Tìm hiểu về hệ điều hành

Chia sẻ: skyblue12

Xác định những sự khác nhau giữa những hệ điều hành ( Chẳng hạn.. Mac, Windows, Linux) Và mô tả hệ điều hành. những mức duyệt lại bao gồm sự so sánh GUI, MAC và. Những yêu cầu hệ thống Linux, và ứng dụng Và. những sự so sánh tương thích phần cứng.

Bạn đang xem 20 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: Tìm hiểu về hệ điều hành

Chương 4: Tìm hiểu về hệ điều hành
GV: Nguyễn Quang Trung



Chưương 4: TÌM HIỂU VỀ HỆ ĐIỀU
Ch ơng 4: TÌM HIỂU VỀ HỆ ĐIỀU
HÀNH
HÀNH
Dịch trang:162 193(Giáo Trình)
Dịch trang:162 –– 193(Giáo Trình)
GV: Nguyễễn Quang Trung
GV: Nguy n Quang Trung
Sinh viên: MSSV
Sinh viên: MSSV
Nguyễễn Sơn Tùng
Nguy n Sơn Tùng
Đinh Trọọng Thoại
Đinh Tr ng Thoại




Chương 4: Tìm hiểu về hệ điều hành

(Understanding Operating Systems)
Đối với kỳ thi THE CompTIA. Trong chương này sẽ đề cập đến các yếu
tố cần thiết và mục tiêu của kỳ thi:

3.1 Xác định các nguyên tắc cơ bản của việc sử dụng hệ đi ều
hành(Identify the fundamentals of using operating systems)

­ Xác định những sự khác nhau giữa những hệ điều hành ( Chẳng
hạn.. Mac, Windows, Linux) Và mô tả hệ điều hành. những mức duyệt lại bao
gồm sự so sánh GUI, MAC và. Những yêu cầu hệ thống Linux, và ứng dụng Và.
những sự so sánh tương thích phần cứng.

­ Xác định những tên, những mục đích và những đặc trưng Của.
những thành phần hệ điều hành sơ cấp bao gồm. nơi đăng ký, bộ nhớ ảo và hệ
tập tin thực tế.

Mô tả các tính năng của giao diện hệ điều hành, Ví dụ như:

­ Người thăm dò Windows.

­ Máy tính của tôi



Nguyễn Sơn Tùng MSSV:
Đinh Trọng Thoại MSSV:
Chương 4: Tìm hiểu về hệ điều hành
GV: Nguyễn Quang Trung

­ Bảng điều khiển.

­ Dấu nhắc lệnh.

­ Mạng máy tính

­ Thanh chắn nhiệm vụ / khay hệ thống.

­ thực đơn khởi động.

Xác định tên, địa điểm, mục đích và đặc điểm của các tập tin hệ điều
hành ví dụ như:

­ BOOT.INI

­ NTLDR

­ NTDETECT.COM

­ NTBOOTDD.SYS

­ Đăng ký các tập tin dữ liệu

Xác định các khái niệm và các thủ tục để tạo, xem, quản lý các ổ đĩa, thư
mục và tập tin trong điều hành ví dụ như:

­ Đĩa (ví dụ phân vùng hoạt động, mở rộng và hợp lý)

­ Tập tin hệ thống (ví dụ như FAT 32, NTFS)

­ Cấu trúc thư mục (ví dụ như tạo các thư mục, điều hướng cấu trúc
thư mục)

­ Tập tin (ví dụ như tạo, mở rộng, thuộc tính, cho phép)




Nguyễn Sơn Tùng MSSV:
Đinh Trọng Thoại MSSV:
Chương 4: Tìm hiểu về hệ điều hành
GV: Nguyễn Quang Trung

Trong ba chương trước, chúng tôi đã xem xét các phần cứng bao gồm một
máy tính cá nhân và vật lý của máy tính xách tay compo-nents. Phần cứng chỉ là
một nửa câu chuyện, mặc dù. Khi mas Watson, chủ tịch của IBM, cho biết trong
năm 1943, "Tôi nghĩ rằng có một thị trường thế giới có thể là năm máy tính", ông
đã tìm kiếm một máy rất khác nhau từ những cái chúng ta có ngày hôm nay. Lúc
đó máy tính thời gian đã cồng kềnh, như một cái phòng có kích thước lớn- chạy
chậm và khó sử dụng. Mới đây như những năm 1970, hầu hết các máy vẫn sử
dụng thẻ đục lỗ như một công cụ đầu vào chính dữ liệu, và bất cứ ai muốn s ử
dụng một máy tính phải chèo lái một giao diện phức tạp, không hợp khẩu với chỉ
một tấm bảng chìa khóa để giúp đỡ thêm. Trong một môi trường như vậy,
Watson có lẽ đúng để tin tưởng rằng có ít người đi qua thời gian, nỗ lực và chi
phí suốt để sử dụng những máy tính..

Trong khi công nghệ máy tính đã tiến triển theo hướng nhỏ hơn, máy
mạnh hơn - Vì thế máy tính cá nhân đã làm những bước dài quan trọng và đó là
thông báo của nhà sản xuất microsoft " một máy tính trong mỗi nhà ".Các cuộc
cách mạng máy tính toàn cầu không thể tin được là sự gia tăng sử dụng máy tính
trong thập kỷ qua làm cho các hệ điều hành ngày càng hoàn thiện hơn với các vật
chế tạo là đồ Máy tính yêu cầu lập trình mã (gọi là phần mềm) đ ể chạy, và đ ể
con người sử dụng để tương tác với các máy này. Ngoài ra, họ cần một cơ chế
đầu vào-đầu ra để cho phép người dùng để cung cấp cho các hướng dẫn máy và
để xem kết quả của các lệnh này. Hệ điều hành (OS) là phần mềm chính sử
dụng để đạt được những kết thúc, và sự tiến hóa của hệ điều hành mạnh hơn và
thân thiện người dùng đã có những com-puters ít khó sử dụng và thú vị hơn.

Để hiểu được sự xuất hiện của HĐH máy tính cá nhân hiện đại, bạn nên
biết về các công nghệ đã dẫn đến các hệ thống hiện tại của chúng tôi và về mối
quan hệ quan trọng giữa phần cứng và phần mềm trong quá trình phát triển của
máy tính. Đồ họa, tốc độ, giao diện GUI, và nhiều chương trình đang chạy đồng
thời là tất cả đã được thực hiện vì phần mềm thiết kế tận dụng các phần cứng


Nguyễn Sơn Tùng MSSV:
Đinh Trọng Thoại MSSV:
Chương 4: Tìm hiểu về hệ điều hành
GV: Nguyễn Quang Trung

mà họ đang thiết kế phần mềm của họ. Kết quả là, bạn sẽ thấy rằng, cũng như
phần cứng máy tính, phần mềm cũng đã được cải thiện. Bởi vì hệ điều hành là
một nền tảng mà trên đó tất cả các phần mềm khác được xây dựng, nói chung là
sự phát triển của một hệ điều hành mới để điều khiển sự phát triển của các
phần mềm khác.

vì thế trong chương này là câu chuyện của loại rất đặc biệt, và quan
trọng, các hệ điều hành phần mềm máy tính, các cá nhân. Chương này xem xét
một số khía cạnh của hệ điều hành: nơi mà chúng đã được , nơi mà họ đang có,
và các tính năng khác nhau của hệ điều hành. Mặc dù trên thị trường ngày nay có
một số hệ điều hành khác, nhưng gây chú ý và sử dụng nhiều trong gia đình đó
là các hệ điều hành của hãng Microsoft Windows. Vì vậy, chúng tôi sẽ nói ngắn
gọn về một số khác, nhưng trọng tâm của chương là Win-Dows. Chúng tôi đưa
ra hai hệ điều hành đặc biệt nhất, phổ biến nhấ của người dùng cuối của thế
giới máy tính ngày nay: Windows 2000 và Windows XP .

Note: Có một số sự khác nhau giữa Windows XP Tại nhà và Windows XP
Chuyên nghiệp. Xuyên suốt chương này và cuốn sách, chúng tôi sẽ giới thiệu
cho các bạn những thứ cơ bản như Windows XP (vì lợi ích ngắn gọn này), trừ khi
sự khác biệt cụ thể tồn tại.

Tìm hiểu về hệ điều hành (Understanding Operating Systems)

Máy tính là thì có nhiều vô ích nếu không có phần mềm. Một phần cứng
làm cho một paperweight tốt hay chốt cửa, trừ phi bạn có Một cách dễ dàng tới
giao diện với nó. Phần mềm là giao diện đó. Trong khi có rất nhiều loại phần
mềm, hoặc các chương trình, các ứng dụng quan trọng nhất mà bạn sẽ giao tiếp
là hệ điều hành. hệ thống điều hành có nhiều khác nhau, các chức năng phức tạp,
nhưng có hai thứ quan trọng: một giao tiếp với phần cứng, và hai cung cấp một
nền tảng mà trên đó các ứng dụng khác có thể chạy.

Dưới đây là ba phân biệt chính của phần mềm cần phải nhận thức được:



Nguyễn Sơn Tùng MSSV:
Đinh Trọng Thoại MSSV:
Chương 4: Tìm hiểu về hệ điều hành
GV: Nguyễn Quang Trung

Hệ điều hành (OS) (Operating System (OS)) Cung cấp một môi trường
thích hợp cho những phần mềm khác để thực thi lệnh. Hệ điều hành này cung
cấp cho người dùng một giao diện với máy tính để họ có thể gửi lệnh (đầu vào)
và nhận phản hồi hoặc kết quả (đầu ra). Để làm điều này, hệ điều hành phải
giao tiếp với phần cứng máy tính để thực hiện các nhiệm vụ sau đây:

­ Ổ đĩa và quản lý tập tin

­ Thiết bị truy cập

­ Đầu ra định dạng

­ Quản lý bộ nhớ

Khi hệ điều hành đã tổ chức các nguồn lực cơ bản, người dùng có thể
cung cấp cho các máy tính hướng dẫn thông qua các thiết bị đầu vào (như một
bàn phím hoặc chuột). Một số các lệnh được xây dựng trong hệ điều hành, trong
khi những người khác được phát hành thông qua việc sử dụng các ứng dụng. Hệ
điều hành này sẽ trở thành trung tâm thông qua đó hệ thống phần cứng, phần
mềm khác, và người sử dụng giao tiếp, phần còn lại của các thành phần của hệ
thống làm việc với nhau thông qua hệ điều hành, phối hợp thông tin liên lạc của
họ.




Nguyễn Sơn Tùng MSSV:
Đinh Trọng Thoại MSSV:
Chương 4: Tìm hiểu về hệ điều hành
GV: Nguyễn Quang Trung




Bộ vi xử lý
(Processor)



Ổ đĩa cứng Thiết bị
(Hardware) (Device)
Hệ điều
hành
(OS)

Bộ Nhớ
Vào/ Ra
(Input/output) (Memory)




Ứng dụng (Application) được sử dụng để thực hiện một nhiệm vụ cụ
thể, một ứng dụng là phần mềm được viết để bổ sung các lệnh có sẵn cho một
hệ điều hành cụ thể. Mỗi ứng dụng được biên soạn đặc biệt (cấu hình) cho hệ
điều hành mà nó sẽ chạy. Vì lý do này, các ứng dụng dựa trên hệ điều hành đ ể
thực hiện nhiều nhiệm vụ cơ bản của nó. Ví dụ về các ứng dụng bao gồm các
chương trình phức tạp, chẳng hạn như Microsoft Word và Netscape Navigator,
cũng như các chương trình đơn giản, chẳng hạn như một chương trình FTP dòng
lệnh. Dù bằng cách nào, khi truy cập vào các thiết bị và bộ nhớ, các chương trình



Nguyễn Sơn Tùng MSSV:
Đinh Trọng Thoại MSSV:
Chương 4: Tìm hiểu về hệ điều hành
GV: Nguyễn Quang Trung

đơn giản có thể yêu cầu hệ điều hành làm điều đó cho họ. Sự sắp xếp này giúp
tiết kiệm đáng kể về chi phí lập trình, bởi vì phần lớn các mã thực thi được chia
sẻ, nó được viết trong hệ điều hành và do đó có thể được sử dụng bởi nhiều
ứng dụng chạy trên hệ điều hành.

Driver phần mềm Driver cực cụ thể bằng văn bản với mục đích hướng
dẫn một hệ điều hành cụ thể về cách truy cập vào một phần cứng. Mỗi modem
hoặc máy in có các tính năng độc đáo và thiết lập cấu hình, và người lái xe cho
phép hệ điều hành để hiểu đúng phần cứng hoạt động như thế nào và những gì
nó có thể làm được.

Trong các phần sau đây, chúng tôi sẽ xem xét một số thuật ngữ và khái
niệm trung tâm cho tất cả các hệ điều hành. Sau đó chúng tôi sẽ di chuyển vào
các cuộc thảo luận cụ thể về Windows và hệ điều hành thay thế.

Những thuật ngữ hệ điều hành và những khái niệm (Operating
System Terms and Concepts)

Trước khi chúng tôi đi quá vào cuộc thảo luận về hệ điều hành máy tính,
sẽ rất hữu ích nếu ta xác định một vài điều khoản chính. Sau đây là một số thuật
ngữ bạn sẽ biết khi bạn học chương này và thảo luận với những người trong
ngành công nghiệp máy tính:

Phiên bản( version) là Một sửa đổi cụ thể của một phần mềm, thường
được mô tả bởi một số sản phẩm có quan hệ với các phiên bản khác c ủa s ản
phẩm đó. ví dụ MS-DOS, hiện đang trong phiên bản chính của nó thứ sáu. sửa
đổi chủ yếu được phân biệt với những phiên bản trước bằng cách này DOS 5.0 -
6.0 là một phiên bản lớn, trong khi 6.0 – 6.2 là một phiên bản nhỏ. Bằng cách này
đã đánh dấu được những thay đổi hiện nay tương đối chuẩn cho các hệ điều
hành và phần mềm ứng dụng. Bằng cách này đánh dấu những thay đổi hiện nay
tương đối chuẩn cho các hệ điều hành và phần mềm ứng dụng. Thay đổi rất nhỏ




Nguyễn Sơn Tùng MSSV:
Đinh Trọng Thoại MSSV:
Chương 4: Tìm hiểu về hệ điều hành
GV: Nguyễn Quang Trung

là chỉ với một dấu thập phân bổ sung. Nâng cấp từ phiên bản DOS 6.21-6.22
tham gia chỉ có một vài tác phẩm mới, nhưng nó vẫn là một nâng cấp.

Nguồn(Source) Các mã thực tế để định nghĩa thế nào là một phần của
công trình phần mềm. Máy tính hệ điều hành có thể được mã nguồn mở, có
nghĩa là hệ điều hành có thể được xem xét và sửa đổi bởi người sử dụng, hoặc
họ có thể bị đóng cửa mã nguồn, có nghĩa là người dùng không thể chỉnh sửa
hoặc kiểm tra mã.



Vỏ (Shell) Một chương trình chạy trên hệ điều hành và cho phép người
dùng ra lệnh thông qua một tập hợp của các menu hay một số giao diện đ ồ họa
khác. Vỏ làm cho một hệ điều hành dễ dàng hơn để sử dụng bằng cách thay đổi
giao diện người dùng. Hai vỏ chúng tôi sẽ xem xét chặt chẽ nhất là hệ điều hành
DOS của Microsoft Shell (một hệ thống menu-driven) và Windows (một giao
diện người dùng đồ họa đầy đủ).

Giao diện người dùng đồ họa (GUI) (Graphical User Interface (GUI))
Một phương pháp mà một người giao tiếp với máy tính. GUI sử dụng một con
chuột, touchpad, hoặc cơ chế khác (ngoài các bàn phím) để tương tác với máy
tính để ra lệnh.

Mạng( network) Bất kỳ nhóm các máy tính có một liên kết truyền thông
giữa chúng. Mạng lưới cho phép các máy tính để chia sẻ thông tin và các nguồn
lực một cách nhanh chóng và an toàn.

Hợp tác đa nhiệm(Cooperative Multitasking) Một phương pháp xử lý đa
nhiệm mà phụ thuộc vào các ứng dụng tự chịu trách nhiệm về sử dụng và sau đó
giải phóng truy cập vào bộ xử lý. Đây là cách Windows 3.1 quản lý nhiều ứng
dụng. Nếu bất kỳ ứng dụng bị khóa lên trong khi sử dụng bộ vi xử lý, ứng dụng
không thể xử lý đúng cách miễn phí để làm các nhiệm vụ khác, và hệ thống toàn
bộ khóa, thường buộc một khởi động lại.


Nguyễn Sơn Tùng MSSV:
Đinh Trọng Thoại MSSV:
Chương 4: Tìm hiểu về hệ điều hành
GV: Nguyễn Quang Trung

Ưu tiên đa nhiệm(Preemptive Multitasking) Một phương pháp xử lý đa
nhiệm, trong đó mỗi hệ điều hành ứng dụng một số hoạt động nhất định của
thời gian xử lý và sau đó buộc phải có lại quyền kiểm soát và cho phép truy cập
một ứng dụng hoặc nhiệm vụ để xử lý. Điều này có nghĩa rằng nếu một tai nạn
ứng dụng, hệ điều hành này mất quyền kiểm soát của bộ xử lý ra khỏi ứng dụng
bị khóa và chuyển nó cho các ứng dụng kế tiếp, có thể không bị ảnh hưởng. Mặc
dù chương trình không ổn định vẫn còn khóa, chỉ có các ứng dụng bị khóa sẽ bị
trì hoãn, không phải là toàn bộ hệ thống.

Đa luồng(Multithreading) Khả năng của một ứng dụng có nhiều yêu cầu
để các bộ vi xử lý cùng một lúc. Điều này dẫn đến hiệu năng ứng dụng nhanh
hơn, bởi vì nó cho phép một chương trình để làm rất nhiều thứ cùng một lúc. Chỉ
có 32-bit hay cao hơn hỗ trợ đa luồng cửa ".

Microsoft Windows Microsoft Windows được sinh ra trong các đĩa hệ
điều hành Microsoft (MS-DOS) thế giới. Nó là một nơi tối tăm, không giao diện
đồ họa. Nếu bạn muốn một cái gì đó hoàn thành, bạn phải biết các lệnh và gõ nó
vào Mặc dù không có âm thanh người dùng thân thiện, nó đã được khá cao vì thời
gian.

sự thành công của DOS sau 1987 đòi hỏi kiến thức của Windows. Trong
những năm đầu của sự tồn tại của nó, DOS của Microsoft được chấp nhận rất
lớn và trở thành một tiêu chuẩn như là một hệ điều hành máy tính. Mặc dù vậy,
nhưng máy tính trở nên mạnh hơn và các chương trình phức tạp hơn, những hạn
chế của các giao diện dòng lệnh DOS trở nên rõ ràng.

Các giải pháp cho vấn đề này là để làm cho hệ điều hành dễ dàng hơn để
di chuyển, đồng đều hơn, và nói chung thân thiện với người dùng. IBM hiểu
rằng người dùng trung bình không muốn nhận được máy tính của họ trong phần
nhưng ưa thích để có nó sẵn sàng để đi ra khỏi hộp. Oddly, công ty đã không
hiểu rằng cùng một người dùng phần cứng của họ, những người muốn được



Nguyễn Sơn Tùng MSSV:
Đinh Trọng Thoại MSSV:
Chương 4: Tìm hiểu về hệ điều hành
GV: Nguyễn Quang Trung

sẵn sàng để đi cũng muốn phần mềm của họ để được cùng một cách. Họ cũng
không muốn chỉnh sửa các tập tin batch hoặc thông qua các thư mục bằng cách
sử dụng đĩa CD hay DIR lệnh. Kết quả là, khi Microsoft đã đến IBM với một
giao diện người dùng đồ họa (GUI) dựa trên đột phá công việc được thực hiện
bởi các phòng thí nghiệm Xerox, IBM đã không được quan tâm, thích đi trở đi với
sự phát triển của OS / 2 (một dự án đã bắt đầu với alread Microsoft).

Bất kể sự quan tâm của IBM, Microsoft tiếp tục ngày của riêng mình với
sự phát triển của giao diện đồ họa mà nó có tên là Windows sau khi khu vực làm
việc hình chữ nhật của nó-và phát hành phiên bản đầu tiên ra thị trường vào năm
1985. Apple đã đệ đơn kiện ngay sau khi, cho rằng giao diện của Microsoft đã
được xây dựng sử dụng công nghệ của Apple, nhưng phù hợp đã được miễn
nhiệm. Cả hai của Apple Macintosh và DOS của Microsoft với các cửa sổ kết
hợp có tiếp tục phát triển, nhưng cho đến một thỏa thuận mới đây giữa Apple và
Microsoft, căng thẳng luôn luôn có được cao. Mac và PC người dùng, tất nhiên,
vẫn cương quyết thuôc về long yêu nước về các nền tảng tương ứng.
̣ ̀

Ban đầu làm việc trên Windows(Early Work on Windows)

Tổng công ty Xerox duy trì một cố vấn của nhà thiết kế máy tính tại Palo
Alto, California, được gọi là Trung tâm nghiên cứu Palo Alto (PARC). Một trong
những kết quả công việc của nó là các máy trạm Alto, mà thường được cho là
tiền thân của tất cả các cửa "đồ họa hiện đại. Các Alto đã có một con chuột và
một giao diện GUI, và nó liên lạc với các máy trạm khác thông qua Ethernet.
Oh, và nó đã được hoàn thành vào năm 1974

Mặc dù nó không bao giờ khuyến khích thương mại, cả Microsoft và
Apple xem các Alto và kết hợp công nghệ của mình vào hệ thống của mình.
Các thành tích của phòng thí nghiệm PARC trong việc đặt nền móng cho hệ
thống máy tính hiện đại, đồ họa không thể được phóng đại. Kiểm tra
http://www.parc.xerox.com thêm thông tin về quá khứ và hiện PARC.



Nguyễn Sơn Tùng MSSV:
Đinh Trọng Thoại MSSV:
Chương 4: Tìm hiểu về hệ điều hành
GV: Nguyễn Quang Trung

Note: Ôi, những câu chuyện đã được nói với xung quanh phát sáng của
một màn hình về Gates so với Jobs. Một trong những cách dễ nhất để có được
một chút hương vị của cuộc đấu tranh này là thông qua một bộ phim Cướp biển
được gọi là Silicon Valley, trong đó Anthony Michael Hall của The Breakfast Club
đóng Gates và Noah Wyle của ER nổi tiếng đóng Jobs. Mọi chi tiết, xin đến
http://tnt.turner.com/movies/tntoriginals/pirates

Giao diện Windows cho MS-DOS là thực sự chỉ là một chương trình shell
cho phép người dùng ra lệnh DOS thông qua một giao diện đồ họa đẹp hơn một
phần mở rộng của công việc trước đó của Microsoft Shell DOS. Sự tích hợp của
một con chuột cho gần như tất cả các nhiệm vụ một di sản của máy tính Xerox
Alto mà cả Macintosh và Windows GUI dựa người dùng tiếp tục giải phóng từ
DOS bằng cách cho phép họ đưa ra lệnh phổ biến mà không cần sử dụng bàn
phím. Bộ xử lý Word, bảng tính, và đặc biệt là trò chơi được evolutionized là nhà
sản xuất phần mềm hạnh phúc đã lợi dụng sự dễ dàng sử dụng và tính linh hoạt
cho Windows thêm vào DOS.

Các phiên bản Windowns(Windows Versions)

Sau khi sự phát triển của Windows, nhiều cải tiến được thực hiện cho
phiên bản tiếp theo của DOS được thiết kế để giúp đỡ miễn phí và tái phân bổ
nguồn lực tốt hơn chạy Windows và các ứng dụng Windows. Tương tự, phần
cứng máy tính tiếp tục phát triển đến nay qua các giới hạn của khả năng của
DOS để sử dụng hiệu quả năng lượng có sẵn cho nó, và sau đó các phiên bản
của Windows được thiết kế để che giấu và khắc phục những hạn chế của hệ
điều hành. Sự kết hợp của MS-DOS và Windows vỏ của nó làm cho Microsoft
lãnh đạo ngành công nghiệp và thúc đẩy sự chuyển động máy tính lên một tầm
cao mới trong những năm 1990. Sau đây là một cuộc kiểm tra ngắn gọn về sự
phát triển của vỏ Windows và tìm một ở phiên bản khác nhau của nó.

Windows 1



Nguyễn Sơn Tùng MSSV:
Đinh Trọng Thoại MSSV:
Chương 4: Tìm hiểu về hệ điều hành
GV: Nguyễn Quang Trung

Phiên bản 1 của Windows đặc trưng các cửa sổ ốp lát, hỗ trợ chuột, và hệ
thống menu mà vẫn lái xe thế hệ tiếp theo cửa "như Windows 98, Windows CE,
và Windows 2000. Nó cũng cung cấp hợp tác đa nhiệm, có nghĩa là nhiều hơn
một ứng dụng Windows có thể chạy đồng thời.

Đây là cái gì mà MS – DOS, cho đên thời điểm này không thể làm đ ược.
Windows 1 là xa từ một sản phẩm hoàn tất. Đối với một điều, nó đã không sử
dụng các biểu tượng, và nó đã có vài trong số các chương trình chúng tôi đã mong
đợi như các tiêu chuẩn Windows. Windows 1 là về cơ bản chỉ là một, cập nhật
đồ họa nhiều hơn phiên bản của chương trình DOSSHELL.EXE.

Windows 2

Phiên bản thứ 2, phát hành vào năm 1987, thêm các biểu tượng và cửa sổ
ứng dụng được phép chồng chéo nhau, cũng như ngói. Hỗ trợ cũng đã được thêm
vào cho PIFs (chương trình tập tin thông tin), cho phép người dùng cấu hình
Windows để chạy các ứng dụng DOS của họ hiệu quả hơn.

Windows3.x

Windows 3.0 đặc trưng một mô hình bộ nhớ linh hoạt hơn, cho phép nó
truy cập bộ nhớ nhiều hơn 640KB giới hạn bình thường áp đặt bởi DOS. Nó
cũng có sự bổ sung của Công ty Quản lý tập tin và Quản lý Chương trình cho
phép hỗ trợ mạng, và có thể hoạt động trong chế độ nâng cao 386. 386 cải tiến
chế độ sử dụng các bộ phận của ổ cứng như bộ nhớ ảo và vì thế có thể sử
dụng đĩa để bổ sung bộ nhớ RAM trong máy. Windows ngày nay vẫn còn khá
tương tự như Windows của phiên bản 3.0.

Năm 1992, một phiên bản của Windows 3, được gọi là Windows 3.1, cung
cấp cho khả năng hiển thị đồ họa tốt hơn và hỗ trợ đa phương tiện. Nó cũng cải
thiện hệ thống Windows bảo vệ lỗi và cho phép các ứng dụng làm việc với nhau
dễ dàng hơn thông qua việc sử dụng các liên kết và nhúng đối tượng (OLE).




Nguyễn Sơn Tùng MSSV:
Đinh Trọng Thoại MSSV:
Chương 4: Tìm hiểu về hệ điều hành
GV: Nguyễn Quang Trung

Sau khi giới thiệu phiên bản 3.1, Windows đã một lần lượt đánh dấu cho
tốt hơn, bởi vì Microsoft bắt đầu thực hiện một nỗ lực nghiêm túc để thay đổi
cho một môi trường ứng dụng đầy đủ 32-bit. Với phiên bản 3.11, còn được gọi
là Windows cho nhóm làm việc, Windows cung cấp hỗ trợ cho cả hai bit-16 và
các ứng dụng 32-bit. (Windows 3.1 có thể hỗ trợ các ứng dụng chỉ 16-bit.) tiến
bộ đáng kể trên mặt trận 32-bit đã không được thực hiện cho đến khi rất muộn
vào năm 1995, tuy nhiên, khi Microsoft giới thiệu Windows 95. Kể từ đó, các
DOS đáng kính / nhóm Windows đã được thay thế bởi mới hơn, các hệ thống cao
cấp hơn. Bạn có thể thỉnh thoảng vẫn chạy vào một máy Windows 3.1, nhưng nó
không phải là một sự xuất hiện phổ biến.

Note: Với sự ra đời của Windows cho nhóm làm việc, người dân nói chung
về về hai hương vị của Windows 3.1 và 3,11 bắt đầu đề cập đến họ chung là
Windows 3.x, như trong các nhóm của phần này.

Windows 95

Mặc dù thống trị thị trường với hệ điều hành DOS và nó tiện ích giao diện
Windows, Microsoft thấy rằng những hạn chế của DOS đã nhanh chóng làm cho
nó khó khăn để tận dụng đầy đủ các phần cứng nhanh chóng cải thiện và phát
triển phần mềm. Tương lai của máy tính được rõ ràng là một 32-bit,
preemptively multitasked hệ thống như IBM OS / 2, nhưng nhiều người dùng
hiện tại đã có phần mềm trên nền DOS hoặc phần cứng cũ hơn đã được thiết kế
đặc biệt cho DOS và sẽ không hoạt động ngoài hợp tác multitasked Windows của
nó 3,1 môi trường.

Bởi vì vấn đề này, vào mùa thu năm 1995 Microsoft phát hành một nâng
cấp lớn cho môi trường DOS Windows /. Được gọi là Windows 95, các sản phẩm
mới tích hợp hệ điều hành và vỏ. Trường hợp phiên bản trước của Windows chỉ
đơn giản là cung cấp một giao diện đồ họa cho hệ điều hành hiện tại DOS,
Windows 95 giao diện đồ họa là một phần của hệ điều hành. Hơn nữa, Windows



Nguyễn Sơn Tùng MSSV:
Đinh Trọng Thoại MSSV:
Chương 4: Tìm hiểu về hệ điều hành
GV: Nguyễn Quang Trung

95 được thiết kế để có một lai của các tính năng của phiên bản DOS trước và
mới hơn các hệ thống 32-bit. Nó cũng hỗ trợ cả 32-bit và 16-bit các trình điều
khiển cũng như DOS trình điều khiển, mặc dù 32-bit trình điều khiển được
khuyến khích mạnh mẽ hơn những hệ điều hành DOS vì họ đang ở xa nhanh hơn
và ổn định hơn.

Trong số quan trọng nhất của các cải tiến khác ra mắt của Microsoft với
Windows 95 đã được hỗ trợ cho các tiêu chuẩn (PnP) Plug and Play. Điều này có
nghĩa rằng nếu một thiết bị được thiết kế để được Plug and Play, một kỹ thuật
có thể cài đặt các thiết bị vào máy tính, khởi động máy, và có các thiết bị tự động
công nhận và cấu hình của Windows 95. Đây là một bước tiến lớn.nhưng thật
không may, PnP làm việc thì có ba điều không thể thực hiện.

­ Các hệ điều hành đã được PnP tương thích.

­ Các bo mạch chủ máy tính phải hỗ trợ PnP.

­ Tất cả các thiết bị trong máy tính đã được PnP tương thích.

Trong thời gian đó đồng thời Windows 95 ra đời, nhiều nhà sản xuất đã
tạo ra phần cứng của họ để sử dụng trong DOS / máy Windows, và DOS không
hỗ trợ PnP, vì vậy hầu hết trước-1995 linh kiện máy tính (card âm thanh, modem,
NIC, vv) không PnP tuân thủ. Kết quả là, các thành phần này thường được gọi là
các thiết bị di sản thường can thiệp với môi trường PnP. Thiết bị như vậy không
thể tự động tương tác với các hệ thống mới hơn. Họ do đó đòi hỏi cấu hình
bằng tay hoặc phải được thay thế bởi các thiết bị mới hơn, mà thường không
cần cấu hình bằng tay. Bởi vì phần cứng của các vấn đề quản lý di sản theo
Windows 95, nhiều người trở nên xấu đi vào PnP công nghệ. Tệ hơn, họ đổ lỗi
cho Windows 95 cho vấn đề của họ, không phải là phần cứng cũ. "Nó hoạt động
tốt trong DOS" là tiêu chuẩn logic! Bây giờ, một thập kỷ sau, gần như tất cả các
thành phần máy tính là PnP tuân thủ, và cấu hình hệ thống máy tính là rất dễ
dàng hơn đó là dưới DOS.


Nguyễn Sơn Tùng MSSV:
Đinh Trọng Thoại MSSV:
Chương 4: Tìm hiểu về hệ điều hành
GV: Nguyễn Quang Trung

Để những điểm yếu của PnP sang một bên, để nói rằng hệ thống mới là
một thành công sẽ là một cách nói lớn. Trong vòng chỉ một vài năm phát hành,
Windows 95-phong cách giao diện đã thắng trong hầu như tất cả người dùng
Windows, và các kiến trúc linh hoạt hơn của Windows 95 đã thắng trong quản trị
mạng và kỹ thuật viên máy tính. Mặc dù chưa hoàn thiện, Windows 95 là một
tiến bộ to lớn trong độ tuổi DOS. Có lẽ những người duy nhất không phải lo là
những folks tại Apple, những người tiếp tục để tạo ra một ngành công nghiệp
tiểu thủ bắt đầu vụ kiện chống lại Microsoft. Thời gian này, Apple luận rằng
các Windows 95 giao diện chính nó đã bị đánh cắp từ máy tính Macintosh. Không
thể phủ nhận rằng Windows 95 giao diện gần như là một đôi của giao diện Mac,
nó bật ra rằng Apple có giao diện thân từ PARC Alto! Xerox không chỉ thiết kế
giao diện máy tính đầu tiên nhưng đã tạo ra một giao diện đó sẽ không được cải
thiện đáng kể khi trong hơn 20 năm của hệ điều hành phát triển và cả Apple và
Microsoft quyết định chọn nó làm cơ sở cho ảnh minh hoạ của họ. Tất cả các
phiên bản tiếp theo của Windows (98, NT, 2000, và XP) sử dụng một giao diện
cơ bản giống với giao diện Windows 95.

Windows 98/Me/NT/2000/XP

Sau khi Windows 95, Windows 98 đã được giới thiệu là người kế nhiệm
của nó, tiếp theo là Windows Me (Millennium Edition). Windows 98/Me vẫn là
một máy tính rất phổ biến hệ điều hành để tìm kiếm trên máy tính của người sử
dụng, nhưng XP thậm chí còn chưa phổ biến hơn. Một trong những lựa chọn
trước đó cung cấp nhiều năng lượng hơn so với Windows 95 là hệ điều hành
Windows NT. NT (mà không chính thức là viết tắt của Công nghệ mới) là một hệ
điều hành mà được thiết kế mạnh mẽ hơn rất nhiều so với bất kỳ phiên bản
Windows trước đó. Nó sử dụng một kiến trúc dựa hoàn toàn vào 32-bit và có khả
năng truy cập lên đến 4GB (4.000 MB) RAM.

Sau khi Windows 98 và NT, Windows 2000 được phát hành. Nó sử dụng
giao diện giống như Windows 98 (với một vài cải tiến quan trọng). Nó đến trong


Nguyễn Sơn Tùng MSSV:
Đinh Trọng Thoại MSSV:
Chương 4: Tìm hiểu về hệ điều hành
GV: Nguyễn Quang Trung

nhiều phiênbản,nhưng phổ biến nhất đã được Windows 2000 Professional (hệ
điều hành máy trạm) và Windows 2000 Server (máy chủ hệ điều hành) Sau đó,
đến. sự giới thiệu của Windows XP. Nó đến trong ba phiên bản: Windows XP
Home, XP Professional, và Media Center. Họ là tất cả gần như nhau. Tuy nhiên,
XP Professional có thêm nhiều tính năng doanh nghiệp và kết nối mạng, và Media
Center được thiết kế để khai thác kết nối đa phương tiện bằng cách cho phép
bạn thiết lập TV của bạn thông qua máy tính của bạn.

Note: Chúng tôi chủ yếu sẽ nói về Windows 2000 và Windows XP trong
chiều sâu suốt phần còn lại của cuốn sách này, bởi vì họ là những kiến thức
"bạn cần phải biết để thi + A.

Windows Server 2003

Windows Server 2003 trong gia đình là điều hành hệ thống phát hành gần
đây nhất từ Microsoft. (Windows Vista, thảo luận trong phần tiếp theo, vẫn còn
trong thử nghiệm beta tại thời điểm viết bài này.) Server 2003 có ba giống:
Server 2003 Enterprise Edition và Datacenter Edition, và Small Business Server
2003.

Đây là hệ điều hành mà không được thiết kế để chạy trên hàng ngày, máy
tính người dùng cuối. Họ đang thực hiện cho được các hệ điều hành của các
mạng nhỏ và lớn. Đây là một số các tính năng của Server 2003:

­ upport cho máy chủ cấp, bộ vi xử lý 64-bit (như Itanium 2). Trung
tâm dữ liệu Server 2003 Edition hỗ trợ lên đến 64 bộ vi xử lý.

­ Thêm bộ nhớ hỗ trợ: Windows XP được giới hạn 4GB bộ nhớ
RAM. Trung tâm dữ liệu có thể hỗ trợ tới 512GB bộ nhớ RAM.

­ Tập trung quản lý bảo mật.

­ Hỗ trợ cho dịch vụ mạng như SQL Server, IISServer,Terminal
Server,và Truyền thông.


Nguyễn Sơn Tùng MSSV:
Đinh Trọng Thoại MSSV:
Chương 4: Tìm hiểu về hệ điều hành
GV: Nguyễn Quang Trung

­ Tăng cường thông cho các kết nối mạng và dịch vụ

Danh sách các tính năng của Windows Server 2003 có thực sự lâu dài và
khá ấn tượng. Hệ điều hành được thiết kế để cạnh tranh từ đầu đến đầu với
các máy chủ cao cấp dựa trên Unix được sản xuất bởi các công ty như Sun
Microsystems và Hewlett-Packard. Nó không phải là một cái gì đó bạn có thể cần
phải chạy trong một văn phòng nhà trong thời gian tới.

Windows Vista

Dự kiến khởi động vào đầu năm 2007, Windows Vista (tên mã trước đây
là Longhorn) là nền tảng hệ điều hành mới nhất do Microsoft phát triển. Nó sẽ
được trình bày trong năm phiên bản khác nhau: Kinh doanh, Doanh nghiệp, Home
Premium, Home Basic, và Ultimate.

Trong khi Windows XP đã được cung cấp trong nhiều phiên bản là tốt,
những phiên bản được thiết kế trên phần cứng mà nó đã được cài đặt trên. Ví
dụ, Windows XP Tablet PC Edition là khá rõ ràng cho một máy tính Tablet. Tất cả
các phiên bản Windows Vista có các công nghệ cốt lõi như nhau, nhưng các phiên
bản khác nhau được thiết kế để làm việc xung quanh vai trò máy tính của bạn
(hoặc thiết bị cầm tay máy tính) đóng vai, không phải là phần cứng mà nó sử
dụng.

Trong số các tính năng nổi bật sẽ được bao gồm trong Vista là một giao
diện người dùng mới có tên là Windows Aero, Internet Explorer 7, phát biểu và
nhận dạng chữ viết, và truy cập dễ dàng và tiện ích.

Note: Windows Server 2003 và Windows Vista không được thử nghiệm về
các kỳ thi + A, nhưng bạn cần phải nhận thức rõ về nó

Thay thế hệ điều hành

Mặc dù hầu hết mọi người chạy một số phiên bản của Windows trên máy
tính của họ, một vài hệ điều hành không có của Microsoft. Như một vấn đề của


Nguyễn Sơn Tùng MSSV:
Đinh Trọng Thoại MSSV:
Chương 4: Tìm hiểu về hệ điều hành
GV: Nguyễn Quang Trung

thực tế, có bản phát hành phần mềm cho các hệ điều hành thay thế cho sản xuất
phần mềm lớn như xử lý văn bản, bảng tính, và vv.

Mac OS

Mac không phải là hệ điều hành (mặc dù rất nhiều người đang cố gắng
để có được nó), nó chỉ chạy trên một máy tính Macintosh. Trong khi bạn không
nên trông đợi quá nhiều nếu có câu hỏi về các hệ điều hành Mac, Các cuộc thánh
chiến lâu dài giữa người sử dụng Macintosh và Windows người dùng là một chủ
đề của truyền thuyết.

Một trong những huyền thoại từ lâu về hệ điều hành Mac là nó không thể
được hoặc chưa bao giờ được bị hack. (thời điểm này người dùng thích Mac ra
mỗi khi một Windows mới virus làm cho các tiêu đề phá hủy.) Đây chỉ đơn giản
là không đúng. Hệ điều hành Mac có lỗ hổng, giống như hệ điều hành Windows .
Nó chỉ là cơ sở cài đặt là nhỏ hơn nhiều, và do đó là giá trị sốc tác động của các
văn bản lỗi cho nó. Tại sao một hacker muốn viết một virus có thể chỉ ảnh
hưởng đến vài nghìn máy tính (và không nhiều doanh nghiệp) khi anh ta hoặc cô
ta có thể viết một trong đó có thể phá hủy diệt hàng loạt và ảnh hưởng đến hàng
triệu?

Các hệ điều hành Mac có một giao diện tương tự như Windows, với các
biểu tượng và một con trỏ chuột nhiều lái xe của hành động. Những phiên bản
cũ ofacintosh hệ điều hành và phiên bản cũ của Windows (như Windows cho
nhóm làm việc 3,11) trông rất giống nhau, nhưng những dòng tương ứng của hệ
điều hành có sự khác biệt ngoại hình của mình qua nhiều năm.

Mac OS X (phiên bản 10,4) là hệ điều hành Macintosh mới nhất. Sau đây
là các yêu cầu hệ thống để chạy nó:

­ PowerPC, G3,G4, hoặc xử lý G5.

­ 256MB RAM



Nguyễn Sơn Tùng MSSV:
Đinh Trọng Thoại MSSV:
Chương 4: Tìm hiểu về hệ điều hành
GV: Nguyễn Quang Trung

­ 3 GB có sẵn đĩa cứng không gian (4GB nếu bạn muốn cài
đặt XCode công cụ phát triển 2)

­ Apple-cung cấp video card tương thích hoặc hiển thị được
xây dựng

­ FireWire

­ Ổ đĩa DVD (hoặc bạn có thể có được hệ điều hành trên đĩa
CD cho một khoản phí phụ)

Note: Bộ vi xử lý PowerPC đã được phát triển thông qua một liên minh
Apple-IBM-Motorola. Các G3, G4, G5 và bộ vi xử lý được thực hiện bởi
Motorola. Tất cả các bộ vi xử lý dựa trên công nghệ giảm tập lệnh (RISC) Máy
tính, trái với Intel mà cơ sở xử lý của nó trên các tiêu chuẩn phức tạp (CISC)
Instruction Set Computer.

Ứng dụng cho các máy tính Macintosh cần phải được viết dành cho Mac.
Như đã nêu trong chú ý ở trên, các công nghệ xử lý khác nhau cho các máy PC và
máy Mac, làm cho nó để phát triển phần mềm cần phải thực hiện một phiên bản
cho mỗi. (Mặc dù nhiều mô hình PowerPC có thể chạy cả hai loại phần mềm mà
không có vấn đề.) Khi mua phần mềm, đảm bảo rằng nó có một logo Mac trên
hộp (hoặc nói rằng nó sẽ làm việc với một máy Mac) nếu bạn muốn chạy nó
trên máy Mac của bạn . Rất nhiều phần mềm hiện nay được vận chuyển với cả
hai phiên bản Mac và PC trong cùng một hộp.

Linux

Trong những năm qua, phong trào nguồn mở đã được tập hợp xung quanh
Linus Torvalds và hệ điều hành Linux của mình. Linux là một hệ điều hành Unix-
loại mà đã được phát hành vào phạm vi công cộng và đang được phát triển như là
một tiêu chuẩn hệ điều hành, giống như TCP / IP là một chuẩn giao thức. Một số
người dùng máy tính không thấy thoải mái với sự thống trị của Microsoft trong


Nguyễn Sơn Tùng MSSV:
Đinh Trọng Thoại MSSV:
Chương 4: Tìm hiểu về hệ điều hành
GV: Nguyễn Quang Trung

thị trường hệ điều hành quan trọng, và kết quả là, Linux đã được định vị như là
một thay thế tuyệt vời Microsoft.

Mặc dù Linux đang thâm nhập với người dùng gia đình hiểu biết và thậm
chí còn được sử dụng như một máy chủ trong nhiều môi trường công ty, nhưng
nó vẫn chưa được thể đột nhập vào nhà đại chúng hoặc các thị trường máy tính
để bàn doanh nghiệp.

Lý thuyết đằng sau Linux là làm cho chính hệ điều hành mã có sẵn cho bất
cứ ai muốn nó, do đó mã sau đó có thể được khám phá và nâng cao của người sử
dụng. Những người chọn để có thể tạo ra một kiểu Unix hệ điều hành đầy đủ
từ mã nguồn Linux, sửa đổi nó khi họ thấy phù hợp, và phát hành nó cho thế giới
như là một phân phối Linux.

Phân bố tương tự như các phiên bản, nhưng mà phiên bản được cải tiến
thứ tự thời gian để hệ điều hành của một công ty, phân phối là các biến thể trên
một chủ đề hệ điều hành duy nhất, Đối với một danh sáchcác bản phân phối
Linux, hãy tham khảo http://www.linux.org/dist/english.html. Đó là một danh sách
dài, và bởi vì về bản chất của Linux, trong danh sách là chắc chắn sẽ không đầy
đủ. Một số chủng phổ biến hơn bao gồm:

­ Red Hat (http://www.redhat.com)

­ Debian (http://www.debian.org)

­ Slackware (http://www.slackware.com)

­ Mandrake (http://www.linux-mandrake.com)

Mỗi người có đặc điểm khác nhau, nó sẽ mất rất nhiều nghiên cứu để
hiểu được các chi tiết của mỗi phiên bản.

Có miễn phí, hoặc là nó miễn phí?




Nguyễn Sơn Tùng MSSV:
Đinh Trọng Thoại MSSV:
Chương 4: Tìm hiểu về hệ điều hành
GV: Nguyễn Quang Trung

Linux hệ điều hành không thuộc sở hữu của bất cứ ai, thậm chí không
Linus Torvalds. Đây là một mã nguồn mở, miễn phí hệ điều hành. Đối với một
cái nhìn vào tâm của cộng đồng Linux, đây là một trích dẫn từ trang web của
linux.com:

"Bây giờ, chỉ vì nó là miễn phí, không nhất thiết có nghĩa là nó miễn phí.
Hãy suy nghĩ 'miễn phí'trong 'tự do ngôn luận,' không 'miễn phí bia, "như chúng
tôi trong các phần mềm miễn phí / cộng đồng nguồn mở như để nói. Tóm lại,
phần mềm được miễn phí như trong bài phát biểu, như Linux, được phân phối
cùng với mã nguồn của nó để cho bất cứ ai nhận được nó là miễn phí để thực
hiện thay đổi và phát hành lại nó. Vì vậy, không phải chỉ là nó có tốt để làm bản
sao của Linux và đưa chúng cho bạn bè của bạn, nó cũng tốt để tinh chỉnh một
vài dòng mã nguồn trong khi bạn đang ở đó, miễn là bạn cũng sẵn sàng cung cấp
mã nguồn thay đổi của bạn mọi người khác. "

Như bạn thấy, họ đang "mở" về thông tin liên lạc, và có một cảm giác hài
hước để khởi động.

Kiến trúc của Linux dựa trên Unix, hệ điều hành được sử dụng trong máy
tính lớn và cao cấp các máy tính khác, và nó là vô cùng mạnh mẽ và ổn định.
Linux cũng thường được sử dụng như một máy chủ web hoặc máy chủ e-mail
trên Internet, và nó có chức năng như hoặc là một hệ điều hành mạng hoặc một
hệ điều hành máy tính để bàn, cũng giống như Windows NT có thể.

Rất ít sinh vật mắc bệnh dại hơn trong việc bảo vệ nhân của họ so với
người hâm mộ Linux, và vì lý do tốt. Triết lý cơ bản của Linux là những người
sử dụng một hệ điều hành là những người biết rõ nhất những gì cần phải được
cải thiện vào nó và phản hồi mà người sử dụng cần được tôn trọng và th ực thi.
Linux đã không luôn luôn là một hệ điều hành cho công chúng, bởi vì phân phối
đầu đã phức tạp, để cài đặt và đã hỗ trợ ứng dụng nhỏ. Nhưng một đội quân
nhỏ của người sử dụng đã gửi đề nghị, do đó, nó đã được cải thiện rõ rệt.



Nguyễn Sơn Tùng MSSV:
Đinh Trọng Thoại MSSV:
Chương 4: Tìm hiểu về hệ điều hành
GV: Nguyễn Quang Trung

Các Linux vs Microsoft tranh luận là một một thú vị trong thế giới máy
tính, bởi vì nó là một khuôn mặt-off giữa chủ nghĩa duy tâm và sức mạnh c ủa
công ty, mã nguồn mở và mã độc quyền. Đó là một chiến trường mà chúng ta
cuối cùng sẽ xem liệu người dùng muốn có một hệ thống cung cấp cho họ sức
mạnh (nhưng đòi hỏi làm việc nhiều hơn một chút) hoặc một trong đó làm cho
mọi thứ dễ dàng (nhưng mang lại cho họ ít sự lựa chọn). Nếu được vui vẻ để
xem, nếu không có gì khác.

Note :Để biết thông tin chi tiết về thế giới của Linux, hai trang web này
lớn nhất: http://www.linux.org và http://www.linux.com. Linux.org có lẽ là tốt hơn
đối với những người quan tâm chỉ đơn giản là tìm hiểu về những Linux, và nó có
một khóa học trực tuyến lớn gọi là "Bắt đầu với Linux."

Thực sự là không có cách nào vào danh sách yêu cầu phần cứng tối thiểu
cho Linux, vì mỗi phiên bản là khác nhau. Tổng quát A là Linux sẽ chạy trên
phần cứng mạnh mẽ hơn mà Windows hệ điều hành dựa, như hầu hết các phiên
bản của Linux có chi phí ít hơn.

Linux không chỉ định một giao diện người dùng đồ họa. Trong thực tế, đó
là một huy hiệu danh dự cho hầu hết người dùng Linux để sử dụng dòng lệnh
càng nhiều càng tốt. Tuy nhiên, có rất nhiều Linux (và Unix) giao diện ứng dụng
rộng rãi. Để chạy phần mềm trên máy tính Linux, phần mềm này phải đ ược cụ
thể bằng văn bản cho Linux.




Nguyễn Sơn Tùng MSSV:
Đinh Trọng Thoại MSSV:
Chương 4: Tìm hiểu về hệ điều hành
GV: Nguyễn Quang Trung

SỬ DỤNG HỆ ĐIỀU HÀNH (Using Operating Systems)
Trong phần này, chúng ta sẽ tìm hiểu giao diện của công ty Microsoft
một cách toàn diện, đầu tiên xem xét các thành phần quan trọng của
nó và cuối cùng chúng ta sẽ tìm hiểu nhiệm vụ cơ bản thông thường
trên Windows 2000 và XP. Bao gồm các chủ đề chung sau đây:
Cửa sổ giao diện người dùng.

Máy tính của tôi.
Mạng máy tính
Trình điều khiển máy tính
Dấu nhắc lệnh
Cửa sổ đăng ký
Bộ nhớ ảo
Hệ thống tập tin
Cửa sổ trình duyệt
Tập tin và quản lý đĩa
Các giao diện cửa sổ đã rất thành công kể từ khi ra mắt . Mọi hệ
điều hành của công ty Microsoft có các tính năng chia sẻ hệ thống,
nhưng giữa chúng cũng có sự khác biệt.
Note: Đối với các kỳ thi A + Essentials, bạn sẽ cần biết khía cạnh khác
nhau của giao diện GUI cho Windows 2000 và hệ điều hành XP.

CÁC GIAO DIỆN WINDOWS (The Windows Interface)

Khi bạn nhìn vào màn hình của một máy chạy Windows 98 và sau đó nhìn
vào màn hình của một máy tính chạy Windows Me/NT/2000, rất khó
để phân biệt chúng. Nhưng nếu bạn nhìn kĩ hơn, bạn sẽ thấy rằng
tên của một số các biểu tượng khác nhau, nhưng đối với hầu hết các
phần thì chúng giống nhau. Tương tự như màn hình ở hình 4.1:




Nguyễn Sơn Tùng MSSV:
Đinh Trọng Thoại MSSV:
Chương 4: Tìm hiểu về hệ điều hành
GV: Nguyễn Quang Trung




(Hình 4.1 giao diện Windows )

Nếu bạn nhìn vào màn hình của một máy tính chạy Windows XP, bạn
sẽ nhận thấy rằng nó có vẻ hơi khác so với các giao diện cũ hơn. Tuy
nhiên, đừng lấy làm thất vọng,điều quan trọng là những tác vụ căn
bản vẫn làm việc theo cùng một cách.

Là một kỹ thuật viên, bạn sẽ nhanh chóng nhận ra rằng tiêu chuẩn chung
trong giao diện đồ họa của Microsoft là rất phù hợp cho bạn. Hầu
hết các nhiệm vụ cơ bản được thực hiện giống hệt nhau về mọi thứ
từ một máy tính Windows 95 cho đến máy tính Windows 2000 hay tiên
tiến hơn là với một máy tính Windows XP Chuyên nghiệp. Ngoài ra,
mặc dù các công cụ sử dụng thường xuyên có sự thay đổi giữa các
HĐH khác nhau, nhưng cách mà bạn sử dụng những công cụ này vẫn
nhất quán trên mọi nền tảng.
Chúng ta sẽ bắt đầu với một tổng quan của các yếu tố chung của
giao diện cữa sổ.




Nguyễn Sơn Tùng MSSV:
Đinh Trọng Thoại MSSV:
Chương 4: Tìm hiểu về hệ điều hành
GV: Nguyễn Quang Trung

Sau đó sẽ xét một số nhiệm vụ tương tự như trên các hệ điều hành
Windows.
CÁC MÁY TÍNH ĐỂ BÀN (the desktop)

Máy tính để bàn một thiết bị ảo hóa trên đó tất cả các chương trình và các
tiện ích của bạn khởi chạy sẽ được thực hiện. Bởi mặc định trong
nó có chứa các trình đơn Start, thanh Taskbar, và một số biểu tượng.
Các máy tính để bàn cũng có thể chứa các thành phần bổ sung khác,
chẳng hạn như trình duyệt web,thông qua việc sử dụng tính năng
của hoạt động máy tính.


Bạn có thể thay đổi các thuộc tính của màn hình như: hình nền của máy
tính để bàn, màn hình bảo vệ, màu sắc, và kích thước bằng cách kích
chuột phải vào bất kỳ khu vực trống của màn hình máy tính mà
không chứa các biểu tượng. Một thực đơn xuất hiện cho phép bạn
làm một số việc, chẳng hạn như tạo mới các mục trong dao diện
người-máy thay đổi, bố trí các biểu tượng, hoặc chọn một lệnh đặc
biệt gọi là tính chất.

Tương tự như hình- 4.2.

Nếu bạn nhìn vào máy tính của một máy tính chạy Windows XP, bạn sẽ
nhận không có thành phần hoạt động máy tính. Nhưng tính năng này
vẫn có, nhưng bạn phải truy cập thông qua thuộc tính. ( Máy tính
chỉnh Mạng.)
Tùy máy tính




Nguyễn Sơn Tùng MSSV:
Đinh Trọng Thoại MSSV:
Chương 4: Tìm hiểu về hệ điều hành
GV: Nguyễn Quang Trung

Hình 4.2 menu ngữ cảnh Desktop




Khi bạn nhấp chuột phải vào màng hình và chọn thuộc tình, bạn sẽ thấy
trình đơn xuất hiện- hiển thị các thuộc tính của màn hình. Tương tự
như trong hình 4.3.
Từ màn hình này, bạn có thể bấm vào các tab khác nhau ở trên cùng
để chuyển sang màn hình khác nhau.




Nguyễn Sơn Tùng MSSV:
Đinh Trọng Thoại MSSV:
Chương 4: Tìm hiểu về hệ điều hành
GV: Nguyễn Quang Trung

Tabs cũng tương tự như thẻ chỉ mục, trong đó chúng được sắp xếp so le trên
đầu trang để bạn có thể xem và truy cập dữ liệu trong các trình đơn
nhỏ của cửa sổ. Mỗi cửa sổ Properties có một bộ phận khác nhau.
Trong số các tab trong Cửa sổ hiển thị Properties như sau:
Chủ đề (Windows XP Only) được sử dụng để chọn một chủ đề cho
phép bạn nhanh chóng tùy chỉnh các giao diện cho máy tính của bạn.
Chẳng hạn như một bức tranh để hiển thị trên Desktop, giao diện
của các biểu tượng, âm thanh để sử dụng.Tất cả các tùy chọn này có
thể thực hiện theo 3 cách. Nhấp chuột trong của sổ window nhấp
chuột một lần duy nhất được sử dụng để chọn một đối tượng hoặc
đặt một con trỏ. Nhấp chuột chính hai lần liên tiếp được sử dụng
để mở một chương trình thông qua một biểu tượng hoặc cho các
chức năng ứng dụng cụ thể. Hầu hết các con chuột có hai nút. Nhấp
một lần vào nút thứ cấp (thường là một bên phải, mặc dù có thể
được thay đổi) trong Windows khi nhấp chuột phải thì sẽ hiển thị
một menu ngữ cảnh mà từ đó bạn có thể thực hiện nhiệm vụ hoặc
thiết lập lựa chọn riêng thông qua các tab khác Desktop Properties. Ví
dụ, nếu bạn cảm thấy dễ nhìn hơn với giao diện của phiên bản
Windows trước đó, bạn có thể chọn cửa sổ cổ điển chủ đề.

Properties(Windows 2000) / Desktop (Windows XP) Các tab nền trong
Windows 2000 được sử dụng để chọn một tài liệu HTML hoặc hình
ảnh để hiển thị trên màn hình máy tính. Ngoài việc cho phép bạn
thực hiện chức năng này, thì tab Desktop trong Windows XP cho phép
bạn cài đặt cấu hình khác nữa thông qua tuy chọn máy tính.




Nguyễn Sơn Tùng MSSV:
Đinh Trọng Thoại MSSV:
Chương 4: Tìm hiểu về hệ điều hành
GV: Nguyễn Quang Trung

Ví dụ như:thay đổi một biểu tượng mặc định để hiển thị trên màn hình
hay nội dung trang web cho các máy tính để bàn.
Bảo vệ màn hình: cho phép bạn thiết lập một bảo vệ màn hình tự
động để che màn hình của bạn nếu bạn không cử dụng máy trong
một thời gian nhất định. Được sử dụng để ngăn chặn màn hình
không bị cháy, bảo vệ màn hình hiện nay thường được dùng để giải
trí hoặc để mật khẩu bảo vệ máy tính để bàn của người dùng.




Nguyễn Sơn Tùng MSSV:
Đinh Trọng Thoại MSSV:
Chương 4: Tìm hiểu về hệ điều hành
GV: Nguyễn Quang Trung

Màn hình Saver tab : cũng cho phép bạn truy cập vào để thiết lập. Được sử
dụng để chọn màu sắc cho màn hình máy tính để bàn hoặc để thay
đổi màu sắc,kích thước của Desktop và các yếu tố khác.Sử dụng để
thiết lập độ sâu màu hoặc kích thước màn hình. Cũng có các nút
Advanced, trong đó dẫn đến
trình điều khiển đồ họa và
cài đặt cấu hình màn hình.



Tác dụng (Windows 2000)
:Có rất nhiều lựa chọn cho
các loại hình. Trong Windows
XP, một số trong các tùy
chọn hình ảnh có sẵn thông
qua các nút tùy chọn thuộc
tính trên tab Desktop. Cài đặt
sử dụng để thiết lập độ sâu
màu hoặc kích thước màn hình. Cũng có các nút Advanced, trong đó dẫn
đến điều khiển đồ họa và màn hình cài đặt cấu hình.
Web (Windows 2000) :Cho phép bạn thiết lập cấu hình Active
Desktop. Trong Windows XP, bạn có thể truy cập vào tab này thông
qua các nút tùy chỉnh máy tính trên tab Desktop.




Nguyễn Sơn Tùng MSSV:
Đinh Trọng Thoại MSSV:
Chương 4: Tìm hiểu về hệ điều hành
GV: Nguyễn Quang Trung

Hình 4.3 Hiển thị mà hình chi tiết:




Trong Windows 2000 bạn cũng có thể truy cập vào Display Properties
để cài đặt bằng cách sử dụng biểu tượng hiển thị dưới Bắt đầu
Cài đặt Bảng điều kiển. Trong Windows XP, bạn truy cập vào các
biểu tượng hiển thị dưới start  Control Panel.




Nguyễn Sơn Tùng MSSV:
Đinh Trọng Thoại MSSV:
Chương 4: Tìm hiểu về hệ điều hành
GV: Nguyễn Quang Trung

Thay đổi một bảo vệ màn hình
Để thay đổi bảo vệ màn hình trên Cửa sổ 2000 hoặc Windows XP, thực
hiện các bước sau:

1. Kích chuột phải vào máy tính.
2. Chọn Tính chất từ menu ngữ cảnh.
3. Nhấp vào tab Screen Saver.
4. Chọn 3D Box Hoa. Nhấp vào Xem trước để xem bảo vệ màn hình mới.
Di chuyển chuột đến hủy bỏ việc bảo vệ màn hình và quay trở lại hộp
thoại Display Tính chất.
5. Nhấp vào nút OK hoặc nút Apply. (OK thực hiện hai nhiệm vụ-Áp dụng
và xuất Áp dụng các cửa sổ, trong khi rời khỏi cửa sổ mở.)
Trong ví dụ 4.1:bạn sẽ thấy làm thế nào để thay đổi một bảo vệ
màn hình.
Các Taskbar
Các công (xem hình 4.4) là một thành phần tiêu chuẩn của giao diện Cửa
sổ. Lưu ý rằng mặc dù các màu sắc và cảm nhận của các thành phần máy
tính, bao gồm các thanh tác vụ, đã thay đổi trong Cửa sổ Windows XP, các
thành phần chính họ là như nhau. Thanh tác vụ chứa hai mục chính: trình
đơn Start và khay hệ thống (khay hệ thống). Các menu Start là ở phía bên
trái của Taskbar và có thể dễ dàng nhận dạng: nó là một nút có chữ Start
trên đó. Các khay hệ thống là nằm ở phía bên phải của thanh tác vụ và chỉ
chứa một đồng hồ mặc định, nhưng các tiện ích Cửa sổ khác (ví dụ, màn
hình bảo vệ hoặc bảo vệ virus tiện ích) có thể đặt các biểu tượng của họ
ở đây để cho biết rằng họ đang chạy và để cung cấp người sử dụng một
cách nhanh chóng để truy cập các tính năng của họ.




Nguyễn Sơn Tùng MSSV:
Đinh Trọng Thoại MSSV:
Chương 4: Tìm hiểu về hệ điều hành
GV: Nguyễn Quang Trung

Windows cũng sử dụng diện tích còn lại của thanh Taskbar để khi bạn mở
một cửa sổ mới hoặc ẩn nó đi nó đi thì thanh taskbar có nhi ệm vụ
đánh dấu giúp vho bạn thực hiện và sử dụng một hay nhiều chương
một hơn.
trình cách nhanh
Taskbar và tạm dừng cho đến khi con trỏ biến thành một mũi tên hai
đầu. Một khi điều này xảy ra,nhấp chuột và di chuyển nó lên để làm
cho thanh công lớn hơn. Hoặc di chuyển nó xuống để làm Thanh tác
vụ nhỏ hơn. Bạn cũng có thể di chuyển thanh Taskbar để đầu hoặc
mặt của bằng nhấn
màn hình cách vào
Taskbar và kéo nó đến vị trí mới.
Trong Windows XP, một khi bạn cài đặt các vị trí công và bố trí phù
hợp với ý thích của bạn, bạn có thể thiết đặt nó để nó không thể thay
đổi ngẫu hiên. Để làm điều đó, bạn kích chuột phải vào Taskbar và
chọn Lock The Taskbar. Để mở khóa Taskbar và thay đổi, kích chuột
phải vào Taskbar và chọn Lock The Taskbar để trả lại trạng thái ban
đầu.
Trong ví dụ 4.2: chúng tôi sẽ chỉ cho bạn cách tự động ẩn thanh
Taskbar.




Nguyễn Sơn Tùng MSSV:
Đinh Trọng Thoại MSSV:
Chương 4: Tìm hiểu về hệ điều hành
GV: Nguyễn Quang Trung

Start Menu
Quay lại khi Microsoft chính thức giới thiệu Windows 95, nó đã mua
quyền sử dụng của Rolling Stones bài hát "Start Me Up" để sử dụng
trong các quảng cáo của và giới thiệu. Microsoft chọn một bài ca đặc
biệt này bởi vì các trình đơn Start là điểm trung tâm nhất,và nó được
sử dụng cho cả các phiên bản tiếp theo. Để hiển thị menu Start, kích
vào nút Start trên thanh Taskbar. Bạn sẽ thấy một trình đơn Start.

Trong Cửa sổ Windows XP, một khi bạn đã cấu hình các vị trí công và bố
tríý thích của bạn, bạn có thể cấu hình nó để nó không thể thay đổi
tình cờ. Để làm do đó, kích chuột phải vào Taskbar và chọn Lock The
Taskbar. Để mở khóa Taskbar và thay đổi, kích chuột phải vào
Taskbar và chọn Lock The Taskbar lại.




Tương tự như thể hiện trong hình 4.5.




Nguyễn Sơn Tùng MSSV:
Đinh Trọng Thoại MSSV:
Chương 4: Tìm hiểu về hệ điều hành
GV: Nguyễn Quang Trung




Nguyễn Sơn Tùng MSSV:
Đinh Trọng Thoại MSSV:
Chương 4: Tìm hiểu về hệ điều hành
GV: Nguyễn Quang Trung



Tự động ẩn thanh tác vụ bạn có thể làm cho Thanh tác vụ tự động
ẩn mình khi nó không được sử dụng (do đó giải phóng không gian
hoặc cửa sổ
các khác):
1. Kích chuột phải vào thanh tác vụ.
2. Chọn thuộc tính, mà sẽ mang đến những màn hình thanh tác vu và
thực đơn các thuộc tính.
3. Trong Windows 2000, đánh dấu tùy chọn tự đọng ẩn trên tab tổng
quát. Trong Windows XP, hãy kiểm tra Auto-Hide Taskbar trên tab
Taskbar.
4. chọn OK.
5. Trong Windows 2000, di chuyển chuột để phía trên cùng của máy
tính để bàn hoặc nhấn vào Desktop. Các Taskbar sẽ rút ra khỏi màn
hình. Trong Windows XP, Taskbar sẽ tự vô hiệu hóa ngay khi bạn
click OK.
6. Di chuyển con trỏ chuột đến dưới cùng của màn hình, và Taskbar
sẽ hiện lên và sử dụng như bình thường. thực đơn đã thay đổi khá
nhiều so với phiên bản trước của Windows.

Windows XP Start menu
Phục vụ các chức năng tương tự như (truy cập nhanh vào các tính
năng quan trọng và các chương trình) tuy nhiên nó lại hiện và các tùy
chọn đã thay đổi. Lưu ý : rằng nếu bạn thay đổi sự xuất hiện của
máy tính để bàn theo windows Classic , điều này chỉ thay đổi màu sắc
và do đó trên các tùy chọn và bố trí Windows XP Start menu vẫn khác
với phiên bản cũ của Windows.




Nguyễn Sơn Tùng MSSV:
Đinh Trọng Thoại MSSV:
Chương 4: Tìm hiểu về hệ điều hành
GV: Nguyễn Quang Trung

Làm thế nào để sử dụng được các trình đơn Start (các nguyên tắc đó được
áp dụng) về bản chất là giống nhau trong win dows XP cũng như
trong phiên bản cũ. Từ trình đơn Start, bạn có thể chọn bất kỳ tùy
chọn trình đơn khác nhau .Một mũi tên trỏ sang bên phải cho thấy
một trình đơn phụ có sẵn. Để chọn một menu con, di chuyển con trỏ
chuột qua tiêu đề menu con và tạm dừng. Các menu con sẽ xuất hiện,
bạn thậm chí không phải nhấp chuột. (Bạn phải nhấp chuột để
chọn một tùy chọn trên menu con.) Chúng ta sẽ thảo luận mỗi tùy
chọn trình đơn phụ trong trình đơn Start mặc định và cách sử dụng
chúng. Một trong những tính năng tiện dụng của trình đơn Start
trong Windows XP trước khi các phiên bản của Windows là nó
thường hiển thị tên của các loại hệ điều hành cùng phụ của nó khi
bạn kích hoạt nó. Điều này cung cấp một cách tuyệt vời nhất để
nhanh chóng xem liệu bạn đang trên Windows 95, 98, Me, NT, hay
2000. Trong windows XP bạn không thấy tên của hệ điều hành, tuy
nhiên, trình đơn Start trông rất khác nhau bạn sẽ biết bạn đang sử
dụng Windows XP. (The Windows XP Start menu cũng hiển thị tên
của hiện tại người dùng đã đăng nhập ở đầu trang.)




Windows XP Start menu




Nguyễn Sơn Tùng MSSV:
Đinh Trọng Thoại MSSV:
Chương 4: Tìm hiểu về hệ điều hành
GV: Nguyễn Quang Trung

Menu đã thay đổi khá nhiều từ phiên bản trước của Windows. Windows XP
Start menu phục vụ các chức năng tương tự (truy cập nhanh vào các
tính năng quan trọng và các chương trình), tuy nhiên, nó hiển thị các
tùy chọn đã thay đổi. Lưu ý rằng nếu bạn thay đổi sự xuất hiện của
máy tính để bàn đến windows Classic, điều này chỉ thay đổi màu sắc
và do đó trên các tùy chọn và bố trí Windows XP Start menu vẫn khác
so với phiên bản cũ của windowsdows XP.
Từ trình đơn Start, bạn có thể chọn bất kỳ tùy chọn trình đơn khác
nhau trình bày. Một mũi tên trỏ sang bên phải cho thấy một trình
đơn phụ có sẵn. Để chọn một menu con, di chuyển con trỏ chuột qua
tiêu đề menu con và tạm dừng. Các menu con sẽ xuất hiện, bạn thậm
chí không phải nhấp chuột. (tuy nhiên bạn phải nhấp chuột để chọn
một tùy chọn trên menu con). Chúng ta sẽ thảo luận mỗi tùy chọn
trình đơn phụ trong trình đơn Start mặc định và cách sử dụng của
chúng.
Một trong những tính năng tiện dụng của trình đơn Start trong
Windows XP trước khi các phiên bản của Windows là nó thường hiển
thị tên của các loại hệ điều hành cùng phụ lục của nó khi bạn kích
hoạt nó. Điều này cung cấp một cách tuyệt vời để nhanh chóng xem
liệu bạn đang trên Windows 95, 98, Me, NT, hay 2000.Trong windows
XP bạn không thấy tên của hệ điều hành. Tuy nhiên, trình đơn Start
trông rất khác so với các phiên bản khác điều đó sẽ cho bạn biết bạn
đang sử dụng Windows XP. ( Windows XP Start menu cũng hiển thị
tên của người dùng đã đăng nhập ở đầu trang.)




Nguyễn Sơn Tùng MSSV:
Đinh Trọng Thoại MSSV:
Chương 4: Tìm hiểu về hệ điều hành
GV: Nguyễn Quang Trung

Trong mục thuộc tính Pre-Windows XP của Windows, bạn cũng có thể kiểm
tra hệ điều hành bạn đang sử dụng bằng cách kích chuột vào biểu
tượng My Computer trên Desktop và chọn Properties. Các loại hệ
điều hành và phiên bản được hiển thị trên tab đầu tiên. Trong
windows XP,các biểu tượng My Computer có thể không hiển thị trên
Desktop theo mặc định.Bạn có thể thêm vào biểu tượng này vào
Desktop bằng cách sử dụng Display Properties (nhấn vào Customize
Desktop trên tab Desktop, chọn My Computer trên tab, và áp dụng các
thay đổi của bạn), hoặc bạn có thể click Start và sau đó nhấp chuột
phải vào My computer và chọn thuộc tính. Nếu bạn không muốn sử
dụng trình đơn menu start như trước (windows-classic) thì bạn cũng
có thể thay đổi.Để thực hiện,bạn nhấn chuột phải vào các Taskbar
và chọn Properties. Nhấp vào tab Start Menu, chọn Classic Start
Menu, và bấm OK. .Chương trình (Windows 2000) / All Programs
(Windows XP) menu con.Tất cả các chương trình đơn phụ nắm giữ
các nhóm chương trình và biểu tượng chương trình bạn có thể sử
dụng. Khi bạn chọn menu này, bạn sẽ được hiển thị một menu con,
với một menu con cho từng nhóm chương trình. Trong Windows XP,
mục Search có khác biệt đôi chút, nhưng các chức năng là như nhau.
Bạn có thể điều hướng thông qua trình đơn này và các menu con của
nó và nhấn vào chương trình bạn muốn bắt đầu. Trong Windows XP,
sau khi bạn cài đặt một chương trình mới hoặc một nhóm chương
trình thì sẽ được tô đậm trên trình đơn Start để bạn có thể tìm thấy
nó dễ dàng.Cách phổ biến nhất để thêm các chương trình cho menu
con này là sử dụng một ứng dụng cài đặt chương trình(add/remove
software).Trong Windows 2000 và Windows XP nếu bạn đang sử dụng
Classic Start Menu, bạn cũng có thể thêm các chương trình đơn phụ




Nguyễn Sơn Tùng MSSV:
Đinh Trọng Thoại MSSV:
Chương 4: Tìm hiểu về hệ điều hành
GV: Nguyễn Quang Trung

này bằng cách sử dụng màn hình Taskbar Properties (nhấn phải
chuột trên thanh Taskbar và chọn Properties).

Tài liệu của tôi (2000) / Tài liệu dần đây của tôi (Windows XP) Chức năng:
để theo dõi 15 dữ liệu mới nhất hay các tập tin bạn đã mở. Bất cứ
khi nào bạn mở một tập tin, một phím tắt Automatically được thực
hiện trong trình đơn này. Để mở tài liệu một lần nữa, hãy nhấp vào
tài liệu trong hệ thống Documents menu để mở nó trong ứng dụng
liên kết. Trong Windows XP, tính năng này không phải là kích hoạt
mặc định. Để kích hoạt nó, trong màn hình Taskbar và Start Menu
Properties, click các tab Start Menu và sau đó nhấp vào Customize bên
cạnh Start Menu. Nhấp vào tab Advanced, Danh sách chọn lựa chọn
gần đây nhất được mở ra, và sau đó nhấp OK. Một lựa chọn được
gọi là Recent My Documents được thêm vào trình đơn Start, nó sẽ
liệt kê 15 tài liệu gần đây nhất mà bạn đã mở.




Nguyễn Sơn Tùng MSSV:
Đinh Trọng Thoại MSSV:
Chương 4: Tìm hiểu về hệ điều hành
GV: Nguyễn Quang Trung

Để xóa danh sách các tài liệu trong My Documents (2000) / Recent My
Documents ,bạn vào màn hình Taskbar và Start Menu Properties. Sau
đó sử dụng nút Clear trên tab Advanced. (Hãy nhớ rằng bạn truy cập
vào tab Advanced trong Windows XP thông qua các nút Customize trên
Tab Start Menu.)
Cài đặt trình đơn phụ (Windows 2000)
Các menu con Settings cung cấp khả năng truy cập dễ dàng vào cấu
hình của Windows. Trình đơn này có nhiều menu con, bao gồm cả
Control Panel, máy in, và Taskbar và Start Menu. Additional menu có
sẵn, tùy thuộc vào phiên bản Windows bạn đang sử dụng. Những phụ
menu cho bạn truy cập vào Control Panel, điều khiển máy in, và các
vùng cấu hình Taskbar. Bạn cũng có thể truy cập vào hai khu vực
đầu tiên từ biểu tượng My Computer, chúng được đặt lại với nhau ở
đây để cung cấp cho một khu vực công cộng để truy cập vào
Windows cài đặt. Trong Windows XP, bạn sẽ tìm thấy Control Panel
như một lựa chọn trực tiếp từ trình đơn Start (không phải dưới
dạng một trình đơn phụ). Bạn có thể thêm các tùy chọn khác (như
máy in và fax) vào menu Start bằng cách sử dụng các tùy chọn trên tab
Advanced của màn hình Taskbar và Start Menu Properties
(Thông qua nút Customize).


Search (Tìm)




Nguyễn Sơn Tùng MSSV:
Đinh Trọng Thoại MSSV:
Chương 4: Tìm hiểu về hệ điều hành
GV: Nguyễn Quang Trung

Menu con Setting cung cấp cho người dung truy cập một cách dễ dàng vào
cấu hình của windows. Trình đơn này có nhiều menu con, bao gồm cả
Control Panel, máy in,Taskbar và Start Menu. Menu này được tích
hợp sẵn, tùy thuộc vào phiên bản Windows bạn đang sử dụng.
Những menu phụ cho bạn truy cập vào Control Panel, điều khiển
máy in, và điều chỉnh đặc tính của Taskbar. Bạn cũng có thể truy
cập vào hai mục đầu tiên từ biểu tượng My Computer, chúng được
đặt với nhau ở đây để cho phép truy cập vào Windows setting nhanh
nhất.

Hinh 4.6 tùy chọn tìm kiếm trong menu phụ.




Trong windows XP,bạn sẽ tìm thấy Control panel như là một lựa chọn trực
tiếp từ trình đơn Start Menu.bạn cũng có thể vào các tùy chọn
khác( như máy in và máy fax) vào Menu Start bằng cách sử dụng tùy
chọn trên tab Advanced của màn hình Taskbar và Start Menu
Properties thông qua nút cumtus).




Nguyễn Sơn Tùng MSSV:
Đinh Trọng Thoại MSSV:
Chương 4: Tìm hiểu về hệ điều hành
GV: Nguyễn Quang Trung

Trong Windows XP, để tìm một tập tin hoặc thư mục, click vào tùy chọn
tìm kiếm trong trình đơn Start. Làm như vậy sẽ mở ra các kết quả
tìm kiếm hộp thoại thể hiện trong hình 4.7.

Trong khung bên trái, nhấp chuột vào tất cả các tập tin và thư mục, và sau
đó nhập vào các thông tin thích hợp trong các lĩnh vực văn bản. Mở
rộng mũi tên chỉ xuống đôi để truy cập vào tùy chọn nâng cao. Để
bắt đầu tìm kiếm, click Search. Các kết quả tìm kiếm hiển thị trong
khung bên phải.

Windows luôn luôn có một hệ thống giúp đỡ rất tốt. Ngoài ra, hệ thống Trợ
giúp được cập nhật với một giao diện mới và các công cụ mới trong
Windows XP. Bởi vì tính hữu dụng của nó,nó đã được đặt trong trình
đơn Start để truy cập dễ dàng.Trong Windows 2000, khi bạn chọn
lệnh Help, nó sẽ trả trợ giúp trong một của sổ trong Windows XP,
khi bạn nhấp vào Trợ giúp và Hỗ trợ,các trung tâm,thong tin hỗ trợ
sẽ được hiện ra. Màn hình này có thể có được một chút tùy chỉnh
bởi một nhà cung cấp phần cứng nếu Windows XP được cài đặt sẵn
trên máy của bạn. Tuy nhiên, tất cả các tùy chọn và công cụ có sẵn sẽ
vẫn hiển thị đầy đủ. Một cách nhanh chóng để truy cập vào Trợ
giúp là bấm phím F1.

Hình 4.7 Kết quả hộp thoại tìm kiếm trong Windows XP.




Nguyễn Sơn Tùng MSSV:
Đinh Trọng Thoại MSSV:
Chương 4: Tìm hiểu về hệ điều hành
GV: Nguyễn Quang Trung




Nguyễn Sơn Tùng MSSV:
Đinh Trọng Thoại MSSV:
Chương 4: Tìm hiểu về hệ điều hành
GV: Nguyễn Quang Trung

Run Command
Bạn có thể sử dụng lệnh Run để bắt đầu chương trình, nếu họ
không có một shortcut trên Desktop hoặc trong Chương Trình menu
con. Khi bạn chọn Run từ menu Start, một màn hình tương tự như
trong Hình 4.8.




Hình 4.8.



Để thực hiện một chương trình cụ thể, nhập tên thư mục và đường dẫn
mà bạn muốn mở vào mục Open. Nếu bạn không biết đường dẫn
chính xác, bạn có thể duyệt để tìm tập tin bằng cách nhấn vào
browse . Một khi bạn đã gõ vào tên thực thi, nhấn OK để chạy
chương trình.
Trong ví dụ 4.3 : bạn sẽ được biết làm thế nào để bắt đầu một
chương trình từ cửa sổ Run.

Bắt đầu một chương trình từ cửa sổ Run
Ứng dụng có thể dễ dàng được bắt đầu từ cửa sổ Run, bạn sẽ tìm
thấy và mở nó một cách nhanh hơn so với việc tìm kiếm các biểu
tượng trong menu Start.




Nguyễn Sơn Tùng MSSV:
Đinh Trọng Thoại MSSV:
Chương 4: Tìm hiểu về hệ điều hành
GV: Nguyễn Quang Trung

Vd: mở mục notepad
1. chọn Start Run.
2. Trong trường Open, gõ ghi chú.3. Click OK. Notepad sẽ mở trong một
cửa sổ mới.


Nếu chương trình bạn muốn chạy đã được chạy từ cửa sổ Run trước,
bạn có thể tìm thấy nó trong danh sách thả xuống của lĩnh vực mở. Nhấp
vào mũi tên xuống để hiển thị danh sách, và sau đó chọn chương trình bạn
muốn bằng cách nhấp vào tên của nó và nhấp OK.
Shut Down Command (Windows 2000) / Turn Off Computer Command
(Windows XP)
Windows hệ điều hành là rất phức tạp. Tại một thời gian bất kì nào đó, có
nhiều file được mở. Nếu bạn vô tình ngắt điện và tắt máy tính trong khi các
tập tin đang được mở, thì kkhar năng các file đó bị hỏng là rất cao.Vì lý do
này, Microsoft đã bổ sung thêm Shut Down (pre-Windows XP) hoặc Turn Off
Computer (Windows XP) nằm trong mục Start menu. Lưu ý rằng với cấu
hình gọi là Fast User Switching, Windows XP hiển thị màn hình Shut Down,
hơn là Turn Off Computer. Khi bạn chọn tùy chọn này, đầu tiên Windows sẽ
đưa ra cho bạn nhiều lựa chọn. Nhưng những tùy chọn phụ thuộc vào
Windows phiên bản bạn đang chạy.

Các lựa chọn có thể là như sau:
Shut Down (Windows 2000) / Turn Off (Windows XP)




Nguyễn Sơn Tùng MSSV:
Đinh Trọng Thoại MSSV:
Chương 4: Tìm hiểu về hệ điều hành
GV: Nguyễn Quang Trung

Tùy chọn này ghi dữ liệu chưa được lưu vào đĩa, đóng bất kỳ ứng dụng
đang mở, và cho phép các máy tính sẵn sàng tắt nguồn. Tùy thuộc hệ
điều hành mà cho phép máy tính tắt nguồn tự động, hoặc bạn sẽ
thấy một màn hình màu đen với thông điệp của nó bây giờ an toàn để
tắt máy tính của bạn. Trong trường hợp này, bạn có thể tắt điện
máy tính hoặc nhấn Ctrl + Alt + Del để khởi động lại máy tính.
Khởi động lại(restart) : tùy chọn này hoạt động giống như tùy chọn
đầu tiên, nhưng thay vì tắt máy tình hoàn toàn , nó sẽ tự động khởi
động lại máy tính(hay còn gọi khởi động lại nóng).
Stand By (Windows XP) : Tùy chọn này đặt máy tính vào trạng thái
năng lượng thấp nhất.Màn hình và ổ đĩa cứng sẽ được tắt, và máy
tính sử dụng ít năng lượng hơn. Để tiếp tục làm việc, nhấn một
phím bất kì trên bàn phím và máy tính sẽ trở lại trạng thái ban đầu
của nó. Trong trạng thái này, các tập tin đang làm việc sẽ không
được lưu vào đĩa cứng, vì vậy nếu chẳng may một sự cố về điện xảy
ra,hay mất điện thì dữ liệu trong bộ nhớ sẽ bị mất.
Nếu bạn kích hoạt tính năng Hibernation trên một máy Windows XP,
bạn có thể đặt com- puter vào ngủ đông bằng cách giữ phím Shift
trong khi nhấn Stand By trong Turn Off Computer trên màn hình. Sử
dụng tính năng Hibernation, bất kỳ tin tức tion trong bộ nhớ được
lưu vào đĩa trước khi máy tính được đưa vào một điện năng thấp nhà
nước. Như vậy, nếu bị mất điện trong khi máy đang ở trong ngủ
đông, dữ liệu của bạn không bị mất. Tuy nhiên, đi vào và ra khỏi ngủ
đông mất nhiều thời gian hơn vì đi vào và ra khỏi chế độ chờ.
Các biểu tượng(icons):




Nguyễn Sơn Tùng MSSV:
Đinh Trọng Thoại MSSV:
Chương 4: Tìm hiểu về hệ điều hành
GV: Nguyễn Quang Trung

Các biểu tượng gần như không phức tạp như trong cấu trúc của nó, nhưng
chúng cũng quan trọng không kém. Biểu tượng là các con đương tắt
ngắn nhất cho phép người dùng mở một chương trình, tiện ích một
cách nhanh nhất. Các biểu tượng bao gồm một số yếu tố chính:

Nhãn icon.

Đồ họa của biểu tượng.

Địa chỉ của chương trình Các nhãn và đồ họa đơn giản cho người dùng
biết tên của chương trình và đưa ra một gợi ý trực quan về những
chương trình đó. Các biểu tượng cho chương trình. Ví dụ, có dán
nhãn, và biểu tượng của nó đồ họa là một bộ bài. Bằng cách nhấn
chuột phải biểu tượng một lần, bạn thực hiện là biểu tượng biểu
tượng hoạt động, và một trình đơn thả xuống xuất hiện. Một trong
những lựa chọn là Properties. Nhấp vào Properties sẽ trả về thuộc
tính của biểu tượng (xem hình 4.9) và là cách duy nhất để xem chính
xác mà một biểu tượng chương trình được cấu hình để bắt đầu và
nơi thực thi của chương trình là nằm. Bạn cũng có thể xác định xem
có nên chạy chương trình trong một cửa sổ thông thường hoặc tối đa
hoặc giảm thiểu.




Nguyễn Sơn Tùng MSSV:
Đinh Trọng Thoại MSSV:
Chương 4: Tìm hiểu về hệ điều hành
GV: Nguyễn Quang Trung




Hình 4.9.

Trong Windows XP, chức năng bổ sung đã được thêm vào Properties của
một biểu tượng để cho phép cho tương thích với các phiên bản cũ
của Windows. Để thiết đặt bạn hãy nhấp vào Compatibility tab và
chỉ định các phiên bản của Windows mà bạn muốn cấu hình thích
ứng. Lựa chọn bao gồm Windows 95, Windows 98/Me, Windows NT
4.0 (Service Pack 5), và Windows 2000. Tính năng này rất hữu ích nếu
bạn sở hữu chương trình được sử dụng để làm việc trong các phiên
bản cũ hơn của windows, nhưng không còn chạy trên Windows XP.
Ngoài ra, bạn có thể chỉ định các cài đặt hiển thị khác nhau để có thể
đápuwngs yêu cầu của chương trình cũ.



Nguyễn Sơn Tùng MSSV:
Đinh Trọng Thoại MSSV:
Chương 4: Tìm hiểu về hệ điều hành
GV: Nguyễn Quang Trung



Standard Desktop Icons
Ngoài những tùy chọn trong trình đơn Start của bạn, một số biểu
tượng được đặt trực tiếp trên màn hình máy tính. Ba trong những
biểu tượng quan trọng là My Computer, Network Neighborhood / My
Network Places, và Recycle Bin. Trong Windows XP, My Computer và
My Network bạn sẽ không thấy được các biểu tượng này do bạn cài
đặt Clasic Menu,vì vậy nếu muốn thấy chúng bạn chỉ cần thay đổi
giao diện Menu Start chúng. Hướng dẫn về việc làm thế nào để thêm
vào màn hình biểu tượng my computer đã được đưa ra trước đó
trong phần "Start “.

Biểu Tượng My Computer




Nguyễn Sơn Tùng MSSV:
Đinh Trọng Thoại MSSV:
Chương 4: Tìm hiểu về hệ điều hành
GV: Nguyễn Quang Trung

Nếu bạn kích đúp vào biểu tượng My Computer, nó sẽ hiển thị một danh
sách tất cả các ổ đĩa đã cài đặt trong máy tính của bạn. Trong pre-
Windows của phiên bản Windows XP, nó cũng hiển thị một số bi ểu
tượng của Control Panel và các thư mục, có thể được dùng để cài
đặt cấu hình hệ thống.
Trong Windows XP, My Computer không mặc định hiển thị một biểu
tượng cho Control Panel (Mặc dù bạn có thể cấu hình nó để làm điều
đó bằng cách vào Tools Folder Options Và quy định cụ thể để hiển thị
Control Panel trong My Computer trên tab View) hoặc cho máy in, tuy
nhiên, ngoàiNghe việc hiển thị ổ đĩa, nó cũng hiển thị một danh sách
các thiết bị khác gắn liền với máy tính, chẳng hạn như máy quét, máy
ảnh, thiết bị di động, và nhiều thiết bị khác. Trong Windows XP, tất
cả các thiết bị đĩa được sắp xếp vào những mục như Hard Disk
Drives, thiết bị Với Removable Storage, Máy quét và Máy ảnh và v..v...
Nếu bạn kích đúp vào một ổ đĩa hoặc thiết bị, bạn sẽ thấy các nội
dung của đĩa cứng hoặc thiết bị. Bạn có thể nghiên cứu sâu hơn vào
từng ổ đĩa hoặc thiết bị bằng cách nhấp đúp vào nó. Nội dung hiển
thị trong cùng một cửa sổ. Bạn có thể sử dụng công cụ folders(Thư
mục) để cài đặt mỗi thư mục để mở trong một cửa sổ mới. Có
nhiều cửa sổ mở giúp bạn dễ dàng sao chép và di chuyển các tập tin
giữa các ổ đĩa và giữa các thư mục bằng cách kéo thả vào các cửa sổ.
Ngoài việc cho phép bạn truy cập vào các file của máy tính, các biểu
tượng My Computer cho phép bạn xem cấu hình máy của bạn và
phần cứng, hay còn gọi là thuộc tính hệ thống.

Trong ví dụ: 4.4: bạn sẽ thấy làm thế nào để xem thông tin hệ thống chi
tiết (System Properties.)

Viewing System Properties (Xem Thuộc Tính Của Hệ Thống)




Nguyễn Sơn Tùng MSSV:
Đinh Trọng Thoại MSSV:
Chương 4: Tìm hiểu về hệ điều hành
GV: Nguyễn Quang Trung

1. Kích chuột phải vào biểu tượng My Computer (trên Desktop trong
Windows XP còn với các phiên bản của windows thì vào trong trình
đơn Start ).
2. Chọn Properties.
3. Trên màn hình thuộc tính của hệ thống(System Properties) (Tổng
quan màn hình Windows XP), nhìn xem những thông số của bộ vi xử
lý máy tính của bạn sử dụng và bao nhiêu RAM được cài đặt. Màn
hình này cũng như cho bạn biết phiên bản của Windows mà bạn
đang sử dụng. Chúng ta sẽ xem xét các thuộc tính hệ thống chi tiết
hơn trong cácchương sau này.

My Network Places (Hệ Thống Mạng Của Tôi)
Một biểu tượng trong Windows có liên quan để truy cập đến máy
tính khác hay các máy tính trong mạng cục bộ, và nó được gọi là My
Network Places (Network Neighborhood pre-Windows 2000).




Nguyễn Sơn Tùng MSSV:
Đinh Trọng Thoại MSSV:
Chương 4: Tìm hiểu về hệ điều hành
GV: Nguyễn Quang Trung

Trong Windows XP, các biểu tượng My Network Places không được hiển thị
trên Desktop theo mặc định. Bạn có thể thêm biểu tượng này vào
(theo cách thức giống như vậy có thể thêm các biểu tượng My
Computer nếu không có), hoặc bạn có thể đặtt My Network bằng
nhấn
cách vào Start My Network places

Mở hệ thống mạng cho phép bạn duyệt và truy cập vào các máy tính
khác và chia sẻ tài nguyên với các máy tính mà bạn được kết nối.
Điều này có thể là một máy tính khác trong một nhóm làm việc, tên
miền, hoặc môi trường mạng khác (chẳng hạn như một mạng Novell
netware).
Bạn cũng có thể sử dụng My Network Places để thiết lập kết nối
mới đến các tài nguyên chia sẻ thông qua các thuộc tính của My
Network places bạn có thể cài đặt cấu hình mạng của bạn. Bao gồm
cả mạng LAN và kết nối dial-up. Bạn sẽ tìm hiểu về mạng cụ thể
trong Chương 8.




Nguyễn Sơn Tùng MSSV:
Đinh Trọng Thoại MSSV:
Chương 4: Tìm hiểu về hệ điều hành
GV: Nguyễn Quang Trung

THE RECYCLE BIN (Thùng Rác)
Tất cả các file, thư mục, và các chương trình trong Windows được
đại diện bởi các biểu tượng và thường được gọi là đối tượng. Khi
bạn muốn loại bỏ một đối tượng từ Windows bằng cách xoá bỏ nó.
Deleting là chức năng loại bỏ các đối tượng, tuy nhiên, nó cũng loại
bỏ khả năng truy cập lại hệ thống thông tin hay đối tượng đã xóa, .
Vì lý do này, Windows bao gồm một chức năng dặc biệt,nơi mà tất cả
các file đã xóa được lưu giữ lại ở đây.Đó là Recycle Bin. Hay còn gọi
là thùng rác,có chứa các tập tin đã xóa cho đến khi người dung dọn
dẹp nó và cho phép người dùng cơ hội để khôi phục tập tin mà họ vô
cần lấy lại.
tình xóa đi hay
Bạn có thể lấy một tập tin bạn đã xóa bằng cách mở biểu tượng
Recycle Bin và sau đó kéo các file từ Recycle Bin đến nơi mà bạn
muốn khôi phục lại nó. Ngoài ra, bạn có thể nhấp chuột phải một
tập tin và chọn Restore, và tập tin sẽ được khôi phục trở lại vị trí đó
đã được xóa từ trước.
Nếu bạn có cài đặt phần mềm chống virus thì tên tùy chọn trong
thùng rác có thể thay đổi.




Nguyễn Sơn Tùng MSSV:
Đinh Trọng Thoại MSSV:
Chương 4: Tìm hiểu về hệ điều hành
GV: Nguyễn Quang Trung

Ví dụ : nếu bạn có Norton Antivirus cài đặt và bạn nhấn chuột phải vào
một tập tin, bạn sẽ thấy rằng tùy chọn Restore đã được đổi tên
thành Recover. Để vĩnh viễn xóa các tập tin, bạn cần phải làm trống
Recycle Bin, qua đó xóa bất kỳ mục trong đó và giải phóng không gian
cho ổ đĩa cứng. Nếu bạn muốn xóa cụ thể một tập tin hay thư mục
nào đó nhưng không tất cả, bạn có thể chọn những file (s) trong
Recycle Bin, kích chuột phải vào đối tượng, và chọn Delete. Bạn cũng
có thể xóa vĩnh viễn các tập tin (bỏ qua Recycle Bin) bằng cách giữ
phím Shift khi bạn xóa các tập tin (bằng cách kéo và thả các tập tin
trong Recycle Bin, bấm Del phím, hoặc nhấp chuột vào Delete trên
menu ngữ cảnh của file). Nếu các thùng rác có các tập tin trong đó,
biểu tượng của nó trông giống như các thùng rác đầy đủ có thể
được hiển thị trên bên trái trong hình 4.10 : sau khi được làm trống,
biểu tượng của nó hiển thị thực tế như hiển thị bên phải.


Hình 4,10 A đầy đủ (trái) và trống (phải) Recycle Bin




Ví dụ bạn sẽ thấy làm thế nào để làm trống Recycle Bin.
4.5:
Dọn sạch thùng rác.




Nguyễn Sơn Tùng MSSV:
Đinh Trọng Thoại MSSV:
Chương 4: Tìm hiểu về hệ điều hành
GV: Nguyễn Quang Trung

Đã khi nào cha mẹ của bạn nói với bạn đưa rác vào các thùng rác chưa?
Dọn thùng rác định kì sẽ giúp làm sạch ổ đĩa cứng của bạn.
1. Kích chuột phải vào thùng rác.
2. Chọn Empty Recycle Bin.
3. Một cửa sổ sẽ xuất hiện hỏi bạn có chắc chắn muốn xoá vĩnh
viễn đối tượng.
các
Nhấn Yes.

Có gì trong một cửa sổ?
Chúng ta có bây giờ nhìn vào bản chất của Desktop, Taskbar, menu Start, và
các biểu tượng. Mỗi thành phần này được tạo ra với mục đích chính
là giúp cho người sử dụng truy cập vào các ứng dụng dễ dàng hơn,
và quản lí các ứng dụng thông qua việc sử dụng các cửa sổ, các các
tab,bảng chọn trong môi trường hệ điều hành Windows . Chúng tôi
sẽ kiểm tra các cửa sổ làm việc như thế nào và chúng được sử dụng
làm nhưng gì.
Một cửa sổ chương trình là một khu vực hình chữ nhật được tạo ra
trên màn hình khi một ứng dụng được mở trong Windows. Cửa sổ
này có thể có một số hình thức khác nhau, nhưng hầu hết các cửa số
gồm nhất một yếu tố cơ bản.
luôn bao ít vài
Các yếu tố của một cửa sổ
Một số yếu tố cơ bản được trình bày trong một cửa sổ chuẩn.
Hình 4,11 hiển thị hộp điều khiển, thanh tiêu đề, nút Minimize, Restore nút,
nút Close, và Border thay đổi kích thước trong trình soạn thảo văn
bản gọi là Notepad (notepad.exe) có tất cả các yếu tố cửa sổ cơ bản
và nhỏ khác.
Các yếu tố cửa sổ cơ bản như sau:
Hộp điều khiển:




Nguyễn Sơn Tùng MSSV:
Đinh Trọng Thoại MSSV:
Chương 4: Tìm hiểu về hệ điều hành
GV: Nguyễn Quang Trung

Ở góc trên bên trái của cửa sổ. Được sử dụng để kiểm soát tình trạng các
ứng dụng(Application). Nó có thể được sử dụng để tối đa hóa, giảm
thiểu, và đóng ứng dụng. Nhấp vào nó một lần để xem menu lựa
chọn. Double-click vào nó để đóng cửa sổ hay tắt các ứng dụng .


Giảm thiểu và phục hồi nút bấm:
Sử dụng để thay đổi trạng thái của cửa sổ trên máy tính .
Đóng nút bấm:
Được sử dụng để dễ dàng kết thúc một chương trình và trả lại bất kỳ tài
nguyên nó đã sử dụng cho hệ thống. Nó cơ bản giống như cách nhấp
đúp vào hộp kiểm soát, nhưng với một ít lần nhấn chuột.




Hình 4.11 Các yếu tố cơ bản của một cửa sổ.

Title Bar :


Nguyễn Sơn Tùng MSSV:
Đinh Trọng Thoại MSSV:
Chương 4: Tìm hiểu về hệ điều hành
GV: Nguyễn Quang Trung

Diện tích giữa các hộp điều khiển và nút Minimize. Nó thông báo tên của
chương trình và trong một số trường hợp cung cấp thông tin về các
liệu cụ thể được
tài
truy cập bởi các chương trình đó. Màu sắc của thanh tiêu đề cho thấy
có một cửa sổ cụ thể đang hoạt động.
Menu Bar:

Sử dụng để trình bày các lệnh hữu ích trong một định dạng dễ dàng truy
cập. Nhấp vào một trong menu lựa chọn sẽ hiển thị một danh sách
các tùy chọn liên quan mà bạn có thể lựa chọn.
Active Window (Cửa sổ hoạt động)

Cửa sổ hiện đang được sử dụng. Nó có hai thuộc tính. Chương trình mở
trước nằm về bên trái.các chương trình mở sau sẽ được đẩy về bên
phải.
Bolder (Đường Biên):

Một đường mỏng bao quanh cửa sổ và cho phép thu nhỏ hay phóng to cửa
sổ. Khôngphải mọi thành phần được tìm thấy trên cửa sổ bởi vì các
lập trình viên có thể chọn để loại bỏ hoặc thay đổi chúng. Tuy nhiên,
với phần còn lại của cửa sổ đầy ở với các menu, thanh công cụ,
không gian làm việc, hoặc các yếu tố ứng dụng cụ thể khác.

Ví dụ: Microsoft Word, chương trình này được viết ra có thêm một hộp
điều khiển bổ sung và Giảm thiểu và tối đa hóa các nút cho mỗi tài
liệu. Nó cũng có một thanh menu, một số thanh công cụ tùy chọn, di
chuyển các thanh ở bên phải và phía dưới của cửa sổ, và một thanh
trạng thái ở dưới cùng. Cửa sổ ứng dụng có thể trở nên khá lộn
xộn.
Notepad (ghi chú)




Nguyễn Sơn Tùng MSSV:
Đinh Trọng Thoại MSSV:
Chương 4: Tìm hiểu về hệ điều hành
GV: Nguyễn Quang Trung

là một chương trình Windows rất đơn giản. Nó chỉ có một thanh menu đơn
và một vài yếu tố cơ bản như trong hình 4.11. Hình 4,12 hiển thị một
cửa sổ Microsoft Word. Cả hai Word và Notepad được sử dụng để
tạo và chỉnh sửa tài liệu, nhưng Word được thêm rất nhiều cấu hình
và mạnh mẽ và do đó có nhiều thành phần nhiều tùy chọn có sẵn
trong cửa sổ của nó.
Hình 4,12




Một cửa sổ với các thành phần nhiều hơn




Nguyễn Sơn Tùng MSSV:
Đinh Trọng Thoại MSSV:
Chương 4: Tìm hiểu về hệ điều hành
GV: Nguyễn Quang Trung

Hoa của một cửa sổ có nhiều giao diện Windows hơn so với phần cụ thể
của cửa sổ. Windows cũng được di chuyển, xếp lớp, và thay đổi kích
thước, và họ có thể được ẩn đằng sau các cửa sổ khác (Thường là vô
ý!). Khi một cửa sổ ứng dụng đã được tung ra, nó tồn tại ở một
trong ba trạng thái:
Một cửa sổ Maximized tối đa có lên tất cả các không gian có sẵn trên
màn hình. Khi nó là ở phía trước các chương trình khác, nó là điều
duy nhất có thể nhìn thấy, ngay cả những Desktop bị ẩn. Trong 4,13
hình, lưu ý Microsoft Word được tối đa hóa; nó chiếm toàn bộ không
gian của các máy tính để bàn, và các trung nút hiển thị ở góc phải
phía trên hai hình chữ nhật chứ không phải là một. Các mặt của
chiến thắng- dow không còn biên giới. Cửa sổ này là ngang bằng với
các cạnh của màn hình. Tối đa hoá một cửa sổ cung cấp không gian
làm việc tối đa có thể cho ứng dụng của cửa sổ, và giành chi ến
thắng- dow có thể được truy cập tích cực của người dùng. Nói chung,
chế độ tối đa là cửa sổ ưa thích kích cỡ để chế biến nhiều nhất từ,
đồ họa sáng tạo, và các ứng dụng người dùng khác.
Phục hồi Một cửa sổ phục hồi có thể được sử dụng tương tác và có
chức năng giống hệt nhau trong một cửa sổ phóng lớn, với sự khác
biệt đơn giản rằng nó không nhất thiết phải mất toàn bộ màn hình.

Phục hồi các cửa sổ có thể rất nhỏ, hoặc họ có thể mất gần như là không
gian nhiều như tối đa cửa sổ. Nói chung, làm thế nào lớn cửa sổ khôi
phục trở nên là sự lựa chọn của người dùng. Phục hồi win- Dows
hiển thị một hộp khôi phục lại (nút giữa ở góc trên bên phải) với
một hình chữ nhật đơn trong đó, điều này được sử dụng để tối đa
hóa cửa sổ.




Nguyễn Sơn Tùng MSSV:
Đinh Trọng Thoại MSSV:
Chương 4: Tìm hiểu về hệ điều hành
GV: Nguyễn Quang Trung

Phục hồi các cửa sổ có một biên giới. Hình 4,13 cho thấy một ví dụ Notepad
trong tình trạng phục hồi. Giảm thiểu các cửa sổ chương trình giảm
thiểu được đại diện bằng gì, nhưng một biểu tượng và tiêu đề trên
Taskbar, và họ không thể sử dụng được cho đến khi họ có được một
tối hoặc phục hồi.
trong hai đa Các
chỉ có sự khác biệt giữa một chương trình giảm thiểu và một
chương trình khép kín là một hạn chế tối đa ủng hộ gram là trên
đường đi nhưng vẫn còn chiếm tài nguyên và do đó sẵn sàng sử dụng
nếu bạn cần nó. Nó cũng lá nội dung của cửa sổ trong cùng một nơi
khi bạn quay trở lại đó là khi bạn giảm thiểu nó. Trong hình 4,13,
Adobe Photoshop được giảm thiểu. Khi chương trình được mở ra và
bạn cần phải mở một chương trình khác (hoặc có thể bạn cần dừng
chơi một trò chơi bởi vì ông chủ của bạn đã bước vào phòng), bạn có
hai lựa chọn.

Trước tiên, bạn có thể đóng chương trình và mở lại nó sau này. Nếu bạn
làm điều này, tuy nhiên, trò chơi hiện tại của bạn sẽ được bị mất và
bạn sẽ phải bắt đầu lại. Giảm thiểu các cửa sổ trò chơi, mặt khác,
loại bỏ cửa sổ mở ra từ màn hình và để lại chương trình mở nhưng
hiển thị không có gì hơn một biểu tượng và tiêu đề trên thanh
Taskbar, cũng như với các biểu tượng Photoshop trong hình 4.13. Sau
đó, bạn có thể khôi phục lại cửa sổ với kích thước trước đây của
mình và hoàn thành trò chơi trong tiến trình. Hãy nhớ rằng các ứng
dụng trong nền vẫn chạy. Do đó, nếu bạn giảm thiểu các trò chơi
của bạn, bạn có thể quay trở lại để thấy rằng bạn đã được ăn bởi
bất cứ điều gì con quái vật bạn đang chạy từ trong trò chơi. Chạy
trong khi hạn chế tối đa có thể là một điều tốt, tuy nhiên, nếu bạn
đang chạy một tiện ích hữu ích chẳng hạn như một tìm kiếm dài
hoặc một đĩa chống phân mảnh.



Nguyễn Sơn Tùng MSSV:
Đinh Trọng Thoại MSSV:
Chương 4: Tìm hiểu về hệ điều hành
GV: Nguyễn Quang Trung

Khi chương trình được mở ra và bạn cần phải mở một chương trình khác (hoặc
có thể bạn cần phải dừng chơi có trò chơi bởi vì ông chủ của bạn đã
bước vào phòng), bạn có hai lựa chọn. Trước tiên, bạn có thể đóng
chương trình và mở lại nó sau này. Nếu bạn làm điều này, tuy nhiên, trò
chơi hiện tại của bạn sẽ bị mất và bạn sẽ phải bắt đầu lại. Giảm thiểu
các cửa sổ trò chơi, mặt khác, loại bỏ các cửa sổ đang mở khỏi màn hình
và để lại chương trình mở nhưng hiển thị không có gì khác hơn là một
biểu tượng và tiêu đề trên thanh Taskbar, cũng như với các biểu tượng
Photoshop trong hình 4.13. Sau đó, bạn có thể khôi phục lại cửa sổ với
kích thước trước đây của mình và hoàn thành trò chơi trong tiến trình.

Hãy nhớ rằng các ứng dụng trong nền vẫn chạy. Do đó, nếu bạn giảm thiểu các
trò của bạn, bạn có thể quay trở lại để thấy rằng bạn đã đ ược ăn bởi bất c ứ
điều gì con quái vật bạn đang chạy từ trong trò chơi. Chạy trong khi hạn chế tối
đa có thể là một điều tốt, tuy nhiên, nếu bạn đang chạy có tiện ích hữu ích chẳng
hạn như một tìm kiếm dài hoặc một đĩa phân mảnh.




Nguyễn Sơn Tùng MSSV:
Đinh Trọng Thoại MSSV:
Chương 4: Tìm hiểu về hệ điều hành
GV: Nguyễn Quang Trung

Hình 4.13 Sự Khác Nhau Giữa Các Của Sổ Trong Windows ( Windows in
different states)




Nguyễn Sơn Tùng MSSV:
Đinh Trọng Thoại MSSV:
Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản