Tính hai mặt của chính sách bảo hộ kinh tế

Chia sẻ: Hgiang Hgiang | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:9

0
254
lượt xem
124
download

Tính hai mặt của chính sách bảo hộ kinh tế

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Việc áp dụng các công cụ thuế quan ngày nay đã trở nên lỗi thời. Bài viết này nhằm kết luận rằng cần thiết phải từ bỏ các hàng rào thuế quan và nên sử dụng những công cụ khác hữu hiệu hơn, tinh vi hơn. Các công cụ cũng chỉ có ý nghĩa khi nó hoàn thành đúng mục tiêu vốn dĩ của nó.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tính hai mặt của chính sách bảo hộ kinh tế

  1. Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright TÍNH HAI MẶT CỦA CHÍNH SÁCH BẢO HỘ KINH TẾ Trần Thanh Tùng Tóm tắt Từ khi xuất hiện nhà nước, thuế cũng ra đời. Từ khi có quan hệ ngoại thương thì thuế nhập khẩu là nguồn thu đáng kể của các quốc gia. Ngày nay, theo xu hướng hội nhập kinh tế toàn cầu và cạnh tranh xuyên lục địa thì việc áp dụng bảo hộ bằng thuế quan cao, dường như đang là cánh cửa hẹp đối với các chính phủ trong quá trình thực thi quyền hạn của mình. Vậy có dễ dàng từ bỏ “công cụ mạnh” này hay không? nếu từ bỏ thì chính phủ phải dựa vào công cụ nào khả dĩ hơn? Bất cứ chính sách nào đều có tính hai mặt, khi quan sát các công cụ của chính sách bảo hộ kinh tế cho thấy có nhiều điều thú vị và đáng để suy ngẫm. Việc áp dụng các công cụ thuế quan ngày nay đã trở nên lỗi thời. Bài viết này nhằm kết luận rằng cần thiết phải từ bỏ các hàng rào thuế quan và nên sử dụng những công cụ khác hữu hiệu hơn, tinh vi hơn. Các công cụ cũng chỉ có ý nghĩa khi nó hoàn thành đúng mục tiêu vốn dĩ của nó.
  2. Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright Phát triển kinh tế ở Tính hai mặt của chính sách Niên khóa 2004-2005 Đông và Đông Nam Á bảo hộ kinh tế Bài viết giới thiệu một cách tổng quan về lý thuyết bảo hộ trong kinh tế, mục tiêu của bảo hộ và các công cụ của chính sách bảo hộ kinh tế. Qua đó liên hệ với tình hình thực tế áp dụng các chính sách bảo hộ ở Việt Nam. Bài viết trình bày và kết luận một số quan điểm về bảo hộ mà tác giả cho rằng mang lại hiệu qủa cao và phù hợp xu hướng phát triển, hội nhập của nền kinh tế thế giới đầy màu sắc ngày nay. Lý thuyết về bảo hộ kinh tế: Khái niệm bảo hộ trong kinh tế được hiểu là các chính sách của Chính phủ nhằm hỗ trợ và bảo vệ quyền lợi cho một đối tượng nào đó. Có thể là bảo hộ nhà sản xuất khi chính phủ muốn khuyến khích các ngành sản xuất trong nước hoặc cũng có thể bảo vệ người tiêu dùng với các quy định về an toàn, sức khỏe… nhưng chung quy lại cũng nhằm mục đích bảo vệ các ngành sản xuất trong nước. Một trong những chỉ tiêu để đánh giá mức độ bảo hộ sản xuất nội địa của quốc gia nào đó, các nhà kinh tế đưa ra khái niệm về tỷ lệ bảo hộ hiệu dụng. Tỷ lệ bảo hộ hiệu dụng (ERP) là tỷ số giữa chênh lệch giá trị gia tăng tính theo giá trong nước (VAd) so với giá trị gia tăng tính theo giá thế giới (VAw) và giá trị gia tăng tính theo giá thế giới (VAw)1 ERP = (VAd - VAw) / VAw Với công thức đơn giản trên đây, một số nhận xét được rút ra như sau: 1) Thuế nhập khẩu các yếu tố sản xuất2 làm cho chi phí sản xuất trong nước tăng. Thông thường thì thuế này được giảm xuống nếu trong nước chưa cung cấp được và tăng lên khi cần bảo hộ 2) Thuế nhập khẩu sản phẩm đầu ra làm cho giá trị gia tăng trong nước tăng lên mặc dù giá trị gia tăng thật của nó có thể rất thấp. Do đó lợi nhuận của nhà sản xuất được bảo hộ tăng lên 3) Chênh lệch giá trị gia tăng (VAd) và (VAw) thể hiện mức độ bảo hộ của ngành sản xuất 4) Các công cụ bảo hộ nhằm mục đích gia tăng giá trị gia tăng nội địa. Lưu ý rằng ERP phụ thuộc vào thuế suất các yếu tố sản xuất và cả thuế sản phẩm đầu ra, do đó phụ thuộc vào cơ cấu sản xuất các ngành. Từ đây có nhiều điều thú vị khi xem xét mức độ được bảo hộ của các ngành. Khi mổ xẻ các yếu tố cấu thành giá trị gia tăng trong nước, các con số về độ lớn của ERP chưa nói hết bản chất của sự bảo hộ. Thử xem xét một vài số liệu về tỷ lệ bảo hộ hiệu dụng của các nước châu Á: Bảo hộ hiệu dụng ngành công nghiệp chế tạo tại Việt Nam là 91% (năm 2002), Thái lan là 72% (năm 1997), Đài Loan là 57% (1999), Hàn Quốc là 27% (1990), Inđônêxia là 25% 91995), Malaixia là 13% (1995) và Philipine là 10% (1999) [Nguồn: P. Athukorala, 2002] Với những con số vừa nêu, có thể nhận ra rằng: các nước có tỷ lệ bảo hộ hiệu dụng càng cao thường có trình độ sản xuất trong nước và tính cạnh tranh càng kém. Tuy vậy con số 1 Benefit - Cost Analysis, Economics 1315, 19-20/4/2004, Qúy Tâm biên dịch 2 Thực ra ngoài thuế còn do bản thân giá yếu tố đầu vào trong nước cao làm cho chi phí sản xuất trong nước cao Trần Thanh Tùng 2
  3. Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright Phát triển kinh tế ở Tính hai mặt của chính sách Niên khóa 2004-2005 Đông và Đông Nam Á bảo hộ kinh tế này chưa nói lên tất cả. Theo triết lý thông thường, thì nhà sản xuất mong muốn được bảo hộ càng cao. Ta thử xem tỷ lệ bảo hộ cao có làm hài lòng nhà sản xuất trong nước hay không? thực tế cho thấy câu trả lời là không phải lúc nào cũng đúng và điều này chính xác ở Việt Nam. Đó là một nghịch lý, tính hai mặt của chính sách bảo hộ. Mục tiêu của bảo hộ: Bảo hộ là cần thiết nhưng mục tiêu phải thiết thực. Mặc dù bảo hộ là điều tiết gia tăng lợi nhuận để khuyến khích nhà sản xuất nhưng làm tăng lợi nhuận không phải là mục tiêu của bảo hộ. Có lẽ nên xác định mục tiêu bảo hộ một cách rõ ràng là: nâng cao sức mạnh cạnh tranh cho các nhà sản xuất, các ngành non trẻ bước đầu vào sân chơi thế giới. Nhà nước và doanh nghiệp cần ý thức rằng sự hỗ trợ là có giới hạn về nguồn lực cũng như về thời gian. Khi đề ra chính sách bảo hộ cần xem xét các lợi ích tổng thể của nền kinh tế. Để cạnh tranh, các công ty phải tạo được giá trị gia tăng. Điều này có nghĩa là phải giỏi trong khâu sản xuất để tạo ra hàng có chất lượng, giao hàng đến nơi có nhu cầu với giá hạ. Điều này không thể thực hiện được nếu các chính sách nhà nước không mang tính hỗ trợ. … Ở các nước đã từng áp dụng thay thế nhập khẩu, họ (chính phủ) nhanh chóng ép các công ty phải cung cấp hàng có chất lượng với giá ngang bằng thế giới. Trong khi Việt Nam đã cam kết tham gia AFTA và hạ thấp bảo hộ, không thấy nhiều dấu hiệu là các công ty này đang chuẩn bị để cạnh tranh, dù chỉ là cạnh tranh với các công ty của ASEAN. (David O. Dapice, 1999) Các công ty ở đây muốn nói đến là các doanh nghiệp nhà nước, là đối tượng được hưởng bảo hộ nhiều nhất. Còn các doanh nghiệp khác tự thân họ phải tìm cách cạnh tranh với nhà sản xuất nước ngoài, thực tế họ chưa được bảo hộ đúng mức và họ đã đứng vững. Những điều họ cần cũng hết sức đơn giản và nằm trong tầm tay của nhà nước1. Các công cụ của chính sách bảo hộ kinh tế: Các công cụ bảo hộ nhằm gia tăng VAd để khuyến khích sản xuất trong nước, các công cụ truyền thống bao gồm: thuế quan, hạn ngạch, trợ cấp trợ giá, ưu đãi tín dụng. Các công cụ thuộc xu hướng mới bao gồm đầu tư hạ tầng và môi trường, các rào cản kỹ thuật, chống phá giá, bảo vệ môi trường… được xem là các công cụ sẽ thịnh hành trong thời gian tới. Lại thêm lần nữa, ưu thế thuộc về các nước phát triển, sức ép đang đè nặng lên các nước chậm phát triển. Hàng rào thuế quan: Là loại chính sách bảo hộ trực tiếp dễ thực hiện, là công cụ kinh điển của chính sách bảo hộ mậu dịch. Đây cũng là cơ hội để buôn lậu trốn thuế, làm xói mòn nỗ lực tự vươn lên của doanh nghiệp trong nước. Hàng rào phi thuế quan: Sử dụng hạn ngạch (quota) để phân bổ và cấp phát, theo lý thuyết kinh tế vi mô việc áp dụng hạn ngạch thường gây ra tổn thất và phân phối thu nhập thiếu công bằng, quyền lợi 1 Những điều mà DN cần không phải là vốn hay đặc quyền mà là chính sách thông thoáng, bình đẳng, nhất quán… Trần Thanh Tùng 3
  4. Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright Phát triển kinh tế ở Tính hai mặt của chính sách Niên khóa 2004-2005 Đông và Đông Nam Á bảo hộ kinh tế sẽ thuộc về người nắm giữ quota. Trên thực tế đây là miền đất màu mỡ nảy mầm tiêu cực và tham nhũng. Khi "mổ xẻ" chuyện quota dệt may của Việt Nam năm 2004 có tình trạng đầu năm chạy đôn đáo tìm quota, cuối năm thì bị “khê” không dùng hết có một nguyên nhân như sau: Theo hầu hết doanh nghiệp (DN), các nhà chuyên môn, là “do chính sách quản lý, điều hành hạn ngạch bất cập, chậm chạp trong chuyển đổi, thiếu các thông tin mang tính định hướng, không có những quyết định kịp thời trong những thời điểm cần thiết” (Tuổi trẻ, 2004) Trợ cấp và trợ giá: Là loại chính sách bảo hộ trực tiếp và gây biến dạng thị trường, dễ phát sinh tiêu cực trong việc định giá, cơ chế xin cho và gây nên tình trạng độc quyền, tổn thất xã hội lớn. Thứ trưởng Thương mại Lê Danh Vĩnh cho biết tình trạng giá xăng, dầu trên thị trường thế giới duy trì ở mức cao còn có khả năng kéo dài, đặc biệt là mùa đông đang tới. Vì vậy, nếu Nhà nước tiếp tục duy trì thuế nhập khẩu xăng 0%, thì giá vốn của xăng nhập khẩu cao hơn giá bán hiện hành trên dưới 500 đồng/lít tuỳ theo chủng loại. Trong trường hợp tiếp tục giữ giá như hiện nay, thì một ngày kinh doanh xăng dầu lỗ khoảng 4,2 tỷ đồng, 1 tháng lỗ khoảng 128 tỷ đồng và quý cuối của năm nay sẽ lỗ tới 384 tỷ đồng. (Nguồn: http://vnexpress.net, 2004) Ưu đãi tín dụng: Là loại chính sách bảo hộ gián tiếp, thiếu công bằng và phát sinh tiêu cực. Một ví dụ điển hình về sự can thiệp quá mức của chính phủ trong cho vay dẫn đến sụp đổ của chaebol khá tên tuổi là Daewoo, Hàn Quốc. Họ nói rằng, vấn đề đã trở nên tồi tệ thêm bởi thực tế là trong nhiều nước ở châu Á, các ngân hàng được giám sát rất kém và thường là đối tượng bị gây áp lực để rót tiền vay cho các dự án được ủng hộ về mặt chính trị hơn là các dự án mang lại giá trị kinh tế. Khi tăng trưởng kinh tế bắt đầu sút kém thì rất nhiều trong số các dự án đó đã chứng tỏ không thể đứng vững được về mặt kinh tế. Nhiều dự án đã phá sản. (Christopher Conte, Albert R. Karr, Phác thảo nền kinh tế Mỹ) Chính sách tiền tệ và tỷ giá hối đoái: Theo lý thuyết kinh tế vỹ mô việc duy trì tỷ giá đồng nội tệ thấp mang lại sự cạnh tranh về giá cho các sản phẩm xuất khẩu. Tuy vậy chính sách tỷ giá còn liên quan đến nhiều yếu tố khác của kinh tế vỹ mô như lạm phát… Và không phải lúc nào tỷ giá thấp đều có lợi vì còn tùy thuộc tỷ trọng nhập khẩu của quốc gia, nếu giá trị nhập khẩu nhiều hơn xuất khẩu thì động nội tệ mất giá là một bất lợi. Trên thực tế việc ứng xử với tỷ giá hối đoái không hề đơn giản chút nào. Tổng thống Bush nói: "Chính sách của chính phủ chúng tôi là chính sách đồng USD mạnh"… Một số nhà kinh tế tin rằng mặc dù chính quyền Bush công khai tuyên bố ủng hộ chính sách đồng USD mạnh, trên thực tế Mỹ vẫn muốn có đồng USD yếu hơn so với các đồng tiền chủ chốt khác. (TTXVN, 2004) Các rào cản kỹ thuật: Ngày nay các nước phát triển sau khi đã hạn chế và gỡ bỏ công cụ thuế, đã chuyển qua một số công cụ khác được xem là tinh vi hơn. Đó là áp đặt các tiêu chuẩn về sản xuất, lao động, môi trường hay chống phá giá… nói chung công cụ này ưu thế thuộc về các nước mạnh và mang tính áp đảo. Bất lợi cho các nước đang phát triển và chậm phát triển. Thật thú vị khi quan sát tính chất hai mặt của bảo hộ. Chính quyền của Tổng thống Bill Clinton (1993-2001) đã đưa thêm một phương diện khác nữa vào chính sách thương mại của Mỹ. Đó là, các nước cần phải tôn trọng triệt để các tiêu chuẩn tối thiểu Trần Thanh Tùng 4
  5. Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright Phát triển kinh tế ở Tính hai mặt của chính sách Niên khóa 2004-2005 Đông và Đông Nam Á bảo hộ kinh tế về lao động và môi trường. Người Mỹ có thái độ như vậy một phần vì họ lo lắng rằng các tiêu chuẩn về lao động và môi trường tương đối cao của chính nước Mỹ có thể đẩy chi phí của hàng hóa sản xuất tại Mỹ lên cao, gây ra khó khăn cho các ngành công nghiệp trong nước khi cạnh tranh với các công ty nước ngoài ít bị điều tiết hơn” (Christopher Conte, Albert R. Karr, Phác thảo nền kinh tế Mỹ) Đầu tư mạnh vào hạ tầng1 và môi trường kinh doanh: Là loại chính sách bảo hộ gián tiếp, ngày nay được xem là chính sách hữu hiệu nhất và không vi phạm thông lệ quốc tế. Đây là công cụ hết sức bất lợi cho các nước chậm phát triển vì môi trường kinh doanh và vốn đầu tư vào hạ tầng của các nước phát triển hoàn toàn chiếm ưu thế. Chính sách này tạo nên sự bình đẳng giữa các doanh nghiệp, tự cạnh tranh trong môi trường tốt hơn do được chính phủ đầu tư hạ tầng, xử lý môi trường, dịch vụ tiện ích đầy đủ… Trong điều kiện thuận lợi đó các doanh nghiệp chỉ tập trung sản xuất được sản phẩm tốt nhất tạo giá trị gia tăng cao nhất. Các hình thức bảo hộ khác: Ngoài ra chính phủ có thể đầu tư chiều sâu vào công nghệ như chuyển giao kỹ thuật, mua bằng sáng chế… và trở thành sở hữu của toàn nền kinh tế. Các hãng không cần bỏ tiền mà vẫn được sử dụng thành qủa của khoa học. Các chính sách đầu tư vào giáo dục, đào tạo nhân lực, y tế … thực chất vẫn là sự bảo hộ và được khuyến khích một cách hợp pháp. Thế nên rất đáng để suy ngẫm. Câu chuyện ngoài lề: “bảo hộ ngược” Phải nói rằng bảo hộ sản xuất là chính sách cần thiết cho mọi quốc gia trong việc củng cố sức mạnh của các nhà sản xuất trong nước. Một lần nữa xin nhấn mạnh, việc bảo hộ phải dựa trên cơ sở phân tích lợi ích tổng thể nền kinh tế quốc gia và bảo đảm mục tiêu của chính phủ là tăng cường tính cạnh tranh của nhà sản xuất nội địa. Trước hết Chính phủ cần xác định nên bảo hộ những ngành nào? mục tiêu bảo hộ là ai? Chính sách bảo hộ của Hàn Quốc vào thập niên 70 của thế kỷ trước trong việc thực hiện công nghiệp nặng và hóa chất với ưu đãi rất lớn của chính phủ được cho là thành công. Kết qủa là đã tạo nên những hãng tên tuổi ngày nay như Hyundai, Samsung…. Cần để ý rằng các tập đoàn này hoàn toàn của người Hàn (nhưng vẫn có tính hai mặt như trường hợp Daewoo). Ở ta các nhà sản xuất trong nước thực chất là các liên doanh2, các nhà đầu tư nước ngoài và sản phẩm là những thương hiệu nổi tiếng nhưng của nước ngoài. Vậy thì bảo hộ đã thực sự đúng đắn theo mục tiêu chưa? Những hãng sản xuất hàng đầu thế giới với các nhãn hiệu nổi tiếng thế giới có lẽ không cần sự bảo hộ nào vẫn có thể thành công, bởi họ đã thành công ngay trong môi trường cạnh tranh khốc liệt nhất. Vì sao có chính sách “bảo hộ ngược” này? Có lẽ khoản thuế từ các doanh nghiệp ấy chăng? 1 Gồm hạ tầng cứng và mềm. Hạ tầng cứng bao gồm hệ thống giao thông, bến cảng, KCN… , hạ tầng mềm bao gồm pháp luật, môi trường đầu tư, tiện ích công cộng… 2 Liên doanh tại Việt Nam thường do phía nước ngoài nắm cổ phần chi phối Trần Thanh Tùng 5
  6. Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright Phát triển kinh tế ở Tính hai mặt của chính sách Niên khóa 2004-2005 Đông và Đông Nam Á bảo hộ kinh tế Không thể ! Vì sao? Vì thuế đó thực ra do người tiêu dùng Việt Nam chi trả. Họ đã chi trả những khoản thuế cao và họ cũng được khuyến nghị hãy hạn chế tiêu dùng nếu có thể. Vậy các nhà “sản xuất vệ tinh” của Việt Nam thì sao? Xin thưa. Họ phải cạnh tranh với nhau và cạnh tranh với giá của nước ngoài trong việc cung cấp những sản phẩm “nội địa hóa” mà các nhà sản xuất nước ngoài không còn muốn sản xuất. Còn những bộ phận chính thì họ đưa về từ một đất nước xa xôi nào đó, và ngay cả có sản xuất trên đất này thì người Việt Nam cũng không biết họ sản xuất như thế nào, xây dựng công nghệ ra sao. TheoViện chiến lược chính sách công nghiệp (IPS), hiện nay, Việt Nam có tới 11 liên doanh lắp ráp ôtô, mà sản lượng năm chỉ đạt xấp xỉ 20.000 xe. Phần lớn trong số đó là xe hạng sang, hầu hết phụ tùng đều phải nhập khẩu. Số doanh nghiệp lắp ráp ôtô quá nhiều so với nhu cầu của thị trường nội địa, trong khi đó, chúng ta thiếu hẳn các nhà sản xuất linh kiện, phụ tùng. (Nguồn: TBKTSG) Để bảo hộ ngành ô tô xe máy, người ta đưa ra quy định về tỷ lệ nội địa hóa bằng cách chấm điểm theo từng bộ phận, xem ra thật khoa học1. “Quyết định cũng nêu rõ, các nhà sản xuất ôtô có vốn đầu tư nước ngoài phải đạt tỷ lệ nội địa hóa 20-25% vào năm 2005, 30-35% vào năm 2007 và 40-45% vào năm 2010”. Sau khi xem các quy định này, mọi người phải thừa nhận: các nhà quản lý công nghiệp thật sự có khả năng quản lý rất tiểu tiết. Hãy chờ đến năm 2010 Việt Nam sẽ sản xuất được gần một nửa chiếc xe hơi (!). Cho đến nay hàng chục triệu xe máy đang lưu thông nhưng chưa thấy loại nào nhãn hiệu của Việt Nam. Được biết ngành này được bảo hộ rất cao, đến nay tỷ lệ nội địa hóa lên đến 85%. Theo cách tính điểm tỷ lệ nội địa hóa thì đây là một chính sách bảo hộ thành công? Đúng mục tiêu? Chỉ còn 15% nữa thôi, chẳng bao lâu nữa ngành xe máy Việt Nam có thể sản xuất được chiếc xe máy đầu tiên! Còn ngành điện tử cũng có một tin khá thú vị: “VN đã có mong muốn phát triển ngành công nghiệp sản xuất linh kiện phụ tùng từ 30 năm nay” và đến nay “Ngành điện tử dân dụng có nguy cơ phá sản”. Lại một chuyện nữa về “bảo hộ ngược” bằng trợ cấp bù lỗ thông qua giá: Với chính sách bù lỗ xăng dầu như hiện nay, thì một ngày kinh doanh xăng dầu lỗ khoảng 4,2 tỷ đồng, 1 tháng lỗ khoảng 128 tỷ đồng và quý cuối của năm nay sẽ lỗ tới 384 tỷ đồng (TLĐD). Tức mỗi năm nhà nước phải bù trên 1500 tỷ đồng (có thể hơn nữa vì phải bù giá và bù lợi nhuận cho các nhà nhập khẩu được bảo hộ). Với dân số cả nước trên 70% là nông dân, xăng tiêu thụ chủ yếu do dân cư thành thị, xe máy, xe hơi là những đối tượng có thu nhập cao (so với chuẩn quốc gia). Sản xuất thì chủ yếu sử dụng dầu, điện. Như vậy nếu xăng chiếm 1/3 con số trên thì nhà nước mỗi năm phải bỏ ra trên 500 tỷ đồng (tiền thuế do dân thành thị và 70% nông dân đóng), để bù lỗ cho các đối tượng được xem là giàu có! Còn điện, còn nước? Tại một chương trình giảng dạy kinh tế, vị giáo sư sau khi phân tích một cách khoa học về tổn thất của việc bù lỗ giá xăng dầu đã tỏ ra kinh ngạc về mục tiêu bảo hộ của các nhà 1 Xem dự thảo về quy định này ở phần phụ lục Trần Thanh Tùng 6
  7. Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright Phát triển kinh tế ở Tính hai mặt của chính sách Niên khóa 2004-2005 Đông và Đông Nam Á bảo hộ kinh tế qủan lý. Tính hai mặt của lý thuyết và thực tiễn là câu chuyện bình thường. Hơn nữa lâu nay những điều không bình thường đã được bình thường hóa1 (!) Bảo hộ: nguồn gốc của độc quyền Tình trạng độc quyền đã gây nên tổn thất vô cùng to lớn cho toàn bộ nền kinh tế (dĩ nhiên trừ các ngành độc quyền). Việc định giá cao các nhu cầu thiết yếu, các yếu tố sản xuất đầu vào không thể có sự lựa chọn, các tiện ích đơn thuần… đã đẩy chi phí sản xuất của quốc gia cao hơn hẳn các nước (lẽ ra chính sách bảo hộ là phải tập trung giảm những chi phí này). Khi mặt bằng chi phí cao thì các ngành sản xuất nội địa không thể cạnh tranh là điều tất yếu. Một điều nữa có thể rút ra rằng tăng lợi nhuận bằng cách giảm chi phí đầu vào mới là thượng sách so với tăng giá bán sản phẩm cuối cùng. Mới đây thôi dân chúng Việt Nam đã thực sự hốt hoảng khi giá thuốc chữa bệnh tại thị trường trong nước bị đẩy lên cao gấp 300 lần giá thuốc cùng loại ở nước ngoài. Hốt hoảng là phải thôi, người bệnh thường hay dễ hốt hoảng! Đến nỗi khi trả lời phỏng vấn truyền hình, một vị trong nghề đã ví von sự độc quyền này như một xác chết thối rữa! Thị trường đó chỉ có “một người phải mua” và “một người được bán”, không có chuyện ngã giá. Sau đó tưởng chừng giá thuốc sẽ hạ xuống, kỳ lạ thay giá thuốc tăng lên! Dường như có thế lực nào đó muốn thử xem sức mạnh của thị trường tới đâu. Thế là các con bệnh giờ đây quay sang trách vị thầy thuốc nọ đã trót lời! Trong kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa 11 (25/10-4/12/2004), khi giải trình về sự độc quyền trong ngành viễn thông, Bộ trưởng bưu chính viễn thông kết luận “Việt Nam có mức phí thuê bao rẻ nhất thế giới”(!?). Có lẽ ai cũng biết rằng: không có hãng viễn thông nào trên thế giới đặt mục tiêu thu lợi nhuận chỉ bằng phí thuê bao. Có nghĩa là người dân được khuyến khích lắp đặt điện thoại (một trong những chỉ tiêu xếp loại mức sống, môi trường đầu tư của một quốc gia) và không nên sử dụng chúng, chỉ trả cước thuê bao mà thôi! Hàng năm cứ đến cuối năm mọi người xa quê lại dành ra vài ngày (mỗi ngày đủ 24 giờ) để xếp hàng mua vé tàu về quê (nhưng không chắc mua được). Hình như người Việt Nam đã được di chuyển bằng giao thông xe lửa từ đầu thế kỷ trước. Được biết năm nay ngành đường sắt đã có “sáng kiến” “cải cách” bán vé thông qua tích-kê, ghi 3 số cuối giấy chứng minh nhân dân… nhưng xem ra ai muốn đi còn phải gian nan lắm, hãy “xếp hàng mua vé tàu từ …0 giờ!”2, khi đi bạn nhớ mang theo chiếu (chiếu chứ không phải hộ chiếu!). Thử xem nên làm gì? Bất cứ nhà sản xuất nào cũng muốn được bảo hộ. Bất cứ chính phủ nào cũng cần thực hiện quyền năng của mình. Đặc quyền lớn nhất của nhà nước là quyền thu thuế. Nhưng thu như thế nào để thu được nhiều nhất, thu như thế nào để người ta vui vẻ đóng mới là nghệ thuật. Vậy thì triết lý đơn giản là hãy làm vừa lòng họ, những người tiêu dùng Việt Nam, bởi suy cho cùng thì mọi loại thuế đều do người tiêu dùng chi trả. Xa hơn nữa là làm sao để người nơi khác muốn được nộp thuế trên đất Việt Nam nữa kia. Trong xu thế ngày nay, các hàng rào thuế quan đang dần nới lỏng và tiến tới gỡ bỏ. Các cam kết đã được thỏa thuận. Vậy thì không có cách nào khác phải nhìn nhận việc cắt 1 Cách đây không lâu trên chương trình phát thanh của đài tiếng nói nhân dân TPHCM, có tiết mục về những chuyện không bình thường đã trở thành bình thường 2 Tựa đề của báo Tuổi trẻ, ngày 20/12/2004 Trần Thanh Tùng 7
  8. Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright Phát triển kinh tế ở Tính hai mặt của chính sách Niên khóa 2004-2005 Đông và Đông Nam Á bảo hộ kinh tế giảm thuế là một thực tế, đồng nghĩa với giảm nguồn thu đáng kể và đồng nghĩa với thâm hụt ngân sách. Đó là trong ngắn hạn, nếu có cách nhìn dài hạn thì vấn đề trở nên khác hẳn. Thay vì tìm mọi cách tăng thu thì nên tìm cách nuôi dưỡng nguồn thu. Xu hướng chuyển từ thuế gián thu sang thuế trực thu cần được quan tâm vì theo xu hướng này các nguồn thu hiện nay của chính phủ sẽ bị giảm đáng kể, nếu không có bước chuẩn bị cho hội nhập. Vì không có cải cách thuế cho giống thế giới thì không thể có môi trường cạnh tranh được. Đầu tư mạnh vào hạ tầng, môi trường kinh doanh: có khả thi hay không? Nhà nước đầu tư vào hạ tầng cứng: hệ thống giao thông, bến bãi, khu công nghiệp, hạ giá cước phí viễn thông… và hạ tầng phần mềm như hệ thống luật pháp rõ ràng nghiêm minh, tiện ích công cộng, tạo môi trường kinh doanh năng động, cạnh tranh. Doanh nghiệp chỉ lo sản xuất với mặt bằng chi phí cực rẻ. Như vậy rõ ràng trong điều kiện tốt nhất mà doanh nghiệp không vận động được thì không có lý do gì nhà nước phải bảo hộ. Và như thế bằng cách này, giá trị gia tăng trong nước VAd tăng mà giá bán thấp, vì chi phí sản xuất Cd mà doanh nghiệp bỏ ra rất thấp. Doanh nghiệp sẽ mau chóng có lợi nhuận và nhà nước thu được thuế. Do đó nhà nước đã đầu tư vào một dự án rất hiệu qủa, xét theo quy mô thì gây nên hiệu ứng dây chuyền tạo nên một mặt bằng chi phí sản xuất thấp ở phương diện quốc gia. Với triết lý này nhà nước là người chủ đầu tư biết nhìn xa trông rộng. Có điều mọi người muốn biết rằng nếu làm như thế thì trước mắt nhà nước không thu được thuế, nhà nước không có tiền để đầu tư vào hạ tầng cứng và mềm… Đúng là như vậy vì làm theo cách hiện nay thì ai cũng biết rằng thất thoát trong đầu tư từ 30-40% tổng vốn đầu tư, vốn ODA chỉ giải ngân được 15%1 (do thủ tục quá rườm rà?) trong khi các công trình dùng vốn ngân sách đang xếp hàng để thực hiện và người ta đã thực hiện trước khi được duyệt ngân sách! (có lẽ do thủ tục đơn giản hơn so vốn ODA?). Vậy ra có tiền mà sử dụng không hợp cách thì sẽ mất dần và không ai có thể yên tâm chọn mặt gửi vàng. Một số quan điểm về chính sách bảo hộ: 1) Đầu tư mạnh vào hạ tầng cứng và mềm; tạo môi trường kinh doanh thực sự thông thoáng 2) Đầu tư của nhà nước vào phổ biến công nghệ, mua sáng chế, chuyển giao một cách công cộng 3) Gỡ bỏ độc quyền, cạnh tranh bình đẳng 4) Đầu tư vào giáo dục, y tế, phúc lợi công cộng 5) Bảo hộ đúng mục tiêu, đúng đối tượng 6) Mạnh dạn từ bỏ tư duy phải thu thật nhiều thuế bằng mọi cách. Lời kết: 1 Các nhà tài trợ đều thúc đẩy Việt Nam tăng cường tỷ lệ giải ngân vốn ODA cao hơn nữa Trần Thanh Tùng 8
  9. Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright Phát triển kinh tế ở Tính hai mặt của chính sách Niên khóa 2004-2005 Đông và Đông Nam Á bảo hộ kinh tế Gần hai thập kỷ đổi mới tư duy và cải cách kinh tế, so với trước nền kinh tế Việt Nam đã có những thành tựu đáng trân trọng. So với yêu cầu lịch sử phát triển kinh tế cần phải có bước chuyển mình mới. Tác giả khẳng định rằng chính sách bảo hộ là cần thiết, nhưng thực hiện có hiệu qủa và phù hợp thông lệ và xu hướng quốc tế là một nghệ thuật. Chỉ có xác định đúng mục tiêu bảo hộ đồng thời đầu tư mạnh vào hạ tầng (cứng và mềm), đầu tư vào môi trường (tự nhiên và xã hội)… nói chung là tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất với chi phí rẻ nhất cho các doanh nghiệp chính là mức bảo hộ hiệu dụng cao nhất. Đó là “công cụ mạnh” nhất trong các công cụ bảo hộ. Tài liệu tham khảo: [1] Benefit - Cost Analysis, Economics 1315, 19-20/4/2004, Qúy Tâm biên dịch [2] Christopher Conte, Albert R. Karr, Phác thảo nền kinh tế Mỹ. Được lấy từ: http://vietnam.usembassy.gov/wwwhta123_10.html [3] Chính sách nội địa hóa ôtô còn thay đổi. Được lấy từ: http://vnexpress.net/Vietnam/Oto-Xe-may/2004/11/3B9D8F21/ [4] David O. Dapice, Kinh tế Việt Nam và cuộc khủng hoảng kinh tế ở châu Á, 1999 [5] "Mổ xẻ" chuyện quota!, Tuổi trẻ, 2004 [6] Ngành điện tử dân dụng có nguy cơ phá sản. Được lấy từ: http://vnexpress.net/Vietnam/Kinh-doanh/2004/09/3B9D6A05/ [7] Nội địa hóa ôtô có bất khả thi? . Được lấy từ: http://vnexpress.net/Vietnam/Oto-Xe-may/2004/07/3B9D43D9/ [8] Paul A Samuelson & William D. Nordhalls, Kinh tế học, NXB thống kê, 2002 [9] Tỷ lệ nội địa hoá đối với phần gia công thêm. Được lấy từ: http://www.vneconomy.com.vn/vie/index.php?param=article&catid=18&id=0411 03092754 Trần Thanh Tùng 9

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản