Tìm hiểu sự biến động của lãi suất trong thời gian qua thông qua cơ chế điều hành lãi suất

Chia sẻ: Trịnh Thị Yến | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:16

0
632
lượt xem
283
download

Tìm hiểu sự biến động của lãi suất trong thời gian qua thông qua cơ chế điều hành lãi suất

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

fer

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tìm hiểu sự biến động của lãi suất trong thời gian qua thông qua cơ chế điều hành lãi suất

  1. I. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG (CƠ BẢN) VỀ LÃI SUẤT: 1- Lãi suất : + Lãi suất là tỷ lệ của tổng số tiền phải trả so với tổng số tiền vay trong một khoảng thời gian nhất định. Lãi suất là giá mà người vay phải trả để được sử dụng tiền không thuộc sở hữu của họ và là lợi tức người cho vay có được đối với việc trì hoãn chi tiêu. + Có nhiều loại lãi suất như: lãi suất tiền vay; lãi suất tiền gửi; lãi suất tái cấp vốn; lãi suất liên ngân hàng, v.v. 2- Tác động của lãi suất tới nền kinh tế : Đối với nền kinh tế Việt Nam từ khi chuyển mình từ nền kinh tế tập trung sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, lãi suất trở thành công cụ quản lý vĩ mô của nhà nước. Lãi suất đã góp phần kiềm chế lạm phát cũng như kích thích tăng trưởng và phát triển kinh tế trong công cuộc đổi mới của đất nước. + Thông qua vay nợ: Lãi suất tăng làm giảm vay nợ. Cá nhân giảm đi vay và tăng gửi tiết kiệm, do đó giảm tiêu dùng và tác động tiêu cực tới tổng cầu. Doanh nghiệp giảm vay mới và do đó giảm đầu tư mới, nên tác động tiêu cực tới tổng cầu. Mặt khác, lãi suất tăng còn có nghĩa là giá cả các khoản vay hiện thời của doanh nghiệp tăng, có nghĩa là giá vốn tăng hay chi phí sản xuất tăng. Điều này làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp, khiến doanh nghiệp có xu hướng thu hẹp sản xuất; do đó tác động tiêu cực tới tổng cầu. Giãn thợ còn làm giảm thu nhập của người lao động. Điều này khiến họ giảm tiêu dùng. Tổng cầu lại chịu tác động tiêu cực. Đối với hoạt động vay cầm cố, khi lãi suất tăng người ta sẽ giảm nhu cầu vay để xây hay mua nhà, do đó đầu tư xây nhà giảm, ảnh hưởng tiêu cực tới tổng cầu. Nó còn khiến cho việc trả nợ các khoản vay cầm cố hiện thời trở nên khó khăn hơn khiến người đi vay phải giảm tiêu dùng để còn trả nợ. Tổng cầu vì thế chịu tác động tiêu cực. + Thông qua tỉ giá hối đoái : lãi suất trong nước tăng tương đối so với lãi suất ở nước ngoài sẽ khiến cho dòng vốn từ nước ngoài tăng cường chảy vào trong nước.Điều này làm cho tỷ giá hối đoái giữa nội tệ với ngoại tệ giảm xuống. Xuất khẩu ròng vì thế giảm đi, khiến cho tổng cầu giảm theo. 1
  2. II. TÌM HIỂU SỰ BIẾN ĐỘNG CỦA LÃI SUẤT QUA CƠ CHẾ ĐIỀU HÀNH LÃI SUẤT: Trong những thập kỷ gần đây, thị trường tài chính - tiền tệ thế giới có sự phát triển vượt bậc về quy mô và chiều sâu, cơ chế điều hành lãi suất của Ngân hàng Trung ương (NHTW) các nước thay đổi theo hướng tự do hoá. Tuy nhiên, ở mỗi nước, NHTW căn cứ vào luật định, điều kiện và bối cảnh phát triển kinh tế - xã hội, thị trường tài chính - tiền tệ, cũng như địa vị pháp lý của NHTW, mục tiêu của chính sách tiền tệ (lạm phát hoặc đa mục tiêu) để áp dụng cơ chế điều hành lãi suất phù hợp trong từng thời kỳ nhằm ổn định và phát triển thị trường tiền tệ, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động ngân hàng và sự phân bổ có hiệu quả các nguồn vốn trong nền kinh tế. Kiểm soát các biến động về lãi suất (26/05/2008) : Với cơ chế điều hành lãi suất mới, từ nay, các ngân hàng thương mại sẽ phải đặc biệt quan tâm đến các quyết định về lãi suất của Ngân hàng Nhà nước. Lãi suất kinh doanh của các NH (kể cả lãi suất trên thị trường liên NH) sẽ phải xoay quanh mức lãi suất cơ bản (LSCB). Như vậy bằng cơ chế điều hành LSCB, NHNN có nhiều khả năng hơn trong việc điều chỉnh tốc độ tăng trưởng tiền tệ, tín dụng hiệu quả. Xu hướng, thời điểm và cường độ của các thay đổi về lãi suất là mối quan tâm lớn của thị trường, các Nhà đầu tư và dân cư. 1- Lãi suất huy động: Lãi suất huy động là lãi suất tiền gửi,lãi suất huy động càng lớn thì càng nhiều người gửi tiền vào ngân hàng và ngược lại. Đối với lãi suất huy động vốn, NHNN quy định thông qua các lần điều chỉnh sau: 1. Ấn định mức cố định từ ngày 01/10/1982 theo Nghị định 165/HĐBT ngày 23/9/1982; 2
  3. 2. Khống chế chênh lệch bình quân giữa lãi suất huy động và lãi suất cho vay là 0,35%/tháng còn mức cụ thể giao cho các NHTM tự quy định theo Quyết định số 381/QĐ-NH1 ngày 28/12/1995; 3. Đến ngày 28/6/1997, lãi suất huy động vốn đã thực sự tuân theo quy luật thị trường khi NHNN hoàn toàn trao quyền cho các NHTM quyết định để phù hợp với thời hạn của từng loại tiền gửi, địa bàn kinh doanh của từng tổ chức tín dụng; 4. Hiện nay, ngày 16/5/2008, bằng Quyết định số 16/2008/QĐ-NHNN lãi suất huy động sẽ chính thức bị khống chế trong hạn mức không vượt quá 150% lãi suất cơ bản do NHNN quy định (trừ trường hợp cho vay các nhu cầu vốn phục vụ đời sống, cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng theo quy định tại Thông tư số 01/2009/TT-NHNN ngày 23/01/2009). Trong tuần từ 06 - 03/07,lãi suất huy động bằng VND ổn định, cá biệt có NH Sài Gòn – Hà Nội tăng từ 0,2-0,4%/năm; mức lãi suất cao nhất hiện nay là 10,2%/năm của NH Việt Nam Tín Nghĩa áp dụng đối với kỳ hạn 36 tháng. Mức lãi suất huy động bình quân cụ thể như sau: Lãi suất Loại Không kỳ 3 tháng 6 tháng 12 tháng huy động tiền hạn (%/năm) (%/năm) (%/năm) bình quân (%/năm) Nhóm VND 2,88 7,52 7,85 8,01 NHTMNN USD 0,20 1,10 1,26 1,48 Nhóm VND 2,92 7,99 8,30 8,53 NHTMCP USD 0,42 1,51 1,69 2,05 Theo Ngân hàng Nhà nước (NHNN), tuần tính từ ngày 14 - 22/5/2009, số dư tiền gửi của các tổ chức tín dụng tại NHNN đảm bảo yêu cầu dự trữ bắt buộc và khả năng thanh toán. Lãi suất huy động bằng VND của một số ngân hàng TMCP: Sài Gòn, Kỹ thương, Ngoài quốc doanh, An Bình điều chỉnh tăng từ 0,2 - 0,5%/năm. Trong khi đó, lãi suất huy động bằng USD của Ngân hàng TMCP Quân đội điều chỉnh giảm, với mức giảm từ 0,1 - 0,2%/năm. Mức lãi suất huy động bình quân đến ngày 22/5 cụ thể như sau: Lãi suất Loại Không kỳ 3 tháng 6 tháng 12 tháng huy động tiền hạn (%/năm) (%/năm) (%/năm) bình quân (%/năm) 3
  4. Nhóm VND 2,88 7,30 7,50 7,85 NHTMNN USD 0,36 1,24 1,54 1,92 Nhóm VND 2,87 7,68 7,87 8,12 NHTMCP USD 0,50 1,78 2,05 2,40 Dưới đây là biểu lãi suất huy động tiết kiệm: BIỂU LÃI SUẤT HUY ĐỘNG TIẾT KIỆM - PG BANK (Áp dụng cho các cá nhân, tổ chức chính trị, xã hội, đoàn thể) TIỀN GỬI VNĐ TIỀN GỬI VND TIỀN GỬI USD Trả lãi hàng Trả lãi cuối kỳ Trả lãi cuối kỳ tháng Kì hạn (%/năm) (%/năm) (%/năm) (Áp dụng từ (Áp dụng từ (Áp dụng từ 13/10/2009) 13/10/2009) 13/10/2009) Không kỳ hạn NA 3.00% 0.50% 1 tháng NA 8.60% 1.90% 2 tháng 8.67% 8.70% 2.20% 3 tháng 8.93% 9.00% 2.60% 6 tháng 8.93% 9.10% 2.90% 9 tháng 8.93% 9.20% 3.00% 12 tháng 8.93% 9.30% 3.20% 13 tháng 8.89% 9.30% 3.20% 18 tháng 8.87% 9.45% 3.30% 24 tháng 8.77% 9.55% 3.40% BIỂU LÃI SUẤT TIỀN GỬI BẰNG NGOẠI TỆ - PG BANK (Áp dụng cho các cá nhân, tổ chức chính trị, xã hội, đoàn thể) TIỀN GỬI AUD TIỀN GỬI EUR Trả lãi cuối kỳ Trả lãi cuối kỳ Kì hạn (%/năm) (%/năm) Áp dụng từ 24/02/2009 Không kỳ hạn NA 0.25% 1 tháng NA 0.80% 2 tháng NA 1.00% 3 tháng NA 1.20% 4
  5. 6 tháng NA 1.30% 9 tháng NA 1.40% 12 tháng NA 1.60% Biểu lãi suất áp dụng cho sản phẩm " Tiết kiệm rút gốc từng phần linh hoạt VND" (Áp dụng cho các cá nhân, tổ chức chính trị, xã hội, đoàn thể từ 24/08/2009) Lãi suất Kì hạn (%/năm) Không kỳ hạn 3.00% 1 tháng 7.50% 2 tháng 7.60% 3 tháng 7.70% 4 tháng 7.80% 5 tháng 7.90% 6 tháng 8.20% 7 tháng 8.30% 8 tháng 8.40% 9 tháng 8.50% 10 tháng 8.60% 11 tháng 8.70% 12 tháng 8.80% Biểu lãi suất áp dụng cho sản phẩm " Tài khoản tiền gửi rút gốc linh hoạt VND" (Áp dụng cho các cá nhân, tổ chức chính trị, xã hội, đoàn thể từ 05/08/2009) Mức tiền gửi Lãi suất (%/năm) trả lãi cuối tháng Dưới 100 triệu đồng 4.50% Từ 100 triệu đồng đến 500 triệsu 5.00% đồng Từ 500 triệu đồng đến dưới 1 tỷ 5.20% đồng 5
  6. Từ 1 tỷ đồng trở lên 5.50% Thực tế, lãi suất huy động được các ngân hàng liên tiếp điều chỉnh, nhất là từ giữa năm 2006 đến hết quý 2/2007. Để giữ chân khách hàng trong bối cảnh chứng khoán tăng mạnh ở thời điểm trên, lãi suất huy động đã tăng trên dưới 20% trong vòng một năm qua. Đặc biệt là những ngân hàng vừa được chuyển đổi mô hình hoạt động từ nông thôn lên thành thị đã ra sức “chiêu dụ” khách hàng có lúc lãi suất huy động lên xấp xỉ 9,8%/năm (ở kỳ hạn 12 tháng). Hiện Ngân hàng Navibank, Ngân hàng Kiên Long vẫn duy trì mức lãi suất huy động trên, cho dù đã có nhiều ngân hàng phải cắt giảm lãi suất để giảm chi phí đầu vào. Vài tháng gần đây đã có những chuyển động khác. Cùng với chính sách thắt chặt cho vay cầm cố chứng khoán, NHNN đã ban hành Quyết định 1141/QĐ – NHNN ngày 31.5 về việc tăng dự trữ bắt buộc lên 10% (thay vì 5% như trước đó) khiến các ngân hàng gặp khó khăn trong huy động vốn. Tỷ lệ dự trữ bắt buộc tăng kéo theo chi phí đầu vào của ngân hàng đi lên. Có nghĩa, trước đây huy động được 10 đồng, ngân hàng cho vay 9,5 đồng, nhưng sau khi quyết định trên được ban hành số tiền cho vay chỉ còn 9 đồng. Chính vì vậy, gần đây các ngân hàng chọn biện pháp cắt giảm lãi suất huy động để giảm chi phí đầu vào. Tính bình quân mức lãi suất cắt giảm của các ngân hàng lên đến 0,02 – 0,08%/tháng so với mức lãi suất huy động cũ. Hiện đã có trên 15 ngân hàng cắt giảm lãi suất huy động. Rõ ràng lãi suất trên thị trường được điều chỉnh bởi quan hệ cung – cầu các ngân hàng cổ phần, hoàn toàn không phụ thuộc vào lãi suất cơ bản do NHNN công bố. Thực tế, từ giữa năm 2006 đến hết quý 1/2007, vốn huy động của ngân hàng tăng chậm trước cơn lốc của thị trường chứng khoán. Tổng vốn huy động của các ngân hàng trên địa bàn TP.HCM tính đến hết tháng 2.2007 6
  7. ước đạt 303.700 tỉ đồng, chỉ tăng 0,8% so với một tháng trước và tăng 6,4% so với cuối năm 2006. Sức hấp dẫn của cổ phiếu đã hút dần vốn sang chứng khoán. Chính vì vậy các ngân hàng vẫn gồng mình đẩy lãi suất lên, chịu chi phí đầu vào cao để huy động vốn. Đối với nước ta, cơ chế điều hành lãi suất có sự thay đổi qua nhiều giai đoạn; từ giữa tháng 5/2008 đến nay, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Việt Nam áp dụng cơ chế điều hành lãi suất cơ bản: - Thực hiện cơ chế điều hành lãi suất cơ bản, mà theo đó, các NHTM ấn định lãi suất cho vay tối đa bằng 150% lãi suất cơ bản do NHNN công bố trong từng thời kỳ. Đây là công cụ trực tiếp để kiểm soát lãi suất kinh doanh của NHTM; đồng thời, NHNN tiếp tục điều hành linh hoạt các mức lãi suất nghiệp vụ thị trường mở, lãi suất tái cấp vốn và tái chiết khấu để điều tiết lãi suất thị trường tiền tệ. Lãi suất cơ bản được xác định và công bố trên cơ sở xu hướng biến động cung - cầu vốn thị trường, mục tiêu của chính sách tiền tệ và các nhân tố tác động khác của thị trường tiền tệ, ngoại hối ở trong và ngoài nước. - Thiết lập một hành lang lãi suất thị trường liên ngân hàng với biên độ chênh lệch khoảng 2% để điều tiết lãi suất thị trường: (i) "Trần" là lãi suất tái cấp vốn, "sàn" là lãi suất tái chiết khấu (hiện nay là 7% - 5%/năm); lãi suất cơ bản và lãi suất nghiệp vụ thị trường mở biến động trong phạm vi hành lang này; (ii) Lãi suất nghiệp vụ thị trường mở đóng vai trò định hướng và thực hiện việc "bơm" tiền ra hoặc "hút" tiền về, từ đó tác động đến cung - cầu vốn, lãi suất thị trường liên ngân hàng và lãi suất huy động, cho vay của NHTM. Từ tháng 5 - 9/2008, NHNN điều hành chính sách tiền tệ "thắt chặt", các mức lãi suất chủ đạo được điều chỉnh tăng, lãi suất cơ bản từ 12%/năm lên 14%/năm, lãi suất tái cấp vốn từ 13%/năm lên 15%/năm, lãi suất tái chiết khấu từ 11%/năm lên 13%/năm, lãi suất nghiệp vụ thị trường mở từ 11,7%/năm lên 15%/năm. Từ tháng 10/2008 đến nay, NHNN chuyển hướng điều hành chính sách tiền tệ từ "thắt chặt" để chống lạm phát sang "nới lỏng" nhằm mục tiêu hàng đầu là ngăn chặn suy giảm kinh tế, điều chỉnh giảm mạnh lãi suất cơ bản từ 14% - 13% - 11% - 8,5% - 7%/năm, lãi suất tái cấp vốn từ 15% - 13% - 12% - 9,5% - 8% - 7%/năm, lãi suất tái chiết khấu từ 13% - 11% - 12% - 10% - 7,5% - 6%/năm, lãi suất nghiệp vụ thị trường mở từ 15% - 14,3% - 13,5% - 11% - 9% - 8% - 7,5% - 7%/năm. 2- Lãi suất cho vay: Lãi suất cho vay là loại lãi suất quy định tỉ lệ lãi mà người đi vay phải trả cho người cho vay. 7
  8. Trong các HĐTD cho vay trung và dài hạn. NH thường có thoả thuận với khách hàng là lãi suất cho vay trong hạn được điều chỉnh định kỳ theo công thức bằng lãi suất tiết kiệm kỳ hạn 12 tháng tính theo năm trả lãi tại thời điểm điều chỉnh cộng với biên độ từ 3,7 đến 4,8%/năm. Với mức lãi suất tiết kiệm cao như hiện nay thì khách hàng phải trả lãi suất lên tới 23-24%/năm. Để thống nhất thực hiện trong hệ thống phù hợp với các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành, ngày 15/7/2008, NHNN đã ban hành văn bản 6399/NHNN-CSTT hướng dẫn một số nội dung liên quan đến việc áp dụng lãi suất theo quy định tại Quyết định số 16/2008/QĐ-NHNN ngày 16/5/2008. Theo đó, lãi suất cho vay có điều chỉnh được thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng đã ký kết kể từ ngày 19/5/2008 (ngày Quyết định 16/2008/QĐ-NHNN có hiệu lực thi hành), các tổ chức tín dụng ấn định lãi suất cho vay đối với khách hàng tại thời điểm ký kết hợp đồng tín dụng theo lãi suất cho vay có điều chỉnh không vượt quá mức lãi suất cho vay theo quy định tại Quyết dịnh 16/2008/QĐ-NHNN. Đối với các hợp đồng tín dụng được ký kết trước ngày 19/5/2008, trong đó có thỏa thuận lãi suất cho vay có điều chỉnh, thì kể từ ngày 19/5/2008, mức lãi suất cho vay có điều chỉnh cũng không được vượt quá mức lãi suất cho vay tối đa theo quy định tại Quyết định số 16/2008/QĐ-NHNN, tức là không quá 21%/năm. Ngày 28/10/2009, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Việt Nam đã ban hành Quyết định số 2459/QĐ-NHNN về việc tiếp tục áp dụng mức lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam là 7%/năm. Quyết định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/11/2009 và thay thế Quyết định số 2232/QĐ-NHNN ngày 24/9/2009 của Thống đốc NHNN Việt Nam về mức lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam. Các mức lãi suất khác cũng được giữ như trước, cụ thể: Lãi suất tái cấp vốn của NHNN đối với các tổ chức tín dụng là 7%/năm; lãi suất tái chiết khấu của NHNN đối với tổ chức tín dụng là 5%/năm; lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt trong thanh toán bù trừ của NHNN đối với các ngân hàng là 7%/năm. Tuần từ 06 - 03/07: Lãi suất cho vay VND trung và dài hạn ổn định ở mức 10 - 10,5%/năm Lãi suất cho vay thỏa thuận đối với các nhu cầu vốn phục vụ đời sống, cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng phổ biến từ 12- 16,5%/năm. 8
  9. *** Lãi suất VND : Mặt bằng lãi suất cho vay VND tiếp tục ổn định so với tuần trước: Lãi suất cho vay ngắn hạn bằng VND của nhóm Ngân hàng thương mại nhà nước phổ biến ở mức từ 8,5-10%/năm, trung và dài hạn từ 10-10,5%/năm. Lãi suất cho vay bằng VND của nhóm NHTM cổ phần phổ biến ở mức từ 10-10,5%/ năm. Lãi suất cho vay sau khi trừ đi phần hỗ trợ lãi suất phổ biến ở mức từ 4,5- 6%/năm. Lãi suất cho vay thỏa thuận đối với các nhu cầu vốn phục vụ đời sống, cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng phổ biến từ 12- 16,5%/năm. *** Lãi suất USD : Lãi suất cho vay USD cũng ổn định so với tuần trước. Hiện tại, lãi suất cho vay ngắn hạn bằng USD của nhóm NHTM nhà nước phổ biến ở mức 3%/năm, trung và dài hạn từ 3,5-5%/năm. Lãi suất cho vay ngắn hạn bằng USD của nhóm NHTM cổ phần phổ biến ở mức từ 3-5%/năm, trung và dài hạn từ 4-6%/năm. Theo số liệu báo cáo nhanh của các tổ chức tín dụng, trong tuần, lãi suất giao dịch bình quân bằng VND trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng các kỳ hạn 1 tháng, 6 tháng và 12 tháng có xu hướng giảm so với số liệu tuần trước; trong đó lãi suất bình quân kỳ hạn 12 tháng có mức giảm cao nhất (0,77%/năm). Lãi suất bình quân các kỳ hạn còn lại (qua đêm, 1 tuần, 2 tuần và 3 tháng) có xu hướng tăng nhẹ so với tuần trước, tuy nhiên mức tăng không nhiều (dưới 0,3%/năm). Lãi suất bình quân qua đêm là 5,73%/năm (tăng 0,29%/năm so với tuần trước), lãi suất các kỳ hạn còn lại dao động trong khoảng từ 6,6% đến trên 8,45%/năm. Đối với các giao dịch trên thị trường liên ngân hàng bằng USD, lãi suất bình quân các kỳ hạn qua đêm và 2 tuần có xu hướng tăng; lãi suất các kỳ hạn 1 tuần, 1 tháng và 3 tháng có xu hướng giảm; tuy nhiên ở tất cả các kỳ hạn mức thay đổi đều không lớn (từ 0,03 đến 0,21%/năm). Lãi suất bình quân cao nhất là 1,90%/năm (đối với kỳ hạn 6 tháng), lãi suất các kỳ hạn còn lại dao động trong khoảng 0,45%/năm đến 1,75%/năm. Trong tuần qua, các Ngân hàng thương mại có xu hướng để tỷ giá niêm yết mua và bán USD/VND ở mức sát trần, tỷ giá niêm yết bán USD/VND phổ biến quanh mức 17.800 – 17.804. 9
  10. Trên thị trường có hiện tượng một số tổ chức tín dụng (TCTD) được phép hoạt động mua bán ngoại hối mua bán đô la Mỹ với khách hàng vượt mức tỷ giá trần theo quy định. Trước tình hình trên, để hoạt động mua bán ngoại tệ của các TCTD trên thị trường thực hiện đúng quy định của pháp luật, ngày 1/7/2009, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đã có công văn số 4941/NHNN-QLNH gửi Tổng Giám đốc các TCTD về việc chấn chỉnh hoạt động mua bán ngoại tệ. Bên cạnh đó, NHNN đang tiếp tục theo dõi sát diễn biến thị trường, điều hành tỷ giá tương đối ổn định, áp dụng các biện pháp can thiệp thích hợp để thị trường ngoại hối hoạt động tích cực hơn. Ngày 01 / 02/ 2009 : Lãi suất cho vay VND thấp nhất 6,5%/năm : Từ ngày 1/2, lãi suất cho vay của các ngân hàng giảm xuống còn 8% một năm, sau khi Ngân hàng Nhà nước điều chỉnh lãi suất cơ bản về 7% hồi trước Tết. Ngân hàng Đầu tư phát triển VN (BIDV) trở thành nhà băng đầu tiên công bố điều chỉnh giảm lãi suất đồng nội tệ đầu tiên trong năm 2009. Lần giảm gần đây nhất được BIDV công bố vào ngày 4/12/2008. Lần này, lãi suất cho vay VND của BIDV tối đa là 10,5% một năm. Lãi suất cho vay ngắn hạn thời hạn đến 3 tháng là 8% một năm đối với các khoản vay xuất khẩu có hợp đồng xuất khẩu trực tiếp và khách hàng cam kết bán lại ngoại tệ tương ứng cho BIDV. Lãi suất cho vay ngắn hạn với thời hạn đến 3 tháng là 9% một năm. Trường hợp thời hạn vay trên 3 tháng, lãi suất áp dụng trên 9% đến tối đa 10% một năm. Lãi suất cho vay trung dài hạn VND của BIDV từ nay bằng lãi suất tiết kiệm 12 tháng trả sau cộng với phí tối thiểu là 3% một năm nhưng không vượt quá 150% lãi suất cơ bản. Cũng theo thống kê từ NHNN, mặt bằng lãi suất cho vay tương đối ổn định ở mức: Lãi suất cho vay ngắn hạn bằng VND của nhóm ngân hàng thương mại nhà nước phổ biến ở mức từ 8,5 - 10%/năm, trung và dài hạn từ 10 - 10,5%/năm. Lãi suất cho vay VND của nhóm ngân hàng TMCP phổ biến ở mức từ 10 - 10,5%/năm. Lãi suất cho vay sau khi trừ đi phần hỗ trợ lãi suất phổ biến ở mức từ 4,5 - 6%/năm. Lãi suất cho vay USD ở mức 6 - 7%/năm. Tuy nhiên, lãi suất cho vay thỏa thuận đối với các nhu cầu vốn phục vụ đời sống, cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng phổ biến từ 12 - 16,5%/năm. 10
  11. Ngày 05/ 02 /2009 : Sau khi lãi suất cơ bản được điều chỉnh giảm, các ngân hàng thương mại tiếp tục công bố giảm lãi suất cho vay, với mức vay trung và dài hạn là 10,5%/năm, vay ưu đãi có thể dao động từ 7-9%/năm. Ngân hàng Liên Việt (LienVietBank) áp dụng mức lãi suất cho vay kể từ tháng 2/2009 là 10,5%/năm với cho vay thông thường bằng VND và mức ưu đãi 9,5% với các khách hàng có nguồn tiền gửi thường xuyên tại ngân hàng, khách hàng hoạt động trong các lĩnh nuôi trồng, chế biến, xuất khẩu thủy hải sản, thu mua, chế biến xuất khẩu lương thực; khách hàng doanh nghiệp, hộ gia đình, cá nhân có nhu cầu vay phát triển làng nghề. Ngân hàng này cũng giảm lãi suất cho vay USD xuống mức thấp nhất 5,8% với cho vay ngắn hạn và 6%/năm với vay trung, dài hạn. Ngân hàng Công Thương (VietinBank) giảm lãi suất cho vay ngắn hạn với VND còn 8,5%/năm, mức lãi suất cho vay trung, dài hạn là 10,5%/năm. Ngân hàng TMCP Sài Gòn (SCB) giảm lãi suất huy động VND trung bình 0,5%/năm: 1 tháng là 7,5%/năm, 6-12 tháng là 8%/năm, trên 13 tháng: 8,1%/năm. Ngân hàng Phương Đông (OCB) cũng giảm lãi suất huy động đối với VND, USD. Cụ thể, lãi suất huy động tiết kiệm VND cao nhất kỳ hạn 3 tháng là 6,9%/năm, các kỳ hạn từ 6 tháng trở lên có mức lãi dưới 6,8%/năm. Lãi suất huy động tiết kiệm USD một tháng còn 2%/năm, 2 tháng còn 2,2%/năm, 3 tháng đến 36 tháng là 2,5%/năm. Ngày 24/05/2009 : Trong tuần này, khi lãi suất huy động VND được các ngân hàng tăng thêm từ 0,2 - 0,5%/năm thì lãi suất cho vay thỏa thuận đối với các nhu cầu phục vụ đời sống, cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng phổ biến từ 12 - 16,5%/năm(dân trí.com.vn) Song song với việc bình ổn lãi suất cho vay bằng USD, các ngân hàng này cũng thỏa thuận giữ lãi suất huy động bằng loại tiền tệ này không quá 1,5%/ năm. Với mức lãi suất cho vay đang được áp dụng phổ biến hiện nay giao động từ 1,8% - 2,4%/năm (huy động) và 6% - 7%/năm (cho vay) thì mức lãi suất sau thỏa thuận đã được giảm xuống khá mạnh. Đây là một nỗ lực lớn của các ngân hàng thương mại nhằm bình ổn thị trường ngoại tệ. Dự đoán, sau động thái này, vấn đề căng thẳng USD trên thị trường tự do sẽ được cải thiện 11
  12. đáng kể. Thống đốc NHNN Nguyễn Văn Giàu đánh giá cao thỏa thuận của các NHTM nhà nước và Vietcombank, đồng thời đề nghị Hiệp hội Ngân hàng trao đổi với các hội viên khác để tạo sự đồng thuận trong việc giảm lãi suất và ổn định thị trường ngoại tệ. Bên cạnh đó, các NHTM cũng nhất trí cao với kế hoạch kiểm tra, thanh tra các TCTD trong việc cho vay hỗ trợ lãi suất, chấp hành chế độ quản lý ngoại hối và an toàn trong hoạt động ngân hàng. Theo báo cáo nhanh của các ngân hàng thương mại, dư nợ cho vay hỗ trợ lãi suất (HTLS) bằng đồng Việt Nam đến ngày 21/5/2009 là 301.381,77 tỷ đồng, tăng 9.495,53 tỷ đồng (tương đương tăng 3,25%) so với tuần trước. Cụ thể, dư nợ theo nhóm tổ chức tín dụng: Nhóm ngân hàng thương mại Nhà nước và Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương là 218.472,42 tỷ đồng; nhóm ngân hàng thương mại cổ phần là 67.476,45 tỷ đồng; nhóm ngân hàng liên doanh, chi nhánh ngân hàng nước ngoài và ngân hàng 100% vốn nước ngoài là 13.767,58 tỷ đồng; công ty tài chính là 1.665,32 tỷ đồng. Dư nợ phân theo đối tượng khách hàng vay vốn: Doanh nghiệp Nhà nước 64.797,09 tỷ đồng; doanh nghiệp ngoài nhà nước (công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài …) 178.327,59 tỷ đồng; hợp tác xã 1.808,29 tỷ đồng; hộ gia đình, cá nhân 51.867,8 tỷ đồng; tổ chức khác 4.581 tỷ đồng Theo kế hoạch, ngay từ đầu tháng 6/2009 Thanh tra NHNN sẽ tăng cường kiểm tra, thanh tra trên diện rộng hoạt động kinh doanh ngoại hối của các NHTM nhằm giải quyết tình trạng các doanh nghiệp găm giữ ngoại tệ, không bán lại cho các NHTM, sử dụng ngoại tệ thế chấp để vay nội tệ, kiên quyết sử lý những vi phạm và lợi dụng chính sách cho vay hỗ trợ lãi suất hiện nay. Ngày 02/10/2009: Thống đốc Ngân hàng Nhà nước vừa ấn định lãi suất cho vay cơ bản tháng 10 ở mức 7% một năm, đồng thời giữ nguyên một loạt lãi suất khác Đây là tháng thứ 9 liên tiếp lãi suất cơ bản được giữ nguyên, qua đó ổn định trần lãi suất cho vay ở mức 10,5%. Các loại lãi suất khác như tái cấp vốn, chiết khấu, cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử ngân hàng cũng được giữ mức cũ, lần lượt là 7%, 5% và 7% một năm. Quyết định của Ngân hàng Nhà nước được đưa ra trong bối cảnh lãi suất huy động tại các ngân hàng thương mại vẫn nhích lên hằng tuần. Lãi suất huy 12
  13. động kỳ hạn 12 tháng của các ngân hàng cổ phần hiện phổ biến trên 9% mỗi năm, khối ngân hàng nhà nước chỉ thấp hơn một chút. Trong khi đó, lãi suất cho vay của toàn thị trường dao động từ 10 đến 10,5% một năm. Nhiều ngân hàng đều rất dè dặt cho vay trung dài hạn, phần vì phải kiểm soát tăng trưởng tín dụng từ nay tới cuối năm, phần vì cạn vốn ở các kỳ hạn trên 12 tháng. Biểu 1: Diễn biến lãi suất chủ đạo và lãi suất thị trường từ tháng5/2008 – 7/2009 13
  14. Các mức lãi suất chủ đạo và lãi suất thị trường từ tháng 5/2008-7/2009 : Tuần từ 23/10-29/10/2009: Lãi suất cho vay bằng VND ổn định hơn so với tuần trước. Lãi suất cho vay VND phổ biến ở mức từ 10-10,5%/năm. Lãi suất cho vay thỏa thuận đối 14
  15. với các nhu cầu vốn phục vụ đời sống, cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng phổ biến từ 14-16,5%/năm. Lãi suất cho vay USD của nhóm NHTM nhà nước phổ biến ở mức 3,5- 5%/năm; nhóm NHTM cổ phần phổ biến ở mức 4,5-6%/năm đối với ngắn hạn và 6-7,5%/năm đối với trung, dài hạn. Mức lãi suất cho vay của các Ngân hàng thương mại cụ thể như sau: Đơn vị: %/năm Lãi suất cho vay Loại tiền Ngắn hạn Trung,dài hạn bình quân Nhóm NHTMNN VND 10-10,5 10,0-10,5 USD 3,5-4,5 4,0-5,0 Nhóm NHTMCP VND 10,0-10,5 10,5 USD 4,0-6,0 6,0-7,5 ( Lãi suất cho vay cập nhật và chỉnh sửa theo quyết định mới nhất số 200/QĐ-TGĐ/09 ngày 04/03/2009 áp dụng từ ngày 05/03/2009) LÃI SUẤT CHO VAY NGẮN HẠN * Lãi suất cho vay VNĐ như sau: + Áp dụng cho vay phục vụ đời sống: từ 1,02%/tháng trở lên + Áp dụng cho vay khác: từ 0,875%/tháng trở lên * Lãi suất cho vay VÀNG như sau: + Áp dụng cho Tổ chức, Doanh nghiệp: từ 0,57%/tháng trở lên + Áp dụng cho Cá nhân: từ 0,59%/tháng trở lên * Lãi suất cho vay USD như sau: Áp dụng cho Tổ chức, Doanh nghiệp là từ 0,55%tháng trở lên III. KẾT LUẬN : Từ thực tế diễn biến tiền tệ, lãi suất trong thời gian qua, có thể rút ra một số nhận xét sau đây: 15
  16. Một là, việc áp dụng kịp thời cơ chế điều hành lãi suất cơ bản đã ngăn chặn được nguy cơ xáo trộn thị trường tiền tệ và mất khả năng thanh toán của các NHTM trong những tháng đầu năm 2008, nhất là đối với NHTMCP quy mô nhỏ chuyển đổi mô hình từ nông thôn lên; an toàn hệ thống ngân hàng được đảm bảo, củng cố lòng tin của các nhà đầu tư, doanh nghiệp và người dân đối với hệ thống ngân hàng. Khắc phục được tình trạng cạnh tranh không lành mạnh trong huy độïng vốn giữa các NHTM bằng cách đẩy lãi suất lên cao. Cùng với diễn biến lạm phát có xu hướng giảm, kinh tế vĩ mô ổn định và hoạt động của các NHTM đảm bảo khả năng thanh toán, làm cho thị trường tiền tệ và lãi suất trong những tháng đầu năm 2009 tương đối ổn định. Hai là, cơ chế truyền dẫn của các biện pháp điều hành lãi suất đã có hiệu lực và hiệu quả đối với hoạt động kinh doanh của NHTM và lãi suất thị trường, thể hiện là lãi suất thị trường liên ngân hàng đã biến động xoay quanh các mức lãi suất chủ đạo của NHNN; lãi suất huy động và cho vay của các NHTM biến động theo cung - cầu vốn và tăng, giảm theo sự thay đổi của các mức lãi suất điều hành của NHNN, đã tác động làm thu hẹp hoặc mở rộng tín dụng. Năm 2008 và những tháng đầu năm 2009, tăng trưởng tổng phương tiện thanh toán và tín dụng phù hợp với chủ trương thắt chặt hoặc nới lỏng tiền tệ một cách thận trọng. Ba là, việc điều hành linh hoạt lãi suất cơ bản, vừa là công cụ điều tiết thị trường, vừa là động thái phát tín hiệu về chủ trương của Chính phủ và giải pháp điều hành chính sách tiền tệ của NHNN là "thắt chặt" hay "nới lỏng" tiền tệ, đã và đang trở thành một chỉ số kinh tế quan trọng trên thị trường tài chính, tiền tệ, được các doanh nghiệp, người dân, các nhà đầu tư trong và ngoài nước, các NHTM quan tâm, theo dõi, dự báo và có phản ứng khá nhanh nhạy, tích cực về hoạt động đầu tư, tiết kiệm và tiêu dùng. Kết quả này có ý nghĩa rất quan trọng, thể hiện được vai trò và những tác động tích cực của chính sách tiền tệ đối với việc kiềm chế lạm phát và điều tiết kinh tế vĩ mô. Bốn là, cơ chế điều hành lãi suất cơ bản phù hợp với quy định của Luật NHNN và Bộ luật Dân sự, mục tiêu của chính sách tiền tệ hiện nay và các năm tới đây là kiểm soát lạm phát, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế ở mức cao và bền vững. 16

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản