mình phanh thây, ông vẫn cho là điều “vô lý”.
+ Bị bắt dẫn về trình chủ tướng, ông hy vọng có thể “phân


trần”, “giảng giải cho người đời biết rõ nguyện vọng của


ta”


- Chỉ đến khi Cửu Trùng Đài bị cháy, Vũ Như Tô mới nhận


ra sự thực về giấc mộng lớn đã tan tành.


+ Vũ Như Tô “rú lên” kinh hoàng và tuyệt vọng “Đốt thực


rồi! Đốt thực rồi!... Ôi mộng lớn, Đan Thiềm, Cửu Trùng


Đài!”


->Nỗi đau vỡ mộng hoá thành tiếng kêu bi thiết, não nùng,


khắc khoải – Vũ Như Tô đã chết trước khi ra pháp trường.


- Bi kịch Vũ Như Tô đã thức tỉnh ý thức của chúng ta về
vấn đề muôn thuở : Mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc


sống- NGHỆ THUẬT PHẢI VỊ NHÂN SINH thì nghệ thuật


mới tồn tại và được nhân dân tôn thờ, nâng niu, bảo vệ.


- Đoạn trích đã thể hiện một ngôn ngữ kịch điêu luyện, có


tính tổng hợp cao.


- Cách dẫn đắt các xung đột kịch thể hiện tính cách, tâm


trạng nhân vật thông qua ngôn ngữ và hành động rất


thành công.


- Các lớp kịch ngắn, thay đổi liên tục, lời thoại gấp gáp,


các tiếng reo, tiếng thét…tạo một không gian bạo lực kinh


hoàng đến chóng mặt.
- Việc đặt nhân vật trong không gian cung cấm với các tên


đất , tên người cụ thể ít nhiều có yếu tố sử sách làm cho


vở kịch hoành tráng, có không khí lịch sử.
Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản