Tìm hiểu lịch sử ra đời và bản chất của tiền tệ

Chia sẻ: trongtai90

Tiền tệ có giá trị không phải vì nó có giá trị tự thân mà vì những gì tiền tệ có thể trao đổi được. Giá trị của tiền là số lượng hàng hóa và dịch vụ mua được bằng một đơn vị của tiền tệ, ví dụ số lượng hàng hóa và dịch vụ mua được bằng một Dollar. Nói cách khác giá trị của tiền là nghịch đảo của giá cả hàng hóa.

Bạn đang xem 7 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: Tìm hiểu lịch sử ra đời và bản chất của tiền tệ

LỜI MỞ ĐẦU


Tiền tệ có giá trị không phải vì nó có giá trị tự thân mà vì những gì tiền tệ
có thể trao đổi được. Giá trị của tiền là số lượng hàng hóa và dịch vụ mua được
bằng một đơn vị của tiền tệ, ví dụ số lượng hàng hóa và dịch vụ mua được
bằng một Dollar. Nói cách khác giá trị của tiền là nghịch đảo của giá cả hàng
hóa.
Các ngân hàng quốc gia thường theo đuổi một mục đích thực tế và cố định
khi điều chỉnh lượng tiền. Mục đích này thường là bình ổn giá, tức là chống lại
lạm phát. Để có thể giới hạn tỷ lệ lạm phát ở một mức độ hợp lý với nền kinh
tế quốc dân, ngân hàng quốc gia cố gắng giữ lượng tiền đồng bộ với sự phát
triển kinh tế.
Lượng tiền tăng quá nhanh hay tốc độ quay vòng của tiền tăng lên trong
khi lượng tiền không thay đổi sẽ dẫn đến mất cân bằng giữa tiền đang có và
hàng hóa. Sự mất cân bằng này sẽ làm tăng mức giá chung và người ta gọi đó là
lạm phát.
Lạm phát có thể được phân loại theo vận tốc (lạm phát vừa phải, lạm
phát phi mã, siêu lạm phát) hay theo giai đoạn (giai đoạn tăng tốc, giai đoạn ổn
định, giai đoạn giảm tốc). Lượng tiền có thể tăng vì chính sách lãi suất của ngân
hàng quốc gia hay vì nợ quốc gia tăng đột ngột.
Khi lượng tiền giảm đi hay tốc độ quay vòng tiền giảm xuống trong khi
lượng tiền không đổi thì giá cả có thể sẽ giảm liên tục trong một thời gian,
người ta gọi đó là giảm phát. Lượng tiền giảm đi cũng có thể là do các biện
pháp của ngân hàng quốc gia gây ra khi vận tốc quay vòng tiền giảm đi (khi
người dân hay doanh nghiệp hạn chế tiêu dùng và đầu tư hơn và tiền được tiết
kiệm nhiều hơn là tiêu dùng).
Dưới đây chúng ta sẽ nghiên cứu về quy luật lưu thông tiền tệ, vì sao lại
có lạm phát xảy ra và những biện pháp khắc phục lạm phát.
Lịch sử của tiền tệ chính là lịch sử phát triển các hình thái giá trị từ thấp
đến cao, từ hình thái giản đơn cho đến hình thái đầy đủ nhất là tiền tệ.
Hình thái giá trị giản đơn hay ngẫu nhiên: Đây là hình thái phôi thai của giá
trị, nó xuất hiện trong giai đoạn đầu của trao đổi hàng hoá, trao đổi mang tính
chất ngẫu nhiên, người ta trao đổi trực tiếp vật này lấy vật khác. Ví dụ: 1m vải
= 10 kg thóc. Ở đây, giá trị của vải được biểu hiện ở thóc. Còn thóc là cái được
dùng làm phương tiện để biểu hiện giá trị của vải. Với thuộc tính tự nhiên của
mình, thóc trở thành hiện thân của vải. Sở dĩ như vậy vì bản thân thóc cũng có
giá trị. Hàng hoá (vải) mà giá trị của nó được biểu hiện ở một hàng hoá khác
(thóc) thì gọi là hình thái giá trị tương đối. Còn hàng hoá (thóc) mà giá trị sử
dụng của nó biểu hiện giá trị của hàng hoá khác (vải) gọi là hình thái vật ngang
giá. Hình thái vật ngang giá có 3 đặc điểm: giá trị sử dụng của nó trở thành hình
thức biểu hiện giá trị; lao động cụ thể trở thành hình thức biểu hiện lao động
trừu tượng; lao động tư nhân trở thành hình thức biểu hiện lao động xã hội. Hình
thái giá trị tương đối và hình thái vật ngang giá là hai mặt liên quan với nhau,
không thể tách rời nhau, đồng thời là hai cực đối lập của một phương trình giá
trị. Trong hình thái giản đơn hay ngẫu nhiên thì tỷ lệ trao đổi chưa thể cố định.
Chức năng của tiền tệ và quy luật lưu thông tiền tệ:Bản chất của tiền tệ
được thể hiện qua các chức năng của nó. Theo C.Mac tiền tệ có 5 chức năng:
- Thước đo giá trị: Tiền tệ dùng để biểu hiện và đo lường giá trị của các
hàng hóa. Muốn đo lường giá trị của các hàng hóa, bản thân tiền tệ phải có giá
trị. Vì vậy, tiền tệ làm chức năng thước đo giá trị phải là tiền vàng. Để đo lường
giá trị hàng hóa không cần thiết phải là tiền mặt mà chỉ cần so sánh với lượng
vàng nào đó một cách tưởng tượng. Sở dĩ có thể làm được như vậy, vì giữa giá
trị của vàng và giá trị của hàng hóa trong thực tế đã có một tỷ lệ nhất định. Cơ
sở của tỷ lệ đó là thời gian lao động xã hội cần thiết hao phí để sản xuất ra hàng
hóa đó. Giá trị hàng hóa được biểu hiện bằng tiền gọi là giá cả hàng hóa. Do đó,
giá cả là hình thức biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hóa. Giá cả hàng hóa do
các yếu tố sau đây quyết định:
+ Giá trị hàng hóa
+ Giá trị của tiền
+ Ảnh hưởng của quan hệ cung cầu hàng hóa
Để làm chức năng thước đo giá trị thì bản thân tiền tệ cũng phải được đo
lường. Do đó, phải có đơn vị đo lường tiền tệ. Đơn vị đó là một trọng lượng
nhất định của kim loại dùng làm tiền tệ. Ở mỗi nước, đơn vị tiền tệ này có tên
gọi khác nhau. Đơn vị tiền tệ và các phần chia nhỏ của nó là tiêu chuẩn giá cả.
Tác dụng của tiền khi dùng làm tiêu chuẩn giá cả không giống với tác dụng của
nó khi dùng làm thước đo giá trị. Là thước đo giá trị, tiền tệ đo lường giá trị của
các hàng hóa khác; là tiêu chuẩn giá cả, tiền tệ đo lường bản thân kim loại dùng
làm tiền tệ. Giá trị của hàng hóa tiền tệ thay đổi theo sự thay đổi của số lượng
lao động cần thiết để sản xuất ra hàng hóa đó. Giá trị hàng hóa tiền tệ (vàng)
thay đổi không ảnh hưởng gì đến “chức năng” tiêu chuẩn giá cả của nó, mặc dù
giá trị của vàng thay đổi như thế nào. Thí dụ 1USD vẫn bằng 10 xu.
- Phương tiện lưu thông: Với chức năng làm phương tiện lưu thông, tiền làm
môi giới trong quá trình trao đổi hàng hóa. Để làm chức năng lưu thông hàng hóa
ta phải có tiền mặt. Trao đổi hàng hóa lấy tiền làm môi giới gọi là lưu thông
hàng hóa.
Công thức lưu thông hàng hóa là: H – T – H, khi tiền làm môi giới trong
trao đổi hàng hóa đã làm cho hành vi bán và hành vi mua có thể tách rời nhau cả
về thời gian và không gian. Sự không nhất trí giữa mua và bán chứa đựng mầm
mống của khủng hoảng kinh tế.
Trong lưu thông, lúc đầu tiền tệ xuất hiện dưới hình thức vàng thoi, bạc
nén. Dần dần nó được thay thế bằng tiền đúc. Trong quá trình lưu thông, tiền
đúc bị hao mòn dần và mất một phần giá trị của nó. Nhưng nó vẫn được xã hội
chấp nhận như tiền đúc đủ giá trị.
Như vậy, giá trị thực của tiền tách rời giá trị danh nghĩa của nó. Sở dĩ có
tình trạng này vì tiền làm phương tiện lưu thông chỉ đóng vai trò chốc lát. Người
ta đổi hàng lấy tiền rồi lại dùng nó để mua hàng mà mình cần. Làm phương tiện
lưu thông, tiền không nhất thiết phải có đủ giá trị. Lợi dụng tình hình đó, khi đúc
tiền nhà nước giảm bớt hàm lượng kim loại của đơn vị tiền tệ. Giá trị thực của
tiền đúc ngày càng thấp so với giá trị danh nghĩa của nó. Thực tiễn đó dẫn đến
sự ra đời của tiền giấy. Bản thân tiền giấy không có giá trị mà chỉ là dấu hiệu
của giá trị và được công nhận trong phạm vi quốc gia.
+ Phương tiện cất trữ: Làm phương tiện cất trữ, tức là tiền được rút khỏi
lưu thông đi vào cất trữ. Sở dĩ tiền làm được chức năng này là vì: tiền đại biểu
cho của cải xã hội dưới hình thức giá trị, nên cất trữ tiền là một hình thức cất
trữ của cải. Để làm chức năng phương tiện cất trữ, tiền phải có đủ giá trị, tức là
tiền vàng, bạc. Chức năng cất trữ làm cho tiền trong lưu thông thích ứng một
cách tự phát với nhu cầu tiền cần thiết cho lưu thông. Nếu sản xuất tăng, lượng
hàng hóa nhiều thì tiền cất trữ được đưa vào lưu thông. Ngược lại nếu sản xuất
giảm lượng hàng hóa lại ít thì một phần tiền vàng rút khỏi lưu thông đi vào cất
trữ.
+ Phương tiện thanh toán: Làm phương tiện thanh toán, tiền được dùng để
trả nợ, nộp thuế, trả tiền mua chịu hàng… Khi sản xuất và trao đổi hàng hóa
phát triển đến trình độ nào đó tất yếu nảy sinh việc mua bán chịu. Trong hình
thức giao dịch này trước tiên tiền làm chức năng thước đo giá trị để định giá cả
hàng hóa. Nhưng vì là mua bán chịu nên đến kỳ hạn tiền mới được đưa vào lưu
thông để làm phương tiện thanh toán. Sự phát triển của quan hệ mua bán chịu
này một mặt tạo khả năng trả nợ bằng cách thanh toán khấu trừ lẫn nhau không
dùng tiền mặt. Mặt khác, trong việc mua bán chịu người mua trở thành con nợ,
người bán trở thành chủ nợ. Khi hệ thống chủ nợ và con nợ phát triển rộng rãi,
đến kỳ thanh toán, nếu một khâu nào đó không thanh toán được sẽ gây khó khăn
cho các khâu khác, phá vỡ hệ thống, khả năng khủng hoảng kinh tế tăng lên.
+ Tiền tệ thế giới: Khi trao đổi hàng hóa vượt khỏi biên giới quốc gia thì
tiền làm chức năng tiền tệ thế giới. Với chức năng này, tiền phải có đủ giá trị,
phải trở lại hình thái ban đầu của nó là vàng. Trong chức năng này, vàng được
dùng làm phương tiện mua bán hàng, phương tiện thanh toán quốc tế và biểu
hiện của cải nói chung của xã hội.
Tóm lại: 5 chức năng của tiền trong nền kinh tế hàng hóa quan hệ mật
thiết với nhau. Sự phát triển các chức năng của tiền phản ánh sự phát triển của
sản xuất và lưu thông hàng hóa.
b) Quy luật lưu thông tiền tệ:
Tiền là hình thức biểu hiện giá trị của hàng hóa, nó phục vụ cho sự vận
động của hàng hóa. Lưu thông hàng hóa và lưu thông tiền tệ là hai mặt của quá
trình thống nhất với nhau. Lưu thông tiền tệ xuất hiện và dựa trên cơ sở của lưu
thông hàng hóa. Ở mỗi kỳ nhất định, lưu thông hàng hóa bao giờ cũng đòi hỏi
một lượng tiền cần thiết cho sự lưu thông. Số lượng tiền này được xác định bởi
quy luật chung của lưu thông tiền tệ. Quy luật này được thể hiện như sau:
P.Q
M=
V
Trong đó: M: số lượng tiền cần thiết trong lưu thông
P: giá cả của đơn vị hàng hóa
Q: khối lượng hàng hóa dịch vụ đưa vào lưu thông
V: số vòng lưu thông của đơn vị tiền tệ
Khi tiền vừa làm chức năng phương tiện lưu thông, vừa làm chức năng
phương tiện thanh toán thì lượng tiền cần thiết cho lưu thông được xác định như
sau:
PQ − ( PQb − PQk ) + PQd
M=
V
Trong đó: PQ: tổng số giá trị hàng hóa và dịch vụ đem lưu thông
PQ b : tổng giá cả hàng hóa bán chịu
PQ k :tổng giá cả hàng hóa khấu trừ nhau
PQ d : tổng giá cả hàng hóa đến kỳ thanh toán
Quy luật lưu thông tiền tệ này là phổ biến đối với mọi nền kinh tế hàng
hóa.
Theo “ vietnamnet.vn” thì ước tính mới nhất của Tổng cục Thống kê, chỉ
số giá tiêu dùng (CPI) của Việt Nam vào tháng 12/2007 đã tăng 12,6% so với
tháng 12/2006. Đây là mức tăng giá cao nhất trong vòng 12 năm qua.
Lạm phát giai đoạn 1995-2007, tính theo CPI tháng 12
mỗi năm so với tháng 12 năm trước.
Đúng là giá lương thực thực phẩm, giá dầu tăng cao trong năm 2007. Do hai
nhóm hàng hoá này đều là sản phẩm ngoại thương chủ đạo của Việt Nam và
đồng thời chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu CPI, đây chắc chắn là một trong
những nguyên nhân gây ra lạm phát cao ở Việt Nam trong suốt năm 2007.
Nhưng nếu giá lương thực thực phẩm và giá dầu lửa thế giới là nguyên
nhân chính, thì các nước trong khu vực như Trung Quốc, Thái Lan cũng phải chịu
sức ép tăng giá tương tự. Tuy nhiên, trong khi tỷ lệ lạm phát ở Việt Nam trong
năm 2007 lên tới hai chữ số, thì Trung Quốc chỉ chịu lạm phát ở mức 6,5% và
Thái Lan 2,9%.
Khác biệt rõ rệt nhất giữa Việt Nam với các quốc gia có lạm phát thấp
hơn, như Trung Quốc, Thái Lan, đó là tốc độ tăng cung tiền. Tính tới cuối tháng
6/2007, lượng tiền mặt trong lưu thông và tiền gửi ngân hàng ở Việt Nam đã
tăng tới 21,1% so với đầu năm. Con số tương ứng của Trung Quốc và Thái Lan
lần lượt là 10% và 1,4%.
Tăng trưởng kinh tế liên tục và ở mức cao đòi hỏi lượng tiền đưa vào lưu
thông cũng phải tăng lên tương ứng. Tuy nhiên, khi chênh lệch giữa mức tăng
cung tiền và tăng GDP quá lớn thì áp lực lạm phát sẽ nảy sinh.
Năm 2007 lạm phát của Việt Nam đã lên đến 12,6%, mức tăng kỷ lục
trong một thập kỷ qua. Về cơ bản, lạm phát luôn được xem là một hiện tượng
tiền tệ, nghĩa là lượng tiền tăng quá mức so với khối lượng hàng hóa trao đổi
trong nền kinh tế. Ở Việt Nam, nhằm hỗ trợ cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế
luôn ở tốc độ cao, lượng tiền được mở rộng liên tục trong nhiều năm trở lại đây
và nhiều người nghi ngờ rằng đó là lý do của lạm phát. Tuy vậy, cũng trong năm
qua nhiều yếu tố khách quan đã tác động đến giá cả, chẳng hạn như lũ lụt, bệnh
dịch trên gia cầm – những yếu tố tác động đẩy giá lương thực thực phẩm tăng
cao, giá một số nguyên vật liệu hàng công nghiệp tăng do nhu cầu của Trung
Quốc tăng mạnh, và đặc biệt là giá xăng dầu tăng vọt. Song, cho đến thời điểm
cuối năm, khi tất cả các yếu tố trên được tổng hợp và phân tích bằng các công
cụ khác nhau thì vai trò chính của chính sách tiền tệ và tín dụng không thể bỏ
qua.
Trong năm 2007, giá hàng lương thực thực phẩm (chiếm gần 43% trọng
số trong tỷ số giá tiêu dùng) được xem là nhân tố chính làm tăng chỉ số giá
chung. Trong khi đó, giá cả của các nhóm hàng hóa khác, đặc biệt là nguyên vật
liệu của ngành xây dựng (như sắt, thép, ximăng…) cũng tăng vọt bởi sự gia tăng
của giá dầu nhập khẩu. Nhưng so với những nước láng giềng, được xem là có
cùng nhóm nhân tố ảnh hưởng, thì lạm phát của họ gần như là được kiểm soát
hoàn toàn. Điều này có nghĩa là nguyên nhân chính của lạm phát ở Việt Nam
phải được lý giải ở một nguyên nhân khác.
Gần đây, một lượng lớn vốn nước ngoài đổ vào Việt Nam, dưới dạng
đầu tư trực tiếp (FDI) lẫn đầu tư gián tiếp (FPI). Trong tình huống này, Ngân
Hàng Nhà Nước (NHNN) đã có sự lựa chọn giữa hai chính sách:
- Nới lỏng tỷ giá để tiền đồng Việt Nam tăng giá nhằm hạn chế sức ép lên
lạm phát, điều này có thể dẫn đến làm tổn thương xuất khẩu và khuyến
khích nhập khẩu.
- Hoặc là mua vào lượng lớn ngoại tệ dẫn đến tăng dự trữ và giữ cho tỷ giá
ổn định (hoặc là phá giá đôi chút cho đến giữa năm 2007) để hỗ trợ xuất
khẩu và tăng trưởng thúc đẩy GDP.
Và NHNN đã lựa chọn chính sách thứ hai bằng cách để cho cung tiền tăng
và cũng không sử dụng chính sách vô hiệu hóa thông qua các công cụ như phát
hành trái phiếu lãi suất cao để thu hút bớt lượng tiền dư thừa. Chính sách trên
của NHNN đã làm tổng cầu tăng mạnh và tạo ra sức ép lên tổng cung như một
tình trạng “thắt cổ chai” trong toàn bộ các khu vực của nền kinh tế. Sẽ không
đúng nếu cho rằng nguyên nhân của lạm phát là đến từ một khu vực này hoặc
một khu vực khác, chẳng hạn bắt nguồn từ những yếu tố bên ngoài như giá dầu.
Chính phủ có lẽ phải rà soát lại toàn bộ chính sách vĩ mô và quyết định
những chính sách dựa trên trọng số tác động của chúng.
1. Rà soát lại mục tiêu tăng trưởng GDP hằng năm theo hướng thấp và ổn
định hơn cho đến khi nào lạm phát trở lại mức 5-6% . Đây là hướng hữu
hiệu và trực tiếp nhất để kiểm soát lạm phát đang ở mức báo động. Mục
tiêu hàng đầu là nên giảm tổng cầu của nền kinh tế. Chính phủ phải cân
nhắc lại những chính sách hiện tại của mình, nhất là việc khuyến khích
một tỷ lệ đầu tư cao trong GDP như là một phương cách để đạt tăng
trưởng cao. Kết quả là tỷ số ICOR của Việt Nam hiện nay rất cao và điều
này thể hiện sự kém hiệu quả của lượng vốn đầu tư. Đây cũng là thời
điểm mà Chính phủ nên khuyến khích những dự án đầu tư, trong khu vực
công lẫn tư nhân, sử dụng ít nguồn lực nhưng đem lại năng suất cao hơn
nhằm thúc đẩy hiệu quả của lượng vốn chi tiêu. Đây cũng là cách làm
giảm sức ép lên tình trạng thắt cổ chai của phí cung trong tất cả các khu
vực trong nền kinh tế nhằm giảm sức ép lên lạm phát.
2. Để đạt được những mục tiêu trên, Chính phủ cần tạo cho NHNN một cơ
chế độc lập hơn trong những quyết định chính sách sau:
- Hạn chế mở rộng tiền tệ và tín dụng, đặc biệt là hạn chế tín dụng ngân
hàng cho các cá nhân vay để mua chứng khoán và bất động sản; doanh
nghiệp nhà nước; các chương trình cho vay xã hội.
- Tăng lãi suất cho vay trong hệ thống ngân hàng, một phần sẽ tác động lên
lãi suất cho vay liên ngân hàng và các hoạt động cho vay cầm cố các giấy
tờ có giá.
- Tăng thêm tỷ lệ dự trữ bắt buộc.
3. Cho phép tỷ giá hối đoái linh hoạt hơn nhằm giảm lạm phát; mặc dù điều
này có thể làm giảm xuất khẩu: đồng Việt Nam sẽ tăng giá trong vài tháng
tới, nhất là khi thông báo gần đây của NHNN (25/12/2007) cho phép nới
rộng 50% biên độ tỷ giá giao dịch của tiền đồng, từ +/- 0,5% đến +/-
0,75%. Ngân hàng đã cho phép tỷ giá được linh hoạt hơn thông qua những
biến động nhỏ hằng ngày.
4. NHNN phát hành trái phiếu có lãi suất cao nhằm giảm tính thanh khoản
đang vượt mức trong nền kinh tế
5. Nếu cần thiết, nên kiểm soát các dòng vốn đi vào nhằm giảm tác động
tạo ra sức ép lên lạm phát. Điều này phải được xử lý một cách khéo léo
nhằm tránh những tác động bất lợi lên thị trường chứng khoán còn non
trẻ.
Chính phủ phải cân nhắc lại những chính sách hiện tại của mình, nhất là
việc khuyến khích một tỷ lệ đầu tư cao trong GDP như là một phương cách để
đạt được tăng trưởng cao. Kết quả là chỉ số ICOR của Việt Nam hiện nay rất
cao và điều này thể hiện sự kém hiệu quả của lượng vốn đầu tư.

Theo “vietnamnet.vn” việc chống lạm phát năm 2008 này phải được đặt
lên hàng đầu, hơn cả mục tiêu tăng trưởng. Vì suốt bốn năm liền lạm phát cao,
cộng lại đã lên tới 40%. Điều này đồng nghĩa với việc đồng tiền bị mất giá, đội
giá thành sản phẩm lên cao, tăng thêm dự án treo, còn đời sống người dân bị ảnh
hưởng nặng. Đây cũng là nguyên nhân gây ra bất ổn cả trên thị trường bất động
sản và chứng khoán. Cùng điều kiện, hoàn cảnh, các nước trong khu vực lạm
phát thấp hơn Việt Nam. Nếu môi trường VN bất ổn định, lòng tin của nhà đầu
tu sẽ giảm đi, ảnh hưởng đến cơ hội thu hút đầu tư nước ngoài. Nhà đầu tư bỏ
đi cũng sẽ ảnh hưởng đến tăng trưởng dài hạn. Lạm phát ảnh hưởng cũng sẽ
làm cho mức cạnh tranh trong nước giảm đáng kể.
Theo “tintuc.timnhanh.com” thì Việt Nam phấn đấu tới cuối năm 2009 đưa
tỷ lệ lạm phát trở về một con số. Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã
đề nghị các địa phương chuẩn bị xây dựng kế hoạch 2009 trên tinh thần tiếp tục
duy trì tăng trưởng GDP từ 7-8% và phấn đấu tới cuối năm 2009 đưa tỷ lệ lạm
phát trở về một con số. Thủ tướng đã phát biểu chỉ đạo như trên tại lớp bồi
dưỡng về “Phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương trong thời kỳ hội nhập kinh
tế quốc tế” cho trên 180 cán bộ chủ chốt thuộc 59 tỉnh, thành phố do Bộ Nội vụ
tổ chức tại TP.HCM ngày 13-8. Những yêu cầu mà Nhà nước đặt ra cho các địa
phương trong năm 2009 cũng vẫn là ưu tiên đầu tư cho các công trình cấp thiết,
dành một phần ngân sách để đảm bảo an sinh xã hội, giảm bội chi ngân sách...
Trước bối cảnh giá cả lạm phát tăng cao, tác động đến đời sống hạnh
phúc của nhân dân, Thủ tướng đề nghị các địa phương tiếp tục thực hiện tốt 8
nhóm giải pháp của Chính phủ, trong đó tập trung tháo gỡ cho sản xuất và xuất
khẩu, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp đầu tư và triển khai tốt
các nguồn vốn đầu tư, nhất là giải ngân nhanh các nguồn vốn đầu tư và các thủ
tục hành chính.
Bên cạnh đó, các chính sách ban hành phải được triển khai tới tận người
dân như hỗ trợ người nghèo, ngư dân, chế độ khám chữa bệnh, học phí...
Thủ tướng lưu ý lãnh đạo các địa phương tập trung chỉ đạo công tác
phòng chống bão lụt, hạn chế thấp nhất thiệt hại về người và tài sản của nhân
dân, kiểm soát chặt chẽ môi trường, nhất là việc đầu tư xây dựng các khu công
nghiệp.




Các tài liệu tham khảo:
- Giáo trình kinh tế chính trị Mác- Lênin
- http://vi.wikipedia.org/wiki/Ti%E1%BB%81n
- Tintuc.timnhanh.com
- Vietnamnet.vn
- www.agro.gov.vn
Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản