Tìm hiểu về quốc gia Lào

Chia sẻ: Nguyen Thi Tho Ha | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:26

0
256
lượt xem
41
download

Tìm hiểu về quốc gia Lào

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Lào là một nước nghèo nhất thế giới. Nền kinh tế còn nặng tính tự cung, tự cấp

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tìm hiểu về quốc gia Lào

  1. Tên nước: Laos Tên tiếng Việt: Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào Nằm ở Đông Nam Á ,phía Đông Bắc của Thái Lan, phía Tây Vị trí địa lý: của Việt Nam Diện tích: 236800 (km2) Tài nguyên thiên nhiên: Gỗ xẻ ,thuỷ năng, vàng , thạch cao, thiếc, đá quý Dân số 6.5 (triệu người) Cấu trúc độ tuổi theo dân 0-14 tuổi:41.2% 15-64 tuổi 55.7% 65 tuổi trở lên:3.1% số: Tỷ lệ tăng dân số: 0.0237 Người Lào vùng trên, vùng dưới và vùng trung, người Dân tộc: Hmông và người Dao,người Việt Nam và người Trung Quốc Thủ đô: Vientiane Quốc khánh: 02/12/1975 Dựa theo truyền thống, trình tự , quy tắc pháp luật của Pháp Hệ thống luật pháp: và thực tiễn xã hội chủ nghĩa Tỷ lệ tăng trưởng GDP 0.07 GDP theo đầu người: 1900 (USD) GDP theo cấu trúc ngành: Nông nghiệp:41.2% Công nghiệp: 32.5% Dịch vụ:26.3% Lực lượng lao động: 2.1 (triệu người) Lực lượng lao động theo Nông nghiệp:80% Công nghiệp&Dịch vụ: 20% lĩnh vực nghề nghiệp: Tỷ lệ thất nghiệp: 0.024 Tỷ lệ dân số sống dưới 0.307 mức nghèo: Lạm phát: 0.05 Khoai lang, rau xanh, ngô, cà phê, mía, bông, thuốc lá sợi , Sản phẩm nông nghiệp: trà, lạc, gạo, trâu nước, lợn, gia súc, gia cầm Đồng, vàng, thiếc, thạch cao, gỗ xẻ, năng lượng điện , sản Công nghiệp: phẩm nông nghiệp , du lịch , xây dựng, xi măng, hàng may mặc Xuất khẩu: 720.9 triệu (USD) Mặt hàng xuất khẩu: Sản phẩm gỗ, cà phê, điện tử, đồng, vàng, thiếc Đối tác xuất khẩu: Thái Lan, Việt Nam, Trung Quốc Nhập khẩu: 1.199 tỷ (USD) Mặt hàng nhập khẩu: Máy móc và thiết bị , dây chuyền, nhiên liệu hàng tiêu dùng Đối tác nhập khẩu: Thái Lan, Trung Quốc, Việt Nam Tổng quan:
  2. Thể chế nhà nước – Thể chế Cộng hòa Nhân dân, một viện (từ năm 1975). Hiến pháp được thông qua ngày 14 tháng Tám năm 1991. Có 16 tỉnh và một thành phố. Chủ tịch nước, Thủ tướng và Nội các chịu trách nhiệm trước Ban chấp hành trung ương Đảng nhân dân cách mạng Lào. 5 năm một lần, Hội đồng nhân dân tối cao gồm 99 đại biểu được bầu bằng tuyển cử phổ thông đầu phiếu. Chủ tịch nước do Quốc hội bầu, nhiệm kỳ 5 năm; Thủ tướng do Chủ tịch nước đề cử, Quốc hội biểu quyết, nhiệm kỳ 5 năm. Địa lý: Thuộc Đông Nam Á. Trừ cánh đồng Chum ở miền Bắc, thung lũng sông Mê-công và các cao nguyên thấp ở miền Nam, nước Lào chủ yếu là núi. Đỉnh cao nhất là Phu Bi-a, 2.820m. Sông chính: Sông Mê-công, dài 4.350m. Khí hậu: Khí hậu nhiệt đới gió mùa, mùa mưa lớn từ tháng Năm đến tháng Mười. Kinh tế: Công nghiệp chiếm 22%, nông nghiệp: 51% và dịch vụ: 27% GDP. Lào là một trong những nước nghèo nhất thế giới. Nền kinh tế còn nặng tính tự cung tự cấp. Trước thời kỳ đổi mới được đề ra từ Đại hội IV đảng Nhân dân Cách mạng Lào năm 1986, phần lớn dân số làm việc khai thác lâm sản. Nền kinh tế đang chuyển sang cơ chế thị trường. Rừng có nhiều gỗ quý. Công nghiệp bao gồm khai thác thiếc, thạch cao, gỗ, hàng may mặc; điện năng sản xuất đạt 1,34 tỷ kWh, tiêu thụ 514 triệu kWh; xuất khẩu 271 triệu USD, nhập khẩu 497 triệu USD; nợ nước ngoài: 2,32 tỷ USD. Văn hoá – xã hội: Số người biết đọc, biết viết đạt 57%, nam: 70%, nữ: 44%. Giáo dục bắt buộc và miễn phí 8 năm (từ 7 đến 15 tuổi). Tuy vậy số học sinh bỏ học nhiều. Lào có 4 học viện: Viện công nghệ điện và điện tử, Viện xây dung, Học viện giao thông – vận tải và Viện bách khoia; một trường đại học y khoa, trường đại học sư phạm đào tạo giáo viên. Công tác chăm sóc sức khoẻ cộng đồng yếu kém. Tỷ lệ tử vong trẻ em cao, các bệnh lao, sốt rét, viêm gan, kiết lỵ khá phổ biến và là một mối quan tâm lớn của cộng đồng.
  3. Những danh thắng dành cho du lịch, nghỉ ngơi và giải trí: Viên-chăn, Tháp Luông, di tích văn hoá ở cánh đồng Chum, cố đô Luông Phra-băng. Lịch sử: Năm 1353, vương quốc Triệu Voi được thành lập. Từ năm 1520, đất nước này mở mang nhanh chóng, bắt đầu đặt thủ đô tại Viêng-chăn. Cuối thế kỷ XVI, đất nước chi thành hai vương uốc – Luông Phra-bang và Viêng-chăn và một quốc gia vương công – Chăm-pa-sắc. Năm 1779, bị Xiêm (Thái Lan) đô hộ. Đầu thế kỷ XIX, vương quốc Viêng-chăn sáp nhập vào nước Xiêm. Pháp can thiệp vào Lào năm 1893. Theo hiệp ước Lào-Xiêm, Lào nằm dưới sự bảo hộ của Pháp. Năm 1942, Nhật Bản đặt chân tới Vùng sông Mê-công. Năm 1945, Khởi nghĩa Viêng-chăn, thành lập Chính phủ độc lập. Năm 1946, Pháp lại chiến Lào. Năm 1954, Pháp trao trả độc lập cho lào theo Hiệp nghị Giơ-ne-vơ (1954). Tuy nhiên, Lào đã có nội chiến giữa các lực lượng hoàng gia phản động thân phương Tây và những người cộng sản Pa-thét Lào. Đến năm 1975, Pa-thét Lào tiếp quản Lào sau khi Mỹ rút đi. Chế độ quân chủ chấm dứt và nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào được thành lập. Từ năm 1990, chính phủ bắt đầu tiến hành các cuộc cải cách và mở cửa. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Nhân dân cách mạng Lào, các bộ tộc Lào đoàn kết giữ vững độc lập, chủ quyền, xây dung một nước Lào văn minh, tiến bộ. Lào, Đất nước - Con người” - một công trình nghiên cứu có giá trị về nước Lào anh em Nguyễn Khắc Phê (Toquoc)- Công trình nghiên cứu “Lào, Đất nước - Con người” (bản in lần thứ ba, có sữa chữa, bổ sung) được tác giả và NXB “Chính trị quốc gia” chuẩn bị từ năm 2007, nhân kỷ niệm 45 năm ngày thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam-Lào và 30 năm ngày ký kết Hiệp ước hữu nghị và hợp tác Lào-Việt Nam, vừa ra mắt bạn đọc vào đúng ngày Tết Năm Mới (Bun pi mày) của các dân tộc Lào anh em (14/4/2008). Một sự tình cờ rất có ý nghĩa, “góp phần vun đắp thêm cho tình nghĩa cao đẹp của mối quan h ệ đ ặc biệt hiếm có Lào-Việt Nam” như lời ông Xômxavạt Lêngxavát, Uỷ viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, Phó Thủ t ướng Thường trực Chính phủ Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào đã viết trong “Lời giới thiệu” cuốn sách. Có thể nói cuốn sách đồ sộ dày gần một ngàn trang này là công trình “bách khoa” về nước Lào anh em. Cuốn sách gồm có 3 phần: Phần I (“Lịch sử Lào từ cổ đại đến năm 1975”) giới thiệu những trang sử anh hùng của dân tộc Lào từ thời tiền s ử đến nhân vật Phạ Ngừm (sinh năm 1316) - người có công giải phóng các bộ tộc Lào khỏi sự thống trị của phong Bìa sách
  4. kiến Sukhôthay, lập nên Vương quốc Lạn Xạng và quá trình d ựng nước, gi ữ n ước v ề sau. V ới rất nhiều tư liệu và con số cụ thể, tác giả đã giúp ng ười đ ọc hi ểu đ ược toàn c ảnh cu ộc đ ấu tranh cách mạng ở Lào (1945-1975) cũng như những thành t ựu kinh t ế xã h ội sau 30 năm gi ải phóng. Phần II (“Lịch sử con người Lào”) chiếm 2/3 s ố trang và cũng là m ảng nghiên c ứu có giá trị nhất cuốn sách. Thực ra, đây là phần nghiên cứu về s ự hình thành các t ộc ng ười ở Lào, t ừ nguồn gốc lịch sử cho đến mọi mặt sinh hoạt văn hoá vật ch ất và tinh th ần c ủa dân t ộc Lào (ngôn ngữ, văn học, ca múa nhạc, tín ngưỡng, l ễ hội, phong t ục t ập quán…) Ph ần III là Ph ụ l ục gồm những văn kiện, tư liệu quan trọng của các nhân ch ứng l ịch s ử Lào, t ừ các Ngh ị quy ết Đ ại hội đại biểu nhân dân toàn quốc đến “Đơn xin thoái vị của vua Xixavang Váthana”, “Tuyên b ố giải thể Hội đồng Chính phủ liên hiệp lâm thời của Thủ t ướng Suvana Phuma”… Nhà nghiên cứu Hoài Nguyên là chiến sĩ Tình nguyện quân Vi ệt Nam t ại H ạ Lào trong ch ống Pháp và từ năm 1964-1972, có may mắn được tham gia Đoàn nghiên c ứu dân t ộc và xã h ội Lào được thành lập theo yêu cầu của Ban lãnh đạo Trung ương Đảng Lào và B ộ Chính trị Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đã cử đoàn công tác phối h ợp. Đoàn đã in d ấu chân h ầu kh ắp đất nước Lào, tới tận những hang hốc còn giữ cuộc s ống hoang dã. Nh ắc l ại công phu c ủa Đoàn nghiên cứu, ông Xômxavạt Lêngxavát đã viết: “Đoàn công tác này do đồng chí Tổng Bí thư Cayxỏn Phômvihản trực tiếp chỉ đạo…đã đi xuống các địa ph ương Lào t ừ B ắc đ ến Nam, t ừ vùng giải phóng đến vùng địch hậu, cả khu đô thị và nông thôn, đ ặc biệt là các vùng dân t ộc thiểu số xa xôi hẻo lánh …Đoàn công tác Lào-Việt đó đã v ựơt qua muôn vàn khó khăn gian kh ổ trong điều kiện chiến tranh ác liệt… có đồng chí hy sinh, các đ ồng chí khác l ạc r ừng thi ếu đói… có khi phải ăn cả khoai sắn gạo đã bị chất độc hoá h ọc do máy bay M ỹ th ả xu ống…” Vì thế, đồng chí Hoài Nguyên đã thực hiện công trình “Lào, Đất nước - Con người” với tất cả tâm huyết, với ý thức của một người lính phải làm tròn lời h ứa danh d ự v ới nhân dân Lào, v ới đ ồng đội đã hy sinh hoặc đang ở những nơi xa. Nhờ đó, ng ười đ ọc cuốn sách không ch ỉ hi ểu bi ết được toàn cảnh đất nước Lào như khi nghiên cứu m ột công trình khoa h ọc nghiêm túc, mà còn như được sống, được cùng nếm trải những nỗi vui buồn trong tình nghĩa ru ột th ịt v ới nhân dân Lào anh em. Nói đến thủ đô Vientiane không thể không nhắc tới Lễ Hội hay Hội Chợ That Luang (Boun That Luang). Cảnh quan That Luang (Đại Tháp, tên chữ nguyên văn là Phra Chedi Lokatiounlamani = Phrả chê đi lô ka chun la ma ni, tạm dịch là Hoàn Vũ Đại Đỉnh Phật Tích) toạ lạc cách Vientiane 3 cs, về hướng Đông, được tôn tạo từ 1566 dưới triều vua Setthathirat. Theo truyền thuyết, trong tháp nầy có lưu giữ xá lợi của Đức Phật là một sợi tóc và rất nhiều châu báu. That Luang gồm tháp chính cao 45 thước, bao quanh là các tháp phụ, sơn thếp vàng rực rỡ, uy nghiêm dưới trời xanh trong. Người Lào gọi lễ hội là Bun. Bun có nghĩa là phước, làm Bun = làm phước để được phước. Lễ Hội That Luang được tổ chức hàng năm vào ngày 13 đến 15 tháng 12 lịch Lào ( tháng 11 dl), gồm phần Lễ và phần Hội. Phần Lễ trong Boun That Luang
  5. Lễ là nghi thức tế tự do chính con người tưởng tượng ra để giao cảm với thần linh. Ngoài tính cách tín ngưỡng dân gian như nghi thức rước Phí Mương ( thần bảo hộ tỉnh) từ Chùa Sí Mương đến That Luang, lễ trong Boun That Luang còn mang ý nghĩa chính trị của Một Ngày Hội Thề. Từ thời vua Fa Ngum (thế kỷ XIV) cho đến 1975, lễ nầy do quốc vương Lào làm chủ tế. Trong lễ Hội Thề người ta thấy có mặt đầy đủ chức sắc, đại biểu, tỉnh mường, làng bản trưởng được mời về bàn việc nước...và mỗi vị có một cái kiệu bằng sáp ong (hó phợng), xếp thành hàng ngang trước nơi hành lễ. Nhà sư chủ trì cầm một cuộn dây bằng sợi vải trắng đi vòng nối các tỉnh mường, làng bản lại với nhau. Biểu tượng nầy phản ánh sự cam kết trung thành, thống nhất, đoàn kết quốc gia, cấm chia rẽ. Phần Hội trong Boun That Luang Câu cửa miệng của nguời Lào là " khôn Lao mặc muồn " ( người Lào thích vui) được thể hiện rõ nét trong phần hội. Hội chủ yếu là vui chơi, giải trí dưới nhiều hình thức từ ẩm thực đến văn nghệ, văn hoá, thể thao, mua bán, triển lãm. Đặc biệt Boun That Luang cũng là thời điểm của Hội Chợ triển lãm tầm vóc quốc tế, kéo dài ba ngày, ba đêm. Việt Nam, trước và sau 1975 đều có gian hàng triển lãm hàng hoá đặc sản trong dịp nầy kèm theo các bộ môn văn nghệ rất được bà con việt kiều yêu thích. Những tên tuổi như Thanh Thúy, Trang Thanh Lan ... Duy Khánh, Elvis Phương ... đều từng có mặt nhiều lần trong Boun That Luang trong phái đoàn Tâm Lý Chiến thời VNCH. Xứ Lào có một nguồn vốn văn nghệ dân gian, cổ truyền phong phú, rực rỡ. Trong dịp nầy, mọi thể loại tiêu biểu từ Lăm Lưởng (hát truyện thơ), I Kề ( giống cải lương) ; đến vô số hình thức hò, ngâm như khắp, xởng, cạp, còn ...; đối đáp giao duyên như lăm (hò) vạy, lăm loòng, lăm tơi ; các loại lăm có tính địa phương như lăm Sa La Văn, lăm Si Phăn Đon (Nam Lào), lăm Tằng Vạy ( Trung lào), vũ điệu quốc gia như LamVôông, Natasine ... đều được phô diễn, hài hoà vui nhộn trong tiếng khèn, tiếng la-nạt (bộ đàn gõ), tiếng khui (sáo), tiếng Koong (trống) ... " Ti Khi " là một trò chơi không có không được trong Boun That Luang, nó vừa có tính cách thể thao vừa phản ánh nội dung tín ngưỡng. Ti Khi là lối chơi đánh cù trên sân c ỏ, nguồn gốc của môn Polo rất thịnh hành tại Ấn Độ và Anh, với chút khác biệt là người chơi Polo ngồi trên lưng ngựa, còn người chơi Ti Khi thì dùng cặp giò. Trước 1975, vị khán giả đặc biệt là quốc vương Lào, nay là chủ tịch nước. Ti Khi được chia ra hai phe. Phe áo đỏ tượng trưng cho quan chức (nay là cán bộ cao cấp). Phe áo trắng hay phe cởi trần là nông dân. Ti Khi không có luật lệ, không có trọng tài. Một trận đấu được chia làm 3 hồi, mỗi hồi 20-30 phút. Mục đích của đôi bên là làm thế nào dùng cù đánh văng trái banh gỗ (loukkhi) cho quá làn ranh nửa phần sân bên kia. Sau ba hồi, phe nào có điểm cao là phe thắng. Theo tín ngưỡng dân gian, nếu năm nào phe áo đỏ ( phe quan chức) thắng phe nông dân thì đất nước sẽ khó được yên, nhân dân sẽ bị khổ. Do đó, hầu như năm nào phe áo trắng hay phe cởi trần cũng thắng cả. Ngoài ra, Ti Khi còn có thêm ý nghĩa cầu nắng vì vào tháng nầy việc nông tang, đồng áng đã xong. Lễ tết ở nước Lào
  6. Có rất nhiều kiều bào, can bộ ,hoc sinh VN, các công ty của VN sang làm ăn, sinh sống, học tập trên ́ ̣ nước bạn Lào. Có thể khẳng định, không ở đâu trên thế giới này, người VN lại được đón tiếp nồng hậu, được tạo điều kiện làm ăn, sinh sống tốt như ở nơi đây. Hiểu bạn, hiểu văn hóa , hiểu phong tục tập quán của bạn, cũng là một cach thể hiên sự tôn trọng cua chung ta đôi với người anh em ́ ̣ ̉ ́ ́ ́ thân thiêt. Tết té nước. Ảnh: VnExpress Tết năm mới của Lào sắp đến, xin được viết đôi dòng giới thiệu về những lễ hôị lớn, quan trong nhât ở Lao. Để bạn đọc thêm biêt, thêm yêu đất nước thanh bình, có nên bản sắc văn ̣ ́ ̀ ́ ̀ hóa rât độc đáo nay. ́ ̀ “ Bun” rồi lại “ Bun” Trong tiếng Lào Bun – được hiểu đơn giản, có nghĩa là lễ hội, là phước lành, là biểu t ượng cho ngày vui. Bun ở Lào diễn ra hầu như quanh năm. Tháng nào cũng có Bun. Hết Bun của địa ph ương này lai nôi tiêp Bun của địa phương khác, Từ Bun của vùng, của miền cho đến Bun của cả ̣ ́ ́ nước. Thât hiếm có quốc gia nào lại “yêu” lễ hội như họ. ̣ Giống như phần lớn các lễ hội ở Việt Nam, Bun của Lào gồm hai phần chính là Lễ và H ội. Ở Lào đạo Phật là quốc đạo-chiếm tới 85% dân số. Lễ sẽ do các vị sư trong Chùa ch ủ trì cúng tế chính, nhưng chỉ diễn ra ngắn gọn. Còn phần hội mới là phần vui nh ất và kéo dài nhất trong một Bun. Ba Bun lớn nhất, tiêu biểu nhất của nước Lào, đó là Bun Thatluong, Bun ooc phăn xả, và Bun Pỉmày
  7. Bun That Luong: That luong có nghĩa là cái tháp lớn. Lễ hội That Luong được t ổ chức chính ở thủ đô Viêngchăn tại Chùa That Luong. Ngôi chua nay được xây dựng vào năm 1566 dưới ̀ ̀ triều vua Sệt Thả Thi Lạt khi dời đô từ Luongprabang về Viêngchăn. Chua được dát vàng ̀ toàn bộ phía ngoài và bị phá hủy vào thế kỷ 19 do người Thái xâm lược. Sau đó chua đã ̀ được vua Chạu Say Sệt Thả và nhân dân Lào khôi phục lại như hình dáng ban đầu. Lễ hội này để tưởng nhớ đến hai vị vua là Pha Ngừm và Sẹt Thả Thi Lạt . Một vị đã thống nhất nước Lào và một vị đã dời kinh đô về đây. Bun được tổ chức vào trung tuần của tháng 11 và keo dai trong vòng 1 tuần. M ọi người t ừ ́ ̀ khắp nơi nếu có điều kiện đều “hành hương” về Viêngchăn, tới chùa Thap Luong để hành lễ, mong gặp được nhiều may mắn. Trong những ngày này, người ta tổ chức vui ch ơi, ăn uống, múa hát, hội chợ … Cả thủ đô Viêngchăn trong tuân đó đông nghẹt người, nh ất là ̀ vao mấy ngày cuối. ̀ Bun ooc phăn xả là lễ hội đua thuyền. Được diễn ra trong thời gian lâu nhất bắt đầu từ tháng 7 cho đên tháng 10. Đây là lế hội được tổ chức tại các Mường ( tỉnh).Vào ngày 14, 15 ́ âm lịch, mỗi Mường làm một chiếc thuyền rất to (tương tự như thuyền của người Khơme t ại Vn) để đua. Thuyền của Mường nào giành được chiến thắng thì năm đó sẽ gặp nhiều may mắn. Điều đặc biệt là trong vòng 3 tháng lễ hôi, dân trong Mường sẽ không được dựng v ợ, gả ̣ chồng, không săn bắn sát sinh, không uống rượu, bia, không “gần gũi” đàn bà!!! Bun Pỉ Mày hay còn gọi là tết năm mới, tết té nước… được chính thức công nhận là nghi lễ quốc gia, diễn ra vào ngày 14, 15, 16/4 hàng năm. Toan bộ đât nước được nghi ̉ têt trong 3 ̀ ́ ́ ̀ ̀ ngay nay. . Ngày đầu tiên có tên gọi là Sẳng Khản Luông. Là ngày chuẩn bị đón Tết. Ở chùa cũng nh ư ở nhà, những bức tượng Phật được mang ra “tắm rửa”, kết hoa, treo đèn, trang hoàng rất đẹp để cúng tế . Ở chùa, những pho tượng Phật đẹp nhất, quý giá nhất sẽ dành cho nhân dân lên hành lễ, tiến hành cúng tế và rưới nước hoa... Vào chùa cúng t ế trong ngày đầu tiên này mọi người sẽ xin lỗi, sám hối trước các nhà sư trong chùa. Nếu như có đi ều gì “ không phải” trong ba ngày Tết thì cũng mong được bỏ qua Ngày thứ hai gọi là Văn Nau.Trong ngày này, theo phong tục, người ta không được ngủ ban ngày! Họ cho rằng, nếu ngủ ngày trong ngày Văn Nâu, thì sẽ bu ồn ngủ cả năm, m ệt m ỏi cả năm, làm ăn không gặp nhiều may mắn. Cho nên, người dân cứ nh ảy múa, ăn u ống, hát hò cả ngày chứ không được ngủ. Trong ngày Văn Nau, anh chị em , họ hàng, bạn bè thân thích sẽ đến thăm hỏi lẫn nhau, và kiêng không nên đi xa. Ngày thứ ba là ngày Sẳng Khản Khừn, ngày chuẩn bị kết thúc. Tượng Ph ật được mang trở về chỗ cũ, chuẩn bị cho linh hồn của người đã khuất về Trời. Con cái, anh chị em trong gia đình xum họp lại, cùng ôn lại những chuyện đã xảy ra trong năm cũ, nếu có nh ững vướng mắc thì xin lỗi lẫn nhau. Sau đó họ lấy nước thơm tưới cho nhau, để mong cho mọi đi ều
  8. không tốt trong năm cũ sẽ được gột bỏ. Nhiều điều may mắn, sẽ đến với họ trong năm mới. Người lớn tuổi nhất trong gia đình, sẽ rưới nước đầu tiên, rồi theo thứ tự dần cho đến người nhỏ tuổi nhất. Không giống kiểu “lì xì” ở Việt Nam, ở đây người nào “giàu nh ất” trong gia đình sẽ “lì xì” và điều này cũng không bắt buộc. Trong ba ngày tết, cả nước Lào đều diễn ra lễ hội. Đi đến đâu bạn cũng có th ể th ấy cảnh tượng mọi người nhảy múa, vui chơi, tiệc tùng và té nước ( đây chính là phong t ục đặc trưng nhất của Bun này) . Trong Bun Pỉ May người ta quan niệm ai ướt nhiều, người đấy sẽ gặp nhiều may mắn. Đặc biệt là được té nước tắm cho Phật ở chùa hoặc ở nhà. Trong ba ngày tết, nên đi được 7 đến 9 chùa, để vào tắm Phật. Rồi lấy nước tắm Phật, về té cho người thân trong gia đình, thì cả gia đình và người thân của mình, được may mắn trong cả năm. Trên đây là ba trong rất nhiều lễ hội ở nước Lào. Ta biết để ta lại thêm yêu nét văn hóa độc đáo của người “anh em” thân thiết. Nếu có dịp, mời bạn hãy đến với xứ sở Triệu Voi thanh bình nơi đây. Bạn sẽ được đắm chìm trong những điệu múa Lămvông uyển chuyển, trong bát ngát hương hoa Chămpa nồng nàn, trong những đêm ven bờ Mêkong huy ền ảo. Và bạn sẽ được tham dự, được chung vui, được hòa mình vào những lễ hội vui tươi, đậm đà bản sắc. LÀO - Sức cám dỗ của đất nước hiền hòa Đông Dương - vùng đất rộng nằm ngoài những bước nhảy hiện đại hóa của thế giới suốt mấy thập kỷ, nay đang trở thành những địa chỉ du lịch mới hấp dẫn nhất, trong đó, Lào là xứ sở đầy quyến rũ. Lawrence Egan viết trên tờ Việt Nam News mới đây : "Nhiều người nước ngoài nói nếu được chọn nơi sống sẽ chọn Lào và Vientiane, chứ không phải Bangkok hay Singapore, Hồng Kông". Nước Lào quyến rũ bởi bầu không khí êm ả bí ẩn của nó, bởi tập quán hiền lành, con người vui vẻ, ân cần và hiếu khách. Điều đầu tiên gây ấn tượng đối với du khách là sự thưa thớt dân cư. Với diện tích gần bằng 1/2 diện tích của Thái Lan, Lào chỉ có 4 triệu rưỡi dân, chưa bằng 1/10 dân số của Thái. Vientiane, thành phố thủ đô có 250.000 dân, ngoài kiến trúc đặc trưng của mình còn những di tích văn hóa thời Pháp thuộc với những biệt thự kiến trúc kiểu Pháp, những đại lộ 3 làn xe được trồng cây cao hai bên, những quán cà phê và bánh mì sừng bò và cả những quán bia ngoài trời, khách ngồi nghe nhạc êm dịu, ngắm hoàng hôn trên sông Mê Kông. Khách sẽ cảm thấy sự yên tĩnh dễ chịu trong không khí mát mẻ thoang thoảng hương hoa nhài của đêm Vientiane. Để khám phá truyền thống văn hóa thật sự của nước Lào, khách phải đi 250 dặm lên phía Bắc, đến cố đô Luang Prabang. Nằm ở nơi hợp lưu những con sông nhỏ với sông Mê Kông, bao quanh bởi những đồi cây, Luang Prabang vốn là thủ đô của Lan Xang, vương quốc đầu tiên của Lào (1350 - 1545). Là trung tâm truyền thống quan trọng của nghệ thuật và tôn giáo, Luang Prabang có đến 30 ngôi chùa chạm khắc rất đẹp. Luang Prabang có vẻ đẹp mơ màng, thời gian như ngưng đọng. Sáng sớm tinh mơ, dưới sông thuyền bè hiện ra trong sương mù, đổ lên bờ các thứ gạo, rau, heo, rượu. Và cũng ở đây có những chiếc thuyền đưa khách đến hành hương Pak Ou có những hang động đá vôi nằm trên sông, chứa đầy Phật tích. Một địa chỉ không kém hấp dẫn là Cánh Đồng Chum ở Xiêng Khoảng, một tỉnh ở Đông - Nam Luang
  9. Prabang, một vùng bị oanh tạc nặng nề trong chiến tranh. Trên cánh đồng rộng còn đầy hố bom đó, rải rác khá nhiều những cái chum đá lớn mà nguồn gốc còn là điều bí ẩn từ nhiều ngàn năm nay. Các chum đá ấy có thể là những cái quách hoặc thùng chứa rượu, chứa thóc của người xưa. Nay nó là đối tượng thu hút khách du lịch lớn nhất trong vùng. Cũng thu hút khách du lịch không kém là những làng dân tộc thiểu số phía Đông hay Đông - Bắc, về phía Sầm Nưa. Vùng Nam Lào cũng có những địa chỉ đáng bỏ công tìm đến như cao nguyên Boloven, xứ sở của những vùng trà và cà phê bát ngát, những rừng hoang dã phong phú, "bốn ngàn đảo" nhỏ của sông Mê Kông giáp biên giới Campuchia và di tích đền cổ Khmer Wat Phu. Cố đô Luang Prabang Trải qua bao năm, Luang Prabang, cố đô của Lào, đã ch ứng ki ến bao thăng trầm của lịch sử. Tuy vậy, giá trị vật chất và tinh th ần của nó v ẫn trường tồn theo thời gian. Giờ đây với xu hướng phát triển du lịch ngày càng mạnh thành ph ố nh ỏ và rất đẹp này đang có những thay đổi. Số lượng xe hơi và xe máy tăng hơn trước đây, tuy vậy xe đạp vẫn là phương tiện đặc trưng, thuận lợi nh ất trong vi ệc đi l ại. S ự phát triển của các khách sạn cũng đã được quản lý một cách chặt ch ẽ qua việc chuy ển đ ổi m ột số dinh thự hoàng gia xưa và nhà của các doanh thương ng ười Hoa thành nh ững khách s ạn nh ỏ và rất đẹp. Chất lượng của những khách sạn này ngày càng được cải thiện mà không hề gây ra những ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường xung quanh. Sự hấp dẫn của cố đô Luang Prabang cũng xuất phát từ cảnh sống hàng ngày rất đỗi bình thường: ánh lửa hồng bùng lên từ những thanh củi đốt và cảnh nh ững nhà s ư trong nh ững chi ếc áo tu màu vàng chầm chậm đi khất thực. Ngoài vẻ đẹp của thành ph ố, ẩn trong nh ững dãy núi ở Nam Lào là một mũi đất mà một bên là dòng Mêkông, bên kia là nhánh sông Nam Khan v ới c ảnh sắc cực kỳ hấp dẫn và chưa hề bị ô nhiễm. Nhà thám hiểm đồng thời là nhà t ự nhiên h ọc ng ười Pháp thế kỷ 19,ông Henri Mohount đã miêu tả thành phố này là m ột thiên đ ường "có ánh n ắng rực rỡ của miền nhiệt đới và nếu cái nắng giữa trưa quá nóng thì cũng dịu b ớt đi r ất nhi ều vì những cơn gió nhẹ dịu mát thổi về". Giờ đây du khách có thể dễ dàng đến "thiên đường cuối cùng" này b ằng các chuy ến bay xuất phát từ Băng Cốc. Trước đây, du khách phải bay đến Viêng Chăn và sau đó b ắt nh ững chuy ến bay nội địa. Thêm vào đó du khách cũng có thể đi trên nh ững con thuyền nh ỏ xuôi dòng Mê Kông từ Chiang Saen, ở phía Bắc Thái Lan để đến Luang Prabang. Luang Prabang được xây dựng như là một trung tâm quyền lực chính của Lan Xang vào năm 1353. Vào thế kỷ 16 thủ đô được chuyển đến Vientiane, nhưng thành phố này v ẫn bảo t ồn đ ược địa thế của nó như là một cái nôi của nền văn hóa đa dạng của Lào. Luang Prabang còn là n ơi bảo tồn di sản những thành tựu về nghệ thuật và kiến trúc. Các kiệt tác kiến trúc nh ư Wat Xiengthong, điện thờ hoàng gia cổ xưa được xây dựng vào năm 1560 và Wat Mai v ới nh ững mái ngói lợp dày năm tầng, là hai trong nhiều lăng mộ tuyệt đẹp có nh ững đ ường nét ki ến trúc và những chi tiết trang trí tuyệt vời. Tường của điện thờ Wat May đ ược ph ủ b ằng m ột l ớp nh ựa th ể hiện một niềm tin về câu chuyện hóa thân của Đức Phật, trong khi Wat Xiengthong l ại có nh ững tác phẩm chạm khắc trên gỗ và trang trí rất phong phú.
  10. Một thắng cảnh khác nữa là Wat Vixum, được xây dựng năm 1513 và sau đó đ ược xây d ựng l ại vào năm 1898. Nó thờ bức tượng Phật lớn nhất Luang Prabang. Trong cùng quần thể ki ến trúc này còn có Ta Mak Mo nổi tiếng vì kiến trúc hình bán cầu tuyệt vời. Du khách tới đây có thể leo lên 328 bậc thang của Phousi (kh ối đá đặt trên đ ỉnh chùa ở trung tâm Luang Prabang). Những đài tưởng niệm tôn giáo ở đây rất nh ỏ nh ưng hình dáng thì r ất đ ẹp. Một trong những mái nhà của thành phố mà du khách có th ể nhìn th ấy t ừ trên Phousi là lăng m ộ hoàng gia ngày xưa-một kiến trúc hình thập t ự đôi rất ấn t ượng trong sự k ết h ợp gi ữa nh ững chi tiết kiến trúc khéo léo tinh vi của Lào và Pháp. Gi ờ đây những lăng mộ này đã tr ở thành vi ện b ảo tàng với nhiều hiện vật quý. Bên kia sông cũng có những lăng mộ như Wat Long Khoum, xây d ựng t ừ th ế k ỷ 18 và đ ược phục hồi vào năm 1995 và lăng Wat Chum Phet tọa l ạc trên đỉnh đồi. Đi v ề h ướng Nam Luang Prabang chỉ khoảng 30km du khách sẽ có cơ hội chiêm ngưỡng thác nước Kuang Si tuy ệt đ ẹp. Du khách cũng có thể ngồi trên con thuyền gỗ lên thượng nguồn đến nh ững hang ở Pak Ou–n ơi có hai động lớn thờ Đức Phật Tổ, đặc biệt là động Tham Ting với hàng trăm b ức t ượng Ph ật c ổ tạo nên bầu không khí tôn giáo đầy uy nghiêm. Thủ đô Viêng Chăn được quy hoạch đẹp và hợp lý hơn Hà Nội rất nhiều Đấy là cảm nhận đầu tiên của tôi khi đi hết một vòng quanh các đường phố của thủ đô Viêng Chăn. Những khu phố cũ của Viêng Chăn xưa hầu như vẫn được giữ nguyên vẹn. Không gian đô thị mới được quy hoạch với một tầm nhìn khá xa. Không gian dành cho giao thông động và giao thông tĩnh ở các khu ph ố mới đ ều rộng rãi và thông thoáng. Ngay cả các con đường giao thông nội bộ tại các khu chung cư cũng đều rộng rãi, chứ không chật chội như quy hoạch ở các khu đô thị mới của ta ở Hà Nội bây giờ. Những trục đường chính của Viêng Chăn đều với 4 làn xe và vỉa hè rộng rãi. Các dãy nhà thường làm cách vỉa hè khá sâu, không áp sát mặt đường như của Hà Nội (đấy là tôi so sách với các khu đô thị được quy hoạch mới của Hà Nội). Không gian xanh đ ược đ ặc bi ệt coi trọng ở Viêng Chăn. Với quy hoạch hiện nay của Viêng Chăn thì nhiều năm nữa Thủ đô của đất nước Lào anh em vẫn chưa l ạc hậu trước sự phát triển. Ý thức xã hội tuyệt vời Những ngày ở Viêng Chăn tôi chưa một lần nghe thấy tiếng còi xe máy và ôtô. Từ Viêng Chăn chúng tôi vượt gần 800km để xuống tỉnh Chămpacsăck phía nam Lào. Dọc con đường xuyên Nam Lào đi qua bao thị tr ấn, thị tứ, trường học và các thôn bản của nhiều dân tộc thiểu số khác nhau của nước Lào. Thế mà ch ẳng có chiếc ôtô và xe máy nào bị người tham gia giao thông làm phiền để buộc phải dùng đ ến ti ếng còi. Ng ười đi xe máy, người đi xe đạp, đi bộ đều tự giác đi sát về phía tay phải của mình và luôn nhường đ ường cho ôtô. Tuyệt nhiên không có hiện tượng xe máy, xe đạp đi nghênh ngang giữa đường như ở Việt Nam. Cổng chào chiến thắng ở thủ đô Viêng Chăn.
  11. Nếu ở các chợ trời của các thành phố Việt Nam ta có thể thấy hàng chục quầy hàng chuyên bán các loại còi xe. Rồi còn thấy vô vàn các cửa hàng "độ còi" xe các loại nữa. Nhưng ở Lào, bạn khó tìm thấy những c ửa hàng chuyên bán các loại còi xe. Bởi vì người Lào có dùng còi đâu mà hỏng? Hành trình quay trở về Viêng Chăn, chúng tôi đã đi gần 3 tiếng đồng hồ vào buổi tối. Ôtô, xe máy đi ng ược chiều với chiếc ôtô của chúng tôi không hề bật đèn pha. Họ chỉ bật đèn cốt. Anh chàng lái xe của chúng tôi chỉ khi nào thấy phía trước không có ôtô và xe máy đi ngược chiều thì anh mới bật đèn pha đ ể nhìn xa. Ở Việt Nam những người lái xe đi trong thành phố vào ban đêm chỉ bật đèn cốt có l ẽ chỉ đ ếm trên đ ầu ngón tay! Trở về Viêng Chăn, một lần ra phố. Tôi thấy tiếng còi hú. Một xe cảnh sát dẫn đường cho một đoàn đại bi ểu nào đó đang đi về phía ngoại ô. Khi nghe tiếng còi hú, tôi thấy các phương tiện đi cùng chiều với xe cảnh sát đều áp sát vào lề đường và dừng lại. Hình ảnh này thì lâu lắm rồi, tôi bảo đ ảm với các bạn r ằng ch ưa nhìn thấy ở Việt Nam chúng ta. Tôi phải thốt lên với mấy người bạn đi cùng rằng: Ý thức xã hội và nét đẹp văn hóa của người dân nước bạn Lào thật tuyệt vời. Không biết 20-30 năm nữa những công dân Việt Nam có được ý thức công dân như nước bạn Lào hôm nay hay không? Cầu bắc qua sông Mêkông sang Thái Lan. Ý thức môi trường Đường phố sạch đẹp thật tuyệt vời. Đó là điều mà tôi và những người bạn đi cùng đã khẳng định. Chúng tôi ít khi nào nhìn thấy rác trên đường phố dù đường phố ấy ở Viêng Chăn hay ở thị xã Savanakhệt, hay thị xã Pắcksế. Tôi đã tới thăm khu du lịch thác nước đẹp nhất trên dòng sông Mê Kông ở phía nam t ỉnh Chămpacsăck hay tới thăm đền thờ cổ Vạt Phu. Tuyệt nhiên không hề nhìn thấy chuyện xả rác ở đây. Chúng tôi ghé lại nhiều chợ nhỏ thuộc nhiều vùng quê miền núi dọc hai bên con đường xuyên Nam Lào. Rác là thứ mà chúng tôi ít khi nhìn thấy trên đường và trong các khu chợ. Chỗ nào người ta cũng để thùng rác. Và quan trọng hơn, người Lào không có thói quen vứt rác ra đường. Ở mỗi khu chợ dù đấy là một vùng quê nghèo thì chỗ nào tôi ghé lại cũng thấy có toa-lét sạch sẽ. Tôi thật sự xấu hổ khi nghĩ về các khu nhà vệ sinh ở những chợ quê kể cả những chợ thuộc mi ền đ ất trù phú ở Vi ệt Nam chúng ta. Đây là một công trình nghiên cứu khoa học mang đ ầy đ ủ ý nghĩa c ủa m ối quan h ệ đ ặc biệt hiếm có giữa hai dân tộc Lào - Việt, được tập hợp t ừ thực tế đi ều tra ở các b ản làng c ủa các dân tộc, bộ tộc Lào, kết hợp với tư liệu báo cáo của các địa ph ương trong nhi ều năm, nh ững tài liệu nghiên cứu khoa học của Lào và Việt Nam cũng nh ư nhi ều nước khác vi ết về Lào. So v ới hai lần xuất bản trước, cuốn sách này có nhiều tu chỉnh, b ổ sung. Ngoài hai ph ần chính - phần Lịch sử và phần Dân tộc, để làm sáng tỏ thêm một số sự kiện lịch s ử quan trọng, tác gi ả Hoài Nguyên đã bổ sung thêm phần Phụ lục gồm những văn kiện và tư liệu mới, quan trọng của các nhân chứng lịch sử. Phần I trình bày lịch sử Lào từ cổ đại đến cận hi ện đ ại và l ịch s ử Lào hi ện đ ại, ph ần II khái quát lịch sử con người Lào. Qua đó, bạn đọc s ẽ đ ược ti ếp cận nh ững nét đ ặc tr ưng nh ất v ề văn hoá, kinh tế, xã hội, sự hình thành và phát triển các t ộc ng ười ở Lào. Đ ộc gi ả s ẽ có s ự hi ểu biết sâu sắc và sẽ yêu mến đất nước Lào hơn nữa sau khi tìm hi ểu về các hình thái kinh t ế, hình thái xã hội, văn hoá vật chất, ngôn ngữ, chữ viết, văn h ọc, ca múa nh ạc c ủa ng ười Lào, các
  12. phong tục tập quán đặc sắc, những lễ hội đậm đà bản s ắc văn hoá, tín ng ưỡng, tôn giáo Lào,v.v.. Đặc biệt, sự hình thành các nhóm tộc người và các tộc ng ười ở Lào là m ột n ội dung r ất hấp dẫn. Có thể nói, Lào là một đại gia đình các dân t ộc, trong đó m ỗi t ộc ng ười l ại có ngu ồn gốc lịch sử khác nhau, trình độ kinh tế, văn hoá, xã h ội khác nhau, ngôn ng ữ, đ ặc đi ểm tâm lý khác nhau…Nhưng chính những đặc trưng riêng của các t ộc ng ười, d ựa trên nền văn hoá đ ặc trưng chung của dân tộc và khu vực, qua bao đ ời đã tác đ ộng và ảnh h ưởng l ẫn nhau, t ạo nên một đất nước Lào tươi đẹp, con người Lào nồng hậu, thuỷ chung. Ở phần Phụ lục, bạn đọc sẽ tiếp cận với những văn kiện, t ư li ệu lịch s ử quan tr ọng c ủa Lào như: những nét độc đáo của ba lần thành lập Chính ph ủ liên hi ệp ở Lào, Đ ại h ội qu ốc dân Lào, Đơn xin thoái vị của vua Xixavang Vátthana, Nghị quyết về Quốc kỳ và Quốc ca c ủa Lào,… 906 trang sách sẽ giúp bạn đọc hiểu biết hơn về đất nước Lào, l ịch sử đ ấu tranh cũng như quá trình dựng nước, giữ nước và xây dựng đất nước của nhân dân các b ộ t ộc Lào; hi ểu biết hơn về mối quan hệ đặc biệt giữa nhân dân hai nước Lào - Vi ệt Nam nh ư l ời Ch ủ t ịch Xuphanuvông: “Mối tình hữu nghị (Lào - Việt) đó cao hơn núi, dài h ơn sông, r ộng h ơn bi ển c ả, sáng hơn trăng rằm, ngát thơm hơn bất cứ đoá hoa nào th ơm nh ất” ./ ND - Nghề dệt lụa truyền thống từ hàng nghìn năm của Lào, thật sự phát triển mạnh mẽ từ một thập niên qua và tạo công ăn việc làm cho hàng nghìn phụ nữ, những người có thể kiếm được cuộc sống ổn định và sung túc từ việc dệt vải. Trong cuốn sách "Lào, dệt lụa và truyền thống", tác giả Marie Connon viết: "Phụ nữ dệt cuộc sống những  khát vọng thành những sản phẩm dệt. Họ mơ ước có người chồng chung thủy, nhiều con cái, những cánh  đồng tốt tươi, phì nhiêu và tránh xa ma quỷ và bệnh tật. Tất cả được phản ánh trong các biểu tượng, hình  mẫu được dệt nên trên sản phẩm dệt...". Trang phục truyền thống có mầu sắc rực rỡ, chất liệu mềm óng  được sản xuất từ lụa được người dân Lào không chỉ tham gia trong các chương trình, lễ hội văn hóa mà trong  cả cuộc sống thường ngày. Ðồng phục dành cho những người làm việc trong các trường học, nhà máy, cơ  quan hành chính ở Lào đều được may bằng phasin, một loại vải lụa sặc sỡ, là thứ đồ cao cấp. Một trong những sản phẩm lụa thường được phụ nữ Lào sử dụng hằng ngày là váy sinh. Mỗi mảnh vải dệt  dài 1,8 m được hoàn thiện trong một tuần và nhiều kiểu cách được thay đổi với mỗi vùng ở Lào. Loại vải này  rất được khách du lịch yêu thích. Sản phẩm như khăn lụa thêu thường mất từ hai đến năm tuần mới hoàn  thành tùy thuộc vào kích cỡ. Còn chất liệu Cotton cũng được dệt lẫn với lụa trong các sản phẩm nội thất gia  đình. Mầu sắc của vải lụa vẫn là mầu tự nhiên được chiết xuất từ lá và vỏ cây. Ðàn ông thường tham gia vào  quá trình nhuộm vải. Còn công việc dệt giao cho phụ nữ trong gia đình đảm nhiệm. Mỗi vùng dệt vải có  những đặc điểm nổi bật về sắc mầu, thiết kế hoa văn độc đáo nhưng đặc biệt là đều dựa trên cách trang trí  hoa văn truyền thống của Lào. Một số thiết kế được yêu thích với các biểu tương hình con vật, côn trùng, cây  cối, hoa...
  13. Các sản phẩm dệt lụa từ các nơi được đem về tiêu thụ chủ yếu tại các chợ ở Thủ đô Viêng Chăn, nhiều nhất  là chợ Sáng ở Viêng Chăn. Chợ Sáng là trung tâm thương mại lớn đối diện trung tâm bưu điện thành phố là  địa điểm quen thuộc với khách để lựa chọn mua sắm mỗi dịp đến với đất nước hoa Chăm­pa. Ðiều thú vị  nhất là du khách được đi vòng quanh chợ Sáng một cách dễ dàng, bằng cách thuê một chuyến xe tuk tuk... Một trong địa điểm đến chiêm ngưỡng lụa Lào là vila của Carol Cassidy nằm ở Thủ đô Viêng Chăn. Bà tham  gia ngành công nghiệp lụa Lào từ đầu năm 1989. Bà và gia đình chuyển tới sống ở Lào từ Mozambique, nơi  bà là một tư vấn ngành dệt cho Tổ chức Lao động quốc tế và Chương trình Phát triển Liên hợp quốc. Tại  Lào, bà truyền đạt các kinh nghiệm hơn 30 năm thiết kế và dệt lụa bằng tay. Trong quá trình làm việc với  các nhà thiết kế lành nghề ở Lào, kỹ thuật dệt của bà kết hợp phong cách truyền thống và hiện đại cùng với  sự phối hợp mầu sắc đa dạng và đặc sắc. Từ sự hỗ trợ và hướng dẫn của bà và các nhóm thợ dệt chuyên  nghiệp, những người dân sống ở các vùng nông thôn ở Lào đã có công việc ổn định và tạo ra được nhiều bộ  sưu tập lụa độc đáo. Các sản phẩm lụa Lào này không chỉ được trưng bày tại biệt thự của bà mà còn tại  Viện Công nghệ thời trang Newyork, Bảo tàng dệt may Washington và Bảo tàng nghệ thuật Philadelphia. Trên thực tế, lụa là sản phẩm khá cầu kỳ và mềm mượt bây giờ luôn được yêu thích, nhất là khi được dệt  bằng tay. Với ngành du lịch của Lào đang phát triển, áo quần, váy, khăn, túi xách và nhiều sản phẩm phong  phú bằng lụa khác được dệt hoàn toàn bằng tay ngày càng được ưa chuộng trên thị trường. Các sản phẩm  dệt lụa từ xứ sở hoa Chăm­pa từ nhiều năm nay được đem đi tham dự các cuộc triển lãm hàng thủ công mỹ  nghệ ở Pháp, Mỹ, Trung Quốc, Australia. Các sản phẩm lụa Lào đạt tiêu chuẩn về chất lượng ngày càng  được xuất khẩu nhiều sang Nhật Bản và một số thị trường khác trên thế giới. Hiện nay, có khoảng 50 nhóm cộng đồng ở Lào tham gia dệt lụa và mỗi nhóm đều có truyền thống dệt.  Nhiều gia đình tích lũy vốn sản xuất đã liên tiếp tăng sản lượng lụa thô. Một chương trình thúc đẩy kinh tế  trong ngành sản xuất lụa ở Lào đã được thực hiện, giúp nâng cấp cơ sở hạ tầng cho các địa phương, mở 
  14. hướng phát triển cho các làng nghề, tăng thu nhập đáng kể cho các gia đình. Ðó là bước thay đổi đáng kể  trong quá trình bảo tồn và phát triển dệt lụa, nghề sản xuất truyền thống. Thành công từ chương trình này  tạo điều kiện cho việc đẩy mạnh ngành công nghiệp lụa ở Lào và mở rộng thị trường lụa. Cùng với những  ngành công nghiệp thực phẩm, kéo sợi bông, thuộc da, đóng đồ gỗ, làm hàng thủ công mỹ nghệ..., dệt lụa là  ngành công nghiệp thế mạnh đang phát triển ở Lào. Nền văn hóa Lào có nhiều điểm tương đồng với Thái Lan, đó là nền văn hóa Phật giáo. Đạo Phật đã ăn sâu vào tư tưởng của người Lào, ảnh hưởng này được phản ánh trong ngôn ngữ và nghệ thuật, tạo nên một dân tộc Lào rất riêng. Đạo Phật tại Lào Văn hóa LàoLào là xứ sở của Phật giáo tiểu thừa, 90% dân số theo đạo Phật. Đ ạo Phật được truyền vào xứ Lào trong triều vua Dvaravati vào thế kỷ thứ 7, và từ thế kỷ 14 Phật giáo đã trở thành quốc giáo. Người dân Lào đã thấm nhuần trong mình nh ững lời Phật dạy, một mực kính trọng các bậc tăng ni, nh ững v ị sư sãi trong chùa. V ới dân số khoảng hơn 6 triệu người và có tới 1.400 ngôi chùa lớn nh ỏ, Lào là n ước có t ỉ l ệ chùa so với dân cao nhất thế giới. Chùa gắn liền với trường học, gắn c ả v ới đ ời, s ư sãi ăn uống bình thường như dân dã. Phật tử Lào thường tích đ ức bằng nhi ều ho ạt động gọi là Thiện Nghiệp. Vào những dịp lễ hội, Lào hấp dẫn khách du lịch và các Phật tử đến tham quan, tìm hiểu Phật giáo không kém gì xứ sở chùa vàng – đ ất n ước láng giềng Thái Lan. Tết Lào Văn hóa LàoMỗi nước đều có ngày tết truyền thống theo phong tục của riêng mình. Và với Lào thì tết Lào là tết cổ truyền Bunpimay hay còn gọi là T ết té n ước di ễn ra t ừ ngày 13 đến ngày 16 tháng 4 hàng năm. Người dân té n ước đ ể c ầu may, bình yên cho cả năm. Đầu tiên họ tưới nước lên các tượng Phật, sau đó còn té n ước vào các nhà s ư, chùa và cây cối xung quanh chùa, rồi đến những người xung quanh. Họ còn té n ước vào nhà cửa, đồ thờ cúng, súc vật và công cụ sản xuất. Trong những ngày này, người dân còn xây tháp cát, phóng sinh, ăn món lạp, hái hoa tươi, buộc chỉ c ổ tay. Với người Lào, những phong tục trong lễ hội Bunpimay mang ý nghĩa đem l ại s ự mát m ẻ, ph ồn vinh cho vạn vật, ấm no hạnh phúc cho cuộc sống, là dịp đ ể nuôi d ưỡng và hun đúc nghệ thuật dân tộc. Lễ hội Lào Văn hóa LàoLào còn được coi là đất nước của những lễ hội, tháng nào trong năm cũng có. Lễ hội ở Lào hay còn được gọi là Bun, nghĩa là phước, làm Bun nghĩa là làm phước để được phước. Cũng giống như các nước khác trong khu vực Đông Nam Á, l ễ hội tại đất nước Lào cũng chia làm hai phần: phần lễ là ph ần nghi th ức do chính con người đặt ra để giao cảm với thần linh và phần hội chủ yếu là vui ch ơi, gi ải trí. Các lễ hội lớn của Lào gồm Bun Pha Vet (Phật hóa thân) vào tháng 1; Bun Visakha Puya (lễ Phật đản) vào tháng 4; Bun BangPhay (pháo thăng thiên) vào tháng 5; Bun Khao PhanSa – (mùa chay) vào tháng 7; Bun Khao Padapdin (tưởng nh ớ nh ững ng ười đã
  15. mất) vào tháng 9; Bun Suanghua (đua thuyền) vào tháng 10. Lễ hội tại Lào luôn gắn liền với chùa. Trong ý nghĩ chúng ta, người Lào anh em rất gần gũi và hầu như không gặp trở ngại gì lớn trong văn hóa và giao tiếp. Tiếp xúc nhiều, thực tế đó càng rõ h ơn, ng ười Lào và những thứ thuộc về họ rất tuyệt. Dưới đây là những điểm mà người Lào hơn hẳn với chúng ta, ít nhất là những gì mà ta nghĩ về họ Sự lễ phép: Người Lào gặp nhau, người dưới chắp tay chào người trên; tr ẻ em ch ắp tay chào người lớn, không bao giờ họ lớn tiếng cãi nhau. Sự thật thà: Người Lào rất thật thà, chất phát. Ngay c ả trong buôn bán, hàng hóa bày ra, người mua chỉ việc chọn hàng rồi để lại một số tiền tương ứng. kể cả khi ch ủ c ửa hàng không có mặt tại quầy. Coi trọng danh dự: người Lào rất ít khi gây gỗ với nhau, ngay c ả trong ch ợ cũng v ậy. Không nên trêu chọc người thân, bạn gái hay vợ c ủa người Lào, tránh nh ững hành vi khiếm nhã. *********************************************************************** ***************** Van hoa Lao Nen van hoa Lao co nhieu diem tuong dong voi Thai Lan, do la nen van hoa Phat giao. Dao Phat da an sau vao tu tuong cua nguoi Lao, anh huong nay duoc phan anh trong ngon ngu va nghe thuat, tao nen mot dan toc Lao rat rieng. Dao Phat tai Lao Van hoa LaoLao la xu so cua Phat giao tieu thua, 90% dan so theo dao Phat. Dao Phat duoc truyen vao xu Lao trong trieu vua Dvaravati vao the ky thu 7, va tu the ky 14 Phat giao da tro thanh quoc giao. Nguoi dan Lao da tham nhuan trong minh nhung loi Phat day, mot muc kinh trong cac bac tang ni, nhung vi su sai trong chua. Voi dan so khoang hon 6 trieu nguoi va co toi 1.400 ngoi chua lon nho, Lao la nuoc co ti le chua so voi dan cao nhat the gioi. Chua gan lien voi truong hoc, gan ca voi doi, su sai an uong binh thuong nhu dan da. Phat tu Lao thuong tich duc bang nhieu hoat dong goi la Thien Nghiep. Vao nhung dip le hoi, Lao hap dan khach du lich va cac Phat tu den tham quan, tim hieu Phat giao khong kem gi xu so chua vang – dat nuoc lang gieng Thai Lan. Tet Lao Van hoa LaoMoi nuoc deu co ngay tet truyen thong theo phong tuc cua rieng minh. Va voi Lao thi tet Lao la tet co truyen Bunpimay hay con goi la Tet te nuoc dien ra tu ngay 13 den ngay 16 thang 4 hang nam. Nguoi dan te nuoc de cau may, binh yen cho ca nam. Dau tien ho tuoi nuoc len cac tuong Phat, sau do con te nuoc vao cac nha su, chua va cay
  16. coi xung quanh chua, roi den nhung nguoi xung quanh. Ho con te nuoc vao nha cua, do tho cung, suc vat va cong cu san xuat. Trong nhung ngay nay, nguoi dan con xay thap cat, phong sinh, an mon lap, hai hoa tuoi, buoc chi co tay. Voi nguoi Lao, nhung phong tuc trong le hoi Bunpimay mang y nghia dem lai su mat me, phon vinh cho van vat, am no hanh phuc cho cuoc song, la dip de nuoi duong va hun duc nghe thuat dan toc. Le hoi Lao Van hoa LaoLao con duoc coi la dat nuoc cua nhung le hoi, thang nao trong nam cung co. Le hoi o Lao hay con duoc goi la Bun, nghia la phuoc, lam Bun nghia la lam phuoc de duoc phuoc. Cung giong nhu cac nuoc khac trong khu vuc Dong Nam A, le hoi tai dat nuoc Lao cung chia lam hai phan: phan le la phan nghi thuc do chinh con nguoi dat ra de giao cam voi than linh va phan hoi chu yeu la vui choi, giai tri. Cac le hoi lon cua Lao gom Bun Pha Vet (Phat hoa than) vao thang 1; Bun Visakha Puya (le Phat dan) vao thang 4; Bun BangPhay (phao thang thien) vao thang 5; Bun Khao PhanSa – (mua chay) vao thang 7; Bun Khao Padapdin (tuong nho nhung nguoi da mat) vao thang 9; Bun Suanghua (dua thuyen) vao thang 10. Le hoi tai Lao luon gan lien voi chua. Trong y nghi chung ta, nguoi Lao anh em rat gan gui va hau nhu khong gap tro ngai gi lon trong van hoa va giao tiep. Tiep xuc nhieu, thuc te do cang ro hon, nguoi Lao va nhung thu thuoc ve ho rat tuyet. Duoi day la nhung diem ma nguoi Lao hon han voi chung ta, it nhat la nhung gi ma ta nghi ve ho Su le phep: Nguoi Lao gap nhau, nguoi duoi chap tay chao nguoi tren; tre em chap tay chao nguoi lon, khong bao gio ho lon tieng cai nhau. Su that tha: Nguoi Lao rat that tha, chat phat. Ngay ca trong buon ban, hang hoa bay ra, nguoi mua chi viec chon hang roi de lai mot so tien tuong ung. ke ca khi chu cua hang khong co mat tai quay. Coi trong danh du: nguoi Lao rat it khi gay go voi nhau, ngay ca trong cho cung vay. Khong nen treu choc nguoi than, ban gai hay vo cua nguoi Lao, tranh nhung hanh vi khiem nha. Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào (tiếng Lào: ສາທາລະນະລັດ ປະຊາທິປະໄຕ ປະຊາຊົນລາວ) là một quốc gia có đất liền bao quanh tại vùng Đông Nam Á. Lào giáp giới nước Myanma và Trung Quốc phía tây bắc, Việt Nam ở phía đông, Campuchia ở phía nam, và Thái Lan ở phía tây. Lào còn được gọi là "đất nước Triệu Voi" hay Vạn Tượng; ngôn ngữ của nước này là tiếng Lào. Trước đây Lào còn có tên là Ai Lao (chữ Hán: 哀哀), Lão Qua.
  17. Lịch sử Lịch sử của Lào trước thế kỷ 14 gắn liền với sự thống trị c ủa v ương qu ốc Nam Chiếu ( 南南). Vào thế kỷ 14, vua Phà Ngùm (Fa Ngum) lên ngôi đ ổi tên n ước thành Lan Xang (Vạn Tượng). Trong nhiều thế kỉ tiếp theo, Lào nhiều lần phải chống các cu ộc xâm lược của Việt Nam, Miến Điện và Xiêm. Đến thế kỷ 18, Thái Lan giành quy ền kiểm soát trên một số tiểu vương quốc còn lại. Các lãnh th ổ này n ằm trong ph ạm vi ảnh hưởng của Pháp trong thế kỷ 19 và bị sáp nhập vào Liên bang Đông D ương vào năm 1893. Trong Thế chiến thứ hai, Pháp bị Nhật thay chân ở Đông Dương. Sau khi Nhật đầu hàng quân Đồng Minh, ngày 12 tháng 10 năm 1945, Lào tuyên bố độc lập. Đầu năm 1946, Pháp quay trở lại xâm lược Lào. Năm 1949 quốc gia này nằm dưới sự lãnh đạo của vua Sisavang Vong và mang tên Vương qu ốc Lào. Tháng 7 năm 1954, Pháp ký Hiệp ước Genève, công nhận nền độc lập và toàn v ẹn lãnh th ổ c ủa Lào. Từ 1955 đến 1975, Vương quốc Lào ủng hộ mạnh mẽ Hoa Kỳ trong cuộc chi ến chống lại sức bành trướng của phe Cộng sản tại Đông Dương. Tình tr ạng b ất ổn v ề chính trị tại Việt Nam cũng đã lôi kéo Lào vào cuộc Chiến tranh Đông D ương l ần hai (Xem thêm Chiến tranh bí mật) và là yếu tố dẫn đến nội chiến Lào và m ột vài cu ộc đảo chính. Từ năm 1968 Bắc Việt đã gởi các đơn vị của họ tham chiến cùng quân Pathet chống lại Quân đội Lào. Năm 1975 phong trào c ộng sản Pathet Lào đã l ật đ ổ chính quyền hoàng tộc, xử tử vua Savang Vatthana và n ắm quyền lãnh đ ạo đ ất n ước này. Ngày 2 tháng 12 năm 1975, Đại hội đại bi ểu nhân dân toàn qu ốc Lào quy ết đ ịnh xóa bỏ chế độ quân chủ, thành lập nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào. Ngày này cũng được lấy làm ngày quốc khánh của Cộng hòa Dân ch ủ Nhân dân Lào. Lào là thành viên Liên Hiệp Quốc từ ngày 14 tháng 12 năm 1955 (lưu ý:chính phủ Lào này không phải là lực lượng Pathet mà là chính phủ Vương quốc Lào). Quan h ệ ngo ại giao với Bắc Việt Nam cấp đại sứ được thiết lập từ ngày 6 tháng 9 năm 1962. Những năm cuối thập niên 1980, Lào thực hiện chính sách nới lỏng ki ểm soát kinh t ế. Năm 1997 quốc gia này gia nhập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á. Hi ện nay quan hệ với Việt Nam vẫn là cơ bản trong chính sách đối ngoại của Lào. Địa lý Lào là một quốc gia ở Đông Nam Á không giáp v ới bi ển. Đ ịa th ể đ ất Lào có nhi ều núi non bao phủ bởi rừng xanh; đỉnh cao nhất là Phou Bia cao 2.817 m. Di ện tích còn l ại là bình nguyên và cao nguyên. Sông Mê Kông chảy dọc gần h ết biên gi ới phía tây , giáp giới với Thái Lan, trong khi đó dãy Trường Sơn chạy dọc theo biên gi ới phía đông giáp với Việt Nam. Khí hậu trong khu vực là khí hậu nhiệt đới của khu vực gió mùa v ới hai mùa rõ r ệt: mùa mưa và mùa khô. Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 11, ti ếp theo đó là mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau.
  18. Thủ đô và thành phố lớn nhất của Lào là Viêng Chăn, các thành ph ố l ớn khác là: Louang Phrabang, Savannakhet và Pakse. Lào cũng là quốc gia có nhiều loài động vật quí hi ếm trên th ế gi ới sinh s ống, n ổi b ật nhất là hổ, voi và bò tót khổng lồ. Rất nhiều loài đang đ ứng tr ước hi ểm h ọa di ệt chủng do nạn săn trộm và phá rừng. Chính trị Chính đảng duy nhất là Đảng Nhân dân Cách mạng Lào (ĐNDCM Lào). Ng ười đ ứng đầu nhà nước là Chủ tịch nước được Quốc hội c ử ra có nhi ệm kỳ 5 năm. Ng ười đ ứng đầu chính phủ là Thủ tướng. Chính phủ được Chủ tịch nước đề cử và Quốc hội thông qua. Đường lối chính sách của chính phủ do Đảng lãnh đạo thông qua 9 ủy viên B ộ Chính trị và 49 ủy viên Trung ương đảng. Các quyết sách quan tr ọng c ủa chính ph ủ do Hội đồng bộ trưởng biểu quyết thông qua. Lào thông qua hiến pháp mới năm 1991. Trong năm sau đó đã diễn ra bầu c ử Qu ốc h ội với 85 đại biểu. Các thành viên quốc hội được bầu bằng bỏ phiếu kín. Qu ốc h ội do cuộc bầu cử năm 1997 tăng lên thành 99 đại biểu đã thông qua các đ ạo lu ật m ới m ặc dù cơ quan hành pháp vẫn giữ quyền phát hành các sắc lệnh liên quan. Cu ộc b ầu c ử gần đây nhất diễn ra tháng 2 năm 2002 với 109 đại biểu. Kinh tế Lào - một trong số ít các nước cộng sản còn lại - đã bắt đ ầu d ỡ b ỏ vi ệc ki ểm soát tập trung hóa và tăng cường phát triển doanh nghiệp tư nhân vào năm 1986. K ết qu ả t ừ một xuất phát điểm thấp là rất ấn tượng. Tỷ lệ tăng trưởng trung bình hàng năm đạt 7% trong các năm 1988-2001 ngoại trừ một khoảng thời gian tụt xuống do cu ộc kh ủng hoảng tài chính châu Á bắt đầu năm 1997. Mặc dù tốc độ tăng trưởng cao nhưng Lào vẫn còn là một đất n ước với cơ sở hạ tầng lạc hậu. Tại đây đã có tuyến đường sắt nối thủ đô Vientiane (Lào) đến khu vực Noong Khai (Thái Lan), hệ thống đường bộ mặc dù đã được c ải tạo nhưng vẫn đi l ại khó khăn, hệ thống liên lạc viễn thông trong n ước và quốc t ế còn gi ới h ạn, đi ện sinh hoạt chỉ mới có ở một số khu vực đô thị. Sản phẩm nông nghiệp chiếm khoảng một nửa tổng sản phẩm quốc n ội (GDP) và sử dụng 80% lực lượng lao động. Nền kinh tế vẫn ti ếp tục nhận đ ược sự tr ợ giúp c ủa Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) và các nguồn quốc tế khác cũng như từ đầu tư nước ngoài trong chế biến sản phẩm nông nghiệp và khai khoáng.
  19. Hành chính Lào áp dụng một hệ thống hành chính bốn c ấp gồm cấp trung ương và ba c ấp đ ịa phương. Cấp địa phương cao nhất là tỉnh có 17 đơn vị và thành ph ố Vientinane. C ấp địa phương thấp hai là các quận, huyện, thị xã. Cấp địa phương thấp nhất là các xã. * Thành phố: Vientiane(thủ đô), Luang Prabang * Thị xã: Attopeu, Ban Houayxay, Bounneua, Hat Dokeo, Luang Namtha, Nam Thane, Napheng, Oudomxay, Paklay, Pakse, Paksong, Phongsali, Phonhong, Phonsavan, Salavan, Savannakhet, Sayaboury, Seno, Thakhek, Thangone, Vang Vieng, Viengsay. Dân cư Khoảng 60% dân cư là dân tộc Lào theo nghĩa hẹp, nhóm cư dân thống lĩnh trong chính trị, văn hóa sinh sống ở các khu vực đất thấp. Dân tộc Lào b ắt ngu ồn t ừ ng ười Thái di cư từ Trung Quốc xuống phía nam khoảng thiên niên kỷ 1 trước công nguyên. 8% dân cư thuộc các sắc tộc khác ở vùng đất thấp cùng với người Lào được gọi chung là Lào Lùm. Các dân tộc sinh sống ở vùng cao là người H'Mông (Mèo), Dao (Yao hay Mi ền), Thái đen, Shan và một ít người gốc Tây Tạng-Miến Điện, sống tại các khu vực cô lập c ủa Lào. Các bộ lạc vùng cao với một di sản ngôn ngữ sắc tộc hỗn hợp ở phía b ắc c ủa Lào. Một cách tổng quát họ được biết đến như là người Lào Sủng hay người Lào vùng cao. Các vùng núi ở trung tâm và miền nam là n ơi sinh sống c ủa các b ộ l ạc thu ộc s ắc t ộc Môn-Khmer, được biết đến như là người Lao Thơng. Có một ít người là gốc Vi ệt Nam, chủ yếu ở các thành thị, nhưng nhiều người đã rời khỏi đây sau khi Lào giành độc lập cuối những năm thập niên 1940 và sau 1975. Thuật ngữ Lào không nhất thiết phải chỉ đến ngôn ngữ, dân t ộc Lào hay t ập quán c ủa người Lào mà nó bao hàm ý nghĩa chính trị nhi ều hơn. Nó có th ể bao hàm c ả các s ắc tộc không phải là người Lào gốc nhưng đang sinh sống ở Lào và là công dân Lào. Tương tự như vậy từ "Lào" có thể chỉ đến những người hay ngôn ngữ, văn hóa và ẩm thực của những người thuộc sắc tộc Lào đang sinh sống ở vùng Đông Bắc Thái Lan (Isan). Tôn giáo chính là Phật giáo nguyên thủy, cùng với những đi ểm chung c ủa th ờ cúng linh vật trong các bộ lạc miền núi là sự cùng tồn t ại m ột cách hòa bình c ủa th ờ cúng tinh thần. Có một số ít người theo đạo Kitô và đạo Hồi. Ngôn ngữ chính thức và chi phối là tiếng Lào, m ột ki ểu phát âm c ủa Nhóm ngôn ng ữ Thái. Người Lào vùng trung và cao nguyên nói tiếng của bộ lạc mình.
  20. Văn hóa Nền văn hóa Lào chịu ảnh hưởng nặng của Phật giáo Thượng tọa bộ. S ự ảnh h ưởng này được phản ánh trong ngôn ngữ và nghệ thuật, văn học và nghệ thuật bi ểu di ễn của Lào. Âm nhạc Âm nhạc của Lào chịu ảnh hưởng lớn của các nhạc c ụ dân t ộc nh ư khèn (m ột d ạng của ống tre. Một dàn nhạc (mor lam) điển hình bao gồm người th ổi khèn (mor khaen) cùng với biểu diễn múa bởi nghệ sĩ khác. Múa Lăm vông (Lam saravane) là th ể lo ại phổ biến nhất của âm nhạc Lào, những người Lào ở Thái Lan đã phát tri ển và ph ổ biến rộng rãi trên thế giới gọi là mor lam sing. Lễ hội Lễ hội ở Lào hay được gọi là Bun. Nghĩa đúng của Bun là ph ước. Làm Bun nghĩa là làm phước để được phước. Cũng như các bước trong khu vực Đông Nam Á, l ễ h ội t ại đất nước Lào cũng chia làm 2 phần, phần lễ và phần hội. Lào là xứ s ở c ủa l ễ h ội, tháng nào trong năm cũng có. Mỗi năm có 4 lần tết: Tết Dương Lịch, T ết Nguyên Đán (như ở một số nước Á Đông), Tết Lào (Bun PiMay vào tháng 4) và T ết H'mong (tháng 12). Ngoài ra còn các lễ hội: Bun PhaVet ( Phật hóa thân) vào tháng 1 ; Bun VisakhaPuya (Phật Đản) vào tháng 4; Bun BangPhay (pháo thăng thiên) vào tháng 5; Bun Khao PhanSa (mùa chay) vào tháng 7; Bun Khao Padapdin (tưởng nh ớ người đã mất) vào tháng 9; Bun Suanghua (đua thuyền) vào tháng 10. Ẩm thực Ẩm thực Lào mang phong cách tương tự các quốc gia láng gi ềng là Campuchia và Thái Lan : cay, chua và ngọt. Tuy nhiên , ẩm thực lại mang nh ững phong cách đ ặc tr ưng r ất riêng. Giao thông Giao thông Lào được xem tương đối tốt, tại các thành phố lớn, giao thông r ất thu ận tiện. Người Lào tại vùng thủ đô đều sử dụng xe hơi do giá nhập khẩu r ẻ, ng ười làm công chức được cấp xe nên lượng xe 4 bánh tại các thành ph ố l ớn r ất nhi ều. Xe máy hầu như rất ít và không có, xe đạp cũng hiếm thấy ngay tại th ủ đô. Đường xá hầu hết là đường 2 chiều, tại các ngã tư đèn xanh là đèn m ột h ướng và không cho phép hướng đối diện chạy. Đèn bộ hành cũng nh ư đèn cho xe ch ạy đ ều là

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản