Tính chất của hàng hóa cộng cộng

Chia sẻ: Nguyen Thi Hong Van Van | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:8

0
831
lượt xem
179
download

Tính chất của hàng hóa cộng cộng

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

· Không thể loại trừ: tính chất không thể loại trừ cũng được hiểu trên giác độ tiêu dùng, hàng hóa công cộng một khi đã cung cấp tại một địa phương nhất định thì không thể hoặc rất tốn kém nếu muốn loại trừ những cá nhân không trả tiền cho việc sử dụng hàng hóa của mình. Ví dụ: quốc phòng là một hàng hóa công cộng nhưng quân đội không thể chỉ bảo vệ những người trả tiền còn không bảo vệ những ai không làm việc đó. Đối lập với hàng hóa công cộng, hàng hóa cá nhân có thể loại trừ...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tính chất của hàng hóa cộng cộng

  1. Tính chất của hàng hóa cộng cộng • Không thể loại trừ: tính chất không thể loại trừ cũng được hiểu trên giác độ tiêu dùng, hàng hóa công cộng một khi đã cung cấp tại một địa phương nhất định thì không thể hoặc rất tốn kém nếu muốn loại trừ những cá nhân không trả tiền cho việc sử dụng hàng hóa của mình. Ví dụ: quốc phòng là một hàng hóa công cộng nhưng quân đội không thể chỉ bảo vệ những người trả tiền còn không bảo vệ những ai không làm việc đó. Đối lập với hàng hóa công cộng, hàng hóa cá nhân có thể loại trừ một cách dễ dàng, ví dụ: bảo vệ rạp hát sẽ ngăn cản những người không có vé vào xem. • Không cạnh tranh: tính chất không cạnh tranh được hiểu trên góc độ tiêu dùng, việc một cá nhân này đang sử dụng hàng hóa đó không ngăn cản những người khác đồng thời cũng sử dụng nó. Ví dụ pháo hoa khi bắn lên thì tất cả mọi người đều có thể được hưởng giá trị sử dụng của nó. Điều này ngược lại hoàn toàn so với hàng hóa cá nhân: chẳng hạn một con gà nếu ai đó đã mua thì người khác không thể tiêu dùng con gà ấy được nữa. Chính vì tính chất này mà người ta cũng không mong muốn loại trừ bất kỳ cá nhân nào trong việc tiêu dùng hàng hóa công cộng. [sửa] Hàng hóa công cộng thuần túy và không thuần túy Trong thực tế, có một số hàng hóa công cộng có đầy đủ hai tính chất nêu trên như quốc phòng, ngoại giao, đèn biển, phát thanh...Các hàng hóa đó có chi phí biên để phục vụ thêm một người sử dụng bằng 0, ví dụ đài phát thanh một khi đã xây dựng xong thì nó ngay lập tức có thể phục vụ tất cả mọi người, kể cả dân số luôn tăng. Tuy nhiên có nhiều hàng hóa công cộng không đáp ứng một cách chặt chẽ hai tính chất đó ví dụ đường giao thông, nếu có quá đông người sử dụng thì đường sẽ bị tắc nghẽn và do đó những người tiêu dùng trước đã làm ảnh hưởng đến khả năng tiêu dùng của những người tiêu dùng sau. Đó là những hàng hóa công cộng có thể tắc nghẽn. Một số hàng hóa công cộng mà lợi ích của nó có thể định giá thì gọi là hàng hóa công cộng có thể loại trừ bằng giá. Ví dụ đường cao tốc, cầu...có thể đặt các trạm thu phí để hạn chế bớt số lượng người sử dụng nhằm tránh tắc nghẽn. [sửa] Hàng hóa công cộng quốc gia và hàng hóa công cộng địa phương • Hàng hóa công cộng quốc gia: do chính quyền trung ương cung cấp cho toàn bộ quốc gia. Những loại hàng hóa có cả hai tính chất trên ở mức cao sẽ thường được xếp vào hàng hóa công cộng quốc gia. Một số hàng hóa công cộng quốc gia tiêu biểu là ngoại giao, quốc phòng, chính sách lưu thông tiền tệ, v.v… • Hàng hóa công cộng địa phương: do chính quyền địa phương cung cấp chủ yếu cho công dân địa. Hàng hóa công cộng địa phương thường chỉ mang một trong 1
  2. hai tính chất nói trên hoặc mang cả hai tính chất nhưng ở mức độ không cao. Một số hàng hóa công cộng địa phương tiêu biểu là giáo dục phổ cập, y tế cộng đồng, vệ sinh môi trường, cung cấp nước sạch, v.v… • Hơn nữa, tính không cạnh tranh trong tiêu dùng của hàng hóa công cộng không bó hẹp trong phạm vi địa phương, quốc gia mà còn có tính chất quốc tế. Tri thức có thể coi là một hàng hóa công cộng quốc tế, mọi người dân trên thế giới đều có thể được hưởng lợi ích do tri thức đem lại. [sửa] Cung cấp hàng hóa công cộng [sửa] Cung cấp hàng hóa công cộng một cách có hiệu quả • Điều kiện Samuelson: muốn xác định mức cung cấp hàng hóa công cộng một cách hiệu quả, cần xác định đường cung và đường cầu của nó. Mỗi cá nhân có một ngân sách nhất định và có nhu cầu khác nhau về hàng hóa công cộng (G) và hàng hóa cá nhân (X), nếu giá của hàng hóa công cộng là t (mức thuế cá nhân phỉ trả) và của hàng hóa cá nhân là p thì đường ngân sách của cá nhân sẽ có dạng: I = pX + tG. Ở mỗi mức thuế khác nhau, cá nhân sẽ có cầu về hàng hóa công cộng khác nhau và để tối đa hóa lợi ích, mỗi cá nhân sẽ có tỷ suất thay thế biên giữa hàng hóa công cộng và hàng hóa cá nhân bằng tỷ số giá giữa chúng (t/p). Đường cầu của mỗi cá nhân về hàng hóa công cộng cũng chính là tỷ suất thay thế biên nên đường cầu tổng hợp của tất cả các cá nhân là tổng tỷ suất thay thế biên. Mặt khác đường cung về hàng hóa công cộng phản ánh chi phí biên mà xã hội phải bỏ ra để sản xuất nó và để tối ưu hóa lợi ích, đường cung này cũng chính là tỷ suất chuyển đổi biên giữa hàng hóa công cộng và hàng hóa cá nhân. Nhà kinh tế học Paul Samuelson đã chứng minh rằng, để hàng hóa công cộng được cung cấp một cách hiệu quả thì tổng tỷ suất thay thế biên của các cá nhân phải bằng tỷ suất chuyển đổi biên hay tổng giá trị mà các cá nhân đánh giá đối với đơn vị hàng hóa công cộng cuối cùng bằng chi phí tăng thêm cho xã hội để sản xuất nó. Dó chính là điều kiện Samuelson về cung cấp hiệu quả hàng hóa công cộng. Tuy vậy, kể cả khi đã xác định được mức cung cấp hiệu quả thì việc thực thi chúng lại còn phụ thuộc vào quá trình lựa chọn công cộng nên không phải lúc nào cũng đạt được mức hiệu quả • Cân bằng Lindahl: theo các điều kiện của hiệu quả Pareto, hàng hóa công cộng sẽ được cung cấp một cách hiệu quả nếu tổng giá trị mà các cá nhân đánh giá đối với đơn vị hàng hóa công cộng cuối cùng bằng chi phí tăng thêm đối với xã hội để cung cấp nó. Tuy nhiên vấn đề đặt ra là hàng hóa công cộng thuần túy không có thị trường để trao đổi như hàng hóa cá nhân, nơi mà cân bằng thị trường do cung cầu quyết định, do vậy việc xác định điểm cân bằng hiệu quả gặp khó khăn. Để giải quyết vấn đề xác định mức cung cấp hàng hóa công cộng thuần túy một cách có hiệu quả, nhà kinh tế học người Thụy Điển Erik Lindahl đã xây dựng một mô hình mô phỏng mô hình thị trường cho hàng hóa công cộng gọi là cân bằng Lindahl. Mô hình này xác định nhu cầu của mỗi cá nhân về một loại hàng hóa công cộng thuần túy tương ứng với mức thuế (chính là giá của hàng hóa công cộng) ấn định cho cá nhân đó, mức cung cấp 2
  3. hàng hóa công cộng thuần túy có hiệu quả là mức mà cầu của các cá nhân đều như nhau. Lưu ý rằng mức cầu của mỗi cá nhân tương ứng với những mức thuế khác nhau nên cân bằng Lindahl khác với cân bằng thị trường hàng hóa cá nhân khi mà ở đó cân bằng thị trường ở mức giá như nhau đối với mọi cá nhân. Thế nhưng mô hình cân bằng Lindahl trong thực tế lại vấp phải vấn đề kẻ đi xe không trả tiền. Để xác định đúng mức cung cấp hàng hóa công cộng hiệu quả, các cá nhân phải thực hiện nguyên tắc nhất trí và tự nguyện đóng góp đồng thời phải bộc lộ một cách trung thực nhu cầu của mình về hàng hóa công cộng. Nếu một cá nhân biết được số tiền mà cá nhân khác sẵn sàng đóng góp để có hàng hóa công cộng thì người đó có thể bộc lộ nhu cầu của mình về hàng hóa công cộng cũng như số tiền sẵn sàng đóng góp ít hơn thực tế. Trong trường hợp cực đoan, nếu một người biết rằng việc mình có trả tiền hay không cũng không ảnh hưởng gì đến việc cung cấp hàng hóa công cộng thì anh ta sẽ không trả tiền - hiện tượng kẻ đi xe không trả tiền. Nếu có rất ít kẻ đi xe không trả tiền thì hàng hóa công cộng vẫn có thể được cung cấp một cách hiệu quả. Trong những cộng đồng nhỏ, khi mà mọi cá nhân biết rõ nhau nên việc che giấu nhu cầu về hàng hóa công cộng khó thực hiện thì dư luận, áp lực cộng đồng có thể buộc mọi người đóng góp đầy đủ để có hàng hóa công cộng. Ví dụ: một xóm có thể yêu cầu các hộ gia đình đóng góp để bê tông hóa con đường chung một cách khá dễ dàng. Tuy nhiên, trong cộng đồng lớn thì vấn đề trở nên rất phức tạp, không thể hoặc phải tốn chi phí rất lớn mới có thể loại trừ những kẻ đi xe không trả tiền. Đặc biệt nếu hàng hóa công cộng do tư nhân cung cấp thì họ không có công cụ, chế tài để buộc những người sử dụng trả tiền. Đây chính là nguyên nhân quan trọng khiến khu vực tư nhân không muốn cung cấp hàng hóa công cộng. Vì thế, chính phủ phải đóng vai trò cung cấp hàng hóa công cộng và thu các khoản đóng góp thông qua thuế. Cùng với sự phát triển của công nghệ, tính chất không thể loại trừ ngày càng bị hạn chế. Hiện tượng đi xe không trả tiền, vì thế, có thể ngăn chặn dễ hơn. Ví dụ, nhờ sự phát triển của công nghệ truyền hình, ngày nay đài truyền hình có thể cung cấp dịch vụ qua đường cáp thuê bao, qua đầu thu có cài mã khóa, nên có thể ngăn chặn tốt những người không chịu mất tiền mà vẫn xem được truyền hình. Điều này giải thích tại sao, gần đây, tư nhân ngày càng tham gia nhiều hơn vào việc cung cấp hàng hóa công cộng. [sửa] Tính không hiệu quả khi khu vực tư nhân cung cấp hàng hóa công cộng 3
  4. Cây cầu - một ví dụ về hàng hóa công cộng có thể loại trừ bằng giá nhưng điều đó là không được mong muốn Đối với những hàng hóa công cộng có thể loại trừ bằng giá thì để ngăn chặn tình trạng tắc nghẽn, cần áp dụng việc thu phí để những người tiêu dùng có thể được hưởng đầy đủ lợi ích do hàng hóa công cộng mang lại. Tuy nhiên nếu mức phí quá cao (chẳng hạn do chi phí giao dịch để thực hiện cơ chế loại trừ lớn) thì số lượng người sử dụng có thể thấp hơn điểm gây tắc nghẽn quá nhiều dẫn đến tổn thất phúc lợi xã hội. Trong trường hợp khu vực tư nhân đứng ra cung cấp hàng hóa cộng cộng thì mức phí họ thu của người tiêu dùng sẽ khiến cho tổn thất phúc lợi xã hội xảy ra. Hình bên là đồ thị minh họa trường hợp một cây cầu có công suất thiết kế là Qc, trong khi nhu cầu đi lại tối đa qua đó chỉ là Qm. Nếu việc qua cầu miễn phí thì sẽ có Qm lượt người đi qua nhưng nếu thu phí ở mức p thì chỉ còn Qe lượt và xã hội bị tổn thất một lượng bằng diện tích hình tam giác bôi đậm. Do vậy, đối với hàng hóa công cộng mà chi phí biên để cung cấp bằng 0 hoặc không đáng kể thì hàng hóa đó nên được cung cấp miễn phí, kể cả khi nó có thể được loại trừ bằng giá. Một nguyên nhân nữa khiến cho tư nhân cung cấp hàng hóa công cộng không hiệu quả là nó thường có xu hướng được cung cấp với số lượng ít. Một người có vườn bên đường được trồng hoa thì cả khu vực gần đó sẽ tăng vẻ mỹ quan cũng như nhiều người cùng được thưởng thức vẻ đẹp của hoa. Thế nhưng người trồng hoa sẽ cân đối thời gian, chi phí bỏ ra với nhu cầu thưởng thức vẻ đẹp của hoa của cá nhân mình chứ không tính đến nhu cầu của những người hàng xóm, chính vì vậy người đó nhiều khả năng sẽ trồng ít hoa đi. [sửa] Hàng hóa công cộng có thể loại trừ nhưng với phí tổn rất lớn 4
  5. Hàng hóa công cộng có chi phí giao dịch lớn Có những hàng hóa công cộng mà chi phí để duy trì hệ thống quản lý nhằm loại trừ bằng giá (gọi là chi phí giao dịch) rất tốn kém, ví dụ chi phí để duy trì hệ thống các trạm thu phí trên đường cao tốc,...thì có thể sẽ hiệu quả hơn nếu cung cấp nó miễn phí và tài trợ bằng thuế. Tuy vậy, để cân nhắc việc này cần so sánh tổn thất phúc lợi xã hội trong hai trường hợp. Đồ thị bên phải mô tả việc lựa chọn này. Giả sử hàng hóa công cộng có chi phí biên để sản xuất là c và do phát sinh thêm chi phí giao dịch nên giá của nó bị đẩy lên tới p. Mức cung cấp hàng hóa cộng cộng hiệu quả nhất là khi chi phí biên bằng lợi ích biên nghĩa là Qo. Tuy nhiên do giá bị đẩy lên p bởi chi phí giao dịch nên chỉ còn Qe người sử dụng hàng hóa, xã hội bị tổn thất một lượng phúc lợi bằng diện tích tam giác ABE. Thế nhưng nếu hàng hóa được cung cấp miễn phí thì sẽ có Qm người sử dụng chứ không phải Qo. Trong trường hợp này lợi ích biên (chính là đường cầu) nhỏ hơn chi phí biên c nên xã hội cũng bị tổn thất một lượng phúc lợi bằng diện tích hình tam giác EFQm do tiêu dùng quá mức. Trong trường hợp này chính phủ muốn quyết định xem nên cung cấp hàng hóa công cộng miễn phí hay thu phí cần phải so sánh tổn thất phúc lợi xã hội, nếu tổn thất do tiêu dùng quá mức nhỏ hơn tổn thất trong trường hợp tiêu dùng dưới mức hiệu quả thì cung cấp miễn phí và ngược lại. Tuy nhiên việc cung cấp hàng hóa cộng cộng miễn phí hay thu phí hoàn toàn không liên quan đến khu vực công cộng hay khu vực tư nhân sẽ sản xuất nó. Nếu chính phủ thấy rằng một hàng hóa công cộng nào đó cần được cung cấp miễn phí thì chính phủ hoàn toàn có thể đặt hàng khu vực tư nhân sản xuất rồi cung cấp nó. DỊCH VỤ CÔNG, DỊCH VỤ CÔNG CỘNG Dịch vụ công nhấn mạnh phía cung ứng dịch vụ, vai trò của Nhà nước trong việc cung cấp dịch vụ công. Dịch vụ công cộng nhấn mạnh tính chất của dịch vụ, tính phục vụ chung cho cộng đồng. 5
  6. Dịch vụ công được hiểu là những giao dịch trực tiếp về dịch vụ giữa Nhà nước (hoặc các tổ chức được Nhà nước ủy nhiệm) và công dân với tư cách là khách hàng. Nói rộng hơn, khi Nhà nước đứng ra với tư cách là người bảo đảm cung cấp các dịch vụ công thì các dịch vụ đó được gọi là các dịch vụ công. Khái niệm dịch vụ công bao gồm một số loại dịch vụ khác nhau, thậm chí rất khác nhau về tính chất. Tuy nhiên, các dịch vụ này có các đặc điểm chung như sau: Thứ nhất, đây là những hoạt động phục vụ nhu cầu và lợi ích chung thiết yếu, các quyền và nghĩa vụ cơ bản của các tổ chức và công dân, Nhà nước có trách nhiệm bảo đảm các dịch vụ này cho xã hội. Trách nhiệm bảo đảm ở đây hàm ý rằng, hoặc Nhà nước tổ chức các đơn vị công lập đảm nhiệm cung cấp hoặc Nhà nước không trực tiếp tổ chức cung ứng thì ủy nhiệm cho một chủ thể khác thực hiện. Tuy nhiên, trong trường hợp Nhà nước ủy nhiệm việc cung ứng các dịch vụ này cho khu vực tư nhân thì Nhà nước vẫn có vai trò điều tiết đặc biệt nhằm bảo đảm sự công bằng trong phân phối, bảo đảm khả năng tiếp cận bình đẳng cho mọi công dân, nhất là với các dịch vụ cơ bản, khắc phục các khiếm khuyết của thị trường. Thứ hai, việc Nhà nước cung ứng dịch vụ công thường không thông qua quan hệ thị trường đầy đủ. Người sử dụng có thể phải thanh toán một phần hoặc toàn bộ chi phí; tuy nhiên, trong mọi trường hợp, Nhà nước vẫn có trách nhiệm bảo đảm các dịch vụ này không nhằm mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận. Tóm lại, dịch vụ công là dịch vụ do Nhà nước trực tiếp đảm nhận việc cung ứng hay ủy nhiệm cho các cơ sở ngoài Nhà nước thực hiện nhằm bảo đảm trật tự và công bằng xã hội phục vụ các lợi ích chung thiết yếu, các quyền và nghĩa vụ cơ bản của các tổ chức và công dân. Ở Việt Nam, khái niệm dịch vụ công bao hàm ba nhóm dịch vụ chủ yếu. Một là, nhóm dịch vụ hành chính công, các dịch vụ thuộc nhóm này hầu hết là dịch vụ công cộng thuần túy; hai là, nhóm dịch vụ xã hội cơ bản hay dịch vụ xã hội thiết yếu, đây là những dịch vụ công cộng không thuần túy, phần lớn chỉ thỏa mãn tiêu chí không cạnh tranh trong tiêu dùng (ví dụ: giáo dục, đào tạo, y tế, văn hóa…); ba là, nhóm dịch vụ công ích bao gồm những dịch vụ công cộng không thuần túy, phần lớn chỉ thỏa mãn tiêu chí không loại trừ trong tiêu dùng (ví dụ: vệ sinh môi trường, cấp thoát nước, giao thông công cộng…). Dịch vụ công cộng là những dịch vụ phục vụ chung cho mọi người. Dịch vụ công cộng nêu trong Nghị quyết Đại hội X của Đảng chủ yếu bao gồm: giáo dục và đào tạo; khoa học và công nghệ; y tế; văn hóa; thể dục thể thao. Một trong những đặc điểm của dịch vụ công cộng là tính không loại trừ. Không loại trừ có nghĩa là tất cả moi người đều có thể sử dụng và việc sử dụng của người này không loại trừ việc sử dụng của người khác. Theo mức độ của đặc điểm không loại trừ này, người ta chia dịch vụ công cộng thành hai nhóm: dịch vụ công cộng thuần túy và dịch vụ công cộng không thuần túy. Dịch vụ công cộng thuần túy là những dịch vụ có đặc tính không loại trừ tuyệt đối. Dịch vụ công cộng không thuần túy là những dịch vụ có tính loại trừ 6
  7. yếu hơn. Trong thực tế, các dịch vụ công cộng thuần túy thường rất ít, chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng số dịch vụ công cộng. Theo cách phân ngành hay lĩnh vực, dịch vụ công cộng bao gồm các dịch vụ công quyền và các dịch vụ công dân. Các dịch vụ công quyền gắn liền với chức năng quản lý xã hội của Nhà nước (gồm dịch vụ lập pháp, quốc phòng, an ninh, ngoại giao…) và các dịch vụ hành chính công (gắn liền với các hoạt động hành pháp như cấp phép, xử lý tranh chấp…). Dịch vụ công dân là những dịch vụ phục vụ trực tiếp đời sống của cá nhân công dân. Một đặc điểm quan trọng khác của dịch vụ công cộng là tính cộng đồng. Tính cộng đồng ở đây có thể hiểu theo hai nghĩa: dịch vụ này là dịch vụ có thể dùng chung và do đó, nó liên quan đến cộng đồng người tiêu dùng, cộng đồng dân cư; phần lớn các dịch vụ công cộng là những dịch vụ phục vụ chung, liên quan đến nhu cầu cơ bản, thiết yếu của đời sống cộng đồng dân cư, mọi người đều có quyền tiếp cận, có quyền thụ hưởng và bình đẳng trong tiếp cận, như: chăm sóc sức khỏe, văn hóa, giáo dục, khoa học và công nghệ, thể dục thể thao… Chính do đặc điểm này, người ta thường xác định dịch vụ công cộng là một lĩnh vực chính sách. Hoạt động cung ứng dịch vụ công cộng đều thuộc danh mục kiểm soát của Nhà nước. Đầu tư cho dịch vụ công cộng thường khó thu hối vốn qua các quan hệ thị trường thông thường, do đặc tính loại trừ của dịch vụ công cộng, việc thu phí dịch vụ rất khó khăn; ngoài ra, do phần lớn các dịch vụ công cộng đều là các dịch vụ cơ bản, thiết yếu đối với đời sống nhân dân, thuộc phạm trù phúc lợi công cộng, phạm trù chính sách. Vì vậy, các nhà đầu tư tư nhân thường ngại bỏ vốn đầu tư theo các quan hệ thị trường thông thường; do đó, trách nhiệm cung ứng dịch vụ công cộng thường gắn với vai trò tổ chức của Nhà nước. Văn kiện Đại hội X của Đảng khẳng định: “Dịch vụ công cộng liên quan trực tiếp đến đời sống của nhân dân và là yếu tố quan trọng góp phần ổn định xã hội" và "Đổi mới cơ chế quản lý và phương thức cung ứng các dịch vụ công cộng". Trong cơ chế kế hoạch tập trung, do vai trò quan trọng của dịch vụ công cộng nên việc sản xuất và cung ứng các dịch vụ công cộng được xác định là "sự nghiệp" của xã hội và do các đơn vị công lập thực hiện theo cơ chế bao cấp. Chuyển sang cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, sự phát triển nhanh chóng, phong phú và đa dạng của nhu cầu về dịch vụ, những khiếm khuyết của mô hình cung ứng dịch vụ kiểu cũ đặt ra hàng loạt các vấn đề, đòi hỏi phải có những chuyển biến căn bản từ cách nhìn nhận về dịch vụ công cộng, về cơ chế huy động nguồn lực cho phát triển lĩnh vực này và trách nhiệm của Nhà nước, của xã hội trong việc tham gia cung ứng dịch vụ công cộng phù hợp cơ chế mới. Xã hội hóa dịch vụ công cộng là quá trình mở rộng trách nhiệm của một hay một số thành phần xã hội thành trách nhiệm của nhiều thành phần xã hội hay của toàn xã hội trong việc bảo đảm cung ứng dịch vụ công cộng. Xã hội hóa dịch vụ công cộng nhằm hai mục tiêu lớn: thứ nhất, phát huy tiềm năng trí tuệ và vật chất trong nhân dân, huy động toàn xã hội chăm lo các dịch vụ công cộng mà trước hết là sự nghiệp giáo dục, y 7
  8. tế, văn hóa, thể dục thể thao; thứ hai là tạo điều kiện để toàn xã hội, đặc biệt là các đối tượng chính sách và người nghèo, được thụ hưởng dịch vụ công cộng. Xã hội hóa dịch vụ công cộng không đơn thuần chỉ là huy động nguồn lực vật chất, nguồn lực tài chính của xã hội. Nội dung không kém phần quan trọng, thậm chí còn có thể quan trọng hơn là phát huy được trí lực và tinh thần trách nhiệm của xã hội đóng góp cho sự nghiệp chung nhằm phát triển về số lượng và nâng cao chất lượng dịch vụ công cộng. Trong xã hội hóa, việc khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để các thành phần kinh tế cung ứng dịch vụ công cộng cho xã hội là một nội dung rất quan trọng vì nhiều lẽ: một là, phát triển dịch vụ công cộng là sự nghiệp của toàn dân, cho nên cần tăng cường huy động lực lượng trong dân và doanh nghiệp để phát triển các dịch vụ công cộng; hai là, nhu cầu về dịch vụ ngày càng cao, ngày càng phong phú và đa dạng, nếu chỉ dựa vào các cơ sở công lập thì không thể nào đáp ứng được; ba là, tạo nên sự cạnh tranh lành mạnh giữa các cơ sở ngoài công lập với các cơ sở công lập nhằm không ngừng nâng cao hiệu quả và chất lượng dịch vụ công cộng. Chủ trương xã hội hóa dịch vụ công cộng có ý nghĩa về nhiều mặt, tạo thêm nguồn kinh phí cần thiết cho sự phát triển các dịch vụ công cộng phục vụ nhu cầu ngày càng cao của nhân dân và thực hiện tốt hơn công bằng xã hội, xóa bao cấp tràn lan; chi phí của các đơn vị dịch vụ công cộng không chỉ do ngân sách nhà nước gánh vác, mà còn có phần thu từ những người được hưởng dịch vụ và từ cộng đồng; xóa bỏ các khoản thu không chính thức, không minh bạch đang tồn tại khá phổ biến và nặng nề đối với những người hưởng dịch vụ công cộng đi liền với sự phân phối không công bằng trong nội bộ các đơn vị làm dịch vụ, hạn chế và ngăn ngừa các hiện tượng tiêu cực trái đạo đức nghề nghiệp; tạo thêm nguồn thu để cải cách chế độ tiền lương, trước hết là bảo đảm thu nhập thỏa đáng hơn cho trên một triệu người đang làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công lập, đặc biệt là những người có tay nghề cao, cống hiến lớn; phát huy quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các đơn vị sự nghiệp cung ứng dịch vụ công cộng, để các cơ quan hành chính tập trung thực hiện đúng chức năng quản lý nhà nước. Nguồn: Tìm hiểu Một số thuật ngữ trong Văn kiện Đại hội X của Đảng: Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006. 8
Đồng bộ tài khoản