TÌM HIỂU ĐÔI NÉT VỀ VIỆC HỌC TẬP CỦA BÁC HỒ THỜI NIÊN THIẾU

Chia sẻ: Đặng Hoàng Long | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:8

0
171
lượt xem
41
download

TÌM HIỂU ĐÔI NÉT VỀ VIỆC HỌC TẬP CỦA BÁC HỒ THỜI NIÊN THIẾU

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Hồ Chí Minh được UNESCO tôn vinh năm 1990: “Vị anh hùng giải phóng dân tộc của Việt Nam và là nột nhà văn hoá lớn”. Trong sự trưởng thành của Hồ Chí Minh - từ một nhà yêu nước truyền thống trở thành người cộng sản, chiến sĩ quốc tế, người lãnh đạo Đảng và Nhà nước Việt Nam có ảnh hưởng của quê hương hiếu học Nghệ An, sự giáo dục của gia đình, đặc biệt của cụ thân sinh Nguyễn Sinh Sắc và các thầy đồ ở làng Kim Liên....

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: TÌM HIỂU ĐÔI NÉT VỀ VIỆC HỌC TẬP CỦA BÁC HỒ THỜI NIÊN THIẾU

  1. TÌM HIỂU ĐÔI NÉT VỀ VIỆC HỌC TẬP CỦA BÁC HỒ THỜI NIÊN THIẾU TS Bùi Thị Thu Hà Học viện Chính trị Khu vực I - Học viện CTQG Hồ Chí Minh Hồ Chí Minh được UNESCO tôn vinh năm 1990: “Vị anh hùng giải phóng dân tộc của Việt Nam và là nột nhà văn hoá l ớn”. Trong s ự tr ưởng thành của Hồ Chí Minh - từ một nhà yêu nước truyền thống trở thành người cộng sản, chiến sĩ quốc tế, người lãnh đạo Đảng và Nhà nước Việt Nam có ảnh hưởng của quê hương hiếu học Nghệ An, sự giáo dục của gia đình, đ ặc biệt của cụ thân sinh Nguyễn Sinh Sắc và các thầy đồ ở làng Kim Liên. Kim Liên là địa phương có truyền thống hiếu h ọc, nhi ều ng ười đỗ đ ạt trong các kì thi thời phong kiến: trong 96 khoa thi Hương từ 1635 đ ến 1890 có 193 người đỗ tú tài và cử nhân (1). Ở Kim Liên, trong phong trào đấu tranh chống Pháp xâm lược có nhiều nhà nho yêu nước, như Vương Thúc Mậu - người tổ chức Chung Nghĩa binh và hy sinh năm 1886. Trong bài thơ “Điếu Vương Thúc Mậu” có những câu ca tụng ông: “Lăng lăng kỳ tử Kỳ Sơn Bất tử ninh dung nghịch lỗ hoàn” (Dịch nghĩa: “Tài khí lạ của ông vòi vọi như núi Kỳ Sơn Không chết thì không để cho quân giặc trở về”) Con ông là Vương Thúc Quý cũng tham gia “Thí sinh quân” do Phan Bội Châu lập, sau về làng mở trường dạy học. Vương Thúc Quý là “thày khai tâm” của Nguyễn Sinh Cung. Từ lúc lọt lòng mẹ, Nguyễn Sinh Cung đã được nuôi dưỡng trong ti ếng hát của mẹ, những câu chuyện do bà ngoại và mẹ kể và những trò chơi dân gian của trẻ con trong làng. Những hiểu biết sơ giản về t ự nhiên, l ịch s ử, quan hệ xã hội… là những bài học đầu tiên mà Nguy ễn Sinh Cung ti ếp nh ận từ gia đình, quê hương. Những điều tiếp nhận này sống mãi trong tâm trí H ồ Chí Minh và tạo nên ở Người những đặc tính nổi bật của con người xứ Nghệ, mà dù có xa quê hương 50 năm, trong đó sống xa Tổ quốc 30 năm, cũng không hề bị phai mờ ở Người. Đây là bài học mà ngày nay trong giáo d ục th ế (1) Có tài liệu ghi trong thời gian 1635 - 1890 có 82 người ở Kim Liên đỗ Tú tài và Cử nhân 1
  2. hệ trẻ chúng ta cần lưu ý, làm sao cho các em gi ữ mãi ấn t ượng đ ầu tiên được quan sát, hiểu biết ở quê hương. Những điều được giáo dục ở quê hương là cơ sở để Nguyễn Sinh Cung tiếp cận với những nơi xa, vượt khỏi làng quê. Khi lần đầu tiên vào Hu ế (1895), cậu đã nhìn thấy và nảy sinh thắc mắc về những cảnh “lạ”, “Vì sao có nhà cao to đẹp, lại có nhà thấp bé ?”, “Vì sao có ông Tây, ông quan to béo ngồi chễm chệ cho người phu xe gầy yếu kéo ?”… Bi ết bao nhi ều đi ều m ới lạ ở chốn kinh thành đập vào mắt cậu bé ở làng quê xứ Nghệ. Song cậu không chỉ ngạc nhiên mà còn tò mò, thắc mắc về những hiện tượng này. Cũng như lúc bé ở quê nhà khi nghe tiếng sấm, cậu Cung đã h ỏi “S ấm ở đâu mà sinh ra”, bây giờ cậu lại hỏi mẹ với sự đăm chiêu, suy nghĩ: “Vì sao có những cảnh như vậy ?”. Làm sao mẹ có thể giải thích cho cậu con m ới 5 tuổi hiểu được nguồn gốc sự bất công của xã hội có áp bức, bóc lột. Vì thế mẹ Hoàng Thị Loan chỉ nói: “Về điều này, lớn lên rồi con sẽ biết !”. Câu tr ả l ời của mẹ không làm cho cậu Cung nản lòng vì “vấn đ ề khó, không th ể bi ết được” và được khuyến khích: cố gắng học tập để lớn lên sẽ tự giải đáp. Vấn đề đặt ra và câu trả lời của mẹ đã được Hồ Chí Minh ghi nh ớ và tìm hiểu suốt đời. Qua quan sát, học tập, suy nghĩ, Hồ Chí Minh đã d ần d ần hiểu được vì sao nhân dân ta khổ cực, mà cả nhân dân b ị áp b ức trên th ế gi ới cũng bị nghèo khổ và phải làm gì để xoá bỏ sự bất công này, đ ể nhân dân lao động được hạnh phúc, ấm no. Qua câu chuyện trên chúng ta cũng rút bài h ọc về mẹ dạy h ọc: bi ểu dương những suy nghĩ, thắc mắc của con trẻ, song không nên giải thích quá sức hiểu biết của con mà động viên, khuyến khích sự suy nghĩ tiếp theo. Trong thời gian ở Huế, Nguyễn Sinh Cung tuy còn nhỏ tuổi song cũng bắt đầu theo học lớp chữ Hán, do thân sinh mở vào năm 1898 ở nhà ông Nguyễn Sĩ Khuyến làng Dương Nổ, xã Phú Dương, huyện Phú Vang t ỉnh Thừa Thiên. Cậu bé 8 tuổi này theo các bậc đàn anh đ ến l ớp ch ỉ đ ể b ước đ ầu biết mặt chữ, biết tô chữ, tập viết, chứ chưa hiểu gì nhiều về nội dung học tập. Tuy nhiên làm quen với không khí lớp học cũng là điều cần thiết của một cậu bé đã đến tuổi đi học. Lúc bấy giờ vi ệc h ọc tập c ủa h ọc sinh ch ưa phân lớp, song thầy đồ vẫn phân biệt trình độ khác nhau mà h ướng dẫn các em tự học. Ngày 10 - 2 - 1901, bà Hoàng Thị Loan qua đời. Đây là m ột t ổn th ất l ớn cho cậu Cung; tuy nhiên trong đau thương này, khi mà cụ Nguy ễn Sinh Sắc 2
  3. vắng nhà, mới thấy được sự chịu đựng quá sức của cậu bé lên 11 tu ổi. C ảnh mẹ mất, cha vắng nhà, em khát sữa đã suốt đời khắc sâu vào tâm trí c ủa H ồ Chí Minh. Năm 1901, Nguyễn Sinh Cung về quê ngoại và cùng anh Nguyễn Sinh Khiêm được cha làm lễ vào làng, mang tên mới Nguy ễn Tất Thành (tháng 9 - 1901). Trong những năm trở lại quê, Nguyễn Tất Thành được tiếp t ục đi h ọc chữ Nho với thày Hoàng Phan Quỳnh. Khi cụ Nguyễn Sinh Sắc đ ậu Phó bảng, gia đình về quê nội, Nguyễn Tất Thành lần lượt học ch ữ Nho với các thầy Vương Thúc Quý và Trần Thân. Vào thời gian này, Nguyễn Tất Thành đã tỏ rõ một h ọc sinh nhanh nhẹn, thông minh, có trí nhớ tốt và bước đầu tỏ ra có nh ững suy nghĩ sâu s ắc. Điều này cũng do ảnh hưởng cách dạy của thầy Vương Thúc Quý - thày thường dạy cho học sinh sách suy nghĩ để hiểu, chứ không theo cách “t ầm chương trích cú”. Một lần thắp đèn, dầu vương ra sách, để thử sức học của học trò, thầy Quý ra câu đối. Thắp đèn lên dầu vương ra đế Một học trò lớn tuổi liền đối một câu rất chỉnh: Đốt nhang rồi gió quạt bay tàn Nguyễn Tất Thành cũng xin đối: “Cưỡi ngựa dong thẳng Tấn lên Đường” (1) Trong vế ra của thầy Quý có các từ “vương” và “đế”, vừa có nghĩa là “để dầu vương vãi ra đế đèn”, vừa ngụ ý chỉ các “bậc vua chúa, hoàng đế”; câu đối của Nguyễn Tất Thành có từ “Tấn” và “Đường”, vừa có nghĩa là “tiến lên đường” vừa hàm ý chỉ hai triều đại phong kiến trong lịch sử Trung Quốc - nhà Tấn xưng vương và nhà Đường xưng đế. Rõ ràng câu đối của Nguyễn Tất Thành rất chỉnh mà lại tỏ ra có khí phách của một con người luôn muốn vươn lên, không chịu khuất phục, nên được thầy khen. Nguyễn Tất Thành chỉ học với thày Quý một thời gian ng ắn, nh ưng đã tiếp nhận ở thầy tấm lòng yêu nước, ý chí cầu tiến mạnh m ẽ, có l ối h ọc thông minh, thanh thoát, không nệ cổ… Vì vậy, dù trước đó Thành đã đi h ọc với các thầy giáo khác rồi, song cụ Sắc vẫn xem cụ Quý là “thày giáo khai (1) Dẫn theo Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ Nghệ An: Bác Hồ thời niên thiếu, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.33. 3
  4. tâm” của con mình. Cụ muốn lấy thày Quý, người đạo đức, h ọc rộng, ch ữ viết đẹp, làm gương cho con mình noi theo. Những năm tháng học chữ Hán với các thầy đồ ở quê không chỉ đem lại cho Nguyễn Tất Thành “dăm ba chữ thánh hiền” mà còn đặt cơ sở cho việc thấu hiểu đạo lý của Nho giáo để ứng xử trong cuộc s ống. Nh ững tri th ức đầu tiên tuy đơn giản song sâu sắc nên đã khắc sâu vào tâm trí H ồ Chí Minh. Ngoài việc học các thày đồ, Nguyễn Tất Thành còn học nhi ều đi ều hay, m ới lạ ở bà con, hàng xóm, và cũng để lại ở Người nhiều kỉ niệm sâu sắc, một s ố kiến thức thiết thực rất bổ ích. Nguyễn Tất Thành còn theo cha đi dạy h ọc nhiều nơi, được thăm nhiều danh lam thắng cảnh, nhiều di tích lịch s ử, như làng Đông Thái, quê hương Phan Đình Phùng, thành L ục Niên được xây d ựng trong kháng chiến chống Minh của Lê Lợi - Nguyễn Trãi, miếu th ờ La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp… Anh còn được nghe nhiều câu chuy ện l ịch s ử v ề những cuộc đấu tranh của nhân dân Nghệ - Tĩnh, trong đó có đồng bào quê hương Nam Đàn, Chung Cự của mình đã anh dũng chống ngoại xâm. Những hiểu biết, cũng như những cảm xúc mà Thành thu nhận được trong đời sống đã góp phần không nhỏ vào sự hình thành nhân cách, tình cảm của anh đối với đồng bào, quê hương đất nước. Những hiểu biết và ấn tượng th ời niên thi ếu sống mãi ở Hồ Chí Minh. Cụ Nguyễn Sinh Sắc là một nhà nho thức thời, cụ sớm nh ận th ấy không thể cho các con mình cứ tiếp tục theo học chữ Hán ở trường làng khi thời thế đã đổi thay, tân học đã dần dần thay th ế cho nho h ọc. Bởi vì, cùng với việc xác lập nền đô hộ ở Việt Nam, thực dân Pháp cũng dần xây dựng nền giáo dục mới - giáo dục tư sản thực dân, để mong đào tạo một lớp người phục vụ cho chúng. Giáo dục thực dân tư sản là cơ sở thống trị của chế độ thuộc địa, nửa phong kiến. Tuy vậy, cụ Sắc cũng nhận thức rằng ph ải cho các con mình tiếp xúc với Tây học để hiểu rõ h ơn nước Pháp và các n ước khác ở châu Âu. Khoảng tháng 9 - 1905, Nguyễn Tất Thành và Nguy ễn Tất Đạt được theo học lớp Dự bị (Cours Préperatoire) ở Trường tiểu học Pháp - bản xứ của thành phố Vinh, cách làng Kim Liên chừng 14 kilômét. Hai anh em trọ nhà một gia đình nghèo tại vùng Cầu Rầm. Ở trường tiểu h ọc này, lần đầu tiên Nguyễn Tất Thành được làm quen với các từ “Tự do”, “Bình đẳng”, “Bác ái” mà cuộc cách mạng tư sản Pháp 1789 đã nêu lên(1). (1) Theo, Viện nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh: Hồ Chí Minh - Biên niên tiền sử, Nxb Thông tin lý luận, Hà Nội, Tập 1, 1992, tr. 33 4
  5. Cuối tháng 5 - 1906, Nguyễn Tất Thành cùng anh theo cha vào Hu ế l ần thứ hai, khi cụ Nguyễn Sinh Sắc (Nguyễn Sinh Huy) không thể từ chối mãi lệnh của triều đình Huế phải vào kinh đô nhậm chức Thừa biện bộ Lễ. Cụ nhận thấy làm quan là “một nỗi nhục” đối với những người có lòng th ương dân, có ý thức dân tộc. Tháng 9 năm 1907, Nguyễn Tất Thành sau khi học trường tiểu h ọc Pháp - Việt Đông Ba (Huế), được nhận vào học trường Quốc h ọc, lớp Nhì (Cours Moyen). Đây là bước ngoặt trong cuộc đời học vấn của Nguyễn Tất Thành, vì anh có dịp tiếp xúc, hiểu rõ hơn nền văn minh Pháp, châu Âu, ý thức hơn về nỗi khổ của nhân dân đang rơi vào cảnh đói khổ, thất học. Vào đầu thế kỷ XX, nhân dân các tỉnh Nam Trung Kỳ b ị th ực dân Pháp và phong kiến tay sai bóc lột, phải chịu nhiều loại s ưu thu ế n ặng n ề. Vì v ậy, vào năm 1908 phong trào đòi bỏ lệ đi xâu, giảm thuế di ễn ra m ạnh m ẽ ở các tỉnh Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Ngãi… Ở Thừa Thiên, phong trào đấu tranh diễn ra từ tháng 4 - 1908. Nhân dân kéo đến Huế, nhưng bị bọn cầm quyền đàn áp, bắn ch ết một người. Đoàn người biểu tình xông lên, tước vũ khí của binh lính, trói tên Lãnh binh và b ắt viên Phủ Doãn phải dẫn đầu đoàn biểu tình. Khi vào thành ph ố, s ố ng ười tham gia ngày càng đông, nhất là học sinh các trường Qu ốc h ọc, Qu ốc T ử giám… Cuộc đấu tranh chống Pháp của nhân dân làm thức tỉnh mạnh mẽ hơn lòng yeu nước của học sinh Nguyễn Tất Thành. Anh tham gia cuộc bi ểu tình chống thuế của nông dân Thừa Thiên, đang tập hợp trước toà Khâm s ứ Trung Kỳ (nay là trường Đại học sư phạm thuộc trường Đại học Huế). Đây là lần đầu tiên Nguyễn Tất Thành thể hiện lòng yêu nước th ương dân, ý chí cứu nước, cứu dân bằng một hành động yêu nước công khai và cụ thể mà không kể gì đến những điều nguy hiểm đang chờ đợi anh và cha mình. Đúng như vậy, vì tham gia phong trào đấu tranh của nông dân nên Nguyễn Tất Thành bị thực dân Pháp theo dõi và khiển trách cụ Nguyễn Sinh Sắc “không biết dạy con”, để cho Nguyễn Tất Thành có những hoạt đ ộng chống nhà cầm quyền thuộc địa. Trong “Hồ sơ Nguyễn Sinh Huy”, số A3780I, ngày 21 - 1 - 1920 của Sở Mật thám Trung Kỳ, ghi rõ lý do ông Nguyễn Sinh Huy bị thực dân Pháp khiển trách. Đó là vì: “h ạnh ki ểm c ủa hai người con ở trường Quốc học, đã nói trước mặt thày giáo nh ững lời bài Pháp trong dịp dân chúng biểu tình”. Cụ Sắc bị điều đi nhậm ch ức Tri huy ện ở 5
  6. Bình Khê - một huyện miền núi của tỉnh Bình Định (nay là huyện Tây Sơn, Bình Định). Tháng 6 - 1909, Nguyễn Tất Thành bỏ học trường Quốc học Huế vào thăm cha ở Bình Khê. Để tiếp tục việc học tập, Nguy ễn Tất Thành đ ược c ụ Sắc gửi đến Quy Nhơn học thêm tiếng Pháp với thày Phạm Ngọc Th ọ (thân sinh Anh hùng Lao động, cố Bộ trưởng Bộ Y tế Phạm Ngọc Th ạch), đang dạy tại Trường tiểu học Pháp - bản xứ Quy Nhơn. Anh đ ược b ổ túc ki ến thức để đạt trình độ lớp Nhất (Cours Supéreur, tương đương với lớp Năm, bậc tiểu học ngày nay). Đầu năm 1910, cụ Nguyễn Sinh Sắc bị triều đình Huế bãi chức và triệu hồi về Huế với lý do là không xét xử các vụ kiện của bọn c ường hào đ ịa phương dựa vào thế lực của thực dân Pháp để áp bức, đè nén nh ững người nghèo khổ. Tiêu biểu là vụ án Tạ Đức Quang(1). Vào khoảng đầu tháng 9 năm 1910, Nguyễn Tất Thành rời Quy Nh ơn vào Nam. Trên đường đi đến thị xã Phan Thiết (Bình Thu ận), Nguy ễn T ất Thành tạm dừng chân ở đây. Được các ông Nguy ễn Trọng Lôi và Nguy ễn Quý Anh (con trai cụ Nguyễn Thông, một nhân sĩ yêu nước ở Nam Kỳ ra sống ở Phan Thiết)(2) giới thiệu, Nguyễn Tất Thành vào dạy trường Dục Thanh. Về lý do Bác Hồ dừng chân ở Phan Thiết, có nhiều ý kiến khác nhau, có người cho rằng “do hết tiền, anh phải xin dạy học tại trường Dục Thanh”(3). Dù với lý do nào, việc Nguyễn Tất Thành dừng chân, d ạy h ọc ở trường Dục Thanh (Phan Thiết) có ý nghĩa rất quan trọng đối với cu ộc đ ời của những thanh niên yêu nước lúc bấy giờ. Qua việc học tập của Hồ Chí Minh với th ời niên thi ếu, chúng ta có th ể rút ra một số bài học cho việc giáo dục thế hệ trẻ ngày nay. Thứ nhất, việc giáo dục, theo nghĩa rộng, p hải bắt đầu từ thuở ấu thơ, điều này có ảnh hưởng sâu sắc đến trẻ em, đặc biệt là việc giáo dục của gia đình, của các bà mẹ. Lời ru, chuyện kể không ch ỉ có tác d ụng đ ể cho con (1) Tạ Đức Quang là một cường hào ở Bình Khê, dựa vào thế lực của Coutelle và Slager - hai sĩ quan người Pháp - làm đơn kiện dân chúng địa phương đã “xâm phạm lợi ích” của mình. Cụ Nguyễn Sinh Huy không xét xử mà còn bắt giam hắn. Vợ Quang đã tố cáo về Kinh, nên triều đình cách chức Tri huyện cụ Nguyễn Sinh Huy (theo lời tâu của bộ Hình ngày 19 - 4 năm Duy Tân thứ 14 - tức ngày 23-9-1910 (theo tài liệu của Trung tâm Lưu trữ Quốc gia 2). (2) Có tài liệu cho rằng: “… nhờ sự giới thiệu của ông Trương Gia Mô và ông Hồ Tá Bang (bạn cũ của ông Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc), anh Thành được vào day học ở trường Dục Thanh” (“Bác Hồ thời niên thiếu”... Sđd, tr. 107). (3) Hồ Chí Minh biên niên tiền sử, tập 1, Sđd, tập 1, tr. 42 - 43. 6
  7. trẻ được ngủ ngon mà đi sâu vào tâm trí, gắn ch ặt suốt đời. Vì vậy, vi ệc giáo dục của các bà mẹ trẻ, của các chị, mẹ nuôi trẻ ở các lớp mầm non cần được chú trọng tốt hơn về mọi mặt, và ở mọi vùng miền. Thứ hai, đối với trẻ em trước tuổi đến trường, cần phải tôn trọng, có tinh thần dân chủ, bình đẳng, khuyến khích các em h ọc tập, suy nghĩ v ừa s ức, không làm thui chột các ý nghĩa ngây thơ mà làm cho nó phát tri ển trong những thời kỳ tiếp theo, phù hợp với trình độ, tuổi tác. Thứ ba, từ lớp học đầu tiên đã phải chú trọng rèn luy ện trí thông minh, phát huy tính tích cực học sinh. Vì vậy, đổi mới phương pháp d ạy h ọc theo hướng tích cực hoá là điều quan trọng, sẽ để lại dấu ấn sâu sắc, nếp suy nghĩ đúng từ nhỏ và tiếp tục phát triển sau này. Điều này sẽ góp phần hình thành tinh thần tự học, phương pháp tự học mà Bác Hồ luôn luôn nh ắc nhở: vi ệc học tập phải lấy “tự học làm cốt”. Việc tự học được rèn luyện từ nhỏ. Thứ tư, việc giáo dục trẻ em phải tiến hành một cách toàn diện, mở rộng môi trường, các hình thức giáo dục. Nguyễn Sinh Cung - Nguy ễn T ất Thành từ nhỏ đã học trong cuộc sống (qua các trò chơi dân gian), đã đi vào cuộc sống đến các nơi danh lam, thắng cảnh, di tích lịch sử. Điều này không chỉ mở mang kiến thức mà có tác dụng giáo dục t ư t ưởng, thích ghi v ới cu ộc sống thực tế. Cuối cùng, giáo dục trẻ em phải theo sự phát triển của xã h ội, phù h ợp và đáp ứng với yêu cầu của đất nước. Cụ Nguyễn Sinh Sắc đã thức thời, sớm nhận thức điều này, nên đã mạnh dạn cho các con mình h ọc ch ữ Pháp, ti ếp nhận nền tân học với những kiến thức khoa học mới, chứ không bo bo nệ cổ. Nguyễn Tất Thành qua tiếp thụ kiến thức Tây học đã luôn liên hệ với thực tế cuộc sống, dùng những kiến thức mới tiếp thu để suy nghĩ về tình hình, nhiệm vụ đất nước. Đây là một cơ sở để Người có quyết định đi ra n ước ngoài tìm đường cứu nước. Bài học cho chúng ta trong việc hội nhập với thế gi ới và khu v ực ngày nay là biết tiếp thu kiến thức mới, song phải suy nghĩ đem lại l ợi ích gì cho đất nước, phải giữ vững nền văn hoá, giáo dục dân tộc, không lai căng, mất gốc. * * * 7
  8. Tìm hiểu đôi nét về việc học tập của Hồ Chí Minh thời niên thiếu không phải chỉ để biết Bác Hồ được giáo dục như thế nào mà chủ yếu xem xét việc học tập này để góp phần tạo nên Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh như thế nào. Đồng thời, qua đó rút bài học bổ ích cho việc giáo dục trẻ em ngày nay như thế nào cho có hiệu quả. B. T. T. H 8

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản