Tìm hiểu về chứng khoán

Chia sẻ: Bao Hung Hung | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:217

0
211
lượt xem
117
download

Tìm hiểu về chứng khoán

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

1. Chứng khoán là chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ, xác nhận các quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu chứng khoán đối với tài sản hoặc vốn của tổ chức phát hành. Chứng khoán bao gồm : a. Cổ phiếu ; b. Trái phiếu ; c. Chứng chỉ quỹ đầu tư ; d. Các loại chứng khoán khác.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tìm hiểu về chứng khoán

  1. Giải thích thuật ngữ: Chứng khoán? Môi giới? Đầu tư?... Nghị định 48/1998/NĐ-CP ngày 11-7-98 đã dành nguyên c ả Điều 2, Ch ương I đ ể gi ải thích các thu ật ng ữ v ề chứng khoán và thị trường chứng khoán. Trong Nghị định này, các t ừ ngữ dưới đây đ ược hiểu nh ư s au : 1. Chứng khoán là chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ, xác nh ận các quy ền và l ợi ích h ợp pháp c ủa ng ười s ở h ữu chứng khoán đối với tài sản hoặc vốn của tổ chức phát hành. Chứng khoán bao g ồm : a. Cổ phiếu ; b. Trái phiếu ; c. Chứng chỉ quỹ đầu tư ; d. Các loại chứng khoán khác. 2. Phát hành chứng khoán ra công chúng là việc chào bán ch ứng khoán có th ể chuy ển nh ượng đ ược theo các đi ều kiện quy định. 3. Tổ chức phát hành là pháp nhân được phát hành chứng khoán ra công chúng theo quy đ ịnh c ủa Ngh ị đ ịnh này. 4. Bản cáo bạch là bản thông báo của t ổ chức phát hành trình bày tình hình tài chính, ho ạt đ ộng kinh doanh và k ế hoạch sử dụng số tiền thu được từ việc phát hành nh ằm giúp công chúng đánh giá và đ ưa ra các quy ết đ ịnh mua chứng khoán. 5. Niêm yết chứng khoán là việc cho phép các chứng khoán có đ ủ tiêu chu ẩn đ ược giao d ịch t ại th ị tr ường giao dịch tập trung. 6. Môi giới chứng khoán là hoạt động trung gian hoặc đ ại di ện mua, bán ch ứng khoán cho khách hàng đ ể h ưởng hoa hồng. 7. Tự doanh là việc công ty chứng khoán mua và bán chứng khoán cho chính mình. 8. Phân phối chứng khoán là việc bán chứng khoán thông qua đ ại lý ho ặc b ảo lãnh phát hành trên c ơ s ở h ợp đồng. 9. Bảo lãnh phát hành là việc t ổ chức bảo lãnh giúp t ổ ch ức phát hành th ực hi ện các th ủ t ục tr ước khi chào bán chứng khoán, nhận mua chứng khoán của t ổ chức phát hành để bán l ại, hoặc mua s ố ch ứng khoán còn l ại ch ưa được phân phối hết. 10. Giao dịch chứng khoán là việc mua, bán chứng khoán trên thị trường giao d ịch t ập trung. 11. Tư vấn đầu tư chứng khoán là các hoạt động phân tích, đ ưa ra khuy ến ngh ị liên quan đ ến ch ứng khoán, ho ặc công bố và phát hành các báo cáo phân tích có liên quan đến ch ứng khoán. 12. Quản lý danh mục đầu tư là hoạt động quản lý vốn c ủa khách hàng thông qua vi ệc mua, bán và n ắm gi ữ các chứng khoán vì quyền lợi của khách hàng. 13. Công ty chứng khoán là công ty cổ phần, công ty trách nhi ệm h ữu h ạn đ ược phép th ực hi ện m ột ho ặc m ột s ố loại hình kinh doanh chứng khoán. 14. Vốn khả dụng là tiền mặt và tài s ản l ưu động có kh ả năng chuy ển đ ổi thành ti ền m ặt trong m ột th ời h ạn nh ất định. 1
  2. 15. Quỹ đầu tư chứng khoán là quỹ hình thành từ vốn góp của ng ười đ ầu t ư đ ược ủy thác cho công ty qu ản lý qu ỹ quản lý và đầu tư tối thiểu 60% giá trị tài sản của quỹ vào ch ứng khoán. 16. Lưu ký chứng khoán là việc lưu giữ, bảo quản chứng khoán c ủa khách hàng và giúp khách hàng th ực hi ện các quyền của mình đối với chứng khoán. 17. Đăng ký chứng khoán là việc ghi nhận quyền sở h ữu, các quy ền khác và nghĩa v ụ liên quan c ủa ng ười n ắm giữ chứng khoán bằng một hệ thống thông tin lưu giữ trong các tài khoản l ưu ký ch ứng khoán. 18. Tài khoản lưu ký chứng khoán là tài khoản sử d ụng để h ạch toán vi ệc g ửi, rút ho ặc chuy ển nh ượng ch ứng khoán ; hạch toán việc giao và nhận chứng khoán. 19. Thị trường giao dịch tập trung là địa điểm hoặc hệ th ống thông tin, t ại đó các ch ứng khoán đ ược mua, bán hoặc là nơi tham khảo để thực hiện các giao dịch chứng khoán. 20. Người có liên quan là cá nhân hoặc t ỗ chức có quan hệ với nhau trong các tr ường h ợp d ưới đây : a. Công ty mẹ và công ty con nếu có ; b. Công ty và những người quản lý công ty ; c. Nhóm người thỏa thuận bằng hợp đồng cùng phối hợp để thâu tóm công ty ho ặc đ ể chi ph ối vi ệc ra quy ết đ ịnh của công ty ; d. Bố mẹ, vợ chồng, con, anh chị em ruột. 21. Người hành nghề kinh doanh chứng khoán là cá nhân đ ược Ủy ban Ch ứng khoán Nhà n ước c ấp gi ấy phép tham gia các hoạt động kinh doanh chứng khoán. 22. Người đầu tư là người sở hữu chứng khoán, người mua hoặc dự ki ến mua ch ứng khoán cho mình. 23. Người nắm giữ chứng khoán là cá nhân, tỗ chức đang ki ểm soát ch ứng khoán. Ng ười n ắm gi ữ có th ể là ch ủ s ở hữu chứng khoán hoặc là người đại diện cho chủ sở hữu. 24. Đại diện người sở hữu trái phiếu là pháp nhân được ủy quyền nắm giữ trái phi ếu và đ ại di ện cho quy ền l ợi c ủa chủ sở hữu trái phiếu. 25. Cổ đông thiểu số là người nắm giữ dưới 1% cổ phiếu có quyền bi ểu quyết của t ổ ch ức phát hành. 26. Cổ đông lớn là người nắm giữ từ 5% trở lên cổ phiếu có quyền biểu quyết c ủa t ổ ch ức phát hành. Đọc và hiểu giá cổ phiếu Trên các nhật báo lớn nước ngoài đều có những trang dành riêng cho vi ệc li ệt kê giá c ả th ị tr ường c ổ phiếu. Nếu không quen lối viết tắt để tiết kiệm chỗ, rất khó hiểu cặn kẽ những trang này. Ngày xưa khi chưa có mạng vi tính, các thị trường chứng khoán ho ạt đ ộng nh ờ vào ticker tape, là d ải băng in chi tiết giá cả lên xuống của các cổ phiếu chính. Ngày nay, ticker tape bi ến m ất, thay vào đó là the computerized quote machine, một màn hình vi tính nối m ạng có th ể cung c ấp m ọi chi ti ết c ần thi ết cho người mua chứng khoán. Những dãy thông tin trên màn hình v ẫn đ ược g ọi là tape. Trên màn hình thường có ký hiệu cổ phiếu của một công ty ví dụ GM là hãng General Mortors. GM L - 721/4 O 721/2 C 73 2
  3. B 723/8 H 721/2 NC -3/4 A 721/2 L 721/4 V149 T1017 Các từ L last trade là giá giao dịch gần đây nhất với ký hi ệu + là cao h ơn giá c ủa giao d ịch tr ước đó, còn - là thấp hơn. B current bid price là giá mua trong khi A current ask price là giá bán. O, H, L opening, high, low cho giá mở cửa, giá cao nhất và giá thấp nhất. C closing price cho biết giá đóng cửa hôm trước. NC net price change cho bi ết chênh l ệch gi ữa giá hi ện nay so với giá đóng cửa hôm trước. V và T volume-time chỉ số lượng đang giao d ịch và th ời đi ểm phiên giao dịch trước đó. Chuyện đặt ký hiệu cho công ty có một điểm thú vị. Các mẫu tự I, O, Q và W không đ ược dùng đ ứng riêng một mình vì I, O quá giống con số, Q dành riêng cho các công ty phá s ản. Sau ký hi ệu công ty có thể có ký hiệu Pr để chỉ lượng cổ phiếu đang mua bán là loại cổ phiếu ưu đãi preferred stock. Chuyện ticker tape có một giai thoại lý thú. Khi Charles Lindbergh lần đ ầu tiên bay v ượt Đ ại Tây Dương trở về, vào ngày 13-6-1927, người ta đã dùng 750.000 cân Anh các ticker tape cũ xé ra thành những dải băng ném xuống đường để chào mừng ông. Thị trưởng New York th ời đó, sau khi đ ọc di ễn văn ca tụng chiến công của Lindbergh đã kết thúc bằng câu: “Before you go, will you provide us with a new street - cleaning department to clean up the mess ?” Ngoài ra, cần nhớ giá cổ phiếu được ghi thành phân số cho nên 81/2 là 8,5 USD; 81/4 bằng 8,25 USD. Trong phần niêm yết cổ phiếu thường có những từ 52 Weeks Hi Lo là n ơi “highest and lowest prices of the stock are shown for the last 52 weeks”. Từ Div dividend là số c ổ t ức ng ười mua c ổ phi ếu ước tính được chia cho năm đó. Kế tiếp là percent yield là t ỷ su ất l ợi t ức, nghĩa là c ổ t ức chia cho giá đóng c ửa, tính bằng phần trăm. Ví dụ Công ty Harris ký hiệu HRS có cổ phiếu giá cao nhất và thấp nhất trong 52 tu ần qua là 40,13 USD và 22 USD thay đỗi 181/8 điểm hay gần bằng 45%, cổ tức m ỗi c ổ phi ếu năm nay là 1,12 USD, t ỷ lệ cổ tức trên giá là 3,6% tức là lấy cổ tức 1,12 USD chia cho giá đóng c ửa 307/8 đ ược 0,036 hay t ỷ l ệ lãi 3,6%. Từ PE trong cột tiếp viết tắt từ price-earnings ratio là tỷ suất giá c ả- lợi nhu ận, t ỷ l ệ gi ữa giá cổ phiếu và lợi nhuận hàng năm của công ty trên m ỗi c ổ phi ếu - the relationship between the price of one share of stocks and the annual earnings of the company. Đ ối v ới tr ường h ợp c ủa Công ty Harris có thể diễn tả : “The price of a Harris share is 11 times the company’s earning per share for the most recent four quarters”. Vol 100s volume of sales in hun-dreds chỉ số lượng cổ phiếu mua bán trong ngày hôm tr ước nhân cho 100 tức là hôm qua 41.700 cổ phiếu Công ty Harris được giao dịch. N ếu trước con số có m ẫu t ự Z thì đó là con số mua bán thật, không nhân lên 100. Net change so sánh giá đóng cửa hôm đó so với hôm tr ước. Cu ối cùng sự khác bi ệt gi ữa giá cao nh ất và giá thấp nhất được gọi là spread. Spread còn là sự khác biệt giữa giá mua và giá bán bid and ask prices. Chúng ta biết người môi giới chứng khoán là stockbrokers hay brokers. Nh ưng b ản thân nhân viên các công ty môi giới ghi trên danh thiếp bằng những từ khác nhau nh ư financial consultant, institutional salesman, securities salesperson, account executive, investment executive, portfolio salesman. Chúng ta nên chú ý để dịch chức danh của họ cho đúng. Chứng khoán, cổ phiếu và trái 3
  4. phiếu Thuật ngữ thị trường chứng khoán có nhiều, thường rất khó hiểu dù bằng ti ếng Anh hay đã d ịch ra tiếng Việt nhưng, may mắn thay, chỉ những người chuyên ngành m ới dùng. Ví d ụ khi phân tích các dạng rủi ro khi tham gia vào một thị trường chứng khoán, người ta liệt kê nhi ều hình th ức r ủi ro trong đó có translation risk. Mới nghe qua tưởng đâu là những b ất tr ắc do bất đ ổng ngôn ng ữ, d ịch sai các tài liệu hay phán đoán sai các lệnh mua bán. Nhưng gi ới chuyên môn hi ểu rất rõ translation risk là 'a form of currency risk associated with the valuation of balance sheet assets and liabilities between financial reporting dates'. Như vậy translation ở đây là sự khác bi ệt th ời đi ểm báo cáo tài chính d ẫn đ ến đánh giá khác nhau. Là những người dân bình thường sẽ có khả năng tham gia mua bán t ại các trung tâm giao d ịch ch ứng khoán trong tương lai, chúng ta chỉ giới hạn vào những từ căn b ản th ường dùng trên th ị tr ường này. T ừ thường gặp nhất là stock. Tiếng Mỹ gọi cổ phiếu là stock ; còn ti ếng Anh gọi là share. Tuy nhiên tên gọi các thị trường chứng khoán ở Anh, Mỹ và nhi ều n ước khác n ữa vẫn dùng t ừ stock nên chúng ta d ễ bị lẫn lộn. Stock hay share represents ownership in a company and the right to receive a share in the profits of that company. Trong khi đó trái phiếu bond là giấy nợ mà n ơi phát hành cam k ết tr ả kèm lãi su ất sau m ột th ời gian. Hiện nay có những loại trái phiếu như T-bonds treasury bonds - trái phi ếu kho b ạc; corporate bonds trái phiếu công ty ; bank bonds trái phiếu ngân hàng hay infrastructure bonds trái phi ếu công trìnhCác lo ại stock, bond gọi chung bằng từ securities chứng khoán - dùng ở số nhi ều. Vì v ậy Ủy ban Ch ứng khoán Quốc gia được dịch thành State Securities Commission SSC. Còn Trung tâm Giao d ịch Ch ứng khoán là Securities Transaction Centers sẽ chuẩn bị cho một thị trường chứng khoán - A Stock Exchange trong tương lai. Một thị trường chứng khoán đôi lúc còn được gọi là m ột bourse. Các công ty c ổ ph ần mu ốn tham gia vào thị trường chứng khoán phải đăng ký để được niêm yết gọi là listing. Cho nên m ột listed company là một công ty có tên trên thị trường chứng khoán. Người dân muốn mua cỗ phiếu của các công ty này phải thông qua các công ty giao d ịch ch ứng khoán gọi là securities companies, có một đội ngũ stockbrokers là nh ững người môi gi ới ch ứng khoán. M ột trong những vấn đề của thị trường chứng khoán nước ta là quá thi ếu các listed companies ; vì ngay c ả các công ty vừa cổ phần hóa chưa chắc đã hội đủ điều kiện được niêm yết. 'It is hard to spot more than three or four companies that might be in a position to list on the market'. Chuẩn bị cho một thị trường chứng khoán Việt Nam, SSC cho bi ết nó có nh ững đ ặc đi ểm ví d ụ nh ư : 'Total foreign holdings in any one listed firm are likely to be capped at 30 percent.' To be capped at 30% là giới hạn tối đa lên đến 30%. Thị trường này cũng ban short selling on its pilot stock markets to avoid speculation. Short selling là bán các cổ phiếu mình không nắm vì đoán tr ước giá sẽ h ạ. Ví d ụ b ạn không có trong tay cổ phiếu nào của Microsoft nhưng đoán tr ước các v ụ ki ện s ẽ làm c ỗ phi ếu công ty này sụt giá, bạn bán một triệu cổ phiếu này với giá hôm nay sau khi đăng ký mua m ột tri ệu c ổ phi ếu này với giá sẽ trả vào tuần sau. Inside trading là mua bán c ổ phi ếu d ựa vào thông tin n ội gián cũng b ị cấmCác đặc điểm khác có thể kể ra như sau Các bạn có thể đối chi ếu với phần ti ếng Vi ệt trên các bài chuyên đề cùng số này A company or bank that wishes to list must have registered capital of 10 billion dong $770,000 and have been profitable for the last two years. At least 20 percent of a company’s listed shares must be held by more than 100 investors outside that issuing firm. Securities companies authorised to trade are commercial banks and big corporations. 4
  5. SSC inspectors must report big changes in stock prices. Bình luận về các bước chuẩn bị của Việt Nam liên quan đến thị tr ường ch ứng khoán, các quan sát viên nước ngoài cho biết : 'With a stock market Vietnam will start to appear on more fund managers’ radar screens around the world'. Các quỹ đầu tư sẽ chú ý hơn ; 'The fact that the decree has actually been approved will damp some of the cynicism'. Nghị định ra đời sẽ giúp nhiều nhà đầu tư tin tưởng hơn Các nhà đầu tư trong nước cũng có thể tin rằng thị trường này sẽ thúc đẩy quá trình cổ ph ần hóa going public giúp nhiều công ty lần đầu tiên phát hành cổ phần ra công chúng initial public offering Nói tiếp chuyện chứng khoán Tuần trước có nhiều bạn hỏi thêm về chuyện thị trường chứng khóan v ới nhi ều câu đi khá sâu vào chuyện chuyên môn. Bạn Khánh Tâm hỏi lưu ký chứng khóan tiếng Anh là gì. Việc mua bán ch ứng khóan không nh ư nhi ều bạn hình dung là đến quầy trao tiền và nhận về ch ứng khoán ; ph ải dùng m ột d ịch v ụ g ọi là custody service the storing and safekeeping of securities together with maintaining accurate records of their ownership nhằm lưu giữ, bảo quản chứng khoán cùng với việc ghi nhận quyền sở h ữu b ằng h ệ th ống thông tin lưu trữ trong tài khoản lưu ký chứng khoán. Ngày nay d ịch v ụ l ưu ký này bao trùm nhi ều th ị trường của nhiều nước. Nếu không có tài khoản lưu ký chứng khoán, thử tưởng tượng làm sao gi ải quyết khối lượng hàng tỉ đô-la Mỹ trị giá chứng khoán luân chuyển hàng ngày Bạn Thanh Tùng cho biết các bản tin n ước ngoài vi ết về th ị tr ường ch ứng khoán Vi ệt Nam cho r ằng giai đoạn đầu chủ yếu sẽ là over-the-counter trading và hỏi ý nghĩa của cụm từ này. Bên Anh, over-the- counter market OTC là một thị trường trao đổi cổ phiếu của những công ty ch ưa đ ược niêm y ết chính thức trên thị trường chứng khóan, việc mua bán diễn ra tr ực ti ếp gi ữa ng ười phát hành và ng ười mua chứ không qua thị trường chính thức. Các nhà bình lu ận nói vậy vì th ời gian đ ầu s ẽ có r ất ít công ty c ổ phần hội đủ điều kiện để được niêm yết chính thức. Tuy nhiên over-the-counter đ ược dùng v ới nghĩa thị trường chứng khoán nước ta giai đoạn đầu sẽ chủ yếu là trao đổi trái phi ếu theo d ạng ti ền trao cháo múc. Trong ngành dược, over-the-counter để chỉ lo ại thuốc thông th ường bán tr ực ti ếp không c ần toa bác sĩ Bạn Trần Thị Lý hỏi tiếng Anh có từ bản cáo bạch như trong Nghị định 48 hay không ? Prospectus - a document provided by the issuing companies giving detailed terms and conditions of a new stock offering là một tài liệu không thể thiếu được nếu công ty phát hành mu ốn bán c ổ phi ếu ra công chúng. L ưu ý rằng 'Any statement by ’experts’ in a prospectus must be published with the approval of these experts and there are substantial penalties for making false statements in a prospectus' Bạn Ngô Thanh Hải thắc mắc vì sao không thấy li ệt kê từ debentures. Debentures th ực ch ất là m ột giấy nợ, trong đó nêu rõ khi nào nơi phát hành sẽ tr ả v ới nh ững đi ều kho ản nào… Nó linh đ ộng h ơn bonds. Ví dụ như một trường học muốn xây dựng thêm m ột c ơ sở mới có th ể phát hành debentures mà người mua có thể dùng nó cấn trừ vào học phí phải trả cho con em họ Bạn Thành Ngữ cho biết trong các tài liệu nói về m ột số qu ỹ đầu t ư th ường th ấy t ừ open-ended companies. Đây là các công ty cổ phần có quyền nâng vốn đầu tư bằng cách phát hành thêm c ổ phi ếu. Từ này thường dùng cho các quỹ đầu tư chứng khoán mutual fund - ti ếng M ỹ ; và unit trust - ti ếng Anh. Còn closed-end company là 'investment company with a fixed capital structure with a fixed number of shares outstanding which are traded in the secondary market' 5
  6. Loại trừ những câu hỏi mang tính kỹ thuật, chúng ta xem tiếp một số từ dùng trong các bài báo miêu t ả thị trường chứng khoán tương lai của Việt Nam. 'Equitised companies are too small to list and would be hard-pressed to produce audited accounts'. Hard-pressed là gặp khó khăn ch ứ không ph ải là b ị thúc bách. Các công ty cổ phần hóa quy mô nhỏ không đủ điều kiệm niêm yết và khó lòng cung c ấp tình hình tài chính có kiểm toán xác nhận 'The lessons from the world markets and the regional markets have made us more cautious in our steps and that also covers the means for foreign participation'. Phần sau c ủa câu phát bi ểu này mang ý s ự c ẩn trọng bao hàm cả chuyện xác lập cơ chế cho nhà đầu tư nước ngoài tham gia Đọc báo chúng ta thường thấy các stock index share index. Đây chính là 'an index number based on the prices of a particular parcel of shares supposed to be representative and intended as a guide to overall market fluctuations'. Tùy theo thị trường mà chỉ số này là tr ị giá bình quân ch ứng khoán c ủa m ột s ố công ty tiêu biểu, cho biết sức khỏe của thị trường đó. Những chỉ số quen thu ộc có Dow Jones Index, Financial Times Industrial Ordinary Share Index, Nikkei 225 Average. Cần phân loại chứng khoán trước khi nhập cuộc Chứng khoán là giấy tờ có giá trị kinh tế hay nói cách khác đó là công c ụ tài chính có giá tr ị t ương ứng như tiền mặt và được mua bán hoặc chuyển nhượng. Chứng khoán là một lo ại hàng hóa r ất tiêu bi ểu trong cơ chế kinh tế thị trường tự do TBKTSG xin giới thiệu bài viết của tác giả Lê Trọng Nhi, m ột chuyên viên có kinh nghi ệm ho ạt đ ộng trong thị trường chứng khoán ở Mỹ. Trong mỗi thị trường chứng khoán các loại chứng khoán có những phẩm ch ất khác nhau. Tại các th ị trường chứng khoán của Mỹ, giới kinh doanh và đầu tư chứng khoán phân ra b ốn lo ại hàng chính và mỗi loại có một phẩm chất khác nhau như sau: Loại hàng hóa cổ phiếu - vốn cổ phần Cỗ phiếu phẩm chất cao - blue chips : Từ lóng blue chips đ ể ám ch ỉ nh ững c ổ phi ếu c ủa các công ty lớn, có ảnh hưởng trong nền kinh tế, có những ph ẩm chất nhất đ ịnh v ề th ị tr ường và qu ản lý, m ệnh giá mỗi cổ phần tương đối cao từ 100.000 - 2 triệu đồng và giá cả không bị dao động mạnh. Số lượng mua bán các loại cổ phiếu này chiếm một tỷ trọng khá lớn trong mỗi phiên giao d ịch, có đặc tính chuyển thành tiền mặt nhanh chóng. Mức độ rủi ro tương đối thấp và trung bình. Cỗ phiếu phẩm chất thấp - penny stocks : Từ penny stocks để ám chỉ những c ổ phi ếu c ủa các công ty nhỏ chưa có tiềm năng phát triển lớn, hoặc mới thành lập đang tìm ch ỗ đ ứng trong th ị tr ường, ho ặc thuộc loại khá tốt nhưng bị sự cố và đưa đến hậu quả tồi hoặc gần nh ư phá s ản ; thông th ường m ệnh giá mỗi cổ phần rất thấp 9.000 đồng hoặc cao từ 10.000-30.000 đồng. Mức độ rủi ro tương đối cao. Hàng hóa trái phiếu - vốn nợ Trái phiếu chính phủ : Chính phủ trung ương thông qua ngân khố hoặc các chính quyền các thành ph ố lớn phát hành trái phiếu để tài trợ cho ngân sách ho ặc cho m ột dự án công ích nào đó. R ủi ro r ất th ấp và người đầu tư thường được hưởng những ưu đãi về thuế. Mệnh giá m ỗi trái phi ếu th ường là 10 triệu đồng. Giá cả dao động và gắn chặt theo chỉ số lãi suất trên th ị tr ường. Trái phi ếu lo ại này còn được gọi là fixed income bond - trái phiếu có lợi nhuận cố định. 6
  7. Trái phiếu công ty : Các công ty phát hành trái phiếu tài trợ các dự án phát triển hoặc chương trình bành trướng. Tùy bối cảnh, các công ty chọn phát hành trái phiếu để ứng phó v ới nh ững tình hình b ất l ợi cho sự sống còn của công ty, đôi khi được gọi là junk bonds - trái phi ếu có r ủi ro cao. M ức lãi su ất cao hơn của chính phủ và rủi ro tương đối cao. Mua chứng khoán chính là một sự chuyển dạng từ tiết ki ệm sang đ ầu t ư. Th ị tr ường ch ứng khoán m ở cho tất cả mọi người có nguồn tiết kiệm hoặc có khả năng tiết ki ệm và muốn đ ầu tư. Tuy nhiên đầu tư chứng khoán cũng như bất cứ một cuộc đầu tư nào khác cũng có những rủi ro. Có ít nhất 14 loại rủi ro có thể nhận định được trong quyết định mua chứng khoán. Có m ột quy lu ật chung trong t ất c ả các cuộc đầu tư đó là rủi ro càng cao thì lợi nhuận càng cao. Tóm lại yếu tố rủi ro sẽ khống chế người tiết ki ệm theo ba dạng : người đ ầu t ư, mua ch ứng khoán theo nghĩa đầu tư thực sự và không chịu rủi ro cao - mua chứng khoán blue chips ho ặc trái phi ếu chính phủ ; người đầu cơ, chấp nhận và tính toán với rủi ro, ch ọn th ời đi ểm vì th ời gian dài không quan trọng - mua bán loại chứng khoán giá cả dao động nhiều, penny stocks ho ặc các junk bonds ; ng ười mua bán, tìm lợi nhuận nhanh bằng sự chênh lệch giá cả bất kể loại ch ứng khoán nào trong th ị tr ường, và mua qua bán lại nhiều lần. Thế nào là người "đầu cơ" chứng khoán? ở TTCK không mua gom chứng khoán, tạo khan hiếm giả tạo, để làm cho nó lên giá như ở th ị tr ường hàng hóa. Giá chứng khoán lên hay xuống là do có ít hay nhiều người mua. Khác biệt về ý niệm Nhiều sách vở và bài báo ở ta đã cảnh báo về người đầu c ơ speculator trong th ị tr ường ch ứng khoán TTCK. Gần đây, có ý kiến đề nghị rằng trong các cuộc hội thảo có tính cách qu ốc t ế c ần thuy ết ph ục các nước sửa luật chứng khoán theo hướng cấm bán khống và hạn ch ế mạnh m ẽ đầu c ơ. Chúng ta trân trọng những ý kiến này về sự quan tâm đối với nền kinh tế, tuy nhiên v ề m ặt khoa h ọc, c ần tìm xem quan niệm về người đầu cơ ở TTCK của các nước phát triển là thế nào đ ể hi ểu cho đúng v ề h ọ khi ta lập TTCK. Thường chúng ta nghĩ về người đầu cơ như là m ột người t ạo ra s ự khan hi ếm gi ả t ạo mua vét hàng hóa nhằm bán lại, thu lợi bất chính. Ta cũng thường gi ải thích sự tăng giá hàng là do đ ầu c ơ. Đó là quan niệm về người đầu cơ ở thị trường hàng hóa mà n ơi đó có những khi cung không đ ủ c ầu. Trái lại, ở các nước phát triển, hàng hóa không hề khan hiếm, cung vượt xa cầu, nên n ếu hi ểu “speculator” của họ như trong bối cảnh kinh tế của ta thì rõ ràng là sai. H ơn n ữa, n ếu l ấy đi ển hình George Soros trong thị trường ngoại tệ để hô hào chống “speculator” trong TTCK là nguy hiểm cho ti ền đ ổ c ủa TTCK. Tại sao vậy? Gốc gác của người “đầu cơ” Người “đầu cơ” ở các nước phát triển xuất hiện đầu tiên tại thị trường hàng hóa lúa, bắp, cà-phê n ơi có sử dụng hợp đồng “forward contract” bán bây gi ờ - sau này giao ; h ợp đ ồng cho hàng s ẽ đ ến. Bán như thế không phải là bán non, vì bán non bắt nguồn từ vi ệc nhà sản xu ất thi ếu v ốn. Ở “forward contract”, để cầm tin, người ta chỉ trả cho nhau từ 5-10% trị giá món hàng. Cách mua bán này ch ỉ xu ất hiện khi sản xuất phát triển, nông sản và nguyên liệu thừa mứa ; nhà sản xuất phải tìm cách đem bán sang những khu vực xa xôi khác. Khi ấy rủi ro kinh doanh thu không đủ chi sẽ xảy ra ; vì không ki ểm soát được giá cả do thời gian bán dài, cung cầu có thể thay đổi; và n ơi giao hàng r ất xa mà giá c ả ở đó có khi khác. Khi bên bán bị rủi ro thì bên mua cũng b ị lây ; ng ười này s ợ ph ải tr ả giá nguyên li ệu cao 7
  8. trong khi giá bán sản phẩm phải thấp. Do mối lo chung này, cả hai cùng tìm cách kh ắc ph ục và h ọ nghĩ ra “hợp đồng hàng sẽ đến”. Loại hợp đồng này thịnh hành ở M ỹ t ừ những năm 1830 tr ở đi. Hai bên cam kết sẽ giao và nhận một mặt hàng nào đó vào hai, ba tháng n ữa, v ới m ột giá có xê xích v ới th ời giá. Tuy nhiên, vào lúc giao hàng, do thời gian ký đã lâu, ch ưa chắc món hàng có ch ất l ượng nh ư đã thỏa thuận, hoặc người mua có thể không còn đồng ý với cái giá tr ước do m ức cung hi ện có. V ẫn có rủi ro dù đã có hợp đồng ! Cả hai cần phải “hắt rủi ro” đi hedge. H ọ s ợ r ủi ro, nên đ ược g ọi là “hedger” người hắt rủi ro. Nhưng ai sẽ nhận rủi ro cho họ đây? May mắn thay ! Khi số lượng “forward contract” gia tăng sẽ có nhiều thời gian giao hàng khác nhau. Hơn nữa vì việc chuyên chở và tồn trữ hàng hóa tự nhiên sẽ được tập trung về một nơi trung chuyển ở Mỹ là Chicago và nơi đó trở thành chợ. Ở đó có nhiều người muốn “hắt hủi ro”, nên do bá nhân bá tánh, có người lại thích chơi với rủi ro để ki ếm ti ền. Lo ại người “thích may r ủi” này xu ất hi ện và được gọi là “speculator”. Vì chỉ phải trả một phần nhỏ của giá mua, nên nh ững ng ười “speculator” mua bán với nhau các “forward contract” để ki ếm lời trước khi h ợp đ ồng kia đ ến h ạn giao hàng. Ai mà nắm hợp đồng đến hạn thì sẽ lời hay lỗ khi giá nguyên thủy gi ữa người sản xu ất và tiêu th ụ th ực s ự cao hơn hay thấp hơn giá họ đã mua từ đồng nghiệp. S ố lượng h ợp đ ồng ấy l ớn, vì - theo tính toán - chỉ có 5% của số “forward contract” là có giao hàng thật sự, số còn l ại đ ược thanh lý, bù tr ừ gi ữa các “speculator” trên thị trường nên rủi ro của người sản xuất và tiêu th ụ th ực không còn n ữa. Do đó, ph ải có người “thích may rủi” thì người “muốn hắt rủi ro” mới hắt đi được. Cho m ục đích này, dần dần các nhà buôn họp nhau lại, chấn chỉnh “forward contract”, tiêu chuẩn hóa hàng hóa, và bi ến nó thành h ợp đồng giao hàng trong tương lai future contract. Nhờ có “future contract”, người “hedger” đã chuyển rủi ro kinh doanh sang người “speculator”. R ủi ro đã có người gánh, chi phí kinh doanh của “hedger” nhờ đó tính toán đ ược ; giá hàng tr ở nên r ẻ h ơn so với khi chưa tính toán được thí dụ trước kia phải để số phần trăm cho vi ệc gì đó cao ; v ậy là ng ười tiêu dùng được hưởng lợi. Đó là cách mà nền kinh tế thị trường bình ổn giá c ả cho người tiêu th ụ ; giống như trong thời bao cấp ta có ủy ban vật giá thực hi ện cùng m ục đích. Tuy nhiên, cách làm có khác ; họ sử dụng các “người thích may rủi” cho tranh nhau ôm cái h ọ thích. Trong ng ữ nghĩa c ủa nó “speculate” là tính toán, quyết định và chịu rủi ro. Người nông dân quyết đ ịnh năm nay tr ồng lúa Nàng Hương mà chưa biết sẽ lời lỗ thế nào thì cũng là “speculate”. Người “speculator” khác ng ười đánh b ạc ; vì sau khi con xúc xắc đã được xóc rồi, người đánh b ạc có quy ền ch ọn b ỏ ti ền hay không, vào qu ả bầu hay con cọp ; và họ có thể tránh cái thua nếu muốn. Trái lại, “speculator” không tránh đ ược, ph ải nhận cái gì họ đã quyết. Các “hedger” về sau này là các công ty và các ngân hàng, họ cũng đều muốn tránh r ủi ro ; và h ọ không phải chính phủ lập ra những thị trường “future” khác từ những năm sau 1970. Th ị tr ường cho ngo ại t ệ sẽ giao foreign currencies futures dành cho những ai sẽ phải trả ti ền b ằng ngo ại t ệ trong vài tháng n ữa mà sợ đồng tiền lên hay xuống ; thị trường lãi suất sẽ tr ả interest rates futures cho nh ững ai đang vay nợ mà sợ lãi suất thay đổi ; thậm chí thị trường “stock index futures” dành cho ai qu ản lý qu ỹ đ ầu t ư mà sợ chứng khoán xuống giá theo cả khối. “Hedger” cần “speculator”. Nhờ có “speculator” mà công ty các loại mới tính được chuyện điều phối rủi ro risk management qua các th ị tr ường “future” ho ạt đ ộng 24/24 giờ mỗi ngày trên thế giới. “Người đầu cơ” trong TTCK Trong TTCK giá mua bán được định bằng cách đấu giá ở sàn giao dịch và bằng cách m ặc cả ở bàn giao dịch. Ở nơi sau, người làm giá là người môi giới loại “market maker” tạo mua bán hay t ạo th ị tr ường. “Speculator” ở TTCK không mua gom chứng khoán, tạo khan hi ếm gi ả tạo, để làm cho nó lên giá nh ư ở thị trường hàng hóa. Giá chứng khoán lên hay xuống là do có ít hay nhi ều người mua. Tại sao h ọ mua lại là một yếu tố tâm lý. Thường khi thấy giá xuống người ta mua vào, khi giá lên thì bán ra. Đó là cách ăn lời thường tình của những người đầu tư bình thường. Từ người đầu t ư bình th ường tr ở thành “speculator” rất dễ. Nó tùy vào cách ra lệnh mua bán, và vào vi ệc tr ả ti ền đ ược công ty hay ng ười môi 8
  9. giới đồng ý. Sự khác biệt chính giữa hai loại người này là tâm lý dám chơi với may r ủi n ằm trong giá cả của chứng khoán hay không. Bởi vậy, trong diễn tiến bình thường đã nêu, ng ười “speculator” làm ngược lại. Họ có hàng trong tay đã mua trước kia v ới giá th ấp nay bán ra khi th ấy giá lên đ ể ki ếm l ời; như thế là làm cho số cung chứng khoán tăng khiến giá tụt xu ống. Khi nghĩ giá s ẽ còn xu ống, đang 5 USD chẳng hạn, họ sẽ vay hàng của công ty môi gi ới để bán. Lúc giá xu ống đ ến 3 USD, h ọ mua vào để trả nợ. Vậy là khi giá xuống họ mua vào, làm cho mức c ầu tăng, giúp giá lên l ại. Trong c ả hai trường hợp họ góp phần bình thường hóa giá cả. Rủi ro của họ là khi mua vào để tr ả n ợ mà giá lên là lỗ. Cho nên, cơ chế của TTCK đã công nhận họ là người làm gi ảm bi ến đ ộng giá c ả c ủa ch ứng khoán ; đỡ cái rủi ro cho người đầu tư nhỏ khi vì sợ mà bán đi thì có người mua ; và do tính thích may rủi nên họ mua chứng khoán của các công ty nhỏ mới ra, hay mới phục hổi giúp các công ty này có v ốn khi khởi đầu. Người “thích may rủi” theo dõi diễn tiến của giá cả để hành động chứ không tạo ra giá c ả. H ọ không làm giá. Giả sử họ mua vét chứng khoán, tạo khan hiếm giả tạo, đẩy cho giá lên và bán đi thu l ợi b ất chính, nhưng nếu không bán được thì sao ? Chứng khoán có hàng ngàn lo ại, nó đâu có hi ếm, l ại không phải là thóc gạo mà bảo rằng lên đến giá nào người ta cũng ph ải mua. Vì th ế, lu ật pháp các n ước phát triển cấm làm giá manipulate chứ không cấm “speculate” Đến đây ta thấy, dịch “speculator” là “người đầu cơ” gây hiểu lầm một cách tai hại Có thể do hiểu “người đầu cơ” theo Luật Hình sự của ta, nên Luật Chứng khoán c ấm bán kh ống ; và được nhận xét như là “may mắn đi sau và nhận ra cái ảo c ủa đầu c ơ”. Chúng ta ch ờ lu ật s ẽ đ ịnh nghĩa chi tiết hơn về việc bán khống. Nhưng nếu hiểu bán khống là không sở hữu chứng khoán vào lúc giao dịch mà bán như quy định hiện nay thì vi ệc ấy không bao gi ờ có trên th ực t ế. B ởi l ẽ m ột ng ười mua chứng khoán đã trả tiền đủ thì bao giờ họ cũng đòi hàng ngay. Nếu không, ngày hôm sau chứng khoán đó lên giá mà họ không có hàng trong tay để bán thì m ất d ịp ki ếm l ời ư ? Thành ra tùy cách giao d ịch với công ty hay người môi giới chứ không phải với người mua bán ch ứng khoán là đ ối tác c ủa mình ; người đầu tư sẽ nhận được tiền đủ từ người môi giới khi bán, nếu khi mua họ trả đủ ti ền. Đây là lu ật của thị trường. Người môi giới phải luôn luôn trả đủ cho người môi gi ới bên kia. N ếu ng ười đ ầu t ư không trả đủ hàng hay tiền, tức là được cho trả tiền theo định mức margin account thì họ nợ người môi giới của họ, và người sau này phải ứng tiền hay hàng để trả đ ủ cho bên kia. Nh ư v ậy là không có chuyện nhà đầu tư bán khống mà chỉ có việc họ mượn hàng để bán. Từ khi m ượn hàng đ ến khi tr ả hàng cho người môi giới là một khoảng cách, và nó tạo ra m ột thời gian “sẽ giao” hay “s ẽ đ ến” gi ống như ở trong hợp đổng “forward” hay hợp đồng “future” trong ch ợ hàng hóa. N ếu ở hai h ợp đ ồng kia người bán chỉ trả cho người mua 5-10% giá bán, thì “speculator” phải trả lãi cho người môi gi ới trong thời gian vay ; khi đến hạn phải mua hàng trả nợ. Khi vay ch ứng khoán 5 USD, th ời gian vay là ba tuần, trong những ngày đó “speculator” hy vọng giá xuống còn 3 USD đ ể mua vào tr ả n ợ ; nh ưng n ếu hàng lên 6 USD thì cũng phải mua để trả. Rủi hay may của họ nằm ở chỗ chứng khoán xu ống 3 USD hay lên 6 USD. Như thế thì có phải là bán khống không, luật của ta chưa quy định nếu giải thích ch ặt chẽ. TTCK của người ta chấp nhận cách này là để lúc nào ch ợ cũng có nhi ều v ụ mua bán, nh ờ đó kh ả năng thanh toán tiền bạc cao tính thanh kho ản cao, và thu hút đ ược nhi ều ng ười, đông ng ười thì chi phí giảm thời gian, tiền bạc, sự mong đợi và lại có thêm người n ữa. Hơn nữa quy đ ịnh về mua ch ịu hàng của môi giới để bán cũng có giới hạn, tiền n ằm trong tài kho ản sụt quá 25% tr ị giá t ổng s ố ch ứng khoán sở hữu thì người vay phải châm thêm tiền vào. Ngoài ra, đ ể đ ược m ượn hàng nh ư th ế thì, theo nguyên tắc chọn mặt gửi vàng, chỉ những người có uy tín đã được thử thách mới được công ty môi giới cho vay. Tóm lại, nếu quả thực luật của ta sẽ coi “vay mượn chứng khoán đ ể bán” là bán kh ống thì chúng ta xóa bỏ “người thích rủi may”. Không có họ thì không ai - nhất là các nhà đầu t ư nh ỏ - s ẽ h ắt r ủi ro đi được. Nào sẽ có ai mua ? TTCK của ta khi ấy có nguy cơ chỉ có toàn người bán. 9
  10. Bài I: Thị trường chứng khoán là gì? Thị trường chứng khoán TTCK và sự vận hành của nó là những v ấn đ ề còn xa l ạ không ch ỉ v ới người dân mà cả với không ít doanh nhân của chúng ta. Nhằm giúp bạn đọc tìm hiểu một cách có hệ thống về TTCK, Th ời báo Kinh t ế Sài Gòn đã nh ờ Lu ật s ư Nguy ễn Ngọc Bích, từng nghiên cứu vấn đề này tại trường Đại học New York Mỹ năm 1992 ph ụ trách lo ạt bài này. Cách tìm hiểu ở đây sẽ đi từ gốc lên ngọn, nghĩa là t ừ công chúng đến công ty, sang ngân hàng r ồi đ ến TTCK. Loạt bài gồm hai phần : phần 1 sẽ gồm bảy bài nói về TTCK là gì. Ph ần 2 nói v ề s ự v ận hành th ế nào. Trong khi trình bày, tác giả có liên hệ thực t ế, các danh t ừ chuyên môn xu ất hi ện l ần đ ầu s ẽ đ ược in đ ậm. Các từ về TTCK được lấy từ Dự thảo Pháp lệnh về chứng khoán và Thị trường chứng khoán của Vi ệt Nam. Người tiêu thụ cũng là người đầu tư Là nam hay nữ chúng ta đều cần cơm ăn, áo m ặc, và nhi ều th ứ khác g ọi là hàng hóa. Hàng hóa ph ải đ ược ch ế tạo ra. Người làm ra chúng được gọi là nhà sản xuất hay doanh nhân hay doanh nghi ệp. Doanh nhân cung ứng sản phẩm và chúng ta là người tiêu thụ. Để mua hàng, ta phải đi làm để có tiền, gọi là lợi t ức hay thu nh ập. Mua s ắm đ ủ cho hôm nay, ta còn ph ải dành ít thu nhập để phòng cho ngày mai, nhỡ đau yếu, đó là ti ết ki ệm. Ti ền ti ết ki ệm chúng ta có th ể cho ng ười khác s ử dụng bằng cách cho vay, hoặc hùn vốn. Nếu ta đưa ti ền cho doanh nhân dùng t ức là chúng ta đ ầu t ư, vì v ới s ố tiền của ta doanh nhân sẽ làm cho số tài sản hiện có đ ược tăng thêm. Doanh nhân và ta c ần có nhau. Doanh nhân sản xuất, ta mua hàng của họ rồi đầu tư vào họ vì h ọ sẽ sản xuất nhi ều h ơn cho ta và con cháu ta. Vì v ậy, là người tiêu thụ nhưng cũng có khi chúng ta là ng ười đ ầu t ư. Nh ững ng ười nh ư ta r ất đông t ạo nên m ột thành ph ần trong nền kinh tế gọi là công chúng. Doanh nhân lúc nào cũng cần tiền Doanh nhân luôn luôn cần tiền của người đầu t ư. Bởi vì, doanh nhân ph ải b ỏ ti ền c ủa chính mình ra, g ọi là v ốn, trong hai giai đoạn. Lúc đầu, mua sắm nhà cửa, máy móc, xe c ộ đ ể có công c ụ s ản xu ất. Nh ững th ứ này dùng vài năm mới hỏng, nên tiền bỏ ra mua chúng được gọi là vốn c ố định. V ề sau, doanh nhân ti ếp t ục b ỏ ti ền mua nguyên liệu, thuê thầy thợ, trả điện nước để làm ra s ản phẩm ; ti ền này g ọi là v ốn l ưu đ ộng. T ừ lúc b ỏ ti ền mua, rồi làm ra sản phẩm, đem bán đi đến khi thu ti ền v ề bao gi ờ cũng ph ải m ất m ột th ời gian. Thí d ụ, làm cái bánh chưng thì mất hai ba ngày ; nhưng sản xuất một cái máy cày ph ải m ất vài tháng m ới bán đ ược. Th ời gian đó g ọi là vòng quay vốn. Doanh nhân có thể có đủ vốn lưu động cho vòng quay đ ầu ; nh ưng cho vòng th ứ hai, th ứ ba h ọ phải đi vay vốn lưu động để duy trì sản xuất. Vòng quay càng dài thì càng ph ải vay nhi ều. V ậy, lý do th ứ nh ất khiến doanh nhân luôn phải vay nợ là vì có vòng quay vốn mà h ọ l ại không th ể ng ưng s ản xu ất đ ược. V ốn đi theo vòng tròn, hết vòng mới sang vòng khác ; trong khi sản xuất đi theo đ ường thẳng. Tiền thu về, gọi là doanh thu, sẽ giúp doanh nhân trang tr ải bốn th ứ : 1 l ấy l ại v ốn l ưu đ ộng ; 2 tr ả thu ế ; 3 dành một khoản cấn trừ theo tỷ lệ của vốn cố định để sau này còn mua s ắm chúng l ại đ ược, g ọi là kh ấu hao tài s ản c ố định ; 4 thưởng cho mình vì công sức đã bỏ ra. Khoản tiền 3 và 4 g ọi là l ợi t ức thu ần, hay sau thu ế hay l ợi t ức doanh nghiệp. Doanh nhân trả nợ xong thì có thể vay vốn lưu đ ộng ti ếp ; g ọi là v ốn vay hay tín d ụng ng ắn h ạn, nghĩa là phải trả trong vòng một năm là tối đa. Bây giờ vì hàng bán chạy, doanh nhân thấy cần tăng m ức s ản xuất, mu ốn có thêm hàng ph ải có thêm máy móc mới, gọi là đầu tư mở rộng. Lợi tức thuần không đủ để đầu t ư m ở rộng. Doanh nhân b ắt buộc ph ải đi vay. Đây là lý do thứ hai tại sao họ phải đi vay. Tiền vay cho đầu t ư mở rộng ch ỉ có th ể tr ả t ừ t ừ b ằng l ợi t ức thu ần, vì n ếu có bao nhiêu lợi tức thuần mà đem trả nợ hết thì không còn ti ền cho v ốn l ưu đ ộng hay đ ể thay th ế máy móc cũ. Vì thế, vốn vay cho đầu tư mở rộng phải là vốn trung h ạn, trả trong vòng t ừ 3-5 năm, hay v ốn dài h ạn, t ừ năm năm trở lên. Doanh nhân càng cần vốn nhiều thì phải đi vay hay g ọi v ốn nhi ều. Tùy s ố v ốn ấn đ ịnh, h ọ có th ể là m ột công ty cổ phần, là hình thức gom vốn cao nhất hiện nay. Trong loạt bài này, tùy m ạch câu văn các t ừ doanh nhân, doanh nghiệp hay công ty được dùng lẫn lộn, nhưng chỉ chung về công ty. 10
  11. Cơ sở trao đổi giữa doanh nghiệp và công chúng : đền bù rủi ro kinh doanh Doanh nhân cần vốn ngắn, vốn dài, nhưng hàng làm ra có thể không bán đ ược, b ị h ỏng, b ị m ất... Hàng m ất thì không có doanh thu. Cho nên công việc làm ăn của doanh nhân luôn luôn có r ủi ro, g ọi là r ủi ro kinh doanh. R ủi ro này nằm ở hai chỗ là thời gian để thu tiền về và khả năng ti ền bị mất. Công chúng đầu tư vào doanh nhân thì cũng ph ải ch ịu rủi ro kinh doanh. Mu ốn lôi kéo h ọ, doanh nhân ph ải h ứa hẹn. Lời hứa là nếu ai giao tiền để cho vay hay hùn vốn, thì s ẽ đ ược đ ền bù cho r ủi ro kia và cho vi ệc ph ải nh ịn ăn nhịn tiêu bây giờ. Mức đền bù sẽ bằng một khoản chênh lệch gi ữa s ố ti ền giao bây gi ờ và tr ả sau này tính theo phần trăm trên số tiền được giao lúc đầu, gọi là lãi suất. Lãi su ất là cái giá mà doanh nhân ph ải tr ả đ ể mua ti ền của người đầu tư. Các nhà kinh tế coi sự giao dịch giữa hai ng ười là một s ự trao đ ổi trade. Từ cơ sở ấy, một nguyên tắc được đặt ra cho s ự trao đổi d ựa trên lẽ công b ằng là n ếu r ủi ro m ất ti ền cao thì lãi suất sẽ cao ; thời gian trả số tiền gốc dài thì lãi suất cũng cao ; vi ệc nh ịn ăn nh ịn tiêu đ ược tính chung vào lãi su ất ấy nhưng bị tùy thuộc vào việc doanh nhân có dễ tìm đ ược m ột ng ười đầu t ư khác hay không. Lãi su ất tiêu bi ểu cho rủi ro kinh doanh và là cái giá để mua bán tiền. Sự hóa giải cái trái ngược về lợi ích giữa doanh nhân và nhà đ ầu t ư Do nguyên tắc về lãi suất, sự trao đổi giữa doanh nhân và nhà đ ầu t ư luôn luôn là m ột s ự gi ằng co gi ữa hai l ợi ích khác nhau. Người đầu tư muốn lãi suất cao, thu tiền s ớm. Doanh nhân l ại mu ốn lãi su ất th ấp, mà lâu m ới tr ả tiền ; nhất là những người thực hiện những dự án lớn. Đó là đòi hỏi c ực đoan c ủa m ỗi bên. Gi ải quy ết mâu thu ẫn này là công trình của loài người kéo dài qua nhiều th ế k ỷ và b ằng hai cách chính. Cách đầu là để hai bên trao đổi với nhau qua trung gian là th ị tr ường ti ền t ệ ; ch ủ y ếu do các ngân hàng th ương mại và tổ chức tín dụng thực hiện. Cách sau là qua thị trường tài chính, t ức th ị tr ường ch ứng khoán TTCK. Kho ảng cách xuất hiện của hai phương thức này khá dài. Thí d ụ ở Mỹ, ngân hàng đ ầu tiên xu ất hi ện năm 1781 Bank of North America còn thị trường chứng khoán New York ra đời năm 1863. S ở dĩ nh ư v ậy là vì các y ếu t ố đ ể hình thành phải đi đồng bộ với nhau và đi từ thấp lên cao. Ch ẳng h ạn, muốn có TTCK, doanh nhân ph ải làm ăn l ời lãi, muốn đầu tư mở rộng hay đầu tư vào những dự án lớn làm đ ường sá ; lúc ấy họ m ới c ần thêm v ốn nhi ều. V ề phía người đầu tư, họ cũng phải có thu nhập cao, có nhi ều ti ền để dành. R ồi tình hình kinh t ế chung ph ải phát triển, luật pháp phải mở mang. Khi đã có các yếu tố chuẩn bị này thì h ệ th ống tài chính làm trung gian ph ải có ph ương tiện và kỹ thuật tương ứng giúp công chúng và doanh nhân trao đổi với nhau đ ược. TTCK là một bước phát triển cao hơn của thị trường ti ền t ệ. Nó v ận d ụng các công ngh ệ riêng c ủa nó, ăn kh ớp với các kỹ thuật của thị trường tiền t ệ và của các doanh nghi ệp để thu hút ti ền ti ết ki ệm c ủa công chúng r ồi đ ưa cho doanh nghiệp. Và khi làm như thế, nó đồng thời hóa gi ải đ ược đòi h ỏi c ực đoan c ủa hai bên, nhi ều h ơn t ất c ả các phương thức có trước đó. Toàn cảnh về thị trường chứng khoán Cho đến nay, chúng ta chưa đề cập đến chính quyền, và vai trò c ủa chính quy ền trong s ự khuy ến khích và b ảo vệ các hoạt động tiết kiệm và đầu tư. Vai trò của chính quy ền r ất quan tr ọng. Chính quyền điều hòa khối lượng tiền tệ trong thị trường tiền tệ, tăng giảm lãi suất đ ể s ố ti ền kia không bao gi ờ quá th ừa hay thi ếu so v ới s ố hàng doanh nhân làm ra. Trong TTCK, chính quyền thiết lập và duy trì hoạt đ ộng c ủa nó, b ảo đ ảm cho ho ạt đ ộng c ủa nó diễn ra trong sự trong sáng, thanh liêm và đạo đức. Vẽ lên một bức ảnh toàn cảnh cho TTCK, ta có bốn vòng tròn đồng tâm. Tâm điểm là chính quyền. Vòng 1 nhỏ nhất, ở trong cùng, là doanh nghiệp. Vòng 2 là thị trường tiền tệ. Vòng 3 là TTCK. Và vòng 4 là công chúng. Hai vòng làm trụ cột cho nền kinh tế của một nước là 1 và 4. Thoạt đầu, những người ở hai vòng kia trao đổi với nhau qua vòng 2. Phát triển hơn lên, họ trao đổi thêm với nhau qua vòng 3. Kỳ sau: Bài II - Đem tiền để dành đi dầu tư Bài II: Công chúng có tiền để dành đem đi đầu tư Góp vốn và cho vay 11
  12. Trong xã hội con người sống với nhau, con người giúp đỡ nhau về tinh th ần và trao đ ổi v ới nhau thành qu ả công việc của mình. Sự trao đổi tạo nên sự chuyên môn hóa, còn gọi là phân công lao đ ộng. Nh ờ chuyên môn hóa con người làm ra nhiều của cải hơn là cái mà mình dùng. Vậy có d ư thừa. Đã sống thì ai cũng lo cho ngày mai, nào mình, nào con cái, do đó, ph ải đ ể dành. Ấy là ti ết ki ệm. Có ti ền ti ết kiệm thì ai cũng muốn nó sinh sôi. Và ch ỉ có hai cách : l ấy s ố ti ền đó đ ứng ra làm ăn, buôn bán ; ho ặc đ ưa cho người khác. Người tính chuyện làm ăn lâu dài sẽ lập một cơ sở s ản xuất. Đó là đ ầu t ư. Ng ười đ ầu t ư, trong đa s ố trường hợp, bao giờ cũng được hưởng lợi tức từ số tiền đã b ỏ ra. Đó là s ự đ ền bù vì đã nh ịn ăn nh ịn tiêu, b ỏ công sức, và chịu rủi ro kinh doanh. Mất mát càng cao thì s ự đ ền bù càng nhi ều. Nh ững ng ười này là doanh nhân. L ợi tức doanh nhân hưởng thường là từ 20% trở lên cho ngành s ản xuất, cao h ơn n ữa cho ngành mua bán ; riêng ngành tài chính thường phải hơn 30%. Mức l ợi tức đó đ ược tính theo hàng năm d ựa trên s ự so sánh chi phí b ỏ ra và doanh thu lấy về. Doanh nhân là người có óc phiêu l ưu, l ại đ ược tr ời cho c ặp m ắt nhìn ra các c ơ h ội có th ể kiếm tiền. Và vì thế họ là người tài ba. Những ai không tài ba mà cũng muốn ti ền đ ể dành sinh lãi thì - nghe l ời h ứa của doanh nhân - đưa tiền cho doanh nhân, gọi là hùn v ốn để cuối năm đ ược chia l ời, s ố ti ền đ ưa vào s ẽ l ấy v ề mươi mười năm sau khi doanh nghiệp giải thể. Đó là sự hùn v ốn, hay đ ầu t ư b ằng cách góp v ốn. Khi hùn v ốn thì có năm không được chia gì nếu doanh nghiệp làm ăn không có l ời hay h ọ quy ết đ ịnh không chia l ời. Ti ền chia l ời do góp vốn gọi là cổ tức. Có nhiều người ngại cách hùn vốn. Họ muốn tiền đưa ra tháng nào cũng ph ải có lãi về, và bao lâu nh ất đ ịnh l ấy lại số gốc. Do đó họ cho doanh nghiệp vay. Tiền cho vay ph ải có tài s ản b ảo đ ảm s ẽ tr ả n ợ. T ừ đó có cách vay có tài sản thế chấp hay không. Đó là đầu t ư bằng cách cho vay. Cho vay thì không s ợ m ất ti ền nên lãi đ ược h ưởng s ẽ không cao như khi góp vốn. Góp vốn hay cho doanh nghiệp vay gọi là tài trợ. Tài tr ợ là m ột s ự trao đ ổi. Người đầu tư và doanh nhân là hai trụ cột cho s ự phát tri ển kinh t ế c ủa m ột n ước. Công chúng đ ưa ti ền cho doanh nhân để người này làm cho sản xuất gia tăng. Nh ờ s ự gia tăng ấy ai cũng có công ăn vi ệc làm, và l ợi t ức của nhiều người lên cao ; có lợi t ức cao người ta đ ể dành nhi ều h ơn khi ến cho đ ầu t ư s ẽ cao h ơn. Đ ộng l ực cho cái vòng này là sự mong muốn được giàu có hơn và vì lo cho ngày mai. Tuy nhiên, đ ể cho vòng quay gi ữa hai bên được dễ dàng, ít tốn kém và nhanh chóng thì phải có một ng ười làm trung gian. Ng ười trung gian đó là ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng còn gọi là hệ thống tài chính. Sự cần thiết của một người trung gian Khi công chúng là một số đông trao đổi với doanh nhân cũng là m ột s ố đông, thì c ả hai bên c ần đ ến m ột ng ười trung gian. Đây là một diễn tiến t ự nhiên. Trước hết, khi hai bên trao đ ổi thì s ố ti ền đi v ề s ẽ r ất l ớn, không ai m ột mình cất giữ được, đạo chích lại thăm ngay ; vậy ph ải có m ột nơi an toàn c ất gi ữ. M ột n ơi nào đó c ất gi ữ nhi ều tiền của nhiều người thì - vì sự tiện lợi của cả ba - h ọ s ẽ đ ứng thay m ặt ng ười này đ ưa ti ền cho ng ười kia. Đó là hệ quả của việc cất giữ. Có người khác đứng ra đưa tiền đi, l ấy ti ền v ề cho mình ; b ớt m ột vi ệc l ỉnh k ỉnh, nên ai cũng thích. Vậy phải trả cho nơi cất giữ và thanh toán kia một khoản ti ền nh ỏ cho phí d ịch v ụ hay ti ền hoa h ồng. Và nơi kia được cả hai bên nhìn nhận là trung gian. Đó là các ngân hàng th ương m ại. T ừ hình th ức này sang hình thức khác, lúc đầu chủ yếu đáp ứng đòi hỏi của khách hàng, ngân hàng đã xu ất hi ện trong nh ững hình th ức và khuôn khổ hoạt động khác nhau tạo nên hệ thống tài chính. Hệ thống tài chính sẽ phục vụ công chúng và doanh nhân trong nhi ều lĩnh v ực ngoài vi ệc c ất ti ền và thanh toán. Thí dụ, về phía công chúng, khi cho vay hay góp v ốn vào doanh nghi ệp h ọ c ần bi ết các thông tin. N ếu góp v ốn h ọ phải xem doanh nghiệp làm ăn ra sao. Cho vay cũng ph ải bi ết h ọ tr ả n ợ đ ược không; có kh ả năng chuy ển đ ổi tài sản thành tiền mặt nhanh chóng và ít hao hụt không ; gọi là thanh kho ản liquidity. Sau đó, ph ải ký v ới doanh nghiệp hợp đồng về góp vốn, và cho vay. Công chúng không có đ ủ chuyên môn đ ể làm nh ững vi ệc trên và ph ải nhờ người trung gian. Hệ thống tài chính với chuyên môn và ph ương ti ện c ủa mình s ẽ làm thay cho công chúng. Về phía doanh nghiệp, tiền của công chúng s ẽ giúp h ọ t ạo ra s ản ph ẩm. Nh ưng khi có hàng trong tay, h ọ s ẽ lo hàng mất, rồi giá cả có thể lên xuống. Giúp doanh nhân thoát kh ỏi các lo ng ại này, đ ấy cũng là công vi ệc c ủa h ệ thống tài chính. Hệ thống này hoạt động theo các nguyên t ắc ta s ẽ đ ề c ập trong m ột bài t ới. Trong bài này chúng ta chỉ ghi nhận một điểm quan trọng là ti ền b ạc hay là v ốn đ ể đ ầu t ư vào n ền kinh t ế c ủa một nước phải do những người tiêu thụ có một m ức l ợi t ức cao đóng góp b ằng cách đ ưa vào h ệ th ống tài chính. Động lực thúc đẩy họ là hai thứ. Một, khi giàu t ự nhiên s ẽ lo ngày mai, s ợ nhi ều th ứ. Hai, khi đ ể dành thì mu ốn đồng tiền sinh sôi nẩy nở. Phải có họ ở vào trạng thái và tâm tr ạng nh ư th ế thì công ty m ới có ch ỗ đ ể g ọi v ốn. Nhưng để làm được, thì công ty cũng phải do ng ười tài ba nắm gi ữ đ ể tr ả xong n ợ. Công ty là m ột đ ịnh ch ế đã phát triển theo một quá trình dài để làm sao gọi được nhiều vốn nh ất. Và đó là đ ề tài c ủa bài sau. Bài III: Công ty cổ phần - quá trình tích tụ 12
  13. vốn Công ty cổ phần là một tổ chức có thể gom vốn của nhi ều ng ười đ ầu t ư nh ất. Quá trình hình thành c ủa nó, khi đã được luật pháp công nhận và bảo vệ, là một quá trình của loài ng ười tìm cách t ập trung t ư b ản. Từ vốn góp của một người lên đến vốn góp của vài người Ông A ở một làng nọ, có gia đình. Họ hàng ông có nhi ều ng ười làm ngh ề m ộc. Khi g ặt hái trên m ảnh đ ất cha mẹ để lại, ông ao ước sao không phải gánh gồng. Một hôm lên huyện, ông th ấy cái xe cút kít t ải đ ất. V ề nhà ông chợt nảy ra sáng kiến làm xe kéo bằng gỗ. Kéo nhẹ h ơn đ ẩy, ông nghĩ. Tính toán ti ền đ ể dành ông quy ết đ ịnh làm xe kéo. Dọn cái sân, mua gỗ về, sắm dụng cụ... ông s ản xuất xe, và đ ặt tên cho c ơ s ở c ủa mình là Sao Mai. Xe làm ra bán rất chạy. Khi bỏ vốn và sản xuất như ông thì cơ s ở Sao Mai có hình th ức g ọi là làm ch ủ m ột mình sole propriety. Ở Việt Nam gọi là doanh nghiệp tư nhân. Xe ông làm tốt, nhưng cũng có một chiếc đang đi ngon lành thì v ỡ bánh gãy càng. Ng ười kéo xe b ị gãy chân, hàng trên xe rơi xuống bùn. Chủ xe bắt ông A đền. Xe do cơ sở ch ế ra nh ưng ông làm ch ủ nó cho nên ông v ới Sao Mai là một. Ông phải đền, và giả như vì sao đó m ức đ ền l ớn quá, ti ền c ủa Sao Mai không đ ủ tr ả, ông ph ải nói v ợ bán chiếc nhẫn, bảo con bán cái xe. Tiền phải đền kia vượt quá s ố tài s ản c ủa Sao Mai và ăn luôn vào ti ền c ủa gia đình ông, nên trách nhiệm của ông được gọi là trách nhi ệm vô h ạn. Trách nhi ệm đ ược đ ặt ra vì tr ật t ự c ủa xã hội, ai có lỗi thì phải đền. Giả như chuyện đó không xảy ra, và năm sau ông A quy ết đ ịnh tăng s ố xe s ản xu ất. Mu ốn v ậy ph ải có thêm mặt bằng và dụng cụ, nghĩa là phải có thêm vốn. Đấy là đ ầu t ư m ở r ộng. Ông bèn sang r ủ ông B là anh em c ột chèo và C là người em rể góp vốn. Hai người kia đ ồng ý ngay. H ọ góp v ốn vào, r ồi k ẻ công này, ng ười vi ệc kia, Sao Mai làm thêm được nhiều xe. Nếu xe làm ra mà có gây tai n ạn cho ng ười dùng, thì n ạn nhân có th ể b ắt ba ông phải chung nhau đền, nếu không tìm ra ba mà ch ỉ thấy có m ột ng ười thôi thì ng ười này ph ải gánh h ết. Trách nhiệm của cả ba người vẫn là vô giới hạn. Vì có thêm ng ười góp v ốn nh ưng tính trách nhi ệm v ẫn vô h ạn nên Sao Mai biến thành một cơ sở hợp danh partnership. Coi như chuyện đền bồi không xảy ra, và ông em rể bỗng m ột hôm nêu sáng ki ến thay bánh g ỗ b ằng bánh cao su cho nó vừa nhẹ vừa bền. Sáng kiến hay nhưng phải gọi thêm v ốn đ ể mua cao su và khuôn. Ông A bèn đ ến người chú ruột mời góp vốn. Ông cụ suy tính lợi hại, nghĩ đ ến cái trách nhi ệm vô gi ới h ạn, c ụ l ạnh ng ười, s ợ r ằng có khi đang ở nhà mà cũng bị bắt vạ ; cụ bèn l ắc đ ầu. Ba anh em ông A th ấy lý c ủa c ụ đúng. H ọ bàn v ới nhau và bằng lòng để ông A giao hẹn với cụ rằng, nếu cụ góp vốn nh ưng không tham d ự vào vi ệc đi ều khi ển c ơ s ở thì n ếu có chuyện gì xảy ra, cùng lắm cụ chỉ mất số tiền đã góp mà thôi, h ọ s ẽ không đ ể cho ai t ới nhà b ắt v ạ c ụ. Đó là tính trách nhiệm hữu hạn dành cho người góp vốn. Ông cụ b ằng lòng, ch ẳng nh ững th ế l ại r ủ hai cô con gái l ẫn anh bồ của cô lớn cùng bỏ vốn vào. Bây giờ, Sao Mai có vốn nhi ều hơn x ưa vì có b ảy ng ười góp v ốn. Ba ng ười trực tiếp điều khiển, bốn người nữa chỉ góp vốn. Ba ng ười trước s ẽ ch ịu trách nhi ệm vô gi ới h ạn, còn b ốn ng ười chịu trách nhiệm giới hạn. Sao Mai bây giờ trở thành m ột cơ s ở gọi là h ợp t ư limited partnership. Đến đây ta thấy Sao Mai đã phát triển qua ba b ước. B ước sau giúp nó có v ốn nhi ều h ơn tr ước vì r ủ đ ược nhi ều người hơn. Vậy khi làm ăn thì nó sẽ to lên t ừ t ừ, nh ưng nó ph ải : 1 có ng ười có tài làm ăn hay ; 2 có nhi ều ng ười góp vốn ; 3 vốn sẽ có nhiều nếu người góp chịu trách nhiệm gi ới h ạn. Cái th ứ ba s ẽ thúc đ ẩy cái th ứ hai t ạo đi ều kiện cho cái thứ nhất. Quá trình góp vốn là một s ự suy tính l ợi h ại cho mình và là m ột s ự m ặt g ửi vàng. Bài IV: Cách gọi vốn của công ty cổ phần Sự khác biệt về cách gọi vốn của công ty trong luật của các nước Trong luật của Việt Nam và của Pháp, việc gọi vốn của công ty đ ược quy đ ịnh ngay t ừ khi nó đ ược thành l ập. Luật đề ra loại trách nhiệm hữu hạn nếu gọi vốn riêng tư, và c ổ ph ần nếu g ọi v ốn công chúng. Ranh gi ới g ọi v ốn đã được định. Muốn đổi cách gọi vốn phải đổi hình thức công ty. Luật c ủa M ỹ làm khác. Nó không đ ịnh lo ại hình công ty lúc đầu mà để cho công ty trong quá trình hoạt động s ẽ ch ọn cách g ọi v ốn. Và t ừ cách g ọi v ốn đó công ty có một loại hình. Nếu chọn cách gọi vốn riêng t ư thì công ty không ph ải đăng ký v ới ủy ban giao d ịch ch ứng khoán - UBGDCK Securities Exchange Commission và công ty sẽ là loại closely held corporation . N ếu g ọi v ốn c ủa công chúng thì phải đăng ký, và lúc đó nó là một public corporation đại chúng. Như đã nêu từ bài đầu, cách gọi vốn trình bày ở đây là cách làm của công ty Mỹ. 13
  14. Chúng ta đã biết tên gọi của các loại vốn theo mục đích s ử d ụng c ố đ ịnh, l ưu đ ộng và theo th ời gian s ử d ụng ngắn, trung, dài hạn. Công ty có thể vay vốn ngắn và trung h ạn ở th ị tr ường ti ền t ệ. Ở đây ta s ẽ xem cách công ty gọi vốn dài hạn mà vì thế tạo nên TTCK. Gọi vốn dài hạn bằng cách phát hành cổ phiếu Khi thành lập, ngay ở bản chứng thư lập hội articles of association nh ững ng ười sáng l ập công ty ấn đ ịnh s ố v ốn của công ty là bao nhiêu, chia ra bao nhiêu ph ần bằng nhau, g ọi là c ổ ph ần. Khi c ổ ph ần bán đi thì ng ười mua nhận được biên nhận đã trả tiền gọi là cổ phiếu và họ trở thành cổ đông. Tính toán gọi vốn cách nào là việc giải bài toán vốn gọi được nhiều nhưng chỉ chia quyền quản trị ít . Cổ đông có ba quyền là quản trị công ty, chia lời và sau này đ ược chia tài s ản còn l ại. B ỏ ti ền ra, ch ấp nh ận l ời ăn l ỗ ch ịu, cổ đông thường muốn được quản trị công ty. Trái lại người lập ra công ty l ại không mu ốn quy ền qu ản tr ị c ủa mình bị chia xẻ cho nhiều người. Cổ phần là cách thức giải quyết vấn đề kia. Công ty bán c ổ ph ần để g ọi v ốn, gi ống nh ư bán m ột viên k ẹo d ừa. Ở mức phát triển thấp, công ty chỉ có kẹo dừa làm theo hai hình, vuông có đ ề tên ng ười làm ch ủ và tròn không đ ề tên ai. Loại vuông không được chuyển cho ai có tên khác, g ọi là c ổ phi ếu ký danh ; lo ại tròn chuy ển cho ai cũng được, cổ phiếu vô danh. Chuyển nhượng cổ phần dễ dàng cũng là m ột cách thu hút ng ười mua. Đến mức phát triển cao hơn, người lập công ty đánh vào tính ham l ợi c ủa c ổ đông. H ọ ghi trong ch ứng th ư l ập hội là sẽ bán cổ phiếu đặc ưu cho cổ đông nào không đòi quyền quản tr ị công ty. Đ ặc ưu là đ ược ưu tiên chia l ời. Ưu tiên thì có thể xếp loại nên họ chia ra các loại : th ế nào cũng l ấy c ổ t ức cumulative, m ức l ấy đi ều ch ỉnh theo lãi suất adjustable rate preferred, có thể chuyển thành cổ phi ếu thường auction rate preferred... M ục đích c ủa v ụ bày đặt này là để dụ dỗ bá nhân bá tánh, kiểu như ngoài k ẹo d ừa ra còn có thêm k ẹo s ữa, k ẹo chanh. Đó là c ổ ph ần hay cổ phiếu đặc ưu. Công ty, như thế, sẽ có hai loại cổ ph ần chính đ ể bán là th ường và đ ặc ưu ; riêng lo ại đ ặc ưu lại có nhiều thứ. Chứng thư lập hội sẽ ghi công ty phát hành bao nhiêu c ổ ph ần th ường và đ ặc ưu đ ể g ọi đ ủ s ố vốn đã định. Số cổ phần thì phải ghi ngay, nhưng cổ ph ần đ ặc ưu có th ể ghi lúc đ ầu hay sau này khi tăng v ốn. Thường thường công ty định một số vốn cao, nhưng không bán hết c ổ phi ếu mà đ ể ch ờ sau này khi c ần ti ền s ẽ bán tiếp ; khi ấy có thể bán được giá cao h ơn giá cũ dù bán trong ch ốn riêng t ư. Do đó có s ự phân bi ệt gi ữa v ốn được quyền huy động authorized capital và vốn đã thu ti ền paid up capital. Để huy động vốn, công ty sẽ bán cổ phiếu cho cổ đông tùy theo s ố ti ền c ần có. Nếu đ ịnh bán cho công chúng, trước khi bán công ty phải đăng ký cổ phi ếu với UBGDCK ; g ọi là niêm y ết ch ứng khoán trên TTCK ; lúc đó c ổ phiếu có thêm một tên mới là chứng khoán. Nếu ch ỉ bán cho vài ng ười thì không ph ải đăng ký c ổ phi ếu. Tùy theo tình hình tài chính của công ty, nếu làm ăn kh ấm khá, công ty s ẽ mua l ại s ố c ổ phi ếu đ ặc ưu đem v ề c ất gi ữ, g ọi là treasury stock . Số còn nằm trong tay cổ đông sẽ gọi là outstanding share . Sau khi gọi vốn lần đầu, những lần sau, muốn tăng vốn, công ty bán n ốt s ố c ổ phi ếu hãy còn gi ữ l ại lúc đ ầu, hay phát hành một đợt cổ phiếu mới, gọi là phát hành mới. Loại nào, bao nhiêu thì do h ội đ ồng qu ản tr ị công ty quyết định. Cứ mỗi lần phát hành mà muốn bán cho công chúng thì l ại ph ải làm đ ủ th ủ t ục niêm y ết nh ư l ần đ ầu. Điều này khác với khi vay tiền ngân hàng. Ở đó làm th ủ t ục l ần đ ầu, l ần sau ch ỉ ký l ại. Do v ậy, phí t ỗn đ ể huy động vốn trên TTCK cao hơn là khi đi vay ngân hàng. Biện pháp khuyến khích cổ đông và nhân viên của công ty Nếu đã bán chứng khoán trên TTCK rồi, mỗi lần phát hành m ới, công ty đ ặt ra ba cách dụ khị cổ đông hiện có hay để thưởng cho nhân viên cao cấp của mình. Cách thứ nh ất là phát stock option cho nhân viên. Khi cầm nó, nhân viên được quyền mua hay bán một s ố chứng khoán của công ty theo m ột giá đã đ ịnh tr ước khi h ết h ạn vào một ngày nào đó. Stock option có thể là một call option cho họ quyền mua, hay một put option cho họ quyền bán. Với giá đã định, người nắm call option có lợi khi giá chứng khoán của công ty tăng trên TTCK vào lúc đ ến hạn mua, thì được mua với giá cũ. Nếu giá chứng khoán xuống thì ng ười có"put option" có lợi vì được bán cho công ty với giá đã định cao hơn giá hiện thời. Phần thưởng cho họ nằm ở sự chênh l ệch giá. Loại dụ khị thứ hai là ấn định rights quyền cho người nắm cổ phiếu thông thường. Có rights họ được quyền mua một số cổ phiếu thông thường mới phát hành với một giá đã ấn đ ịnh, nếu mua tr ước m ột ngày nào đó th ường là một năm. Đến ngày hết hạn mà giá chứng khoán của công ty lên thì h ọ có l ời vì đ ược mua v ới giá cũ. Lo ại th ứ ba la ø"stock warrant" dành cho những ai có cổ phần đặc ưu, hay có trái phi ếu. Ai có nó s ẽ đ ược mua ch ứng khoán của công ty với giá đã định trước một ngày h ết h ạn nào đó. Khi ấy n ếu giá lên thì h ọ có l ời. Nh ững cách dụ khị này giống như là giấy bạc bọc kẹo dừa hay kẹo chanh để khuyến khích người nhà góp thêm vốn. Ở đây 14
  15. chúng ta chỉ tập trung vào việc huy động vốn nên không đề c ập đ ến nh ững v ấn đ ề khác c ủa công ty. Đ ể n ắm vững, ta sẽ tóm tắt như sau. Ở Mỹ cổ phiếu phát ra thu về nh ư thế đ ược là vì công ty đ ược ch ủ đ ộng v ề v ốn, không ai quản lý vốn của họ. Luật pháp của Mỹ coi số vốn đã đăng ký là tài s ản đ ể tr ả n ợ khi công ty phá s ản. Vốn phải phục vụ kinh doanh, nên trong hạn mức vốn đã đăng ký v ới chính quy ền, công ty có quy ền tăng hay giảm một cách linh hoạt số vốn ấy ; có sao thì trả lời v ới ch ủ nợ sau này. Đ ể có v ốn dài h ạn lúc đ ầu, hay tăng v ốn sau này ; công ty bán các loại cổ phiếu thường và đ ặc ưu. N ếu nh ững th ứ này ch ỉ bán cho m ột nhóm nh ỏ, g ồm những người thân quen, thì họ không phải đăng ký ở UBGDCK. Nếu bán cho công chúng thì ph ải đăng ký. Trong những lần tăng vốn sau, công ty có thể ấn định các loại warrants, options và rights, và nh ững th ứ này cũng đ ược bán ra thị trường. Dù bán cho công chúng hay bán trong ch ỗ riêng t ư, thì công ty v ẫn ph ải làm ăn l ời lãi ; n ếu không thì chẳng có tiền chia lời hay trả lãi cho cổ đông. Bài V: Người trung gian giữa công chúng và công ty Các tổ chức tín dụng có khả năng cung cấp vốn dài hạn Công ty bảo hiểm hàng hóa nhận tiền hàng tháng, hay cho m ỗi th ương v ụ nh ưng có khi ch ẳng ph ải đ ền cho ai. Vậy họ phải nghĩ cách dùng tiền đó làm sao đ ể nó sinh l ợi. Qu ỹ h ưu b ổng nh ận ti ền hàng tháng c ủa m ột thanh niên năm nay 25 tuổi rồi mãi sau này khi anh ta 60 tuổi m ới ph ải tr ả d ần. V ậy ph ải làm cách nào đ ể cho đ ồng ti ền góp hàng tháng kia nảy nở. Cách hay nhất là cho công ty vay vì công ty là cái máy t ạo l ợi t ức ; h ơn n ữa ti ền không cần lấy về ngay nên có thể cho vay dài hạn như doanh nhân muốn. Đ ấy chính là m ầm m ống s ơ kh ởi nh ưng tiên quyết để tạo nên thị trường chứng khoán. Nhưng đầu tư vào các công ty không ph ải d ễ ; nh ỡ h ọ tiêu h ết ti ền c ủa mình thì làm sao. Bởi thế người ta lập ra quỹ t ương trợ mutual fund, mà lu ật c ủa ta g ọi là qu ỹ đ ầu t ư t ập th ể đ ể giúp nơi giữ quỹ hưu bổng đầu tư. Quỹ t ập thể kia do các công ty ch ứng khoán securities company, b ảo hi ểm hay những công ty chuyên môn khác gọi là công ty đầu t ư investment company đi ều hành. Nh ững công ty này có ti ền nhiều lại có thể cho vay lâu dài nên được gọi là các đ ại gia đ ầu t ư institutional investors. Chính đ ến giai đo ạn này nhu cầu về vốn dài hạn của công ty mới có thể được đáp ứng một cách t ự nguy ện. Công nghệ sử dụng trong hoạt động của hệ thống tài chính Khi làm trung gian, hệ thống tài chính đã làm cho các s ự trao đ ổi gi ữa công chúng và doanh nhân đ ược thu ận tiện và nhanh chóng ; đồng thời làm giảm các rủi ro nằm trong các ho ạt đ ộng đó. S ở dĩ đ ược nh ư th ế vì h ệ th ống đó sử dụng và phối hợp bốn công nghệ. Một, là sự ủy nhiệm delegation. Ngân hàng thay mặt ng ười này tr ả ti ền cho ng ười kia. S ự ủy nhi ệm làm cho chi phí về giao dịch giảm đi vì một người có thể làm thay cho nhi ều ng ười. H ơn n ữa, nó làm cho công vi ệc đ ảm nhận trở nên chuyên môn, vì thế mà hữu hiệu hơn. Ngoài ra, lấy vi ệc cho vay làm ví d ụ, khi có nhi ều ti ền trong tay ngân hàng thay mặt cho các chủ nợ thì ngân hàng sẽ có l ợi th ế đ ể th ương thuy ết v ới con n ợ. T ất nhiên s ự ủy nhiệm đòi người được giao phải có uy tín và chịu trách nhi ệm về vi ệc làm c ủa mình. Ngân hàng đ ứng ra cho vay mà không đòi được thì phải đền cho người ký thác vốn là chủ nợ. Hai, đem uy tín ra để làm thay credit substitution. Ngân hàng c ấp tín d ụng th ư đ ể b ảo đ ảm tr ả ti ền cho ng ười bán thay cho người mua hàng là một ví dụ. Lời hứa kia làm khách hàng tin t ưởng vì ngân hàng có uy tín. Ba, ngân hàng được tin tưởng không chỉ vì uy tín của mình mà còn vì kh ả năng thu gom tài s ản c ủa r ất nhi ều người vào tay mình pooling. Nhờ đó, họ có thể lấy cái nhàn rỗi c ủa s ố đông đ ể ph ục v ụ cái c ấp bách c ủa m ột s ố nhỏ. Cuối cùng, khi nắm trong tay mình các yêu cầu khác nhau c ủa m ột s ố đông ng ười có nh ững đòi h ỏi khác nhau, hệ thống tài chính có thể bù qua, sớt l ại, lấy cái này đ ập vào cái kia netting ; nh ờ đó gi ảm đ ược s ố l ượng công việc phải làm so với khi phải làm riêng l ẻ, và làm cho các yêu c ầu đ ều đ ược th ỏa mãn. Có th ể th ấy cái l ợi này khi ba bốn người nợ lẫn nhau mà cấn nợ cho nhau bù trừ. Công nghệ này sẽ được sử dụng trong thị trường chứng khoán. Nếu ngân hàng ch ưa th ực hi ện các công nghệ đó, thì - như đứa em sinh sau - thị trường ch ứng khoán cũng không làm đ ược, vì không có kinh nghi ệm và tập tục đi trước hướng dẫn. Liên hệ thực tế Việt Nam 15
  16. Từ năm 1990, chúng ta có hệ thống ngân hàng th ương m ại hoạt động theo các ch ức năng c ủa ngân hàng truyền thống như đã nêu. Chúng ta cũng có công ty tài chính, nhi ều công ty b ảo hi ểm và c ả công ty b ảo hi ểm xã hội. Những nơi này có thể là những đại gia đầu tư nếu luật thành l ập cho phép đ ầu t ư vào công ty thay vì g ửi ti ền vào kho bạc. Nhìn chung, các tác nghiệp ngân hàng ở chúng ta ch ưa phát tri ển l ắm, vi ệc thanh toán b ằng séc là m ột thí d ụ. Ngoài ra, hệ thống ngân hàng chưa thu hút được hết tiết kiệm của công chúng. Bài VI: Chuẩn bị đi lên thị trường chứng khoán Vai trò của luật pháp Chúng ta đã xem qua tính chất và hoạt động của ba vòng 1công ty, 4 công chúng và 2 h ệ th ống tài chính, hay người trung gian. Thoạt đầu, hoạt động của các vòng này do các đi ều ki ện v ề kinh t ế và tâm lý thúc đ ẩy. Nh ưng về sau để mở rộng và trở nên bền vững, chúng phải có luật pháp h ỗ trợ. Ở đây, chúng ta s ẽ nói r ất ng ắn v ề vai trò của luật pháp. Luật pháp phải giữ cho hoạt động ở các vòng 1, 2 và 4 đ ược b ền v ững và đáp ứng mong đ ợi c ủa nh ững người có liên quan. Chỉ như thế thì sau này TTCK m ới hoạt đ ộng đ ược vì nó cũng ph ải d ựa trên n ền t ảng pháp lý của những cái có trước. TTCK phức tạp hơn thị trường tiền t ệ vì ch ứng khoán t ượng tr ưng cho l ời h ứa, giá tr ị c ủa nó vô hình tùy người cầm tin vào nó nhiều hay ít. Nó không ph ải là ti ền m ặt hay hàng hóa mà là m ột t ờ gi ấy c ủa niềm tin được mua đi bán lại. Nếu ở thị trường tiền t ệ, s ự trao đổi gi ữa công chúng và các công ty ph ải là m ột quan hệ dựa trên luật về vay nợ và bảo đảm trả nợ ; hoặc vi ệc phát hành c ổ ph ần và nh ững quy ền l ợi khi s ở h ữu c ổ phần là do luật công ty quy định thì TTCK cũng đòi hỏi y nh ư vậy, ngoài nh ững luật c ủa chính nó và cho nó. Nói chung, TTCK và thị trường tiền tệ chỉ là trung gian. Muốn làm trung gian, chúng ph ải ổn đ ịnh và ph ục v ụ có hiệu quả. Để có được những tính chất này chúng ph ải nh ờ đến chính quyền. Ch ẳng h ạn, đ ể cho nhà đ ầu t ư đưa tiền cho ngân hàng rồi ngân hàng cho doanh nghiệp vay, thì vòng giao d ịch này ph ải làm l ợi cho c ả ba ng ười. Cái lợi đó chỉ có khi giá cả trao đổi có tính cạnh tranh, các giá sàn sàn v ới nhau, đ ể m ọi bên ph ải luôn luôn ph ấn đấu rồi cùng hưởng cái tốt nhất. Không ai có đặc quyền để có thể đ ưa m ột giá nào đó lên quá cao hay h ạ quá thấp ; vì như thế là làm mất tính cạnh tranh của giá cả, đ ưa đ ến đ ộc quy ền ; mà đ ộc quy ền là cho m ột ng ười nào đó có quyền được quyền lười biếng, khiến cho những ng ười khác ph ải ch ầu ch ực h ọ và làm cho s ự trao đ ổi b ị t ắc nghẽn. Ngoài ra, khi có nhiều người tham dự thì phí t ổn giao d ịch ph ải th ấp, n ếu không thì s ẽ r ất t ốn kém cho m ọi người. Muốn thế, các đơn vị nằm trong hệ thống tài chính ph ải đ ược khuy ến khích k ết h ợp hay h ội nh ập v ề công việc lại với nhau. Bằng luật pháp, thuế khóa, và s ự cưỡng chế thi hành, chính quy ền s ẽ t ạo nên nh ững đi ều ki ện để cho các yêu cầu kia được đáp ứng. Nền tài chính dao động sẽ nguy hiểm cho xã hội. Để nó khó x ảy ra chính ph ủ ph ải có lu ật l ệ ngăn ng ừa. Chẳng hạn để ngân hàng không mất khả năng thanh toán, luật không cho phép ngân hàng li ều lĩnh ch ấp nh ận r ủi ro không được cho một khách hàng vay quá10% vốn t ự có và quỹ d ự tr ữ hay chính quy ền l ập ra qu ỹ bình ổn giá, một tổ chức bảo đảm tiền ký thác... Cuối cùng, chính quyền cũng phải bảo vệ người tiêu thụ. Trong buôn bán, giá c ả cao hay th ấp tùy thu ộc vào chuyện hai bên biết về nhau nhiều hay ít. Nếu chỉ m ột bên có thông tin thì bên kia s ẽ b ị ép, và có th ể b ị l ừa. Chính phủ phải, thí dụ, ra những quy định buộc bên có ưu thế trưng ra m ọi thông tin. Đó là t ại sao có th ủ t ục đăng ký và niêm yết chứng khoán trước khi chúng được phép bán. Sự chọn lựa của người đầu tư và doanh nghiệp Công chúng vòng 4 và doanh nghiệp vòng 1, vì l ợi ích của chính mình, ph ải trao đ ổi v ới nhau. Đ ầu tiên, vi ệc trao đổi được thực hiện qua vòng 2 thị trường ti ền t ệ. Tuy v ậy, đối v ới doanh nhân, th ị tr ường này có nh ững gi ới hạn. Bởi thế khi lợi tức chung của công chúng lên cao, có nh ững t ổ ch ức n ằm trong vòng 2 tách ra thành vòng 3. Vòng 3 có khả năng nhận vốn tự nguyện t ừ vòng 4 rồi giao dài h ạn cho vòng 1. Khi đi ều này x ảy ra, thì vòng 4 và 1 trao đổi với nhau qua vòng 3 và t ạo nên TTCK. Dù có nh ư v ậy thì vòng 2 v ẫn còn quan tr ọng vì nó v ẫn là ch ỗ s ẽ nhận tiền ký thác của vòng 4, đem cho vòng 1 vay ng ắn h ạn ; và nó giúp cho vi ệc thanh toán ti ền b ạc gi ữa ba vòng kia được nhanh chóng. Chúng ta có thể hình dung những điều trên rõ hơn qua hình sau : 16
  17. Để hình dung sự trao đổi của công chúng với các doanh nghi ệp qua hai ng ười trung gian là vòng 2 và 3 theo một cách khác, ta có thể lấy mặt tròn của một đồng hồ làm ví d ụ. S ố 12 trên m ặt đ ồng h ồ là công chúng. S ố 6, là các doanh nghiệp. Số 3, là thị trường tiền t ệ. Số 9, là TTCK. Thị trường ti ền t ệ xuất hi ện khi s ố 12 trao đ ổi v ới s ố 6 qua số 3. TTCK có mặt khi số 12 trao đổi với s ố 6 qua s ố 9. V ốn cho đ ầu t ư đi t ừ s ố 12 đ ến s ố 6 mà đi qua chi ếc cầu có trọng tải 3 tấn thì sẽ không nhiều như khi chúng đ ược ch ở qua b ằng c ầu 9 t ấn. 3 v ới 9 khác nhau ở th ời gian sử dụng vốn và số lượng vốn cung cấp. Trên bình di ện vĩ mô, v ốn đ ầu t ư không n ằm ở s ố 3 hay 9, hai n ơi này chỉ là những chỗ có uy tín, nên được số 12 trao tiền đ ể sinh l ời lãi cho h ọ. Ng ười th ực s ự làm ra l ời lãi, cái máy tạo lợi tức, là công ty, là số 6, tức cái vòng 1. Vậy ta có hình vẽ sau : Khi chưa có TTCK, một người đầu tư mua cổ phần ở một công ty quen bi ết và thành c ổ đông thì h ọ là ng ười đầu tư trực tiếp nhưng bằng cổ phần. Nếu không làm như th ế, h ọ có thể b ỏ ti ền vào m ột ngân hàng đ ể n ơi này cho công ty vay ; họ thành chủ nợ của ngân hàng và là ng ười đ ầu t ư gián ti ếp vào công ty. Khi đó TTCK, n ếu mua chứng khoán, người đầu tư không hề quen biết công ty, tuy vậy h ọ cũng là ng ười đ ầu t ư tr ực ti ếp nh ưng b ằng chứng khoán. Hai người đầu tư trực tiếp khác nhau ở chỗ là ng ười đầu ng ồi ở vòng 1, h ọ mong c ổ t ức tr ả ngày càng cao. Người sau lại ở vòng 4, họ có thể vừa mong cổ t ức trả ngày càng cao, qua đó giá c ủa ch ứng khoán h ọ nắm trong tay cũng tăng ; như thế là có hai mối l ợi. Ngoài ra, n ếu sành s ỏi trong vi ệc mua bán, h ọ có th ể làm giàu bằng cách mua đi bán lại chứng khoán, mà không mong được trả cổ t ức cao. Bảng so sánh dưới đây cho thấy các sự lợi hại đối với công ty là ng ười vay ti ền, v ới ng ười mua ch ứng khoán tức là người đầu tư trực tiếp, và người đầu tư gián tiếp t ức là ng ười cho công ty vay ti ền qua ngân hàng c ả hai đ ều là chủ nợ của công ty khi ba người này trao đổi với nhau qua vòng 2 và vòng 3. Các s ự l ợi h ại này là nh ững th ứ công ty phải xem xét khi muốn huy động vốn từ vòng nào Bài VII: Cốt tủy của thị trường chứng khoán Cơ chế vận hành Thị trường chứng khoán TTCK làm trung gian giữa công chúng vòng 4 v ới công ty vòng 1. Hai vòng này lúc lắc trái chiều nhau ; vì công chúng có ít tiền, muốn kiếm lãi cao, lại còn muốn rút v ốn ra b ất c ứ lúc nào ; trong khi ấy công ty muốn vốn vào nhiều mà ở lại lâu. Ở bài đầu chúng ta đã nói đây là hai đòi h ỏi c ực đoan. Vai trò của TTCK là hóa giải hai cái cực đoan ấy ; nghĩa là nó làm cho hai vòng kia v ẫn g ắn v ới nhau dù lúc lắc trái chiều nhau. Xin quý vị tưởng tượng ra một cái b ạc đ ạn vòng bi. Nó có hai vòng l ớn nh ỏ ph ải không ? Nhưng các viên bi ở giữa được thay bằng một lớp keo dày, dẻo giống như kẹo cao su chewing gum đã nhai lâu. Lớp keo đó là TTCK. Chúng ta sẽ nói về chất keo kia, tức TTCK vận hành th ế nào, trong ph ần hai c ủa lo ạt bài này. Tuy nhiên c ần phải nhấn mạnh rằng, chất keo không thể làm hai vòng kia dính mãi n ếu b ản thân hai cái vòng không có m ột cái gì chung làm điểm nối kết. Điểm chung đó là ti ền lời hay lãi mà ng ười đ ầu t ư đòi h ỏi thì công ty ph ải đáp ứng cho được qua việc kinh doanh của mình. Tiền cũng giống nh ư nước, nó ch ảy vào ch ỗ trũng. Công ty ph ải là ch ỗ trũng thì nước mới chảy vào. Đó là điều kiện tiên quyết cho sự tồn t ại của một TTCK. Về mặt vĩ mô, TTCK không có vốn để cung cấp cho công ty. Nó ch ỉ h ỗ tr ợ công ty theo tinh th ần ĩanh hãy t ự giúp trước, rồi trời sẽ giúp sau. Sau khi người đ ầu tiên là công ty b ảo lãnh phát hành ch ứng khoán đã tr ả h ết ti ền mua chứng khoán mà công ty bán ra thì TTCK làm xong vi ệc giao v ốn dài h ạn cho công ty. Nó không làm gì khác cho công ty nữa. Công ty cũng không phải trả lãi, trả v ốn cho TTCK, nh ư ph ải làm v ới ngân hàng. Vi ệc đăng ký và niêm yết chứng khoán công ty làm với cơ quan chính quyền quản lý s ự giao d ịch ch ứng khoán và v ới S ở Giao d ịch chứng khoán là nơi quản lý cái chợ, chứ không phải với TTCK. Vì v ậy, công ty ph ải t ự làm ăn mà tr ả l ời, tr ả lãi cho những người đã hay sẽ mua chứng khoán của họ. Trong s ố công vi ệc c ủa mình, TTCK ph ục v ụ công ty kho ảng 10%, còn phục vụ những người mua chứng khoán đến 90%. Vi ệc ph ục v ụ sau gồm hai công tác chính : 1 làm sao cho họ có thể kiếm lời từ việc mua bán chứng khoán trên thị tr ường ; và 2 cho h ọ rút ti ền ra lúc nào cũng đ ược. Cách duy nhất mà TTCK làm để thực hiện tốt hai công tác kia, là làm sao cho có th ật nhi ều ng ười tham gia vào nó, càng đông càng tốt. Đông người mua ắt sẽ bán dễ, vậy là có sự mua bán để kiếm l ời. Nhi ều ng ười m ới s ẵn sàng vào thì người cũ bán chứng khoán cho họ, như vậy là rút ra lúc nào cũng đ ược. TTCK cũng không b ảo đ ảm cho người đầu tư là cứ mua bán chứng khoán sẽ có lời, hay cho vay ở TTCK là có lãi cao. Nh ững th ứ này tùy thu ộc vào các công ty đã bán chứng khoán và hoạt động của họ, và tùy cách ng ười đầu t ư đã đ ặt mua bán nh ư th ế nào. Cách làm của TTCK là sử dụng một số công nghệ để : 1 giá mua bán s ẽ là m ột giá công b ằng fair, m ột bên không thể bắt chẹt bên kia vì nắm nhiều thông tin h ơn ; 2 có s ẵn thanh kho ản, t ức là lúc nào cũng có ti ền m ặt đ ể 17
  18. thanh toán hay là người bán hay mua chứng khoán dù nhi ều hay ít thì cũng không b ị dìm giá hay tăng giá vì không có sẵn tiền mặt ; 3 chi phí cho việc mua bán th ấp ; 4 vi ệc thanh toán ti ền nong gi ữa m ột s ố r ất đông ng ười di ễn ra nhanh chóng và thuận tiện và 5 mọi giao dịch diễn ra trong s ự thanh liêm và trong sáng. B ốn y ếu t ố đ ầu có tính thương mại hay vật chất, còn yếu tố cuối là tinh thần ; và tất cả đều nhằm ph ục vụ ng ười đầu t ư. Tư cách của người mua bán chứng khoán Khi phát hành chứng khoán, công ty sẽ ấn định một giá bán ban đ ầu đ ược ghi trên ch ứng khoán, g ọi là m ệnh giá. Mệnh giá sẽ lên hay xuống để thành giá th ực t ế lúc mua hay bán g ọi là th ực giá. Th ực giá thay đ ổi tùy theo người muốn mua hay bán chứng khoán thấy công ty trả cổ t ức hay ti ền lãi ra sao năm tr ước tr ả bao nhiêu, năm nay có thể sẽ trả bao nhiêu và tùy vào sự đánh giá của h ọ v ề tri ển v ọng kinh doanh c ủa công ty s ản ph ẩm s ẽ bán chạy không. Hai yếu tố này tỷ lệ thuận với nhau nhưng l ại tạo ra hai loại ng ười mua bán khác nhau. Ng ười nào mua hay bán chứng khoán mà dựa trên triển vọng kinh doanh t ương lai c ủa công ty thì ng ười đó mong ki ếm l ời t ừ chính việc mua bán ; và họ là người đầu cơ speculator hay ng ười kinh doanh ch ứng khoán. Ng ười đ ầu c ơ ở TTCK khác hẳn người đầu cơ ở thị trường hàng hóa, họ cần thi ết cho TTCK, chúng ta s ẽ xem v ề h ọ ở bài 18. Còn ng ười nào chỉ mua chứng khoán để mong hưởng cổ tức hay ti ền lãi đ ều đ ặn, thì ng ười đó là ng ười đ ầu t ư b ảo th ủ hay người nuôi chứng khoán. Dù là người đầu cơ hay người bảo thủ thì cả hai đều là ng ười đ ầu t ư. N ếu ng ười b ảo th ủ không bán ch ứng khoán đi thì họ ngồi ở vòng 1, còn người đầu cơ thì luôn luôn ở vòng 4. V ị trí c ủa h ọ có th ể thay đ ổi t ừ vòng n ọ sang vòng kia, tùy theo cách họ ra lệnh cho công ty môi gi ới mua bán ch ứng khoán c ủa m ột công ty nh ư th ế nào. Bài VIII: Lai lịch của TTCK New York Thị trường chứng khoán TTCK là cách nói văn vẻ cho m ột cái ch ợ. Nó là gì ta đã biết. Trong phần hai này, chúng ta xem nó vận hành thế nào. Phần hai: Khi nói đến TTCK New York, người ta thường hình dung trụ s ở c ủa New York Stock Exchange NYSE - S ở Giao dịch chứng khoán New York. Ở đó có ba khu mua bán ch ứng khoán, g ọi là các sàn giao d ịch mà cái sàn l ớn nhất du khách thường được dẫn đến xem là một khu gần nh ư vuông khoảng 40 m m ỗi chi ều và cao kho ảng 25 m, trong đó có 14 quầy hình móng ngựa trading posts bán các lo ại ch ứng khoán khác nhau tùy theo công ty và lo ại hàng. NYSE là một trong những nơi mua bán chứng khoán nhiều nh ất thế gi ới. Năm 1900, khi trụ sở hiện thời được xây xong, thì ở vỉ ruồi nằm trên sáu cột trụ kiểu Côrin Corinthian mặt trước trụ sở phần tam giác giống đầu hồi căn nhà, ng ười ta đ ắp m ột b ức phù điêu trong đó có các mô hình t ượng trưng cho nông nghiệp, hầm mỏ, khoa học, công nghi ệp và phát minh là nh ững ngu ồn g ốc t ạo nên s ự giàu có c ủa nước Mỹ. Điều đáng chú ý là tượng cao nhất đứng ở giữa b ức phù điêu là t ượng c ủa m ột ng ười đàn bà t ượng trưng cho sự liêm chính, bên cạnh bà là hai ng ười đàn ông nh ỏ h ơn, m ột ng ười nh ận và m ột ng ười ghi s ổ các s ản phẩm được người khác đưa cho bà ta. Sự liêm chính là luật pháp chi ph ối các quy đ ịnh c ủa TTCK New York làm cho những điều tốt đẹp sẽ đến với thị trường này. Đó là quan ni ệm c ủa nh ững ng ười ch ủ x ướng b ức phù điêu. TTCK và Sở Giao dịch New York có một lịch sử dài trải qua nh ững th ời kỳ chính nh ư sau. Thuở ban đầu 1790-1792 Từ năm 1790, chính quyền Liên bang Mỹ đã phát hành trái phi ếu chính ph ủ công trái - public stock lên đ ến 80 triệu USD để tài trợ cho các dự án của nhà nước. Công trái khi bán cho nh ững người mua đầu tiên đãtạo nên thị trường sơ cấp primary market ; lúc những người này bán l ại cho nhi ều ng ười khác thì s ự mua bán ấy t ạo nên th ị trường thứ cấp secondary market. Cùng lúc với chính ph ủ bán công trái, các công ty b ảo hi ểm và ngân hàng cũng bán cổ phiếu. Việc buôn bán diễn ra ở nhiều nơi nhưng ở New York là nh ộn nh ịp nh ất. Vì bên bán không ra m ặt nên việc bán cho công chúng do các người môi giới broker thực hi ện. T ừ ĩbrokerô đ ược dùng t ừ kho ảng năm 1622, lúc đầu nó chỉ những người bán rượu nho lẻ, người phải phá break cái đai thùng gỗ đ ể chi ết r ượu. Đi vào tổ chức 1792-1817 Khi công trái được mua bán trên đường phố thì có nhiều ng ười, nhi ều gi ới tham gia nh ưng m ỗi gi ới làm m ột cách khác nhau theo sáng kiến của họ nên rất l ộn xộn. Vì thế, ngày 17-5-1792, 24 ng ười môi gi ới mua bán nhi ều nhất ở New York cùng nhau ký một hợp đồng cam kết ngăn ch ặn s ự đ ộc quy ền mua bán công trái c ủa nh ững người bán đấu giá. Họ đồng ý không tranh nhau để đ ấu giá, l ấy hoa h ồng ít khi mua bán, và tôn tr ọng quy ền l ợi của nhau. 18
  19. Sau khi người Anh thua trong cuộc chiến duy trì thuộc đ ịa, New York tr ở thành trung tâm th ương m ại và c ảng quốc tế. Nhiều ngân hàng và công ty bảo hi ểm được l ập ở đó nên TTCK ngày càng nh ộn nh ịp. Nhi ều lo ại ch ứng khoán được hai, ba tổ chức khác nhau bán. Đến ngày 8-3-1817 các ng ười môi gi ới h ọp nhau l ại, đ ịnh ra kỳ h ạn gặp nhau và lập nên Sở Chứng khoán và Giao dịch New York New York Stock & Exchange Board - NYS&EB, đ ặt ở 40 phố Wall Street và hoạt động theo những t ập t ục nh ư ở Paris, London và Amsterdam. NYS&EB là m ột h ội t ư nhân, cung cấp các phương tiện và đặt ra nội quy cho việc mua bán ch ứng khoán. H ội đ ề ra nh ững quy đ ịnh chi tiết về việc mua bán, mức hoa hồng và sự cam kết giao hàng. H ội c ấm ký k ết các h ợp đ ồng ma đ ể không làm thương tổn sự liêm chính của mình và của thị trường. Muốn thành h ội viên, ứng viên ph ải đ ược h ội viên cũ gi ới thiệu và phải qua bỏ phiếu chấp nhận. Để giữ gìn uy tín, hoạt động c ủa h ội viên, t ừ l ời nói đ ến trang ph ục đ ều được quy định chặt chẽ và có hình phạt. Phát triển hoạt động 1817-1884 Sau cuộc nội chiến, cuộc chiến tranh với Mexico, việc tìm thấy vàng ở California và phát minh ra đi ện tín trong những năm từ 1842-1853 ; hoạt động thương mại ở New York ngày càng phát tri ển. TTCK cũng m ở r ộng theo. NYS&EB chính thức hóa việc niêm yết listing ch ứng khoán nh ư là m ột th ủ t ục đ ể các công ty ch ứng t ỏ c ổ phi ếu của họ có đủ điều kiện mua bán. Trước khi có những thủ tục này, nh ững công ty nào có s ổ chuy ển nh ượng ch ứng khoán để ở New York thì chứng khoán của họ có thể được hội viên của NYS&EB đ ặt mua hay bán tùy theo ý thích của những người này. Thư ký giữ sổ sẽ ghi việc chuyển nh ượng của ng ười cũ và vi ết c ổ phi ếu cho ng ười mới. Năm 1853, NYS&EB buộc các công ty muốn cho c ổ phi ếu đ ược niêm y ết ph ải công b ố s ố v ốn, s ố c ổ phi ếu và ngân quỹ đã được xác nhận. Nước Mỹ tiếp tục phát triển, đường xe lửa được nối t ừ đông sang tây, TTCK New York là n ơi làm trung gian cung cấp tài chính cho những công trình ấy, và bản thân nó cũng m ở r ộng theo. S ố h ội viên t ừ 533 tăng lên 1.060 vào năm 1868. Ít lâu sau, NYS&EB nhập chung với một t ổ ch ức khác chuyên bán công trái, nó đ ổi tên thành New York Stock Exchange NYSE, là cái tên tồn t ại cho đ ến ngày nay. Vi ệc đi ều hành NYSE do m ột ủy ban ph ụ trách. Nhiều tập tục, tiếng lóng sử dụng giữa các hội viên ở sàn bán ch ứng khoán đ ược l ập và trở thành truy ền th ống. Thí dụ, đơn vị lẻ của một đô-la được chia làm tám khấc hay phân, thay vì 10 đ ơn v ị, m ỗi kh ấc là 0,125 thay vì 0,100 ; cách phân chia này là do tập tục trong việc chia c ắt b ạc mà ra. Trong ti ếng Anh ng ười ta vi ết là 1/8 ; thí d ụ 301/8, tức là 30,125 ở đây, để cho gọn, chúng ta dùng hai s ố l ẻ cho nên s ố trên là 30,12. Hay t ừ "ball" đ ể ch ỉ giá cả lên, từ "bear" chỉ giá cả xuống. Văn phòng của các ng ười môi gi ới tuy m ở r ộng cho công chúng, nh ưng h ọ ch ỉ nhận lệnh đặt mua bán chứng khoán của những ai quen thuộc, hay đ ược gi ới thi ệu c ẩn th ận ; và đ ược bi ết ch ắc về tài khoản ở ngân hàng cùng tinh thần trách nhiệm đ ối với ti ền b ạc c ủa nh ững ng ười này. Vào th ời đó chính uy tín của người mua bán quyết định việc họ được tham gia TTCK hay không. Mãi sau này, sau khi dân chúng có trình độ học vấn cao, lợi tức nhiều và biết nhiều hơn về chứng khoán, việc mua bán ch ứng khoán m ới trở nên r ộng rãi. Phát triển luật lệ 1844-1934 NYSE càng có nhiều người tham dự hơn khi điện tín do Morse phát minh đ ược đ ưa vào sàn giao d ịch năm 1844, liên lạc liên lục địa được nối năm 1866, đi ện thoại đ ược đ ặt năm 1878 và băng báo giá c ả ch ứng khoán stock ticker được phát minh vào năm 1867. Dù vậy, cho đến năm 1890, hoạt động của thị trường vẫn ch ỉ do m ột nhóm nh ỏ tài phi ệt chi ph ối. H ọ làm mưa làm gió trên thị trường. Luật công ty lúc đó ch ưa ch ặt chẽ l ắm nên đã x ảy ra nh ững chuy ện l ừa đ ảo, nh ư tài sản công ty chẳng có bao nhiêu mà bán cổ phi ếu với giá cao. Vào năm 1867, có vài tay n ổi ti ếng nh ư James Fisk Jr., Jay Gould đã làm việc này. Để ngăn chặn, NYSE buộc các ch ứng khoán đã đ ược niêm y ết ph ải đ ược đăng ký ở một cơ quan như ngân hàng. Trách nhiệm của người đăng ký là b ảo đ ảm ch ứng khoán đã chuy ển nh ượng đ ược ghi vào sổ, và số chứng khoán giao cho người mua ph ải ngang v ới s ố b ị h ủy vì đã bán ; và s ố ch ứng khoán l ần đầu phải nằm trong phạm vi số vốn công ty được phép g ọi authorized capital. Ngoài ra, đ ơn xin niêm y ết cũng được một ban riêng kiểm tra chặt chẽ trước khi Ủy ban điều hành chấp nh ận. Hoàn chỉnh từ 1934 trở đi Với những quy định nội bộ như thế nhằm bảo đảm uy tín của mình, NYSE đã tr ải qua nh ững giai đo ạn thăng trầm của chủ nghĩa tư bản nói chung và của nước Mỹ nói riêng vào cuối th ế k ỷ 19 sang đ ầu th ế k ỷ 20, r ồi th ế chiến thứ nhất, cuộc khủng hoảng kinh t ế t ừ năm 1929-1933 và thế chi ến th ứ hai. T ừ t ừ, ho ạt đ ộng c ủa NYSE được chính quyền hỗ trợ và được củng cố. Hệ thống ngân hàng d ự trữ liên bang đ ược l ập năm 1914, r ồi Ủy ban Giao dịch chứng khoán ra đời năm 1934 phụ trách đăng ký ch ứng khoán. Đ ồng th ời NYSE t ừ m ột "h ội t ư nhân mang trên mình quá nhiều lợi ích chung" trở thành một t ổ ch ức hoạt đ ộng quy c ủ có ch ủ t ịch h ưởng l ương, m ột h ội 19
  20. đồng điều hành bao gồm nhiều đại diện những người môi gi ới, và một b ộ ph ận nhân viên hành chính h ưởng l ương quản lý hoạt động của sàn giao dịch như thấy ngày nay. Vậy, chúng ta phân biệt ở đây hai tổ chức nhưng có ba c ấp b ậc khác nhau. M ột là Securities and Exchange Commission SEC, gọi là Ủy ban Giao dịch chứng khoán là m ột c ơ quan chính ph ủ qu ản lý vi ệc phát hành, mua bán chứng khoán. Thứ hai, New York Stock Exchange NYSE gọi là S ở Giao d ịch ch ứng khoán, là m ột h ội t ư nhân mà vai trò của nó đã nêu ở trên. Thứ ba, NYSE quản lý m ột sàn giao d ịch trading floor, và đó chính là cái ch ợ. D ự thảo pháp lệnh về chứng khoán của ta cũng dự trù hai t ổ ch ức : Ủy ban Ch ứng khoán Nhà n ước và S ở Giao d ịch chứng khoán. Bài IX: Nguyên tắc tổ chức và điều hành thị trường chứng khoán Một cái chợ có tổ chức Như đã đề cập trong các bài trước, thị trường là m ột "cái ch ợ". Ở m ức phát tri ển th ấp, ch ợ là m ột n ơi t ập trung hàng hóa các loại, và kẻ bán người mua gặp nhau. Ở m ức phát tri ển cao h ơn, nh ư các siêu th ị "mart", ch ợ không có người bán. Ở mức cao hơn nữa chợ là nơi diễn ra sự trao đổi. Ở đó ng ười mua hay bán không xu ất hi ện mà giao dịch với nhau qua những người môi giới. Chợ bán ch ứng khoán thu ộc lo ại này. N ơi đây, hàng là các ch ứng khoán được trao đổi ; nhưng chúng thực sự lại chỉ là những con số đi kèm với tên công ty. Điều này giúp ng ười mua k ẻ bán, vào b ất cứ lúc nào, cũng có thể thay đổi vị trí, khi mua ch ứng khoán, khi bán nó đi. Và ng ười này là nh ững nhà đ ầu t ư hay công chúng như ta đã biết. Người đầu tư mua và bán hàng, nh ưng hàng c ủa h ọ là hàng mua l ại. Ng ười bán th ực sự là các công ty cổ phần. Nhưng những công ty này chẳng còn dính dáng gì vào vi ệc buôn bán. Ch ợ bán ch ứng khoán có rất đông người mua, kẻ bán, bởi thế, nó được t ổ ch ức rất quy c ủ và đ ược g ọi là "m ột cái ch ợ có t ổ ch ức cao" highly organized market. Các loại chợ Bình thường, ở chợ hàng hóa, ta có chợ đầu m ối và ch ợ bán l ẻ là nh ững ch ợ phân lo ại theo s ố l ượng hàng bán bán buôn, bán lẻ ; có chợ trong nhà lồng, chợ bên ngoài nhà lồng là nh ững ch ợ phân chia theo ph ẩm ch ất hàng bán ; rồi có chợ bán lương thực, chợ bán cây cảnh là nh ững ch ợ phân theo m ặt hàng. TTCK cũng có nh ững lo ại chợ giống như thế chỉ khác là nó có tổ chức cao. Chợ bán theo số lượng hàng bán Chứng khoán thoạt đầu do công ty đưa ra ; khi đã đăng ký v ới Ủy ban giao d ịch ch ứng khoán thì h ọ đ ược phép bán. Công ty sẽ bán cho một nơi mua sỉ để cho ti ện khi đ ưa bán cũng nh ư lúc l ấy ti ền v ề. Công ty "mua s ỉ" là công ty bảo lãnh phát hành chứng khoán. Sự mua bán gi ữa hai nơi này t ạo nên th ị tr ường s ơ c ấp, gi ống nh ư ch ợ đ ầu mối. Khi công ty "mua sỉ" đem bán lẻ chứng khoán cho công chúng, thì hai ng ười này t ạo ra m ột th ị tr ường th ứ hai, g ọi là thị trường thứ cấp, giống như chợ bán lẻ. Hai thị trường này ăn thông với nhau mới tạo nên TTCK. Nếu ch ỉ có ch ợ s ơ c ấp không thôi, nh ư ở ta hi ện nay, thì chưa có TTCK. Chợ bán theo phẩm chất hàng hóa Công ty bán chứng khoán có cái to, cái nhỏ ; cho nên ch ứng khoán c ủa h ọ cũng đ ược phân lo ại theo s ức m ạnh của công ty. Chứng khoán của các công ty lớn, hội đủ một s ố điều ki ện nào đó, s ẽ đ ược bán ở m ột khu v ực r ộng rãi, phố xá đông người, gọi là các sàn giao dịch, nh ư mô t ả ở bài 8. D ự th ảo Pháp l ệnh ch ứng khoán c ủa ta g ọi là "thị trường giao dịch tập trung" ; cho ngắn gọn và tùy mạch văn, chúng ta s ẽ d ịch là ch ợ bán trên sàn hay sàn giao dịch. Các từ này đều chỉ chung một chỗ là "trading floor". 20

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản