Tìm hiểu sâu về Bóng đá 2

Chia sẻ: caott6

Bóng đá 2 Luật thi đấu Hiện nay Luật bóng đá chính thức có 17 điều được áp dụng cho mọi cấp độ chơi bóng và chỉ có một vài sửa đổi nhỏ cho phù hợp với bóng đá nữ và bóng đá trẻ. Cầu thủ, trang phục và trọng tài Mỗi trận đấu bóng đá bao gồm hai đội, mỗi đội 11 cầu thủ thi đấu chính thức trên sân kể cả 1 thủ môn. Thủ môn là người duy nhất được phép chơi bóng bằng tay, tuy nhiên việc này cũng chỉ được giới hạn trong khu cấm địa phía trước khung...

Nội dung Text: Tìm hiểu sâu về Bóng đá 2

Bóng đá
2




Luật thi đấu

Hiện nay Luật bóng đá chính thức có 17 điều được áp dụng cho mọi cấp độ chơi

bóng và chỉ có một vài sửa đổi nhỏ cho phù hợp với bóng đá nữ và bóng đá trẻ.

Cầu thủ, trang phục và trọng tài

Mỗi trận đấu bóng đá bao gồm hai đội, mỗi đội 11 cầu thủ thi đấu chính thức trên

sân kể cả 1 thủ môn. Thủ môn là người duy nhất được phép chơi bóng bằng tay,

tuy nhiên việc này cũng chỉ được giới hạn trong khu cấm địa phía trước khung

thành do thủ môn trấn giữ. Bên cạnh số cầu thủ chính thức mỗi đội cũng còn một

số cầu thủ dự bị để thay thế khi cần thiết, thông thường trong một trận bóng đá thi
đấu chính thức, mỗi đội chỉ được phép thay đổi 3 cầu thủ. Cầu thủ sau khi đ ược

thay ra sẽ không thể tiếp tục quay trở lại sân thi đấu. Người chỉ đạo chiến thuật

cho đội bóng là huấn luyện viên, vị trí này không phải là quy định bắt buộc được

ghi trong Luật bóng đá.


Trang phục thi đấu của các cầu thủ thường bao gồm áo phông, quần soóc, tất cao

đến đầu gối, giày và bảo vệ ống đồng. Cầu thủ thi đấu trên sân bị cấm mặc, đeo

hoặc mang theo các đồ vật có thể gây nguy hiểm cho cầu thủ đối phương như

vòng, dây chuyền hoặc đồng hồ. Do là vị trí được sử dụng tay và thường xuyên

phải bay người theo bóng, thủ môn được trang bị kĩ hơn các cầu thủ khác, họ

thường mặc áo phông dài tay, đeo cả bảo vệ ống đồng và bảo vệ khuỷu tay và

mang găng khi thi đấu.


Điều khiển trận đấu là tổ trọng tài bao gồm 1 trọng tài chính và 2 trọng tài biên,

những người này có toàn quyền điều khiển trận đấu theo các quy định của Luật

bóng đá, quyết định của trọng tài chính dù đúng hoặc sai cũng thường là quyết

định cuối cùng và không thể đảo ngược. Ngoài ba trọng tài làm việc trên sân còn

có một trọng tài thứ tư (còn gọi là trọng tài bàn) quản lý việc thay người, theo dõi

thời gian bù giờ và thay thế trọng tài trên sân trong trường hợp cần thiết.

Sân thi đấu

Các kích cỡ tiêu chuẩn của một sân bóng đá
Do được hình thành ở Anh, luật bóng đá trước đây quy định các kích thước theo

hệ đo lường Anh tuy nhiên hiện nay các số đo này đã được đổi sang hệ SI cho ph ù

hợp với sự phổ biến của bóng đá trên thế giới. Một sân bóng đá ti êu chuẩn cho các

trận đấu quốc tế có dạng chữ nhật với chiều d ài nằm trong khoảng từ 100 đến 110

mét, chiều rộng từ 64 đến 75 m. Còn đối với các trận đấu ở cấp độ thấp hơn, sân

bóng có thể có chiều dài nằm trong khoảng từ 90 đến 120 m (100–130 yd) và rộng

từ 45 đến 90 m (50–100 yd). Hai cạnh dài của sân bóng được gọi là hai đường

biên dọc, hai cạnh còn lại là đường biên ngang. Ở chính giữa hai đường biên

ngang là khung thành có dạng chữ nhật với chiều dài 7,3 m và chiều cao 2,44 m.

Khung thành thường được giăng lưới để dễ phân biệt tình huống bóng vào khung

thành hay ra ngoài, tuy nhiên điều này không nằm trong quy định chính thức của

Luật bóng đá.
Phía trước mỗi khung thành là khu cấm địa. Khu vực này cũng có dạng chữ nhật

với chiều dài dọc theo đường biên ngang của sân với kích thước 40,3 m dài, 16,5

m rộng. Ở giữa khu cấm địa, cách khung thành 11 m là điểm đá phạt đền, nơi các

cầu thủ thực hiện các cú sút phạt đền (do cầu thủ đối phương phạm lỗi trong khu

vực cấm địa). Khu cấm địa cũng là nơi duy nhất thủ môn được phép chơi bóng

bằng tay. Ở phía trong khu cấm địa có một h ình chữ nhật nhỏ hơn với chiều dài

dọc theo đường biên ngang có kích thước 18,3 m dài, 5,5 m rộng (thường được gọi

là khu 5 mét 50), đây là nơi cầu thủ đối phương tham gia tấn công không được

phép va chạm trực tiếp với thủ môn đang trấn giữ khung thành.
Thời gian thi đấu

Một trận thi đấu bóng đá thông thường diễn ra trong hai hiệp liên tiếp, mỗi hiệp

gồm 45 phút ngăn cách bằng 15 phút nghỉ giữa giờ. Người có quyền bắt đầu và kết

thúc trận đấu là trọng tài chính. Trong các tình huống phải dừng bóng hoặc bóng

ra ngoài sân, trọng tài sẽ tính thêm giờ, thời gian chết này sẽ được chơi bù vào

cuối mỗi hiệp đấu (được gọi là những phút bù giờ), số phút bù giờ là ít hoặc nhiều

đều hoàn toàn phụ thuộc vào quyết định của trọng tài chính, kể cả trường hợp nó

khác biệt so với số phút bù giờ do trọng tài thứ tư công bố trên bảng điện tử. Quy

định về thời gian đá bù xuất hiện sau trận đấu năm 1891 giữa Stoke và Aston

Villa, khi chỉ còn 2 phút là hết giờ, trong tình thế bị dẫn trước 1–0, đội Stoke bất

ngờ được hưởng một quả phạt đền, thủ môn Villa đã đối phó bằng cách đá bóng ra

khỏi sân và đến khi bóng trở lại sân thì đồng hồ đã điểm 90 phút và Stoke thua

trận.

Trong các giải thi đấu liên đoàn, một trận đấu có thể kết thúc với tỉ số hòa, tuy

nhiên trong các trận đá loại trực tiếp (nh ư ở các giải Cúp hoặc các trận playoff),

bắt buộc phải xác định được một đội giành chiến thắng. Trong trường hợp này,

nếu kết thúc 90 phút hai đội vẫn hòa, họ sẽ phải thi đấu thêm 2 hiệp phụ liên tiếp,

mỗi hiệp 15 phút không có nghỉ giữa giờ. Nếu hết 2 hiệp phụ mà kết quả vẫn hòa,

hai đội sẽ phải thi đá luân lưu 11 m (hai đội thay phiên nhau thực hiện các quả đá

phạt đền) để xác định đội giành chiến thắng. Các bàn thắng ghi được trong hai

hiệp phụ sẽ được tính vào kết quả chung cuộc, tuy nhiên các bàn thắng ghi trong
những loạt đá luân lưu 11 m sẽ không được tính (mà chỉ dùng để xác định kết quả

thắng thua). Trong thập niên 1990 và 2000, IFAB đã cho thử nghiệm luật Bàn

thắng vàng, theo đó nếu trong hiệp phụ có một đội ghi được bàn thắng trước, trận

đấu sẽ lập tức kết thúc với kết quả thắng cho đội vừa ghi bàn. Luật bàn thắng vàng

đã được sử dụng ở cấp độ thế giới trong World Cup 1998 và World Cup 2002 với

Pháp là đội tuyển đầu tiên tận dụng được lợi thế này khi giành chiến thắng trước

Paraguay bằng bàn thắng vàng của Laurent Blanc (năm 1998), Pháp cũng là đội vô

địch ở giải đấu năm 1998. Tại Giải vô địch bóng đá châu Âu 1996, đội tuyển bóng

đá quốc gia Đức đã giành chức vô địch sau chiến thắng trước đội tuyển bóng đá

quốc gia Cộng hòa Séc bằng bàn thắng vàng của Oliver Bierhoff. Tại Giải vô địch

bóng đá châu Âu 2004, luật bàn thắng vàng được thay thế bằng luật Bàn thắng bạc

theo đó nếu kết thúc hiệp phụ đầu tiên mà có một đội dẫn trước về tỉ số, trận đấu

sẽ kết thúc với chiến thắng giành cho đội có lợi thế về tỉ số. Tuy nhiên hiện nay

IFAB đã bỏ việc thử nghiệm cả 2 luật này.


Trong các trận đấu loại trực tiếp theo thể thức lượt đi-lượt về, thông thường người

ta sẽ tính tới lợi thế bàn thắng trên sân khách. Theo đó nếu sau hai trận mà hai đội

có kết quả chung cuộc h òa nhau, đội nào ghi được nhiều bàn thắng hơn trên sân

khách sẽ là đội giành chiến thắng. Tuy nhiên không phải giải đấu lớn nào cũng sử

dụng lợi thế này, ví dụ như tại Copa Libertadores ở Nam Mỹ.
Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản