Tín dụng lý luận và thực tiển ở Việt Nam

Chia sẻ: Nguyen Thị Chang | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:31

0
184
lượt xem
86
download

Tín dụng lý luận và thực tiển ở Việt Nam

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Dù là tỷ phú hay là nhưng người dân nghèo nhất cũng đều phải đảm bảo các nhu cầu sống thiết yếu của mình, phải tham gia vào hoạt động sản xuất, kinh doanh, kiếm tiền phục vụ cho cuộc sống của mình, từ đó phải tham gia vào các hoạt động đi vay tiền và cho vay tiền. Muốn có vốn để đầu tư vào kinh doanh, để thành lập doanh nghiệp, để mở rộng sản xuất, đảm bảo sản xuất diễn ra bình thường.....

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tín dụng lý luận và thực tiển ở Việt Nam

  1. Tín dụng lý luận và thực tiển ở Việt Nam 1
  2. Mục Lục I. Mở đầu. 2 II. Nội dung. 3 1. Đặt vấn đề 3 1.1 Tính cấp thiết 3 1.2 Mục tiêu nghiên cứu. 3 2. Cơ sở lí luận về tín dụng ở Việt Nam 3 2.1. Cơ sở lí luận về tín dụng. 3 2.1.1 Khái niệm 3 2.1.2. Cơ sở ra đời của tín dụng 4 2.1.3. Bản chất của tín dụng 6 2.1.4 Chức năng của tín dụng 6 2.1.5 Vai trò của tín dụng trong nền kinh tế thị trường 7 2.2. Một số hình thức tín dụng chủ yếu 9 2.2.1 Tín dụng thương mại 9 2.2.2 Tín dụng ngân hàng 11 2.2.3 Tín dụng nhà nước 11 2.2.4 Tín dụng không chính thống 12 2.2.5. Tín dụng thuê mua 12 2.3 Lãi suất tín dụng 12 3. Cơ sở thực tiễn tín dụng ở Việt Nam 13 3.1 Tổng quan về thực tiễn tín dụng ở Việt Nam 13 3.2 Thực trạng tín dụng ở Việt Nam 16 3.2.1,Tín dụng ngân hàng 16 3.2.2. Tín dụng Nhà Nước 21 3.2.3 Tín dụng không chính thống 24 III. Kết luận 28 2
  3. I. Mở Đầu. Dù là tỷ phú hay là nhưng người dân nghèo nhất cũng đều phải đảm bảo các nhu cầu sống thiết yếu của mình, phải tham gia vào hoạt động sản xuất, kinh doanh, kiếm tiền phục vụ cho cuộc sống của mình, từ đó phải tham gia vào các hoạt động đi vay tiền và cho vay tiền. Muốn có vốn để đầu tư vào kinh doanh, để thành lập doanh nghiệp, để mở rộng sản xuất, đảm bảo sản xuất diễn ra bình thường.. cần phải có tiền, cần phải đi vay. Muốn tiêu dùng nhiều hơn khả năng tự có của mình, người ta phải đi vay. Khi có nhiều tiền mà người ta không dùng đến, người ta có thể gửi ngân hàng hoặc cho người khác vay. Có thể nói hầu hết mọi người khi phải tự lo cho bản thân mình cũng phải biết đến khái niệm đi vay và cho vay. Hàng ngày chúng ta vẫn thường xuyên tiếp xúc với khái niệm về tín dụng, tín dụng ngân hàng, tín dụng nhà nước, tín dụng thương mại..v.v nhưng chúng ta đã hiểu được những gì về tín dụng? Và những lí luận cũng như thực tiễn về tình hình tín dụng ở Việt Nam hiện nay ra sao? Ta có thể hiểu khái niệm thể hiện mối quan hệ giữa người cho vay và người vay. Trong quan hệ này, người cho vay có nhiệm vụ chuyển giao quyền sử dụng tiền hoặc hàng hoá cho vay cho người đi vay trong một thời gian nhất định. Người đi vay có nghĩa vụ trả số tiền hoặc giá trị hàng hoá đã vay khi đến hạn trả nợ có kèm hoặc không kèm theo một khoản lãi. Tín dụng có thể nói là vô cùng quan trọng trong nền kinh tế của cả thế giới, của mỗi quốc gia, của mỗi doanh nghiệp, của mỗi gia đình và mỗi người.. Thiếu tín dụng thì xã hội sẽ không thể tồn tại và phát triển, là điều kiện cơ bản để hình thành nên thị trường. Mỗi một cá nhân khi tham gia vào đi vay và cho vay tiền là đã tham gia vào hoạt động tín dụng. Với tầm quan trọng như vậy chúng ta cần hiểu rõ hơn về lí luận tín dụng và thực tiễn tín dụng nói chung và ở Việt Nam để có những kiến thức căn bản về tín dụng cho bản thân và phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh và chính cuộc sống của mình. 3
  4. II. Nội Dung 1. Đặt vấn đề 1.1. Tính cấp thiết Hiện nay, Việt Nam đang tiến hành công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước, muốn vậy cần có nền kinh tế tăng trưởng và phát triển cao. Trong đó nhu cầu về vốn là hết sức cần thiết, được coi là yếu tố hàng đầu, là tiền đề phát triển kinh tế.Đại hội đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khoá VII của đảng đã đề ra: “để công nghiệp hoá hiện ại hoá đất nước cần huy động nhiều nguồn vốn sẵn có với sử dụng vốn có hiệu quả, trong đó nguồn vốn trong nước là quyết định nguồn vốn bên ngoài là quan trọng...”. Tín dụng ra đời rất sớm, khi xã hội bắt đầu có sự phân công lao động xã hội và chế độ sở hữu triển mạnh mẽ, cùng với sự tồn tại các mối quan hệ cung- cầu về hàng hoá, vật tư, sức lao động thì quan hệ cung cầu về tiền vốn đã xuất hiện và ngày một phát triển như một đòi hỏi cần thiết khách quan của nền kinh tế nhằm đáp ứng nhu cầu tiết kiệm và đầu tư. Nhà nước đã sử dụng tín dụng như một công cụ quan trọng trong hệ thống các đòn bẩy kinh tế để thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế hữu tư nhân về tư liệu sản xuất. Tín dụng đã tồn tại và phát triển ở nhiều nền kinh tế với các mức độ phát triển khác nhau. Đặc biệt hiện nay trong nền kinh tế thị trường, nền sản xuất hàng hoá phát triển ngày càng mạnh mẽ, thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế quốc dân. Để thấy rõ hơn sự ảnh hưởng của tín dụng với Việt Nam nói riêng chúng ta cùng tìm hiểu vấn đề “Tín dụng: cơ sở lí luận và thực tiễn ở Việt Nam”. 1.2. Mục tiêu nghiên cứu - Góp phần hệ thống hoá cơ sở lí luận về tín dụng. - Phân tích tình hình tín dụng ở Việt Nam. - Đưa ra một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động tín dụng. 2. Cơ sở lí luận về tín dụng ở Việt Nam. 2.1. Cơ sở lí luận về tín dụng. 2.1.1 Khái niệm. Tín dụng xuất phát từ gốc từ Latinh: Gredittum - tức là tin tưởng, tín nhiệm. Tín dụng được diễn giải theo ngôn ngữ Việt Nam là sự vay mượn. 4
  5. Tín dụng là một phạm trù của kinh tế hàng hóa và có quá trình ra đời, tồn tại và phát triển cùng với phát triển của kinh tế hàng hóa. Lúc dầu các quan hệ tín dụng hầu hết là tín dụng hiện vật và một phần nhỏ là tín dụng hiện kim, tồn tại dưới hình thức là tín dụng nặng lãi, cơ sở của quan hệ tín dụng lúc bấy giờ chính là sự phát triển bước đầu của các quan hệ hàng hóa tiền tệ trong điều kiện của nền sản xuất hàng hóa kém phát triển. Các quan hệ tín dụng trong thời kì chiếm hữu nô lệ và chế độ phong kiến phản ánh thực trạng của nền kinh tế sản xuất hàng hóa nhỏ. Chỉ đến khi phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa ra đời, các quan hệ tín dụng mới có điều kiện phát triển. Tín dụng bằng hiện vật đã nhường chỗ cho tín dụng bằng hiện kim, tín dụng phi kinh tế nhường chỗ cho các loại hình tín dụng khác ưu việt hơn như tín dụng ngân hàng, tín dụng chính phủ. Trong thực tế tín dụng hoạt động rất phong phú và đa dạng nhưng ở bất cứ dạng nào tín dụng cũng thể hiện 2 mặt cơ bản: - Người sở hữu 1 số tiền hoặc hàng hóa chuyển giao cho người khác sử dụng trong 1 thời gian nhất định. - Đến thời hạn do 2 bên thỏa thuận, người sử dụng hoàn lại cho người sở hữu 1 giá trị lớn hơn. Phần tăng thêm được gọi là phần lời hay nói theo ngôn ngữ kinh tế là lãi suất. Danh từ tín dụng dùng để chỉ một số hành vi kinh tế rất phức tạp như: bán chịu hàng hoá, cho vay, chiết khấu, bảo hành,ký thác, phát hành giấy bạc. Trong mỗi một hành vi tín dụng có hai bên cam kết với nhau như sau: - Một bên thì trao ngay một số tín tệ hay tài hóa - Còn một bên kia cam kết sẽ hoàn lại những đối khoản của sổ tài hoá trong một thời gian nhất định và theo một số điều kiện nhất định nào đó. Nhà kinh tế pháp, ông Louis Baudin, đã định nghĩa tín dụng như là “Một sự trao đổi tài hoá hiện tại lấy một tài hóa tương lai”. ở đây yếu tố thời gian đã xen lẫn vào và cũng vì có sự xen lẫn đó cho nên có thể có sự bất trắc, rủi ro xảy ra và cần có sự tín nhiệm của hai bên đương sự đối với nhau. Hai bên đương sự dựa vào sự tín nhiệm, sử dụng sự tín nhiệm của nhau vì vậy mới có danh từ thuật ngữ tín dụng. Những hành vi tín dụng có thể do bất cứ ai thực hiện. Chẳng hạn hai người thường có thể cho nhau vay tiền. Tuy nhiên ngày nay khi nói tới tín dụng người ta nói ngay tới các ngân hàng vì các cơ quan này chuyên làm các việc như cho vay, bảo lảnh, chiết khấu, kí thác và phát hành giấy bạc. 2.1.2. Cơ sở ra đời của tín dụng Khi có sự phân công lao động xã hội và sự xuất hiện của sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất thì tín dụng ra đời. Sở hữu tư nhân về tư liệu sản 5
  6. xuất dẫn đến sở hữu tư nhân về sản phẩm làm ra. Xã hội có sự phân hoá giàu nghèo. Những người nghèo khi gặp khó khăn trong cuộc sống họ phải vay mượn. Tín dụng ra đời. Trên phương diện xã hội, do có sự phân công lao động xã hội hình thành sản xuất hàng hoá và tiền tệ đã xuất hiện để sử dụng trong quá trình sản xuất hàng hoá. Người sản xuất có lúc thiếu vốn bằng tiền để tiến hành sản xuất kinh doanh nhưng có lúc thừa vốn bằng tiền. Để điều chỉnh nhu cầu và khả năng vốn bằng tiền của các chủ thể trong quá trình sản xuất hàng hoá đòi hỏi tín dụng ra đời. Trong lịch sử phát triển kinh tế xã hội, hình thức đầu tiên của tín dụng là tín dụng nặng lãi được ra đời vào thời kì cổ đại. Trong xã hội nô lệ và nhất là ở xã hội phong kiến,khi mà xã hội bắt đầu phân chia giai cấp, chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất và có hiện tượng phân hóa giàu nghèo. Những người đứng đầu các thị tộc, các bộ lạc chiếm được nhiều tư liệu sản xuất và vật phẩm tiêu dùng. Trong khi đó đại bộ phận các gia đình nông nô không có hoặc có rất ít tư liệu trên, để duy trì cuộc sống bình thường trong xã hội, tất yếu phải diễn ra có trình điều hòa sản phẩm từ nơi ‘thừa” đến nơi “thiếu”, từ giàu đến nghèo. Quá trình này được thực hiện dưới hình thức vay mượn. Do sản phẩm dư thừa dùng để cho vay thì ít mà người cần vay thì nhiều nên người cho vay thu lãi rất cao, vì vậy quan hệ tín dụng này được gọi là “tín dụng nặng lãi”. Tín dụng nặng lãi đã phát triển và mở rộng hơn. Đặc điểm của tín dụng nặng lãi là lãi suất rất cao, hình thức vận động của vốn rất đa dạng, dưới nhiều hình thức. Tín dụng nặng lãi phát triển và trở thành một hình thức cho vay phổ biến trong chế độ chiếm hữu nô lệ và phong kiến. Với hàng nghìn năm lịch sử của xã hội loài người, nền sản xuất nhỏ của 2 chế độ xã hội này là “mảnh đất” tốt để tín dụng nặng lãi tồn tại và phát triển. Thời gian đầu, tín dụng nặng lãi được thực hiện bằng hiện vật hàng hóa, về sau, theo quá trình phát triển của nền kinh tế, vừa cho vay bằng hàng hóa, vừa cho vay bằng tiền. Do lãi suất quá cao nên tiền vay chỉ được sử dụn vào mục đích tiêu dùng cấp bách, hoàn toàn không dùng vào mục đích sản xuất. Mặt khác cũng do lãi suất quá cao nên hầu hết người đi vay đều rời vào tình trạng phá sản. Vì vậy,tín dụng nặng lãi đã trở thành một nhân tố làm giảm sức sản xuất xã hội. Song nó cũng góp phần làm nhanh chóng tan rã nền “kinh tế tự nhiên”, mở rộng quan hệ hàng hóa – tiền tệ và tạo tiền đề cho chủ nghĩa tư bản ra đời. Khi phương thức sản xuất Tư bản chủ nghĩa hình thành và phát triển, nền sản xuất hàng hoá lớn được mở rộng, tín dụng tư bản chủ nghĩa về cơ bản đã thay thế tín dụng nặng lãi. Tuy vậy tín dụng nặng lãi không mất đi mà vẫn tồn tại và phát triển ở nhiều nền kinh tế với các mức độ phát triển khác nhau. Hiện nay tín dụng nặng lãi vẫn tồn tại phổ biến ở các nước chậm 6
  7. phát triển. Ngày nay cùng với sự phát triển của xã hội, tín dung cũng không ngừng mở rộng và phát triển đa dạng. Chủ thể tham gia tín dụng bao gồm tất cả các thành phần kinh tế: Nhà nước, doanh nghiệp, cá nhân, tư nhân. tập thể, tất cả các cấp từ trung ương đến địa phương, các tổ chức chính phủ, phi chính phủ trong nước,quốc tế. Các quan hệ tín dụng được mở rộng cả về đối tượng và quy mô hoạt động. Thể hiện ở các ngân hàng có mặt ở hầu hết mọi nơi. Hầu như toàn bộ các doanh nghiệp, các nhà kinh doanh đều sử dụng vốn tín dụng dưới hình thức vay ngân hàng, phát hành trái phiếu, mua chịu hàng hoá. Khối lượng vốn tín dụng ngày ngày càng lớn, các hình thức tín dụng ngày càng đa dạng (tín dụng nhà nước,ngân hàng, thuê mua, nặng lãi...). tín dụng được phân loại theo các tiêu thức: thời hạn tín dụng (tín dụng ngắn hạn, trung hạn, dài hạn); đối tượng tín dụng (tín dụng vốn cố định, tín dụng vốn lưu động); mục đích sử dụng vốn (tín dụng sản xuất và lưu thông hàng hoá, tín dụng trong tiêu dùng); chủ thể trong quan hệ tín dụng (tín dụng hàng hoá, tín dụng thương mại, tín dụng nhà nước). 2.1.3. Bản chất của tín dụng Tín dụng rất phong phú và đa dạng về hình thức. Bản chất của tín dụng thể hiện ở các phương diện sau: Một là người sở hữu một số tiền hoặc hàng hoá chuyển giao cho người khác sử dụng một thời gian nhất định. Lúc này, vốn được chuyển từ người cho vay sang người vay. Hai là, sau khi nhận được vốn tín dụng, người đi vay được quyền sử dụng để thõa mãn một hay một số mục đích nhất định. Ba là, đến thời hạn do hai bên thỏa thuận, người vay hoàn trả lại cho người cho vay một giá trị lớn hơn vốn ban đầu, tiền tăng thêm được gọi là phần lãi. Các Mác đã viết về bản chất của tín dụng như sau: “ Tiền chẳng qua chỉ rời khỏi tay người sơ hữu một thời gian và chẳng qua chỉ tạm thời chuyển từ tay người tư hữu sang tay nhà tư bản hoạt động, cho nên tiền không phải bỏ ra để thanh toán, cũng không phải tự đem bán đi mà cho vay, tiền chỉ đem nhượng lại với một điều kiện là nó sẽ quay về điểm xuất phát sau một kì hạn nhất định”. Đồng thời CácMác cũng vạch ra yêu cầu của việc tiền quay trở về điểm xuất phát là: “vẫn giữ được nguyên vẹn giá trị của nó và đồng thời lại lớn lên trong quá trình vận động”. Đến nay các nhà kinh tế đã có nhiều định nghĩa khác nhau về tín dụng nhưng đều phản ánh một bên là đi vay và một bên là cho vay, nó dựa trên cơ sở của lòng tin. Lòng tin được thể hiện trên khía cạnh: người cho vay tin tưởng người đi vay sử dụng đúng mục đích, có hiệu quả và là quan hệ có thời hạn, có hoàn trả. Đây là bản chất của tín dụng. 2.1.4 Chức năng của tín dụng. Có 3 chức năng cơ bản: Thứ nhất: chức năng tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ. 7
  8. Đây là chức năng cơ bản nhất của tín dụng, nhờ chức năng này của tín dụng mà các nguồn vốn tiền tệ trong xã hội được điều hòa từ nơi “thừa” đến nới “thiếu” để sử dụng nhằm phát triển kinh tế. Tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ là hai mặt hợp thành chức năng cốt lõi của tín dụng. - Ở tập trung: nhờ sự hoạt động của hệ thống mà các nguồn tiền nhàn rỗi được tập trung lại bao gồm: tiền của dân chúng, vốn bằng tiền của các doanh nghiệp, các tổ chức đoàn thể xã hội.. - Ở mặt phân phối lại vốn tiền tệ: Đây là mặt cơ bản của chức năng này, dó là sự chuyển hóa để sử dụng nguồn vốn đã tập trung được để đáp ứng nhu cầu của sản xuất lưu thông hàng hóa cũng như nhu cầu tiêu dùng trong toàn xã hội. Cả hai mặt này đều dược thực hiện theo nguyên tắc hoàn trả, vì vậy tín dụng có ưu thế rõ rệt, nó kích thích mặt tập trung vốn và thúc đẩy sử dụng vốn có hiệu quả. Thứ 2: chức năng tiết kiệm tiền mặt và chi phí lưu thông cho xã hội. Nhờ hoạt động tín dụng mà nó có thể phát huy chức năng tiết kiệm tiền mặt và chi phí lưu thông cho xã hội, điều này được thể hiện qua các mặt sau. - Hoạt động tín dụng trước hết tạo điều kiện ra đời cho các công cụ lưu thông tín dụng như thương phiếu, kỳ phiếu ngân hàng, các loại séc, các phương tiện thanh toán hiện đại như thẻ tín dụng, thẻ thanh toán… cho phép thay thế một số lượng lớn tiền mặt trong lưu thông, làm giảm chi phí vẫn chuyển, in tiền, đúc tiền.. - Mở ra khả năng lớn trong việc mở tài khoản ngân hàng và giao dịch thanh toán thông qua ngân hàng dưới các hình thức chuyển khoản hoặc bù trừ cho nhau, cho phép giải quyết nhanh chóng các mối quan hệ kinh tế, thúc đẩy quá trình ấy, tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển. - Nhờ hoạt động tín dụng mà các nguồn vốn nhàn rỗi nằm trong xã hội được huy động để sử dụng cho các nhu cầu của sản xuất và lưu thông hàng hóa, tăng tốc độ chu chuyển tiền của toàn xã hội. Thứ 3: chức năng phản ánh và kiểm soát các hoạt động kinh tế. Đây là hệ quả của 2 chức năng trên, sự vận động của vốn tín dụng phần lớn là sự vận động gắn liền với sự vận động của vật tư, hàng hóa, chi phí trong các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế. Vì vậy tín dụng không những là tấm gương phản ánh hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mà còn thông qua đó thực hiện việc kiểm soát các hoạt động ấy nhằm ngăn chặn các hiện tượng tiêu cực, lãng phí, vi phạm luật pháp.. trong họa động sản xuất kinh doanh. 2.1.5 Vai trò của tín dụng trong nền kinh tế thị trường: 8
  9. - Tín dụng góp phần đảm bảo cho quá trình sản xuất diễn ra thường xuyên, liên tục. Do tính đa dạng trong luân chuyển vốn của các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường, tại một thời điểm nhất định trong nền kinh tế có một số doanh nghiệp “thừa vốn” tạm thời do bán hàng hoá có tiền nhưng chưa có nhu cầu sử dụng ngay( như chưa trả lương cho công nhân viên...) đã làm nảy sinh nhu cầu cho vay vốn để trách tình trạng ứa đọng vốn và có thêm lợi nhuận.Trong khi đó có những doanh nghiệp thiếu vốn tạm thời do hàng háo chưa bán được, nhưng lại có nhu cầu mua nguyên vật liệu, thanh toán tiền lương... làm nảy sinh nhu cầu đi vay để duy trì sản xuất kinh doanh mang lại lợi nhuận. Tín dụng với việc cung cấp tín dụng cho vay kịp thời, đã tạo khả năng đảm bảo tính liên tục của quá trình sản xuất kinh doanh, cho phép các doanh nghiệp thoả mãn nhu cầu về vốn luôn thay đổi và không để tồn đọng vốn trong quá trình luân chuyển. - Tín dụng góp phần tích tụ, tập trung vốn thúc đẩy sản xuất kinh doanh. Tập trung vốn phải dựa trên cơ sở tích luỹ. Trong thực tế, có những lượng tích luỹ rất lớn được nắm giữ ở các chủ thể khác nhau trong nền kinh tế. Nhưng rất nhiều người tích luỹ không muốn cho vay trực tiếp hoặc không muốn có cổ phần trong các dự án đầu tư vì ngoài lí do mất khả năng thanh khoản thì người tích luỹ còn bị hạn chế bởi khả năng, kiến thức về tài chính và pháp lí để thực hiện trực tiếp đầu tư hoặc cho vay. Với hoạt động của hệ thống tín dụng có đủ độ tin cậy, do tính chuyên môn hoá cao trong hoạt động tín dụng và đa dạng hoá các doanh mục đầu tư thông qua nhiều nhà đầu tư của nhiều dự án khác nhau vay, từ đó làm giảm bớt rủi do cá nhân của những người tích luỹ, tạo nên quá trình tập trung vốn được thực hiện nhanh chóng và có hiệu quả đã tạo khả năng cung ứng vốn cho nền kinh tế, đặc biệt là nguồn vốn dài hạn các doanh nghiệp, các nhà đầu tư nhờ nguồn vốn tín dụng có thể nhanh chóng mở rộng sản xuất, thực hiện các dự án đầu tư tạo những bước nhảy vọt về năng lực sản xuất do tiếp cận được với phương tiện máy móc hiện đại, từ đó thúc đẩy sản xuất phát triển. - Tín dụng góp phần điều chỉnh ổn định và tăng trưởng kinh tế. Trong nền kinh tế thị trường, các nhà đầu tư thường chỉ tập trung vốn đầu tư vào các lĩnh vực có lợi nhuận cao, trong khi đó, nền kinh tế đòi hỏi phải có sự phát triển cân đối, đồng bộ giữa các ngành và các vùng, yêu cầu phải có những ngành then chốt, mũi nhọn để tạo đà cho nền kinh tế phát triển nhanh chóng. Tín dụng thông qua cung cấp vốn, đặc biệt là vốn trung và dài hạn đầy đủ, kịp thời với lãi suất và điều kiện cho vay ưu đãi, có vai trò quan trọng trong việcgóp phần đảm bảo vốn đầu tư cho cơ sở hạ tầng, hình thành các ngành then chốt, mũi nhọn và các vùng kinh tế trọng điểm góp phần 9
  10. hình thành cơ cấu kinh tế tối ưu. Chẳng hạn, với ưu đãi về vốn, lãi suất, thời hạn và điều kiện vay vốn với nông nghiệp , nông thôn để xây dựng cơ sở vật chất, kết cấu hạ tầng, tín dụng góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp. Tín dụng còn là phương tiện để nhà nước thực hiện chính sách tiền tệ thích hợp để ổn định nền kinh tế khi nền kinh tế có dấu hiệu bất ổn. Chẳng hạn như khi nền kinh tế phát triển chậm, sản xuất đình trệ, nhà nước thực hiện chính sách tiền tệ “nới lỏng”, ngân hàng trung ương thực hiện mua các chứng khoán của các ngân hàng thương mại, tạo áp lực giảm lãi suất dẫn đến chi phí vay vốn giảm, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp mở rộng sản xuất, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và ngược lại. Hơn nữa, với sự tham gia của tín dụng thông qua dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt đã giảm chi phí lưu thông và an toàn trong thanh toán. - Tín dụng góp phần nâng cao đời sống của nhân dân và thực hiện các chính sách xã hội khác của nhà nước. Với các hình thức tín dụng, cơ chế và lãi suất thích hợp tín dụng đã góp phần nâng cao đời sống của nhân dân ngay cả khi thu nhập còn hạn chế. Thông qua các ưu đãi về vốn, lãi suất, điều kiện và thời hạn vay đối với người nghèo và các đối tượng chính sách, tín dụng đã đóng vai trò quan trọng nhằm thực hiện các chính sách việc làm, dân số và các chương trình xoá đói giảm nghèo, đảm bảo công bằng xã hội. - Tín dụng góp phần mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế Hoạt động tín dụng không chỉ bó hẹp trong nền kinh tế của một quốc gia, mà còn mở rộng trên phạm vi quốc tế. Trong điều kiện kinh tế mở, vay nợ nước ngoài ngày nay trở thành một nhu cầu khách quan đối với tất cả các nước trên thế giới, nó lại càng tỏ ra bức thiết hơn đối với các nước đang phát triển. Việt Nam cũng như nhiều nước đang phát triển khác, là nước nghèo, tích luỹ trong nước còn hạn chế, trong khi cần lượng vốn rất lớn để phát triển kinh tế. Nhờ có tín dụng, các nước có thể mua hàng hoá, nhập khẩu máy móc, thiết bị...và tiếp cận với những thành tựu khoa học kĩ thuật mới cũng như trình độ quản lý tiên tiến trên thế giới. Việc cấp tín dụng của các nước không chỉ mở rộng và phát triển quan hệ ngoại thương, mà còn tạo điều kiện thúc đẩy phát triển kinh tế ở các nước nhập khẩu. Tín dụng đã tạo môi trường thuận lợi cho đầu tư quốc tế trực tiếp – một hình thức hợp tác kinh tế ở mức độ cao hơn. 2.2. Một số hình thức tín dụng chủ yếu 2.2.1 Tín dụng thương mại ( commercial credit) Là quan hệ tín dụng giữa các nhà doanh nghệp với nhau và được biểu hiện dưới hình thức mua bán chịu hàng hoá. Người bán chuyển hàng hoá cho người mua, người mua được sử dụng hàng hoá trong một thời gian nhất 10
  11. định. Đến hạn nhất định người mua phải trả tiền cho người bán thông thường bao gồm cả lãi suất. Trong trường hợp này người mua không được hưởng chiết khấu bán hàng. Cơ sở pháp lí để xác định nợ trong quan hệ tín dụng thương mại là các giấy nợ. Do có tín dụng thương mại nên đã đáp ứng được nhu cầu vốn cho các doanh nghiệp tạm thời thiếu vốn trong thời hạn ngắn, giúp cho các doanh nghiệp tiêu thụ được hàng hoá, các chủ doanh nghiệp khai thác được nguồn vốn đáp ứng kịp thời cho sản xuất kinh doanh. Để tín dụng thương mại có thể hoạt động được ,cần phải có công cụ của nó – đó là thương phiếu( commercial Bill) ,còn gọi là kỳ phiếu thương mại, nghĩa là để đảm bảo cho hành vi mua bán chịu được tiến hành và việc thanh toán tiền hàng mua chịu được thực hiện chắc chắn thì nhất thiết phải có công cụ của nó là thương phiếu Thực chất của thương phiếu là một giấy nợ thương mại, có hình thức ngắn gọn , chặt chẽ và được pháp luật thừa nhận để sử dụng trong mua bán chịu hàng hóa .Nó là căn cứ pháp lý để giải quyết các tranh chấp trong quan hệ tín dụng thương mại. Thương phiếu gồm 2 loại: + 1 loại do người mua chịu lập ra để cam kết trả tiền cho người bán theo thời gian và địa điểm ghi trên phiếu. + loại khác được dùng phổ biến hơn là hối phiếu ( Bill of Exchange) còn gọi là thương phiếu chuyển nhượng do người bán chịu lập ra. Thương phiếu có ba tính chất quan trọng sau: - Một là : tính trừu tượng.Trên thương phiếu người ta không phản ánh nội dung của quan hệ thương mại, luật pháp cũng cho phép rằng giá trị pháp lý của thương phiếu không phụ thuộc vào xuất xứ của nó - Hai là: tính bắt buộc.Người trả tiền bắt buộc phải thanh toán số tiền của thương phiếu cho người thụ hưởng không được viện cớ để trì hoãn hoặc từ chối việc trả tiền.Đây là tính chất rất quan trọng, làm cho thương phiếu rất có uy tín ở trên thị trường - Ba là tính lưu thông.Trong thời gian hiệu lực của thương phiếu, nó có thể luân chuyển từ tay người này sang tay người khác bằng cách ký hậu chuyển nhượng, nhờ đó thương phiếu được sử dụng như là một phương tiện thanh toán trong nền kinh tế * Tín dụng thương mại có tác dụng - Tín dụng thương mại trực tiếp thúc đẩy quá trình lưu thông hàng hóa, nhờ đó sản phẩm hàng hóa được vận động từ nơi sản xuất đến nơi tiêu dùng để đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế.Với ý nghĩa đó tín dụng thương mại còn có tác dụng lớn lao hơn là thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế 11
  12. - Tín dụng thương mại góp phần giải quyết các nhu cầu về vốn cho nền kinh tế nhờ đó đảm bảo sản xuất kinh doanh không những được duy trì một cách thường xuyên mà còn có điều kiện để không ngừng mở rộng - Tín dụng thương mại còn có tác dụng làm giảm lượng tiền mặt lưu hành nhờ mở rộng việc lưu thông thương phiếu do đó góp phần ổn định lưu thông tiền tệ Tuy nhiên tín dụng thương mại cũng có những hạn chế nhất định. Thứ nhất là hạn chế về quy mô tín dụng. Nếu người cần vốn có nhu cầu cao thì người bán không thể đáp ứng được. Thứ hai là hạn chế về thời hạn cho vay, thời hạn cho vay thường là ngắn. Ba là hạn chế về số lượng người tham gia. Chỉ có một số doanh nghiệp nhất định tham gia vào hình thức này. Đó là những doanh nghiệp cần hàng hoá dự trữ để đưa vào sản xuất ngay, những doanh nghiệp cần tiêu thụ hàng hóa. Bốn là chỉ thực hiện được trên cơ sở tín nhiệm lẫn nhau. 2.2.2 Tín dụng ngân hàng: Là quan hệ tín dụng giữa ngân hàng, các tổ chức tín dụng với các chủ thể xã hội. Trong quan hệ tín dụng ngân hàng vừa là người đi vay vừa là người cho vay ngân hàng là môi giơí trung gian giữa người có vốn và người cần vốn. Ngân hàng là tổ chức kinh doanh tập thể, Hoạt động tín dụng là hoạt động dựa trên những nguyên tắc cho vay nhất định. Nguyên tắc cơ bản là cho vay phải có hàng hoá tương đương đảm bảo như có tài sản thế chấp hoặc phải có giấy tờ tín chấp. Cho vay phải hoàn trả đúng hạn cả vốn và lãi. Tín dụng ngân hàng được cung cấp dưới hình thức tập thể bao gồm: thương mại và bút tệ trong đó chủ yếu là bút tệ. Tín dụng ngân hàng là hình thức tín dụng chủ yếu trong nền kinh tế quốc dân và có quan hệ chặt chẽ với tín dụng thương mại, bổ sung và hỗ trợ cho tín dụng thương mại. Các thương phiếu trong lĩnh vực thương mại được thanh toán qua ngân hàng. Nếu người trả không có tiền thì được ngân hàng cho vay. Như vậy tín dụng ngân hàng đã tạo cơ sở cho tín dụng ngân hàng hoạt động. Ngược lại hoạt động của tín dụng ngân hàng sẽ khắc phục được những hạn chế của lĩnh vực thương mại 2.2.3 Tín dụng nhà nước: Là quan hệ giữa một bên là nhà nước còn bên kia là cư dân và các tổ chức kinh tế xã hội. Ở hình thức tín dụng này nhà nước vừa là người đi vay vừa là người cho vay, nhà nước có thể cho đân cư vay dưới hình thức phát hành các tín phiếu trái phiếu kho bạc, chính phủ nhà nước cho vay thường là chương chình tín dụng ưu đãi. Phạm vi hoạt động và huy động vốn rộng lớn gồm cả trong nước và nước ngoài. Vai trò của tín dụng nhà nước 12
  13. - Bù đắp bội chi ngân sách nhà nước.Để đảm bảo chi tiêu cần thiết cho nhà nước - thực hiện các chính sách kinh tế xã hội - Ngày nay tín dụng nhà nước tồn tại và quy mô ngày càng mở rộng là hết sức cần thiết cho mọi nhà nước trên thế giới Hình thức huy động vốn rất phong phú. Có thể dưói hình thức cho vay trực tiếp nước ngoài bằng công trái, bằng tiền, bằng vàng, bằng ngoại tệ dưới hình thức là phiếu, tín phiếu, trái phiếu của chính phủ tín dụng ngắn hạn, tín dụng dài hạn. Tín dụng nhà nước vừa mang tính lợi ích kinh tế vừa mang tính cưỡng chế chính trị xã hội. Tín dụng nhà nước là loại tín dụng mang tính chất tín chấp cả về phía đi vay cũng như cho vay.Nhà nước dùng uy tín của mình để đảm bảo việc trả nợ đúng hạn số tiền đã vay 2.2.4 Tín dụng không chính thống: Là quan hệ tín dụng giữa cá nhân với nhau không đặt dưới quan hệ pháp luật Hoạt động của quan hệ không chính thống không chịu sự quản lí và giám sát của nhà nước, hoạt động trên cơ sở tin tưởng lẫn nhau. Lượng vốn vay nhỏ, thời gian vay ngắn, lãi suất vay cao hay thấp tuỳ thuộc vào mối quan hệ giữa người đi vay và người đi vay. Thủ tục vay thường đơn giản, tiện lợi, bất cứ lúc nào cũng có sẳn. Chính vì vậy mà trong nền kinh tế hiện đại loại hình này vẫn tồn tại khá phổ biến, hình thức hoạt động phong phú, đa dạng. Loại hình tín dụng này rất quan trọng trong việc cung cấp vốn cho người nghèo và những lúc cấp bách 2.2.5. Tín dụng thuê mua: Là quan hệ tín dụng giữa các doanh nghiệp thuê tài sản với các tổ chức tín dụng thuê mua như các công ty thuê mua, các công ty tài chính Tín dụng thuê mua là kiểu cho thuê tài sản chuyên dụng kèm theo lời hứa sẽ bán lại về sau, chậm nhất là khi kết thúc hợp đồng cho người thuê theo giá thoã thuận từ đầu. Hoạt động thuê tài chính gồm có 3 bên liên quan: Người thuê, người bán tài sản và người cho thuê tài sản ( công ty tài chính). Thời hạn thuê thương là dài, người thuê có thể không mua tài sản này trong khoẳng 70% thời hạn sử dụng của sản phẩm này. Việc thuê mua được thực hiện thông qua các hợp đồng thỏa thuận thuê mua dưới hình thức tài trợ vốn cho đầu tư mới. 2.3 Lãi suất tín dụng Lãi suất là một phạm trù kinh tế tổng hợp, có liên quan chặt chẽ đến một số phạm trù kinh tế khác và đóng vai trò như là một đòn bẩy kinh tế cực kỳ nhạy bén có ảnh hưởng trực tiếp đến các hoạt động của doanh nghiệp và dân 13
  14. cư. Quan trọng hơn, nó được Nhà nước sử dụng như một công cụ quản lý vĩ mô trong nền kinh tế thị trường. Một nhà kinh tế học nổi tiếng của Pháp A.POIAL đã khẳng định: lãi suất là một công cụ tích cực trong phát triển kinh tế và đồng thời lại là một công cụ kìm hãm của chính sự phát triển ấy, tuỳ thuộc vào sự khôn ngoan hay khờ dại trong việc sử dụng chúng. Trong nền kinh tế kế hoạch hoá, vai trò của lãi suất được nhìn nhận một cách hết sức mờ nhạt và lệ thuộc, nhiều khi được hiểu như sự phân chia cuối cùng của sản xuất giữa giữa những người sản xuất, người đầu tư vốn và người cho vay. Trong nền kinh tế thị trường, lãi suất được các nhà kinh tế học định nghĩa là cái giá để vay mượn hoặc thuê những dịch vụ tiền. Vì việc vay mượn hoặc thuê những dịch vụ tiền liên quan đến việc tạo ra tín dụng, do vậy, người ta có thể coi lãi suất như là giá cả của tín dụng. Trong nền kinh tế thị trường, có nhiều loại lãi suất khác nhau: lãi suất cầm cố thế chấp, lãi suất về những trái khoán công ty, lãi suất về trái phiếu kho bạc, kỳ phiếu thương mại và nhiều công cụ tín dụng khác. Vô số những lợi tức khác nhau cùng tồn tại vào một thời điểm; do vậy, lãi suất được xem xét trên cơ sở sự khác nhau về khả năng chuyển đổi trên thị trường vốn, rủi ro sai hẹn hoặc không trả được nợ, độ dài kỳ hạn hoàn trả và những lý do về thuế. 3. Cơ sở thực tiễn tín dụng ở Việt Nam 3.1 Tổng quan về thực tiễn tín dụng ở Việt Nam. Nước ta hiện nay hệ thống tín dụng bắt đầu phát triển mạnh. Trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội đòi hỏi phải có nền kinh tế phát triển vững mạnh. Vì vậy nhu cầu về vốn ngày càng nhiều, vốn được coi là yếu tố hàng đầu, là tiền đề phát triển kinh tế. Đảng và nhà nước đã sử dụng phương pháp tín dụng là phương pháp chủ yếu để giúp đỡ về tài chính cho các tổ chức kinh tế tập thể.Bằng phương pháp tín dụng, ngân hàng cho các tổ chức kinh tế tập thể vay vốn cố định và vốn lưu động để tăng thêm năng lực sản xuất, áp dụng các thành tựu sản xuất vào trong đơn vị mình. Thực tế đã chứng minh rằng đầu tư tín dụng có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với các tổ chức kinh tế tập thể. Trong nhiều cơ sở, đặc biệt là trong các hợp tác xã nông- lâm- ngư. Vốn tín dụng chiếm một tỷ trọng khá lớn trong toàn bộ vốn hoạt động của đơn vị. Ở nước ta trước cách mạng tháng 8/45 và trong thời kì từ năm 54-75 ở miền nam các quan hệ tín dụng thể hiện sự bóc lột của chủ nghĩa đế quốc đối với dân tộc việt nam, của giai cấp tư sản với giai cấp công nhân và nhân dân lao động, của giai cấp phong kiến và bọn cho vay nặng lãi đối cới những người sản xuất nhỏ là nông dân và dân nghèo thành thị. Việt nam, trước đây 14
  15. bọn đế quốc và các giai cấp thống trị trong nước vừa thực hiện sự bóc lột thông qua các hình thức tín dụng tư bản chủ nghĩa vừa duy trì sự bóc lột bằng tín dụng nặng lãi. Tình hình nay đã tác động rất xấu đến nền kinh tế và xã hội nước ta. Sau cách mạng tháng 8 năm 1945 quan hệ giai cấp trong xã hội việt nam đã có nhiều thay đổi và tín dụng đẫ bắt đầu đem theo những nội dung kinh tế xã hội mới, hạn chế dần mặt bóc lột và chuyển sang phục vụ quyền lợi của đại đa số nhân dân lao động. Ở nước ta việc chuyển sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà Nước, các hoạt động tín dụng cũng phải được đổi mới cả về nội dung, hình thức lẫn phạm vi tính chất của nó. Kinh tế thị trường tạo ra khả năng mở rộng phạm vi hoạt động của tín dụng; đến lượt mình, tín dụng lại thúc đẩy mạnhmẽ quá trình tích tụ và tập trung sản xuất. Sự cạnh tranh giữa các tổ chức tíndụng đưa đến việc thu hút và huy động một lượng vốn trong thời gian nhanhnhất và với lãi suất thấp nhất, kịp thời đáp ứng mọi nhu cầu của doanh nghiệp.Thừa nhận hoạt động tín dụng là hoạt động kinh doanh tiền tệ thì lợi tức phảiđược xem như là giá cả của loại hàng hoá-tiền tệ và nó thay đổi theo quan hệcung cầu trên thị trường tiền tệ. Chính sự thay đổi của lợi tức trong từng thờikỳ góp phần vào việc điều hoà cung cầu về vốn tiền tệ trong toàn nền kinh tế.Với tác dụng đó, quan hệ tín dụng được sử dụng như là một công cụ kinh tế vĩmô, cùng với quan hệ tài chính, để điều tiết nền kinh tế.Do đó khi chuyển sang cơ chế thị trường thì quan hệ tín dụng ở Việt Namtồn tại dưới các hình thức sau: - Tín dụng ngân hàng Đây là hình thức tín dụng rất quan trọng và là quan hệ tín dụng chủ yếu giữa ngân hàng và các doanh nghiệp. Nó là hình thức mà các quan hệ tín dụng được thực hiện thông qua vai trò trung tâm của ngân hàng. Nó đáp ứng phần lớn nhu cầu tín dụng cho các doanh nghiệp và cá nhân. Theo đà phát triển của nền kinh tế, hình thức tín dụng ngân hàng ngày càng trở thành hình thức chủ yếu không chỉ ở trong nước mà còn trên trường quốc tế.Tuỳ theo cách phân chia khác nhau, tín dụng ngân hàng có các loại khác nhau. * Nếu phân chia theo thời gian: +Tín dụng ngắn hạn + Tín dụng trung hạn ( trên 1 năm và dưới 5 năm) + Tín dụng dài hạn (trên 5 năm). Nếu phân chia theo đối tượng đầu tư của tín dụng: + Tín dụng vốn lưu động + Tín dụng vốn cố định... - Tín dụng Nhà Nước Tín dụng nhà nước là quan hệ vay mượn có hoàn trả vốn và lãi sau một thời gian nhất định giữa Nhà nước với các tổ chức kinh tế trong nước, giữa Nhà 15
  16. nước với các tầng lớp dân cư, giữa Nhà nước với chính phủ các nước khác... Hình thức này được thực hiện thông qua việc Nhà nước phát hành công trái bằng thóc, bằng vàng, bằng tiền để vay dân khi ngân sách Nhà nước thiếu hụt. Tính hiệu quả của hình thức tín dụng Nhà nước phụ thuộc vào việc thực hiện đúng đắn nguyên tắc tự nguyện và cùng có lợi giữa Nhà nước và người đi mua công trái. Muốn vậy phải đảm bảo lãi suất tín dụng Nhà nước phù hợp với lãi suất tín dụng ngân hàng, thời gian trả phải đảm bảo đúng thời gian ghi trên công trái, phương thức thanh toán đơn giản, thuận tiện cho người mua công trái. - Tín dụng không chính thức (hay tín dụng không chính thống): Tín dụng tập thể là hình thức tự nguyện góp vốn của các thành viên cho nhau vay hoặc để cùng nhau kinh doanh tín dụng. Nó tồn tại dưới hình thức tổ chức như các hiệp hội tín dụng, hợp tác xã tín dụng... Tín dụng tập thể là hình thức có vai trò bổ sung cho tín dụng ngân hàng về huy động và cho vay chủ yếu ở nông thôn. Hợp tác xã tín dụng được thành lập từ năm 1956 và trở thành phổ biến vào những năm 1960, có tác dụng một thời trong phong trào hợp tác hoá. Song, do hoạt động theo cơ chế hành chính bao cấp, nó chỉ là "chân rết" của ngân hàng, nên đã bị hạn chế tác dụng và tan rã. Từ khi có chỉ thị 100 của Ban Bí thư trung ương về khoán sản phẩm trong hợp tác xã nông nghiệp, trong nông thôn đã xuất hiện mạnh mẽ nhu cầu tín dụng. Năm 1982, các hợp tác xã tín dụng được khôi phục lại. Các quỹ tín dụng nhân dân và các hình thức tín dụng khác, kể cả tín dụng nặng lãi xuất hiện ngoài ngân hàng, mà đỉnh cao là năm 1988 và đầu năm 1989. Chẳng bao lâu, hàng loạt những tổ chức tín dụng đó bị đổ vỡ, mất khả năng thanh toán và chi trả, đã gây rối loạn về kinh tế- xã hội, nhất là trong lĩnh vực tiền tệ, tín dụng. Hậu quả trên do nhiều nguyên nhân, song trước hết phải kể đến sự thiếu thể chế pháp lý hoàn chỉnh, thiếu hệ thống kiểm tra, thanh toán có hiệu lực để hoạt động tín dụng được an toàn và nằm trong khuôn khổ của luật pháp thống nhất. Tín dụng tập thể là hình thức tồn tại tất yếu trong nền kinh tế thị trường, có vai trò cực kỳ quan trọng đối với việc chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, nông thôn khi hộ gia đình là đơn vị kinh tế tự chủ và khi ngân hàng chưa vươn tới từng hộ nông dân. Tuy nhiên điều đó chỉ trở thành hiện thực khi các tổ chức tín dụng tập thể có cơ chế kinh doanh phù hợp, tồn tại và phát triển trên cơ sở tôn trọng pháp luật, nhất là pháp luật trong lĩnh vực tiền tệ, tín dụng, có sự giúp đỡ của Nhà nước. Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội , ngoài các hình thức tín dụng chủ yếu trên còn có một số hình thức tín dụng khác như tín dụng tiêu dùng, tín dụng học đường... 16
  17. 3.2 Thực trạng tín dụng ở Việt Nam Nhìn vào thực trạng tín dụng Việt Nam ta có thể lấy một ví dụ minh hoạ như sau : nếu coi nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung trước kia là một ngôi nhà ba tầng và quan hệ tín dụng là cầu thang trong ngôi nhà đó, thì khi Việt Nam chuyển sang nền kinh tế thị trường được ví như một toà nhà chọc trời và quan hệ tín dụng là chiếc cầu thang máy giúp việc đi lại, lưu thông trong toà nhà được dễ dàng, thuận tiện. Tuy nhiên vấn đề đặt ra ở đây là phải đặt vị trí của cầu thang ở chỗ nào để mang lại hiệu quả sử dụng tốt nhất. Tại Việt Nam, trong những năm qua quan hệ tín dụng đã được cải cách rất nhiều và đã mang lại những hiệu quả nhất định, cũng như vẫn còn tồn tại một số mặt còn yếu kém. Để hiểu được cạn kẽ chúng ta cùng đi tìm hiểu về quan hệ tín dụng ở Việt Nam: thực trạng, những thành tựu,những hạn chế và phương hướng khắc phục, đổi mới. Có thể lấy một ví dụ minh hoạ như sau : nếu coi nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung trước kia là một ngôi nhà ba tầng và quan hệ tín dụng là cầu thang trong ngôi nhà đó, thì khi Việt Nam chuyển sang nền kinh tế thị trường được ví như một toà nhà chọc trời và quan hệ tín dụng là chiếc cầu thang máy giúp việc đi lại, lưu thông trong toà nhà được dễ dàng, thuận tiện. Tuy nhiên vấn đề đặt ra ở đây là phải đặt vị trí của cầu thang ở chỗ nào để mang lại hiệu quả được cải cách rất nhiều và đã mang lại những hiệu quả nhất định, cũng như vẫn còn tồn tại một số mặt còn yếu kém. Để hiểu được cạn kẽ chúng ta cùng đi tìm hiểu về quan hệ tín dụng ở Việt Nam: thực trạng, những thành tựu,những hạn chế và phương hướng khắc phục, đổi mới. thể lấy một ví dụ minh hoạ như sau : nếu coi nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung trước kia là một ngôi nhà ba tầng và quan hệ tín dụng là cầu thang trong ngôi nhà đó, thì khi Việt Nam chuyển sang nền kinh tế thị trường được ví như một toà nhà chọc trời và quan hệ tín dụng là chiếc cầu thang máy giúp việc đi lại, lưu thông trong toà nhà được dễ dàng, thuận tiện. Tuy nhiên vấn đề đặt ra ở đây là phải đặt vị trí của cầu thang ở chỗ nào để mang lại hiệu quả sử dụng tốt nhất. Tại Việt Nam, trong những năm qua quan hệ tín dụng đã được cải cách rất nhiều và đã mang lại những hiệu quả nhất định, cũng như vẫn còn tồn tại một số mặt còn yếu kém. Để hiểu được cạn kẽ chúng ta cùng đi tìm hiểu về quan hệ tín dụng ở Việt Nam: thực trạng, những thành tựu,những hạn chế và phương hướng khắc phục, đổi mới. 3.2.1,Tín dụng ngân hàng: a,Thực trạng: Tại Việt Nam ngân hàng Nhà Nước đóng vai trò là ngân hàng trung ương, là cơ quan quản lý Nhà Nước giám sát hoạt động khu vực tiền tệ và kiểm soát khối lượng tiền trong nền kinh tế . Ngân hàng Nhà Nước là cơ 17
  18. quan duy nhất có khả năng phát hành tiền. Và ngân hàng Nhà Nước có ba chức năng sau: kiểm soát các ngân hàng thương mại hoạt động đúng luật; là người cho vay cuối cùng, hay là ngân hàng của cá ngân hàng và cuối cùng là chức năng kiểm soát mức cung tiền. Trong khi đó thì ngân hàng thương mại là ngân hàng nhận tiền gửi và cho vay với lãi suất, thông qua đó thu được một khoản tiền lời từ sự chênh lệch lãi suất. Như vậy có thể nói quan hệ tín dụng ngân hàng ở Việt Nam chủ yếu là do các ngân hàng thương mại đảm trách. Các ngân hàng thương mại quốc doanh của Việt Nam nhìn chung vẫn là các chủ thể giữ vị trí chủ chốt trong hệ thống này. Từ năm 1990, hệ thống ngân hàng Việt Nam được sắp xếp lại thành 6 ngân hàng thương mại quốc doanh, bao gồm: Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Ngân hàng Công thương, Ngân hàng ngoại thương, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển, Ngân hàng Phục vụ người nghèo và Ngân hàng Phát triển nhà ở và cơ sở hạ tầng đồng bằng sông Cửu Long. Hệ thống ngân hàng quốc doanh hoạt động rộng khắp trên cả nước với 238 chi nhánh tại các tỉnh, thành phố và hơn 1000 chi nhánh cấp 3 trực thuộc tại khắp các vùng dân cư. Ngân hàng thương mại quốc doanh thực sự trở thành chỗ dựa quan trọng, chủ yếu của các thành phần kinh tế, qua đó đóng góp quan trọng vào tăng trưỏng ổn định kinh tế trong thời kì đổi mới. Các ngân hàng thương mại cổ phần cũng là những thành phần đang lớn mạnh. Vào thời điểm đầu thập kỉ 1990, cả nước có 15 ngân hàng cổ phần, cho đến nay, các ngân hàng cổ phần đã và đang phát triển một cách nhanh chóng. Về số lượng đã có 48 ngân hàng cổ phần (trong đó có 32 ngân hàng cổ phần đô thị, 16 ngân hàng cổ phần nông thôn). Thực hiện chính sách mở cửa trong lĩnh vực ngân hàng, Nhà nước cũng đã cho phép ngân hàng nước ngoài được hoạt động tại Việt Nam. Hiện nay trên lãnh thổ Việt Nam có hơn 5 ngân hàng liên doanh với nước ngoài. Bên cạnh các tổ chức mang tính chính thức, hệ thống ngân hàng Việt Nam cũng phải kể đến hoạt động tín dụng nhân dân. Hiện nay hệ thống này vẫn đang được triển khai và phát triển rộng khắp trên phạm vi cả nước. Ngoài ra hoạt động của các tổ chức không chuyên ngành ngân hàng, trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường vẫn có những hoạt động mang tính ngân hàng, đó là các tổ chức kinh tế thuộc các bộ các ngành, các cơ quan, các tổ chức đoàn thể chính trị, xã hội ví dụ như : hệ thống kho bạc nhà nước,Tổng cục Đầu tư và Phát triển, Bộ lao động Thương binh và Xã hội, Tổng cục Bưu điện, Hợp tác xã, Hội phụ nữ, Hội nông dân.... Với một cơ cấu tổ chức đa dạng và vẫn đang mở rộng như vậy, hệ thống ngân hàng Việt Nam đang từng bước thể hiện sự lớn mạnh về số lượng, phần nào chứng tỏ vai trò quan trọng của mình trong nền kinh tế. Tuy 18
  19. vậy, để đánh giá và nhận dịnh đúng đắn, chúng ta cần xem xét các mặt về chất lượng hoạt động của hệ thống này. - Về quy mô vốn tự có: Vốn của ngân hàng là một trong những điều kiện tiền đề cho hoạt động, phát triển và thể hiện tính cạnh tranh của ngân hàng thương mại. Với một khoản vốn lớn, ngân hàng có khả năng cung cấp tín dụng lớn hơn, làm giảm bớt rủi ro và là một yếu tố để ngân hàng có thể cải tiến công nghệ, mở rộng hoạt động và tăng khả năng cung cấp dịch vụ trên thị trường. Tuy vậy lượng vốn tự có của hệ thống ngân hàng thương mại ViệtNam cũng hầu hết không đáp ứng được yêu cầu. Các ngân hàng thương mại quốc doanh được Nhà nước cấp vốn điều lệ từ ngân sách: trong đó Ngân hàng Ngoại thương (NHNT), Ngân hàng Công thương ( NHCT), Ngân hàng Đầu tư và Phát triển (NHĐT&PT), mỗi ngân hàng được cấp 1100 tỷ đồng; riêng Ngân hàng NN&PTNT được cấp vốn lớn nhất nhưng cũng chỉ có 2200 tỷ đồng. Tính đến cuối năm 1999, vốn tự có đã bổ sung của các NHTMQD cũng mới chỉ lên tới 2063 tỷ đồng ở NHNT, 1637 tỷ đồng ở NHCT, 1892 tỷ đồng ở NHĐT&PT và 2755 tỷ đồng ở NHNN&PTNT. Thử so sánh với số tài sản của một số ngân hàng trên thế giới vào thời điểm năm 1995: Deutsche Bank (Đức) 502.3 tỷ USD; Sumitomo Bank (Nhật) 498.9 tỷ USD ; Credit Lyonnais (Pháp) 337.6 tỷ USD; hay Chase Manhattan Bank (Mỹ) 333.8 tỷ USD... thì mới thấy sự nhỏ bé và khoảng cách rất xa của các ngân hàng thương mại Việt Nam. Ngay cả so sánh với khu vực thì ngân hàng thương mại lớn nhất của Việt Nam (khoảng 170 triệu USD) chỉ có vốn đạt khoảng 1/5 mức của các ngân hàng của các nước trong khu vực. Xét về khu vực ngân hàng cổ phần Việt Nam thì tình hình còn thiếu khả quan hơn. Theo đánh giá hiện nay thì có khoảng 11 ngân hàng cổ phần chưa có đủ khả năng tăng vốn điều lệ theo yêu cầu. Hoạt động kinh doanh của các ngân hàng cổ phần chưa thể hiện hiệu quả cao, do vậy việc tăng vốn rất khó khăn. Với quy mô vốn thấp và tỷ lệ an toàn vốn dưới mức thông lệ quốc tế như hiện nay của các ngân hàng thương mại Việt Nam, chúng ta đã bị hạn chế về khả năng tín dụng, tài trợ cho hoạt động kinh doanh cũng gặp nhiều cản trở, khó mở rộng phạm vi hoạt động và đổi mới công nghệ ngân hàng, và càng khó hơn trong việc cạnh tranh với các ngân hàng nước ngoài trên lãnh thổ Việt Nam. - Về hiệu quả huy động vốn và tín dụng Với các chức năng cơ bản của mình, huy động vốn và hoạt động tín dụng là những nghiệp vụ nền tảng của một ngân hàng thương mại. Qua đó, ngân hàng huy động vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế, đem cho vay các đối tác khác có nhu cầu về vốn. Với hoạt động này, các nguồn vốn dư thừa sẽ được tận dụng và 19
  20. sử dụng hiệu quả hơn, những nơi cần đầu tư cũng có được nguồn lực cần thiết để đạt đến sự phát triển tối ưu. Năm 1995, các ngân hàng thương mại quốc doanh huy động được 31700 tỷ VNĐ (kể cả ngoại tệ quy đổi). Tới năm 1999 thì số vốn huy động được lên tới 115508 tỷ VNĐ, tăng 3.46 lần. Đối với các chi nhánh ngân hàng nước ngoài và ngân hàng liên doanh, năm 1995, huy động được 2085 tỷ VNĐ (kể cả ngoại tệ quy đổi ), năm 1999 lên tới 14413 tỷ VNĐ, tăng 7 lần. Năm 2000, số dư tiền gửi tại các ngân hàng, tổ chức tín dụng (TCTD) đã tăng thêm 30%, một tốc độ rất cao có được là nhờ một số giải pháp như: lãi suất huy dộng linh hoạt, phát hành trái phiếu ngân hàng... Nhìn chung, số vốn huy động được từ nền kinh tế vẵn tăng đều đặn trong các năm gần đây, rất có ý nghĩa đối với sự phát triển kinh tế - xã hội trong bối cảnh vốn đầu tư từ nước ngoài vào nước ta có xu hướng giảm sút. Tuy vậy, việc huy động vốn của các ngân hàng vẫn còn gặp nhiều hạn chế. Mức huy dộng vốn so sánh với các nước trong khu vực thì Việt Nam vẵn còn ở mức thấp. Do vậy, nhìn chung, vẫn còn tình trạng dư thừa vốn trong dân cư, trong khi toàn bộ nền kinh tế lại đang trong giai đoạn rất cần vốn để phát triển. b, Những hạn chế: Sau các bước đổi mới khá toàn diện, chuyển sang chuyên doanh, các ngân hàng thương mại Việt Nam đã huy động được một khối lượng đáng kể vốn trong nước và quốc tế, thúc đẩy đầu tư cho sản xuất của các thành phần kinh tế, coi trọng đầu tư tín dụng ưu đãi để phục vụ xoá đói giảm nghèo và thực hiện một số chính sách xã hội. Các dịch vụ mà hệ thống ngân hàng cung cấp ngày càng đa dạng và tiện dụng, tiến dần đến các dịch vụ hiện đại của thế giới và khu vực. Tuy nhiên hệ thống ngân hàng thương mại còn nhiều yếu kém, thể hiện ở một số khía cạnh sau: Thứ nhất, kết quả đạt được vẫn còn hạn chế so với hệ thống ngân hàng của các nước trong khu vực. Thứ hai, phần lớn các ngân hàng thương mại còn thiếu một chiến lược kinh doanh hiệu quả và bền vững trên cơ sở đánh giá đúng nguồn lực hiện có và dự báo môi trường kinh tế, chính sách kinh doanh, chính sách khách hàng, kế hoạch và cá biện pháp quản lý dài hạn. Thứ ba, các ngân hàng thương mại (nhất là các ngân hàng thương mại quốc doanh, ngân hàng thương mại cổ phần) đều có chỉ số tài chính yếu kém, hiệu quả kinh doanh thấp, vốn nhỏ; ngoài ra sức cạnh tranh thấp, chất lượng tín dụng không cao, chi phí nghiệp vụ lớn, khả năng sinh lời thấp. Thứ tư, hệ thống kế toán chưa phù hợp với chuẩn mực quốc tế, kinh nghiệm và nghiệp vụ ngân hàng quốc tế cũng như các thông tin về thị trường 20

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản