Tình hình nuôi cá tra ở Việt Nam

Chia sẻ: Võ Hồng Nguyên | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:31

1
633
lượt xem
183
download

Tình hình nuôi cá tra ở Việt Nam

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Cá tra là tên gọi một họ, một chi và một số loài cá nước ngọt. Ở Việt Nam, cá tra sống chủ yếu trong lưu vực sông Cửu Long và lưu vực các sông lớn cực nam, có thân dẹp, da trơn, có râu ngắn.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tình hình nuôi cá tra ở Việt Nam

  1. Vo hong nguyen DHO8NT TÌNH HÌNH NUÔI CÁ TRA Ở VIỆT NAM Cá tra là tên gọi một họ, một chi và một số loài cá nước ngọt. Ở Việt Nam, cá tra sống chủ yếu trong lưu vực sông Cửu Long và lưu vực các sông lớn cực nam, có thân dẹp, da trơn, có râu ngắn. Cá tra thuộc họ Pangasiidae. Họ Pangasiidae (họ cá tra) theo ITIS và Wikipedia tiếng Pháp[cần dẫn nguồn] có 3 chi: chi Sinopangasius (1 loài), chi Helicophagus (3 loài) và chi Pangasius (27 loài). Tuy nhiên, chi và loài Sinopangasius, theo vài tài liệu như FishBase và một số bảng từ đồng nghĩa, được coi là từ đồng nghĩa của Pangasius kempfi (cá bông lau). Ngoài ra trong chi Pangasius, trong 2 bảng phân loại khoa học nêu trên có 3 cặp tên đồng nghĩa. Như vậy, có thể kể họ Pangasiidae có 2 chi và chi Pangasius có 24 loài. Cá tra (theo Từ điển tiếng Việt, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, 1977) là loài cá nước ngọt, không vảy, giống cá trê nhưng không ngạnh. Sự so sánh giữa cá tra và cá trê càng thêm tối nghĩa vì hai nhóm cá này có nhiều điểm khác biệt. Ngoài ra trong phân loại khoa học chúng thuộc hai họ khác nhau là Pangasiidae và Clariidae. KHÁI QUÁT CHUNG Trong vài năm trở lại đây, phong trào nuôi cá tra xuất khẩu ở DBSCL tăng rất nhanh, đem về cho đất nước một nguồn ngoại tệ rất lớn. Thế nhưng, do phát triển quá nhanh không theo quy hoạch nên bệnh trên cá tra nuôi hiện nay xảy ra ngày càng nhiều nhưng việc điều trị lại kém hiệu quả đang là vấn đề quan tâm hàng đầu của người nuôi cá và cả các nhà chuyên môn. Qua thực tế sản xuất, cần một số giải pháp nhằm hạn chế tình hình dịch bệnh hiện nay. Con giống: Trước đây giống cá tra nuôi là nguồn giống tự nhiên kết hợp với môi trường nuôi còn tốt nên cá có sức sống cao và bệnh trên cá nuôi trong thời gian này rất ít khi xảy ra. Tuy nhiên, từ năm 1999 thì việc sản xuất giống nhân tạo cá tra phát triển, sản lượng giống nhân tạo ngày một tăng nhanh để đáp ứng nhu cầu người nuôi, nhưng mặt trái của sự gia tăng sản lượng giống là chất lượng giống ngày càng suy giảm do đa số các trại giống đều chưa có lý lịch cá bố mẹ, tuyển chọn cá bố mẹ từ các ao nuôi cùng đàn có thể gây nên hiện tượng đồng huyết từ đó cá bột nở ra có sức sống kém hơn nhiều so với cá bột khai thác từ tự nhiên. Chính vì vậy, để con giống cá tra đảm bảo chất lượng (có giấy chứng nhận của cơ quan quản lý khi xuất bán) cung cấp cho người nuôi, các ngành chức năng cần tăng cường kiểm soát chất lượng tại các cơ sở sản xuất cá giống, đảm bảo trại sản xuất giống đạt tiêu chuẩn ngành mới được hành nghề và kiên quyết xử lý những trường hợp vi phạm, và điều quan trọng là lương tâm trách nhiệm của người làm giống. Môi trường: Hầu hết các trại nuôi cá đều không dành diện tích làm ao xử lý nước mà nước ao nuôi được thải trực tiếp ra sông rạch và nước cấp vào ao cũng lại lấy trực tiếp từ sông rạch nên việc lây nhiễm bệnh rất cao. Nguyên nhân nguồn nước nuôi cá tra có dấu hiệu ô nhiễm cao có thể là: + Hai bờ sông Hậu và sông Tiền có nhiều khu công nghiệp xen lẫn với các trang trại nuôi cá tra. Nước thải các khu công nghiệp chưa qua xử lý mà thải trực tiếp ra sông rạch là mối nguy lớn do nước chứa nhiều hóa chất độc và kim loại nặng. Các ngành
  2. có liên quan nên có những biện pháp kỹ thuật xử lý nước thải áp dụng thích hợp cho các nhà máy sản xuất đó và xử lý nghiêm những trường hợp xả nước thải trực tiếp ra môi trường của các nhà máy ở khu công nghiệp vì công việc này trước nay thực hiện chưa được tốt, có như vậy mới góp phần làm cho môi trường được trong sạch nếu không sẽ tạo ra những dòng sông chết rất khó khắc phục. + Dư lượng thuốc bảo vệ thực vật từ ruộng, vườn chảy ra sông rạch sau những trận mưa cũng là nguồn ô nhiễm nguy hiểm. Hướng tới các ngành chuyên môn có liên quan cần nghiên cứu những quy trình kỹ thuật theo hướng “sạch” và hướng dẫn cho mọi người nông dân áp dụng vào quy trình sản xuất của mình nhằm đảm bảo được môi trường và sản phẩm “sạch” cho con người. + Thải trực tiếp nước ao nuôi cá, bùn đáy ao, nước sinh hoạt từ các khu dân cư không được xử lý ra môi trường chung cũng góp phần làm nước sông ô nhiễm hữu cơ tăng cao, làm hàm lượng oxy trong nước giảm, các khí CO2, H2S… tăng lên. Ngoài ra việc xả nước từ các ao cá bệnh, vứt cá chết bừa bãi ra nguồn nước hay tận dụng cá bệnh làm thức ăn cho cá trê, cá lóc đã làm bệnh phát triển thêm trên phạm vi rộng. Các hộ nuôi nên có kế hoạch xây dựng ao lắng và ao xử lý nước thải, từng bước áp dụng các quy trình kỹ thuật mới (SQF, GAP…). Môi trường nuôi ngày càng biểu hiện xấu kết hợp với việc nuôi cá tra phát triển nhanh mà không theo quy hoạch (lượng chất hữu cơ thải trực tiếp ra môi trường là rất lớn so với nuôi các đối tượng thủy sản khác) nên cá nuôi ngày càng phải chịu đựng với điều kiện môi trường sống khắc nghiệt, dễ bệnh hơn trước rất nhiều lần. Chính vì vậy, hiện nay người nuôi phải thực hiện việc phát triển nuôi thân thiện với môi trường làm sao không làm thay đổi môi trường mà làm môi trường tốt hơn bằng các biện pháp như áp dụng quy trình kỹ thuật nuôi tiên tiến: nuôi trong vùng quy hoạch, có ao xử lý nước, sử dụng hóa chất, kháng sinh hợp lý. Mật độ nuôi cao hơn khuyến cáo kỹ thuật rất nhiều (50-80 con/m2) có những bất lợi nghiêm trọng như: + Cá nuôi luôn ở trong tình trạng stress liên tục mà đó là nhân tố tác động đến sự bộc phát bệnh và gây chết cá. + Việc thiếu oxy gây cho cá luôn trong tình trạng sức khỏe yếu. Khi oxy thấp cá phải trồi lên mặt nước đớp khí liên tục để lấy oxy và sự vận động liên tục làm tiêu hao năng lượng và dễ nhiễm ngoại ký sinh ở mang. + Làm tăng lượng mùn bã hữu cơ do thức ăn dư thừa và chất thải của cá từ đó làm nước luôn trong tình trạng giàu dinh dưỡng. Khí NH3, tiêu hao oxy hóa học (COD), tiêu hao oxy sinh học (BOD) cao và oxy luôn thấp nên người nuôi phải thay nước liên tục để loại bớt độc chất, tăng oxy và qua đó góp phần đưa mầm bệnh và nguồn nước xấu từ ngoài vào ao nuôi (nhất là đối với trường hợp lấy nước trực tiếp ngoài môi trường). + Làm cạnh tranh không gian sống dẫn đến cá phân đàn cao, cá yếu và cá nhỏ luôn bị cá khỏe chen lấn, cạnh tranh thức ăn, cạnh tranh không gian sống nên phải dạt vào bờ và nhóm cá này ngày càng yếu và dễ bệnh hơn do chất lượng nước gần bờ xấu, nhiều rong tảo và thiếu thức ăn. Từ những bất lợi của việc nuôi mật độ cao như trên, người nuôi phải nhìn nhận rõ một thực tế là nuôi mật độ cao chưa chắc có hiệu quả cao bằng nuôi mật độ vừa phải như khuyến cáo kỹ thuật và điều quan trọng là nó không mang được tính bền vững trong nghề nuôi cá tra.
  3. Từ các yếu tố được đề cập cho thấy con giống suy thoái kết hợp mật độ nuôi cao và môi trường nước ngày càng ô nhiễm là nguyên nhân làm cho bệnh trên cá tra nuôi xảy ra nhiều hơn trong giai đoạn hiện nay. Nếu tất cả những người nuôi đều đồng lòng biết được những nguyên nhân trên và tìm hướng khắc phục những nguyên nhân đó thì nghề nuôi cá tra sẽ phát triển bền vững. Sản lượng cá tra, basa sẽ giảm 50% Theo nhận định của nhiều chuyên gia ngành Thuỷ sản, sản lượng cá tra, basa quí 2 năm nay giảm tới một nửa do nông dân thiếu vốn sản xuất. Hiện nay, cả nước có 100 nhà máy chế biến cá có công suất 1 triệu rưỡi tấn sản phẩm mỗi năm và có khả năng năm nay chỉ sử dụng được một phần ba công suất. Để khắc phục khó khăn, vướng mắc trong tổ chức sản xuất nuôi, chế biến, tiêu thụ cá tra và tôm nước lợ vùng đồng bằng sông Cửu Long năm nay, Cục Nuôi trồng Thuỷ sản, đang chuẩn bị tổ chức Hội nghị "Bàn giải pháp phát triển và tiêu thụ cá tra, tôm nước lợ vùng đồng bằng sông Cửu Long năm 2009" vào ngày 12/2 tới tại thành phố Cần Thơ, nhằm rà soát và tháo gỡ những khó khăn vướng mắc để phát triển sản xuất và tiêu thụ tôm, cá tra./. ĐBSCL: diện tích nuôi cá tra giảm TTO - Theo Cục Nuôi trồng thuỷ sản - Bộ Nông nghiệp & phát triển nông thôn, đến cuối năm 2008 diện tích nuôi cá tra toàn vùng ĐBSCL chỉ còn 5.240ha, giảm so với tháng 5-2008 là 600ha. Tuy nhiên, điều đáng ngại là hiện nay ngoài số lượng cá tra giảm diện tích nuôi, một số hộ nuôi cá tra còn áp dụng hình thức thả cá mật độ thưa theo hình thức nuôi cầm chừng, chờ thời, vì hiện nay giá thức ăn thủy sản dùng cho nuôi cá tra vẫn còn đứng ở mức cao, trong khi đó phần lớn hộ nuôi bị khánh kiệt do ảnh hưởng cá tra rớt giá liên tục trong năm 2008. Nhiều tỉnh nuôi cá tra sản lượng lớn như An Giang, Đồng Tháp… nông dân "treo" ao đến khoảng 30% do không tiếp cận nguồn vốn sản xuất và không ký được hợp đồng bao tiêu sản phẩm với doanh nghiệp. Theo Bộ Nông nghiệp & phát triển nông thôn, năm 2008 đạt 1.128.000 tấn, năm 2009 dự kiến sản lượng đạt 1.200.000 tấn. Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp & phát triển nông thôn Vũ Văn Tám cảnh báo trong năm 2009 cần phải có nhiều giải pháp hỗ trợ người
  4. nuôi cá tiếp cận nguồn vốn vay; hạ giá thành thức ăn thủy sản… nếu không sẽ xảy ra tình trạng thiếu nguyên liệu cho các nhà máy chế biến cá tra xuất khẩu ở ĐBSCL. KỸ THUẬT NUÔI CÁ TRA, BASA Cá tra phân bố ở một số nước Ðông Nam Á như Campuchia, Thái Lan, Indonexia và Việt Nam, cá ba sa có mặt ở Thái lan và các nước Ðông Dương. Ðây là những loài cá nuôi quan trọng có giá trị kinh tế. Riêng cá tra được nuôi phổ biến hầu hết ở các nước Ðông Nam Á, là một trong 6 loài cá nuôi quan trọng nhất của khu vực này Bốn nước trong hạ lưu sông Mê kông đã có nghề nuôi cá tra truyền thống là Thái lan, Capuchia, Lào và Việt nam do có nguồn cá tra tự nhiên phong phú. Ở Capuchia, tỷ lệ cá tra thả nuôi chiếm 98% trong 3 loài thuộc họ cá tra, chỉ có 2% là cá ba sa và cá vồ đém, sản lượng cá tra nuôi chiếm một nửa tổng sản lượng các loài cá nuôi. Một số nước trong khu vực như Thái Lan, Malaysia, Indonesia đã nuôi cá tra có hiệu quả từ những thập niên 70-80. Từ nửa đầu thế kỷ 20, nuôi cá trong ao mới bắt đầu xuất hiện ở đồng bằng Nam bộ và đối tượng nuôi chính là cá tra. Tài liệu thống kê của tỉnh An giang cho thấy năm 1985 có hơn 90% diện tích ao nuôi cá ở nông thôn của tỉnh lúc bấy giờ là nuôi cá tra. Tài liệu của Ủy Hội sông Mê kông cũng đề cập về hiện trạng nuôi cá tra ở miền Nam Việt nam những thập niên 50-70. Từ trước những năm 1970, kỹ thuật nuôi còn hạn chế, thì nghề nuôi cá còn mang tính chất đơn điệu với đối tượng nuôi chủ yếu là cá tra, các đối tượng khác rất ít. Hiện nay nuôi cá tra và ba sa đã phát triển ở nhiều địa phương, không chỉ ở Nam bộ mà một số nơi ở miền Trung và miền Bắc cũng bắt đầu quan tâm nuôi các đối tượng này. Nuôi thương phẩm thâm canh cho năng suất rất cao, cá tra nuôi trong ao đạt tới 200 - 300 tấn/ ha, cá tra và ba sa nuôi trong bè có thể đạt tới 100 - 300kg/ m3 bè. Ðồng bằng sông Cửu long và các tỉnh Nam bộ mỗi năm cho sản lượng cá tra và ba sa nuôi hàng trăm ngàn tấn. Nghề nuôi cá bè có lẽ được bắt nguồn từ Biển Hồ (Ton le sap) của Căm pu chia được một số kiều dân Việt nam hồi hương áp dụng khởi đầu từ vùng Châu đốc, Tân châu thuộc tỉnh An giang và Hồng ngự thuộc tỉnh Ðồng tháp vào khoảng cuối thập niên 50 thế kỷ trước. Dần dần nhờ cải tiến,bổ sung kinh nghiệm cũng như kỹ thuật. Nuôi cá bè đã trở thành một nghề hoàn chỉnh và vững chắc. Ðồng bằng sông Cửu Long có hơn 50% số tỉnh nuôi cá bè, nhưng tập trung nhất là hai tỉnh An Giang và Ðồng tháp, với hơn 60% số bè nuôi và có năm đã chiếm tới 76% sản lượng nuôi cá bè của toàn vùng. Nguồn giống cá tra và ba sa trước đây hoàn toàn phụ thuộc vào vớt trong tự nhiên. Hàng năm vào khoảng đầu tháng 5 âm lịch, khi nước mưa từ thượng nguồn sông Cửu Long (MêKông) bắt đầu đổ về thì ngư dân vùng Tân châu (An giang) và Hồng ngự (Ðồng tháp) dùng một loại lưới hình phễu gọi là 'đáy' để vớt cá bột. Cá tra bột được chuyển về ao để ương nuôi thành cá giống cỡ 7-10cm và được vận chuyển đi bán cho người nuôi trong ao và bè khắp vùng Nam bộ. Khu vực ương nuôi cá giống tập trung chủ yếu ở các địa phương như Tân châu, Châu đốc, Hồng ngự, các cù lao trên sông Tiền giang như Long Khánh, Phú thuận. Trong những thập niên 60-70 thế kỷ 20, sản lượng cá bột vớt mỗi năm từ 500-800 triệu con và cá giống ương nuôi được từ 70-120 triệu con. Sản lượng vớt cá bột ngày càng giảm do biến động của điều kiện môi trường và sự khai thác quá mức của con người. Ðầu thập niên 90, sản lượng cá bột vớt hàng năm chỉ đạt 150-200 triệu con (Vương học Vinh, 1994). Nghiên cứu sinh sản nhân tạo cá
  5. tra được bắt đầu từ năm 1978 và cá ba sa từ 1990. Mỗi năm nhu cầu con giống cá ba sa từ 20-25 triệu con. Từ năm 1996, trường Ðaị học Cần thơ, Viện nghiên cứu nuôi trồng Thủy sản II, công ty Agifish An giang đã nghiên cứu nuôi vỗ thành thục cá bố mẹ và cho đẻ nhân tạo cá basa thành công, chủ động giải quyết con giống cho nghề nuôi cá ba sa. Nuôi cá tra: ló dạng những mô hình liên kết hiệu quả Chưa bao giờ con cá tra nguyên liệu lại trải qua nhiều thăng trầm như năm nay. Qua các đợt sóng gió của thị trường, người nuôi cá nguyên liệu và doanh nghiệp đã rút ra nhiều bài học đắt giá từ thị trường. Tuy nhiên, vấn đề lớn là cần điều tiết trong sản xuất, hợp đồng bao tiêu sản phẩm và có biện pháp phát triển cá tra nguyên liệu theo qui trình GAP bởi đã có gần 110 quốc gia và vùng lãnh thổ nhập khẩu cá tra chế biến của Việt Nam. Tránh "mua đầu chợ, bán cuối chợ" Ông Dương Nghĩa Quốc, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp & PTNT tỉnh Đồng Tháp cho rằng: “Sau gần hai năm gia nhập WTO, cung cách làm ăn của dân ta chưa chuyển biến nhiều lắm. Vẫn còn cách làm ăn theo kiểu cũ “mua đầu chợ, bán cuối chợ”. Người nuôi cá tra thì cứ chạy theo đuôi thị trường. Thấy cá tra có giá thì mạnh ai nấy đào ao nuôi cá. Không nghe lời khuyến cáo của các cơ quan có chức năng, chạy tiền, vay tiền bằng mọi giá đổ vào nuôi cá" Ông Quốc nói thêm, kết quả là thị trường cá tra nguyên liệu cung vượt cầu, gặp cơn bão giá, ngân hàng thắt chặt tiền tệ, người nuôi cá lao đao như chết đuối giữa dòng. "Muốn tránh thiệt hại kinh tế trong sản xuất cá tra nguyên liệu, từ người nuôi cá cho đến doanh nghiệp phải đổi mới cách làm ăn. Người nuôi cá tra nguyên liệu và doanh nghiệp chế biến cá phải có hợp đồng; đảm bảo quyền lợi cho người nuôi và doanh nghiệp, đó là nguyên tắc bình đẳng và bền vững trong phát triển”- ông Dương Nghĩa Quốc khẳng định. Cá tra ĐBSCL - Ảnh: Vĩnh Kim Ngoài ra, các doanh nghiệp chế biến cần đoàn kết lại và thành lập những hội, đoàn, tập đoàn kinh tế để hỗ trợ lẫn nhau trong chế biến, trong cân đối nguồn nguyên liệu,
  6. bảo quản và điều tiết giá thị trường. Tránh tình trạng cạnh tranh, gây thiệt hại kinh tế cho sản phẩm cùng loại trên thị trường. Đoàn kết trong kinh tế, trong việc nâng cao uy tín, thương hiệu và sản phẩm cá tra chế biến xuất khẩu trên trường quốc tế chính là cách phát triển bền vững của cá tra Việt Nam. Đúng như phân tích của ông Dương Nghĩa Quốc, quan hệ giữa người nuôi cá tra nguyên liệu đến người chế biến cá tra xuất khẩu vẫn theo cung cách làm ăn kiểu cũ. Người nuôi cá bỏ vốn lớn, làm ăn nhanh, mong thu lời nhanh. Người kinh doanh chế biến cũng muốn bán nhanh, thu lời nhanh, không đọng vốn. Người nuôi cá và doanh nghiệp chế biến vẫn là hai đối thủ chứ chưa là đối tác của nhau. Khi cá tra có giá, khan hiếm hàng, người nuôi cá tra nguyên liệu có hàng hoá ngoảnh mặt với doanh nghiệp. Ngược lại, khi cá tra rớt giá, cung vượt cầu, doanh nghiệp lại ngoảnh mặt với người nuôi cá theo kiểu “kiến ăn cá, cá ăn kiến”. Nhân rộng những mô hình mới Ông Nguyễn Thanh Sơn, Phó Chủ tịch UBND TP Cần Thơ cho rằng: “Để con cá tra phát triển bền vững, trước tiên, phải qui hoạch vùng nuôi, chính quyền địa phương quản lý vấn đề trên. Người nuôi cá và doanh nghiệp phải có hợp đồng và liên kết với ngân hàng. Người nuôi có hợp đồng ngân hàng mới xét cho vay. Như vậy sẽ hạn chế việc phát triển tự phát, tràn lan, gây ra cảnh cung vượt cầu thiệt hại cho người nuôi. Một vấn đề quan trọng khác là nuôi cá theo qui trình sạch GAP. Nếu những vấn đề trên được thực hiện tốt thì sẽ là cơ sở để con cá tra nguyên liệu phát triển bền vững”. Chế biến cá tra tại Công ty Agifish An Giang. Ảnh: Vĩnh Thuận Tại Cần Thơ, sau khủng hoảng cung vượt cầu từ tháng 4 đến tháng 8/2008, những người nuôi cá ở Cần Thơ đã có những kinh nghiệm và tìm hướng liên kết trong phát triển. Ông Dương Tấn Lộc, Chủ tịch Hiệp hội Thuỷ sản Cần Thơ (Cafa) dẫn chứng trường hợp HTX Thới An, Ô Môn. Chủ nhiệm HTX này đã hợp đồng với Công ty Chế biến thuỷ sản Hùng Vương, tổng sản lượng cá tra nguyên liệu hợp đồng bao tiêu là 12.600 tấn. Phương thức hợp đồng là công ty cung ứng cho HTX 70% thức ăn, HTX lo 30% số thức ăn còn lại. Giá hai bên thoả thuận ngay từ đầu. Với những cách làm như vậy,
  7. dù giá cả có biến động thì người nuôi vẫn đảm bảo số lời nhất định có thể tính được, không bị lỗ nặng như thời gian qua. Tại Vĩnh Long, Công ty TNHH thuỷ sản Hùng Vương tỉnh này cũng đã hợp đồng với người nuôi cá tra nguyên liệu theo phương đầu tư trước: trên 1kg cá thịt, doanh nghiệp đầu tư cho người nuôi cá 1,7kg thức ăn viên, cá giống và thuốc thú y thuỷ sản… Sản lượng hợp đồng lên đến 10.000 tấn. Nếu tính ra, với đầu tư này, doanh nghiệp đã đầu tư hơn 16.000 đồng/kg cá nguyên liệu. Tại Cần Thơ, trước khi con cá tra lâm cảnh cung vượt cầu từ tháng 4 đến tháng 8/2008, anh Huỳnh Thanh Hùng, một doanh nghiệp tư nhân đã có hợp đồng nuôi cá với một công ty chế biến thuỷ sản nuôi cá tra ở Ô Môn theo hình thức giá mua bao tiêu cố định 15.500 đồng/kg cá nguyên liệu. Với giá này trước đây, khi thức ăn thuỷ sản chưa tăng giá, người nuôi có lời khoảng 1.000 đồng/kg. Nay thì hợp đồng nuôi lại bắt buộc phải điều chỉnh lên ít nhất là 16.500-17.000 đồng người nuôi mới có lời chút ít. Tuy chưa phổ biến rộng thành phong trào nhưng những phương thức hợp đồng, đầu tư bao tiêu giữa doanh nghiệp và ngươi nuôi cá tra đã ló dạng những mô hình liên kết trên đường phát triển. Từ những mô hình này, có thể làm cơ sở cho những mô hình hợp đồng nuôi chế biến cá tra trong tương lai. Ngoài các mô hình liên kết theo kiểu hợp đồng, những doanh nghiệp chế biến cá tra trong vùng như An Giang, Vĩnh Long, Đồng Tháp, Cần Thơ đang đầu tư mua đất để phát triển vùng nuôi và sản xuất thức ăn thuỷ sản, cách làm này gọi là qui trình khép kín. Theo ông Nguyễn Hữu Dũng, Phó Chủ tịch Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam (VASEP): “Hiện nay, các doanh nghiệp chế biến cá tra ĐBSCL đầu tư vùng nuôi cá tra nguyên liệu rất nhiều, chưa có con số thống kê cụ thể, nhưng số lượng cá tra nguyên liệu này tương đối lớn”. Nó đảm bảo cho doanh nghiệp một "sân sau” vững chắc trong điều kiện giá cá tra nguyên liệu bên ngoài biến động. Tình hình bệnh trên cá tra nuôi hiện nay Trong vài năm trở lại đây, phongtrào nuôi cá tra xuất khẩu ở DBSCL tăng rất nhanh, đem về cho đất nước một nguồn ngoại tệ rất lớn. Thế nhưng, do phát triển quá nhanh không theo quy hoạch nên bệnh trên cá tra nuôi hiện nay xảy ra ngày càng nhiều nhưng việc điều trị lại kém hiệu quả đang là vấn đề quan tâm hàng đầu của người nuôi cá và cả các nhà chuyên môn. “Cần xem cá tra là sản phẩm chiến lược Quốc gia”
  8. - Lãnh đạo của một tỉnh nuôi cá tra lớn nhất ĐBSCL đã nói như vậy tại “Hội nghị bàn biện pháp phát triển sản xuất và tiêu thụ cá tra, tôm nước lợ vùng ĐBSCL năm 2009” do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức sáng nay 12/2 tại Cần Thơ. Dù cho điều kiện năm 2008 gặp nhiều khó khăn (khủng hoảng kinh tế, giá cả biến động…) nhưng theo bà Trần Thị Biên, Phó Cục trưởng Cục Chế biến, Thương mại Nông-Lâm-Thủy sản và nghề Muối thì tình hình xuất khẩu cá tra và tôm vẫn tăng. Cụ thể khối lượng tôm tăng trên 18,8%, giá trị tăng trên 7,7%, còn khối lượng cá tra tăng 65,6%, giá trị tăng 48,4% so với năm 2007 và các thị trường tiêu thụ cũng tăng đáng kể. Con cá tra ĐBSCL với nhiều nỗi truân chuyên. Còn trong năm 2009 này, theo ông Nguyễn Hữu Dũng, Phó Chủ tịch thường trực Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP) thì thị trường cá tra sẽ thuận lợi hơn năm 2008. Ông Dũng lý giải, vì giá cá tra rẻ trong điều kiện kinh tế khó khăn nên nhiều nước sẽ nhập khẩu cá tra. Ông Dũng đưa ra một số giải pháp như Nhà nước phải quản lý chặt giá và chất lượng thức ăn cho cá, tôm; Bộ NN&PTNT cần đưa ra quy định cụ thể chứ không hô hào nữa. Với việc tổ chức sản xuất, ông Dũng cho rằng cần tách ra thành 2 bộ phận là: “Đại gia” nuôi cá tra và những hộ nông dân nghèo nuôi cá để có những chính sách riêng phù hợp. Ông Nguyễn Thế Năng, Phó Chủ tịch UBND tỉnh An Giang, một tỉnh nuôi cá tra lớn nhất ĐBSCL, bày tỏ, trên thực tế con cá tra không được chú trọng về chính sách mà hầu hết đều do người nuôi tự chủ. Hiện giá cả còn bấp bênh, theo ông Năng, chừng nào doanh nghiệp chưa có động thái tích cực gì về giá thành thì người nông dân khoan nuôi trở lại. Ông Năng nhấn mạnh đã đến lúc “cần phải xem cá tra là một sản phẩm chiến lược như lúa gạo của Quốc gia”. Đại diện tỉnh Cà Mau (thế mạnh về nuôi tôm) cho biết, thời gian qua giá tôm luôn tăng giảm không ổn định. Một thời gian do thiếu nguyên liệu nên nhiều nhà máy cho công nhân nghỉ luân phiên hoặc giảm công suất hơn 30%.
  9. Quang cảnh Hội nghị sáng 12/2. “Hiện nay giá thức ăn còn khá cao, giá thuốc thú y vẫn không giảm gây khó khăn cho người nuôi tôm. Bên cạnh đó do thiếu vốn sản xuất nên nhiều chủ nuôi ở Cà Mau phải treo hầm chờ thời cơ” - đại diện này khẳng định. Ông Nguyễn Việt Thắng, Chủ tịch Hội nghề cá, thì tự tin cho rằng cá tra là loại cá quý vì có chất lượng và giá trị. Theo ông Thắng Việt Nam có đủ điều kiện để hạ giá thành cá tra, chính việc làm chủ giá thành mới thương lượng dễ dàng ở thị trường tiêu thụ bên ngoài. Từ đó ông Thắng đề nghị, phải cho thí điểm nhập thức ăn chế biến từ nước ngoài để tạo sự “nhúc nhích” buộc các nhà sản xuất thức ăn trong nước xem xét lại giá cả của mình cho hợp lý. Phát biểu tại Hội nghị, Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Vũ Văn Tám đã đưa ra những giải pháp như cần rà soát lại chính sách hiện hành của Nhà nước và thực hiện quyết liệt “chứ không hô hào suông” đồng thời đề nghị các ngành liên quan triển khai kế hoạch mở rộng thị trường truyển thống và tìm kiếm thị trường mới. Nông dân ĐBSCL đổ xô nuôi cá tra, basa trở lại Sau gần nửa năm bỏ ao, nhiều người dân An Giang nay bắt đầu ồ ạt đi sửa chữa, be bờ, mua con giống cá tra, basa về thả nuôi. Giá cá đang tăng mạnh và nhanh chóng trong khi nguồn cung thiếu trầm trọng, khiến phong trào nuôi cá tự phát, thiếu quy hoạch đang có nguy cơ tái diễn. So với đầu năm, hiện diện tích nuôi cá ở tỉnh này tăng 40% với 1.050 ha. Trên 1.200 lồng bè đã nghỉ nuôi, nay tự phát hoạt động trở lại. Giá cá tra giống vì vậy cũng tăng cao, loại có kích thước 3 cm hiện là 1.300 đồng/con, loại 2,5 cm khoảng 950 đồng/con. Thị trường thu mua cá nguyên liệu đang hết sức sôi động, giá cả tăng hằng ngày. Giá cá tra thịt vàng hôm qua ở mức 12.500-13.000 đồng/kg, tăng 1.000 đồng so tuần trước và cao hơn gấp rưỡi nếu so với mức giá rớt kỷ lục cuối năm ngoái. Cá tra thịt trắng cũng tăng cao, ở mức 14.000 đồng/kg, tăng 31,4% so với cuối năm 2005. Thời gian qua, diện tích nuôi cá tra, basa bị thu hẹp nên sản lượng ít. Trong khi đó, do ảnh hưởng của dịch cúm gia cầm lan nhanh nên nhu cầu tiêu thụ thực phẩm thủy sản trên thế giới gia tăng. Giá cả vì vậy cũng tăng mạnh.
  10. Trở lại phong trào nuôi cá tra, basa tự phát ở Đồng bằng  sông Cửu Long. Ảnh: V.H. Theo Hiệp hội nghề cá An Giang, từ đầu năm đến nay, các doanh nghiệp chế biến thủy sản trên địa bàn tỉnh đã tiêu thụ gần 63.000 tấn cá tra, ba sa nguyên liệu, tăng 41,1% so cùng kỳ năm 2005. Xuất khẩu ở mức 22.800 tấn sản phẩm cá tra, ba sa, đạt kim ngạch 53,5 triệu USD, tăng 54% về lượng và giá trị. Tính bình quân, mỗi tháng tỉnh này xuất khẩu 5.700 tấn cá tra, basa, tăng hơn 2.000 tấn so với thời điểm này năm ngoái. Cuối năm 2005, đại diện Hiệp hội khẳng định với VnExpress rằng, năm nay An Giang không khuyến khích phát triển đàn cá trên địa bàn theo số lượng mà tăng cường chất lượng, sản xuất theo mô hình sạch. Tỉnh sẽ quy hoạch chặt chẽ hơn tổng đàn cá nuôi trong dân, tránh tình trạng lệch cán cân cung cầu thị trường, như từng xảy ra giữa năm ngoái. Tuy nhiên, phong trào nông dân nuôi cá ồ ạt trở lại hiện nay khiến công tác quy hoạch của tỉnh có thể bị chậm chân so với thực tế phát triển đàn nuôi. Trong khi đó, 2 ngày trước, tỉnh Cần Thơ đã thành lập Ban liên kết cá tra xuất khẩu, bao gồm các doanh nghiệp chế biến, cơ sở sản xuất thức ăn thủy sản, thú y thủy sản, giống, ngân hàng và người nông dân nuôi cá. Nghề nuôi cá tra lại gặp khóHiện nay, hai tỉnh An Giang và Đồng Tháp có hơn 200 hộ nuôi cá tra nguyên liệu đang "treo ao" nghỉ nuôi. Nguyên do là ngân hàng thắt chặt vốn vay, nuôi cá khó bán và bán lỗ. Trong khi đó, doanh nghiệp chế biến cá tra xuất khẩu cũng đang trong tình cảnh như ngồi trên lửa... Anh Trương Huỳnh Đức, người nuôi 1ha cá ở Cồn Sơn - Bình Thuỷ Cần Thơ cho biết, gần đây, nhất là thời điểm cuối tháng 5/2008 giá cá tra cứ sụt liên tục. Hiện nay cá tra loại 1 doanh nghiệp thu mua 14.000 đồng/kg, cá loại 2 thì 13.800-13.6000 đồng/kg. Với giá này, người nuôi cá bị lỗ đậm từ 1.000-1.500 đồng /kg. Vì hiện nay giá thức ăn đã lên đến 8.000-9.000 đồng/kg, tuỳ vào độ đạm. Để có 1kg cá tra nguyên liệu người nuôi phải đầu tư khoảng 14.000-15.000 đồng, bao gồm cá giống, thức ăn, thuốc thú y thuỷ sản, lãi suất vay ngân hàng, công sức… Anh Đức nói: "Người nuôi cá như ngồi trên lửa, vì vậy đừng hỏi tại sao ở Cần Thơ, An Giang, Đồng Tháp người nuôi cá bán xong "treo ao" nghỉ luôn”. Nuôi cá tra: "Thua" nhiều hơn "ăn" Còn anh Nguyễn Văn Thanh, người nuôi 2ha cá tra ở Cù Lao Tân Lộc, Thốt Nốt Cần Thơ cũng than vãn, người nuôi cá tra bây giờ mạo hiểm như đánh bạc năm ăn, năm thua, nhưng thua
  11. nhiều hơn. Nếu có vốn nuôi 1ha cá tra vào thời điểm này, lời chỉ vài chục hoặc 100 triệu đồng, nhưng nếu gặp lúc cá xuất bán, chỉ khoảng 14.000, có thể lỗ đứt 100-200 triệu đồng. Chưa bao giờ người nuôi cá tra ở ĐBSCL phải đối mặt khó khăn như hiện nay. Giá thức ăn thuỷ sản tăng cao, giá con giống tăng lên, lãi suất tiền vay tăng lên, nuôi xong giá cả rẻ như bèo, bán dưới mức đầu tư. Ngặt nghèo nhất là có cá bán đến lứa mà doanh nghiệp không thèm mua. Trong khi ngân hàng siết nợ do đến hạn, người bán thức ăn cũng đòi tiền… Tại An Giang, Đồng Tháp tình hình người nuôi cá tra gặp khó đang diễn biến khá trầm trọng. Theo Thạc sĩ Dương Nghĩa Quốc, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp & PTNT tỉnh Đồng Tháp, trên địa bàn tỉnh hiện nay có 120 chủ nuôi cá tra với diện tích 113ha, sau khi bán cá đã "treo ao" nghỉ thả cá tra nuôi lại theo như thông lệ trước đây. Nguyên nhân chính là giá thức ăn tăng cao, ngân hàng hạn chế cho vay nuôi cá lãi suất vay cao quá, và khi nuôi cá muốn bán cũng không có doanh nghiệp mua, mua với giá thấp, bán lỗ… áp lực ngày càng đè nặng lên vai người nuôi cá tra. Ông Phan Văn Danh, Chủ tịch Hiệp hội Nghề nuôi và Chế biến thủy sản An Giang (AFA), cho biết, tại An Giang hiện nay có khoảng hơn 100 hộ nuôi cá tra sau khi bán cũng đã "treo ao", ngưng thả nuôi, vì sức ép của tiền tệ, cụ thể ngân hàng cho vay hạn chế, hoặc không cho vay thả cá, lãi suất quá cao, nuôi không lời, nuôi ra bán quá khó khăn. Với tình hình này có thể nhiều người nuôi sẽ bỏ nghề và vào những tháng cuối năm 2008 cá tra nguyên liệu sẽ khan hiếm do cung không đủ cầu. Do doanh nghiệp hay tại... ngân hàng? Trao đổi với ông Bửu Huy, một người có nhiều kinh nghiệm và từng là Giám đốc Xí nghiệp đông lạnh thuỷ sản Afiex - An Giang, ông Huy cho biết: Hiện nay giá cá tra xuống thấp, DN không thu mua, tại sao? Trả lời câu hỏi này trước tiên phải nói xuất phát từ tiền tệ, ngân hàng. Ngân hàng hạn chế cho vay, DN thiếu tiền mặt trong hoạt động kinh doanh, trong khi đó với lãi suất vay từ 18%/ năm, DN vất vả lắm mới tồn tại và phát triển. Nhiều DN chế biến cá tra ở ĐBSCL đang gặp khó khăn như nhau: Thiếu vốn mua cá, sản xuất kinh doanh, thanh toán tiền lương công nhân, vay tiền ngân hàng lãi suất cao, vay không được nhiều, mua cá dự trữ với lãi suất cao thì nguy cơ bị lỗ rình rập. Hiệp hội Thủy sản Việt Nam (VASEP) dự đoán giá cá sẽ tăng nhưng thực tế giá cá tra nguyên liệu ở ĐBSCL đang có khả năng giảm tiếp. Giá cá tra hiện tại chỉ còn 13.600 đồng - 14.200 đồng/kg. Trong đó, lượng cá tra dự kiến thu hoạch trong năm toàn vùng khoảng 1 triệu tấn, cá đến lứa thu hoạch khoảng 1kg/con tồn đọng nhiều do DN mua cầm chừng, nhà máy chỉ hoạt động khoảng 30-40 % công suất. Trong khi đó, số cá cần tiêu thụ ở ĐBSCL khoảng 800.000 tấn/tháng làm cho lượng cá tra ngày càng ứ đọng. Ông Danh cũng tiết lộ, Bộ NN-PTNT vừa cử người vào làm việc và sắp tới có thể lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước sẽ làm việc trực tiếp với lãnh đạo AFA để tháo gỡ, giải quyết khó khăn tài chính cho người nuôi cá và DN chế biến xuất khẩu con cá tra ĐBSCL. Hiện nay, các DN chỉ mua cá cầm chừng với giá thấp, một vài DN ép nông dân phải bán cá có điều kiện: Trả tiền chậm. Một giám đốc DN chế biến cá tra ở Đồng Tháp cho biết: Tiền tệ, lãi suất, khó khăn về tài chính làm cho chúng tôi phải cân đo từng giờ từng phút. Mua cá sản xuất, chế biến là được rồi, lưu kho giá sẽ tăng là chuyện tất yếu, nhưng trước mắt thiếu tiền mặt, lâu dài lãi suất đẩy lên cao… Hiện nay, hầu hết DN đang giải bài toán phát triển và tồn tại trong tình hình tài chính như dầu sôi lửa bỏng: Tung hàng lưu kho, sử dụng cá nuôi do doanh nghiệp đầu tư, tiết kiệm chi phí sản xuất, sử dụng vốn tự có, vốn huy động không phải vay qua hệ thống ngân hàng… Về phía Ngân hàng, sau khi thay đổi khung lãi suất huy động từ ngày 19/5/2008, tiền gửi vào ngân hàng tăng mạnh. Tuy nhiên, hầu hết các ngân hàng từ quốc doanh cho đến ngân hàng thương mại cổ phần đều hạn chế cho vay, nhất là các khoản vay trung và dài hạn. Không chỉ các DN kinh doanh bất động sản mà ngay cả người vay nuôi cá, sản xuất hàng xuất khẩu thuỷ sản cũng bị từ chối khéo, vay hạn chế, lãi suất cao, phụ thu. Không chỉ ở Cần Thơ mà An Giang, Vĩnh Long, Đồng Tháp… những người nuôi cá, những DN chế biến xuất khẩu đang gặp khó từ chuyện tiền tệ. Phó Tổng giám đốc Ngân hàng TM Cổ phần Miền Tây Lê Nguyễn Trần Huấn cho rằng: Hiện nay mức huy động lãi suất tiền gửi cao nhất đã xấp xỉ 15%/ năm, trong khi đó cho vay cao nhất chỉ là 18%/năm. Lãi quá mỏng mà rủi ro cao, vì thế nhiều ngân hàng không muốn cho vay trung và dài hạn, chỉ cho vay ngắn hạn. ĐBSCL: Người nuôi cá tra vẫn đang "ngồi trên lửa"
  12. Trong những ngày đầu tháng 6, nhiều doanh nghiệp ở An Giang mua cá tra tại ao của người dân ở huyện Phú Tân (An Giang) chỉ còn 13.800 đồng/kg. Anh Lê Văn Hiệp, một người nuôi 2ha cá ở Huyện Phú Tân cho rằng: Với giá cá này mỗi tấn cá được cất bán, người nuôi cá tra cầm chắc... lỗ hơn 1 triệu đồng. Một ao nuôi thuộc hàng nhỏ, lẻ 100 tấn cá cũng lãnh đủ phần thua lỗ trên 100 triệu đồng. Cứ thế, ai nuôi nhiều lỗ nhiều, nuôi ít lỗ ít. Tại cù Lao Tân Lộc, Thốt Nốt - Cần Thơ nhiều nông dân cũng đang chạy sốt vó do giá cá thấp, ngân hàng hạn chế cho vay, cá tới lứa cũng đồng nghĩa với nợ đòi tới nơi không tiền trả vì bán cá không ai mua, có mua cũng giá quá tệ. Theo ông Phan Văn Danh Chủ tịch Hội Nghề cá tỉnh An Giang - AFA, giá cá 13.800 đồng/kg loại 1 như hiện nay, nông dân lỗ thấu xương, nông dân còn có thể tiếp tục khó vì giá thức ăn vẫn đang trên đà tăng vọt. Do đó, khó khăn từ nghề nuôi cá mang về tiền tỷ đô la cho đất nước đang bị đặt vào tình cảnh nan giải phải sớm giải quyết. Mấy ngày này, ở ĐBSCL, đi đâu cũng nghe người nuôi cá tra than "mới bán, bị lỗ", "chắc không thả lại". Tại cù Lao Tân Lộc, Thốt Nốt - Cần Thơ nhiều nông dân cũng đang chạy sốt vó do giá cá thấp, ngân hàng hạn chế cho vay, cá tới lứa cũng đồng nghĩa với nợ đòi tới nơi không tiền trả vì bán cá không ai mua, có mua cũng giá quá tệ. Theo ông Phan Văn Danh Chủ tịch Hội Nghề cá tỉnh An Giang - AFA, giá cá 13.800 đồng/kg loại 1 như hiện nay, nông dân lỗ thấu xương, nông dân còn có thể tiếp tục khó vì giá thức ăn vẫn đang trên đà tăng vọt. Do đó, khó khăn từ nghề nuôi cá mang về tiền tỷ đô la cho đất nước đang bị đặt vào tình cảnh nan giải phải sớm giải quyết. Mấy ngày này, ở ĐBSCL, đi đâu cũng nghe người nuôi cá tra than "mới bán, bị lỗ", "chắc không thả lại". Nhiều câu hỏi đang ở phía trước Theo ước tính của những nhà chuyên môn, ĐBSCL hiện nay Thu hoạch cá tra ở Ô Môn, Cần Thơ còn khoảng 120.000 tấn cá nguyên liệu tới kỳ thu hoạch, trong đó cá phải thu hoạch gấp khoảng hơn 100.000 tấn. 1000 tỉ đồng mà ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) chuyển đến các tỉnh ĐBSCL để mua cá tra nguyên liệu cũng chỉ là con số chữa cháy trong tình hình nóng bỏng này thôi. Đây chưa thể là phương thuốc chữa trị cơn khát vốn từ người nuôi cho đến doanh nghiệp (DN) thu mua cá. Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải tại cuộc họp trực tuyến về tình hình sản xuất, tiêu thụ cá tra, ba sa ĐBSCL vào hôm 1/6, Hiệp hội Thuỷ sản Cần Thơ đã có công văn đề nghị cho 7 doanh nghiệp chế biến thủy sản được vay vốn với tổng số tiền là 500 tỉ đồng để thu mua hết số cá tra đến kỳ thu hoạch còn tồn đọng. Theo ước tính, có khoảng 50.000 tấn, trong đó 30.000 cá tra nguyên liệu phải thu hoạch gấp. Theo ông Võ Văn Đời, Giám đốc Sở NN&PTNT TP Cần Thơ, UBND TP Cần Thơ đã chấp nhận danh sách các doanh nghiệp vay vốn và đã có công văn gửi Ngân hàng Nhà nước Việt Nam kèm theo danh sách cụ thể các doanh nghiệp có nhu cầu vay vốn. Theo ông Đời, hiện nay, Cần Thơ cũng kiến nghị Nhà nước có hỗ trợ lãi suất vay, cho vay
  13. theo nhu cầu của DN và có mức qui định về giá sàn để tránh tình trạng DN ép giá mua đối với nông dân. Nên có biện pháp xử phạt các trường hợp ép giá mua đối với người nuôi cá, đảm bảo công bằng cho nông dân và DN. Tại Đồng Tháp, theo ông Dương Nghĩa Quốc, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp & PTNT, có 4 doanh nghiệp chế biến cá tra xuất khẩu được đề nbghị cho vay vốn ưu đãi trong đợt này, tổng số tiền đề nghị lên Ngân hàng Nhà nước là 565 tỉ đồng. Trong cuộc họp vào chiều 4/6 với các sở, ngành, đã có nhiều ý kiến đề nghị về ưu đãi vốn vay, tránh ép giá nông dân và làm thế nào để đảm bảo quyền lợi cho DN và nông dân. Còn tại An Giang, tình hình cũng đang "nóng" với con cá tra đã quá lứa thu hoạch. Theo ông Phan Văn Danh, Chủ tịch Hội Nghề cá An Giang (AFA) cho biết, trên địa bàn tỉnh hiện có hơn Cá tra. 20.000 tấn cá quá lứa, 30.000 tấn cá khác đang đến độ chuẩn bị thu hoạch. Vì vậy, trong đợt này, An Giang có đề nghị Chính phủ cho hai DN vay 450 tỉ đồng, để giải quyết thu mua cá tra nguyên liệu. Trong khi đó, người nuôi cá tra lại cũng đang bấn lên... Vừa lo tiền mua thức ăn nuôi cá, lo trả nợ lãi vay ngân hàng lại vừa trông ngân hàng rót tiền xuống cho doanh nghiệp thu mua cá. Trông, rồi lại cũng lo bị DN ép giá một khi DN có rủng rỉnh tiền vay ngân hàng. Theo ông Phan Văn Danh, chủ tịch AFA, người nuôi cá bây giờ vẫn chưa yên tâm, vì nhiều DN vẫn khăng khăng đòi giữ giá sàn 13.800 đồng/kg. Theo quan điểm của chúng tôi, cần phải công bằng cho DN và công bằng cho nông dân trong tình cảnh không ai muốn như hiện nay. Đây cũng là bài học làm theo kiểu phong trào, thiếu qui hoạch trên đường phát triển trong kinh tế. Kinh nghiệm nuôi cá tra trong đăng quầng KTNT - Những năm gần đây, cá tra là một trong những đối tượng nuôi xuất khẩu có giá trị kinh tế cao. Cá tra có thể nuôi trong ao đất, lồng bè hay đăng quầng ở những vùng ven sông. Xin giới thiệu kinh nghiệm nuôi cá tra trong đăng quầng để bà con tham khảo. Vị trí nuôi Chọn vị trí nuôi ven các bờ sông, kênh lớn. Lưu ý đến các yếu tố như: dòng chảy, bờ kênh vững chắc, chất đáy ổn định, độ sâu 1,5 - 2m, không bị ô nhiễm. Làm Đăng quầng
  14. Xung quanh khu vực nuôi cần có hệ thống cọc bằng gỗ hoặc bê -tông vững chắc để đỡ cho hệ thống đăng phụ. Đăng phụ được làm từ tre hoặc lưới. Diện tích đăng tùy thuộc vào vị trí nuôi và khả năng của mỗi gia đình. Hình dạng đăng phụ thuộc vào tính chất dòng chảy của nước. Ở vùng nước chảy mạnh có thể làm theo hình chữ V, U hoặc W, nước chảy đều làm theo kết cấu hình thẳng. Mật độ thả và cỡ giống Vùng nuôi đăng chắn thì kích thước của mắt lưới và đăng tre phải nhỏ hơn kích thước của cá giống để tránh cá thoát ra ngoài. Cỡ cá giống từ 70 đến 100g/con. Để nuôi xoay vòng cần có ao ương dưỡng cá con, kích thước cá 8 - 10cm, sau 30 - 45 ngày cá sẽ đạt 20cm, trọng lượng 70 – 100g/con. Thả với mật độ 50 - 100con/m3 nước. Nên thả vào chiều mát. Chăm sóc Cá tra nuôi đăng quầng có mật độ dày nên phải chú ý cung cấp đủ thức ăn. Thức ăn chủ yếu là thức ăn công nghiệp, bột cá, rau muống, ốc bươu vàng trộn với cám. Lượng thức ăn tương đương 10% trọng lượng cá. Vệ sinh hệ thống đăng thường xuyên, kiểm soát sự thất thoát của cá. Theo dõi hoạt động bơi lội, màu sắc, sự tăng trưởng của cá để đánh giá tỷ lệ sống; tình trạng sức khỏe và sức ăn để có chế độ cho ăn hợp lý. Có thể thu hoạch cá sau 6 - 8 tháng nuôi, sau 15 - 20 ngày có thể nuôi đợt cá mới. Ngừng nuôi thả cá tra vì giá sụt giảm mạnh Người nuôi cá tra tại các tỉnh, thành ở miền Tây Nam bộ như Đồng Tháp, Vĩnh Long, TP Cần Thơ, An Giang, Hậu Giang... đang ngừng thả nuôi cá vì sợ lỗ do giá cá sụt giảm mạnh. Người nuôi cá tra ở miền Tây đang lao đao vì cá sụt giá mạnh. Trước đây, cá có trọng lượng từ 1kg/con trở lên giá bình quân 15.500 đồng/kg, nay chỉ còn 14.200 đồng/kg; cá có trọng lượng dưới 1 kg/con thì chỉ bán được với giá 13.000 - 13.800 đồng/kg. Với mức giá này, người nuôi cá không có lãi. Đã vậy, nhiều doanh nghiệp lại ngưng mua vào, hoặc nếu mua thì “treo hầm”, tức chỉ bắt cá sau 15 ngày đặt cọc, người nuôi lại lỗ thêm vì phải tốn chi phí thức ăn cho cá trong 15 ngày đó. Sau
  15. khi mua cá từ 10 đến 25 ngày doanh nghiệp mới trả đủ tiền, nếu người nuôi muốn lấy tiền mặt thì buộc phải trừ lại 3% cho doanh nghiệp. Chủ tịch Hiệp hội Thủy sản Cần Thơ, ông Bùi Hữu Trí cho biết, nếu tình hình “treo hầm” kéo dài và lan rộng, chắc chắn người nuôi cá sẽ gặp khó khăn do chi phí tăng cao, các doanh nghiệp chế biến cá tra sẽ gặp phải tình trạng khan hiếm nguyên liệu cục bộ, thị trường tiêu thụ cá tra ở miền Tây sẽ gặp nhiều bất lợi. TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU Năm 2007: Kim ngạch xuất khẩu cá tra, ba sa ước đạt 974,12 triệu USD Tổng lượng cá tra, basa xuất khẩu của Việt Nam năm 2007 đạt 383,2 nghìn tấn với kim ngạch đạt 974,12 triệu USD, tăng 31% về lượng và 26,07% so với năm 2006. Trong tháng 12/2007, xuất khẩu mặt hàng cá tra, basa của Việt Nam đạt 30,5 nghìn tấn với kim ngạch đạt 70,8 triệu USD, tăng 5,8% về lượng và giảm 4,3% về kim ngạch so với tháng 12/2006. Đưa tổng lượng cá tra, basa xuất khẩu của Việt Nam năm 2007 đạt 383,2 nghìn tấn với kim ngạch đạt 974,12 triệu USD, tăng 31% về lượng và 26,07% so với năm 2006. Như vậy, năm 2007 kim ngạch xuất khẩu cá tra, basa của Việt Nam đạt 974 triệu USD, thấp hơn 26 triệu USD so với dự báo 1 tỷ USD. Nguyên nhân chính là do thị trường Nga đã siết chặt rào cản về chất lượng (VSATTP) đã làm ảnh hưởng tới tốc độ xuất khẩu mặt hàng này tới Nga trong năm 2007. Một nguyên nhân nữa là các doanh nghiệp xuất khẩu mặt hàng này của Việt Nam chưa đáp ứng được đồng bộ chất lượng cho các thị trường lớn. Tuy nhiên, nhìn một cách tổng quan thì xuất khẩu cá tra, basa của Việt Nam cũng đã vượt qua nhiều thách thức và khó khăn để đạt được tốc độ tăng trưởng khá cao so với năm trước. Về phía các cơ quan quản lý đã kịp thời có những biện pháp khắc phục tình trạng vi phạm VSATTP đối với mặt hàng này. Kết quả là nhiều phái đoàn của EU, Nga, Đài Loan…đều đánh giá rất cao quy trình sản xuất của các doanh nghiệp đã được kiểm tra. Một chiến lược xây dựng và phát triển thương hiệu cá tra, basa của Việt Nam đã được các doanh nghiệp hưởng ứng tích cực. Với đặc tính ưu việt về dinh dưỡng của con cá tra, basa cũng như điều kiện tự nhiên ưu ái cho Việt Nam thì trong những năm tới cá tra, basa xuất khẩu sẽ là một thương hiệu quốc gia của Việt Nam. Giá xuất khẩu trung bình cá tra đông lạnh năm 2007 giảm nhẹ so với năm trước Trong năm 2007 vừa qua, giá xuất khẩu trung bình mặt hàng cá tra đông lạnh của Việt Nam đạt 2,58 USD/kg, giảm 0,017 USD so với năm 2006 và tăng 0,2 USD/kg so với năm 2005. Tháng 6/2007 là tháng có giá xuất khẩu trung bình cao nhất trong năm đạt 2,82 USD/kg. Tháng 12/2007 là tháng có giá xuất khẩu trung bình thấp nhất trong năm đạt 2,356 USD/kg. Theo quy luật, giá xuất khẩu trung bình mặt hàng này thường tăng cao vào 6 tháng đầu năm và giảm nhẹ vào 6 tháng cuối năm. Những ngày đầu năm giá dầu thô trên thế giới đã tiếp tục tăng cao. Điều này sẽ ảnh hưởng nhìêu tới chi phí vận chuyển, nuôi trồng và chế biến cá tra, basa trong năm nay. Dự báo, năm 2008 giá xuất khẩu trung bình mặt hàng này sẽ tăng cao, có thể sẽ đạt mức 3 USD/kg.
  16. Cơ cấu thị trường: Năm 2007, cá tra và basa xuất khẩu của Việt Nam đã có mặt tại 98 quốc gia trên thế giới, có mặt tại 69 khu vực thị trường, tăng thêm 15 thị trường so với thị trường của năm 2006. Trong đó, xâm nhập tới 27 thị trường mới và chưa xuất khẩu trở lại 12 thị trường cũ. EU tiếp tục là khu vực xuất khẩu cá tra, ba sa lớn nhất của Việt Nam, chiếm 42,20% về lượng và 40,13% về kim ngạch (Tây Ban Nha, Ba Lan, Hà Lan, Đức…là những nhà nhập khẩu chính mặt hàng này tại khu vực EU). Sau EU là Nga chiếm 11,17% về lượng và 8,28% về kim ngạch (là thị trường không đạt được tốc độ tăng trưởng như dự báo, giảm 25,9% về kim ngạch so với cùng kỳ 2006. Đứng thứ 3 là ASEAN chiếm 8,69% về lượng và 7,85% về kim ngạch (đây là khu vực thị trường xuất khẩu cá tra, basa của Việt Nam ít rủi ro nhất). Đứng thứ 4 là Ucraina chiếm 6,1% về lượng và 4,1% về kim ngạch (Đây là thị trường có tốc độ tăng trưởng cao nhất trong tốp 10 thị trường xuất khẩu). Đứng thứ năm và sáu là Hoa Kỳ và Hồng Kông lần lượt chiếm 3,55% và 3,26% về lượng và 3,93% và 4,14% về kim ngạch. UAE và Canađa là hai thị trường cuối cùng trong tốp 10 thị trường xuất khẩu cá tra, basa lớn nhất Việt Nam. UAE chiếm 2,39% về lượng Dự báo năm 2008, xuất khẩu cá tra, basa sẽ có mặt trên 100 quốc gia trên thế giới. (Thương mại) Xuất khẩu cá tra, ba sa năm 2008: Phấn đấu đạt 1,2 tỷ USD Chiều 14-2, trao đổi với phóng viên Báo SGGP, ông Ngô Phước Hậu, Chủ tịch Ủy ban cá nước ngọt VN cho biết: Trong năm 2008, phấn đấu xuất khẩu cá tra, ba sa đạt kim ngạch khoảng 1,2 tỷ USD, sản lượng 1,2 triệu tấn, tăng 20% so năm 2007. Thị trường xuất khẩu cá tra, ba sa đang thuận lợi, giá xuất có chiều hướng tăng. Dự kiến, ngày 18-2 tới, các doanh nghiệp từ Nga sẽ sang Việt Nam kiểm tra thêm một số nhà máy thủy sản để nhập khẩu vào thị trường Nga. Theo ông Hậu, vấn đề lo ngại hiện nay là tình trạng xây dựng nhà máy mới tràn lan sẽ dẫn đến mất cân đối, dễ xảy ra cạnh tranh cục bộ ảnh hưởng nghề nuôi và xuất khẩu cá tra, ba sa.
  17. Xuất khẩu cá tra năm 2009 sẽ chỉ còn 1 tỉ đô la Mỹ Tình hình nuôi cá tra năm nay khá bi quan khi có tới 50% diện tích ao nuôi không thả cá và dự báo 6 tháng đầu năm sẽ thiếu nguyên liệu trầm trọng. Sáng 16-1, trong hội nghị “Xuất khẩu thủy sản 2009: thách thức và giải pháp”, Chủ tịch Ủy ban cá nước ngọt Ngô Phước Hậu nhận định rằng xuất khẩu cá tra năm nay chỉ còn 1 tỉ đô la Mỹ so với 1,48 tỉ đô la trong năm 2008. Trong năm ngoái, xuất khẩu cá tra đạt 657.000 tấn với kim ngạch 1,48 tỉ đô la Mỹ, tăng 69 % về sản lượng và 51 % về giá trị so với năm 2007 và chiếm 32,1 % trong tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản, gần tương đương với tôm sú. Tuy nhiên, trong dự báo của mình, ông Hậu cho biết tình hình nuôi cá tra năm nay khá bi quan khi có tới 50% diện tích ao nuôi không thả cá và dự báo 6 tháng đầu năm nay sẽ thiếu nguyên liệu trầm trọng, kéo theo thừa công suất quá nhiều ở các nhà máy. Hiện cả nước có 100 nhà máy chế biến cá có công suất chế biến 1,5 triệu tấn sản phẩm mỗi năm và có khả năng năm nay chỉ sử dụng được 30%. ĐBSCL: Phát triển liên kết giữa người nuôi với các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu cá tra Gần đây, giá cá tra nguyên liệu ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đã giảm nhẹ từ 300 đồng đến 500 đồng/kg so với thời điểm đầu tháng 9 và hiện nay giá cá tra loại 1 chỉ còn khoảng 16.800 đồng/kg, thấp hơn giá thành ( giá thành khoảng 17.000
  18. đồng/kg), người nuôi cá vẫn tiếp tục bị lỗ. Ngoài ra, theo đánh giá của Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP) luợng cá tra nguyên liệu của ĐBSCL chỉ còn khoảng 300.000-400.000 tấn, trong khi nhu cầu tiêu thụ cá tra từ nay đến cuối năm đang tăng cao, do vậy nguy cơ thiếu cá tra nguyên liệu cho chế biến. Trước tình hình trên, các tỉnh ĐBSCL đang phát triển các hình thức liên kết giữa người nuôi với các doanh nghiệp chế biến cá tra và tìm các biện pháp hạn chế tình trạng nuôi cá tự phát như thời gian qua và phát triển nuôi cá tra theo quy hoạch, kế hoạch. Phong trào nuôi cá trá ở các tỉnh ĐBSCL phát triển mạnh trong những năm gần đây, năm 2005 diện tích nuôi cá tra là 4900ha nhưng đã tăng lên trên 6000ha những tháng đầu năm 2008 và đưa sản lượng cá từ 700.000-800.000 tấn đã tăng lên khoảng 1,3 đến 1,4 triệu tấn trong năm 2008. Phong trào nuôi cá tra chủ yếu tập trung ở các tỉnh An Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ, Tiền Giang...Theo ông Phan Văn Danh, Chủ tịch Hiệp hội nghề nuôi và chế biến thủy sản An Giang: Một nguyên nhân khác làm cho giá cá tra năm nay giảm mạnh là do nhiều nhà máy giảm công suất chế biến để dễ đàm phán nâng giá xuất khẩu (hiện nay giá cá tra xuất khẩu vào thị trường EU khoảng 3,2 USD/ kg). Vì vậy, ước tính hiện nay ở ĐBSCL có khoảng 30% số hộ nuôi cá tra phải ngưng nuôi, treo hầm vì bị lỗ nặng, kiệt sức dẫn đến nguồn nguyên liệu cá tra cho chế biến sẽ thiếu hụt trong những tháng tới là chắc chắn. Trước tình hình trên, để đảm bảo vụ nuôi cá tra năm 2009 thắng lợi, nhiều địa phương nuôi cá tra đang đề ra và nhân rộng nhiều mô hình mới trong việc liên kết người nuôi cá tra với các doanh nghiệp chế biến để đảm bảo cho phong trào nuôi cá tra phát triển theo quy hoạch, kế hoạch, tức là phát triển theo hướng bền vững. Điển hình như ở thành phố Cần Thơ có mô hình Hợp tác xã Thới An ( huyện Ô Môn) đầu vụ 2008 đã hợp đồng với Công ty chế biến thủy sản Hùng Vương bao tiêu 12.600 tấn cá tra nguyên liệu trong vụ nuôi năm nay với phương thức công ty cung ứng cho HTX 70% lượng thức ăn cho cá, HTX lo 30% lượng còn lại và hai bên thỏa thuận giá mua bán ngay từ đầu vụ, khi giá cả thị trường có biến động thì HTX vẫn bảo đảm người nuôi cá có lời và Công ty cũng được lợi vì chủ động được nguồn nguyên liệu.... Bên cạnh đó, Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP) cũng kêu gọi các doanh nghiệp chế biến thủy sản chủ động xây dựng vùng nguyên liệu cho từng nhà máy và liên kết với người nuôi cá ở các địa phương. VASEP cũng yêu cầu các địa phương, các doanh nghiệp chỉ nên cân đối việc nuôi và chế biến sản luợng cá tra năm 2009 bằng sản lượng của năm 2008 để tránh tình trạng cung vuợt cầu như vụ cá tra năm 2008 gây thiệt hại cho người nuôi cá, các doanh nghiệp chế biến và nền kinh tế./. Nuôi cá, chưa hợp đồng thì... “treo ao” Năm 2008 xuất khẩu cá ba sa thu được 1,4 tỉ USD. Nhưng do bị thua lỗ nên hiện khoảng 40% diện tích ao nuôi đang bị “treo” khiến doanh nghiệp (DN) chế biến hoạt động cầm chừng do thiếu nguyên liệu. Hội thảo “Bàn biện pháp phát triển sản xuất và tiêu thụ cá tra, tôm nước lợ vùng ĐBSCL” vừa được Bộ NN&PTNT tổ chức tại TP Cần Thơ nhằm tìm giải pháp tháo gỡ những khó khăn trên.
  19. Giảm giá thành để bán nhiều hơn Theo kế hoạch phát triển năm 2009,  diện tích nuôi cá tra tại ĐBSCL là  6.000ha với sản lượng 1,2 triệu tấn.  “Treo ao” kéo theo “treo máy” Mặc dù có nhiều dự báo khó khăn  nhưng theo ông Nguyễn Hữu Dũng ­  Theo Cục Nuôi trồng thủy sản (Bộ NN&PTNT), năm chủ tịch VASEP, tình hình năm 2009  2008 diện tích nuôi cá tra tại khu vực ĐBSCL khoảng sẽ khả quan hơn.  6.000ha với sản lượng trên 1,1 triệu tấn. Giá thành bình quân mỗi ký cá 14.500-17.000 đồng trong khi giá bán chỉ Khó khăn về kinh tế sẽ khiến người  từ 12.800 - 14.500 đồng/kg khiến người nuôi lỗ nặng. dân các nước thắt chặt chi tiêu,  Cá biệt tại thời điểm tháng 6-2008, lượng cá tồn trong nhưng sản phẩm cá tra VN với lợi thế  các ao lên đến 300.000 tấn do không có người mua. giá cả vừa phải sẽ thích hợp với sự  Mặc dù sản lượng xuất khẩu tăng gần 50% so với năm lựa chọn của nhiều người. Theo ông  2007 nhưng giá chỉ còn 2,26 USD/kg so với 2,53 Dũng, để khai thác thêm thị trường  USD/kg của năm 2007 khiến diện tích ao nuôi giảm gần cần phải giảm giá thành sản xuất, cụ  700ha chỉ trong vòng sáu tháng cuối năm 2008. thể nên cho nhập khẩu nguyên liệu  Còn hiện nay, theo thống kê, tại các địa phương đã có và thức ăn từ nước ngoài có giá thấp  khoảng 40% diện tích ao nuôi bị “treo” do nhiều người để hạ giá thành. bị phá sản từ vụ trước hoặc chưa dám thả cá vì đầu ra cá ba sa chưa ổn định. Ông Lê Vĩnh Tân - phó chủ tịch UBND tỉnh Đồng Tháp - cho biết năm 2008 diện tích nuôi cá tra của tỉnh trên 1.400ha, nhưng năm 2009 quy hoạch lại còn 950ha. Chỉ 60% diện tích trong số này người dân tiếp tục nuôi, số còn lại vẫn bỏ trống. Theo ông Huỳnh Thế Năng - phó chủ tịch UBND tỉnh An Giang - khi nào DN chưa ký hợp đồng nhằm đảm bảo quyền lợi thì người dân chưa vội trở lại nuôi cá. Ông Năng cho rằng khó khăn hiện nay cũng là cơ hội để siết lại công tác quy hoạch, quản lý, tổ chức sản xuất để nâng cao chất lượng và giá trị. Liên kết: có nhưng còn lỏng lẻo Cũng liên quan đến giảm giá thành, vấn đề liên kết giữa DN và người nuôi cũng được xới lên. Vấn đề này không mới nhưng khi triển khai vẫn cứ trục trặc. Ông Nguyễn Thiện Pháp ở Hòa Lạc, Phú Tân (An Giang), nuôi bảy ao với tổng diện tích gần 10ha, mỗi năm đạt sản lượng cả ngàn tấn cá tra. Bao năm qua ông tự vay vốn ngân hàng, tự sản xuất con giống, chế biến thức ăn viên để nuôi cá, nhưng đến kỳ thu hoạch thì tự chạy tìm nơi tiêu thụ. Sau đợt khủng hoảng đầu ra làm thua lỗ nặng nề hồi cuối năm ngoái, ông đành từ giã nghề đã chục năm gắn bó. “Nuôi cá ngày càng khó, bán được cá càng khó hơn. Thà nghỉ cho xong!” - ông than. Năm 2008 Đồng Tháp có sản lượng cá tra đạt 285.000 tấn, nhưng chỉ 30% sản lượng có hợp đồng bao tiêu theo hình thức ứng một phần vốn cho người nuôi vào cuối đợt thu hoạch. Tại Vĩnh Long mới có Công ty Hùng Vương đứng ra hợp đồng đầu tư tiêu thụ 10.000 tấn cá của ba HTX ở huyện Mang Thít, trong khi sản lượng toàn tỉnh trên 110.000 tấn... Theo Cục Kinh tế hợp tác & phát triển nông thôn (Bộ NN&PTNT), việc liên kết theo hợp đồng đầu tư và bao tiêu sản phẩm cá tra, cá ba sa giữa sản xuất (người nuôi) và chế biến xuất khẩu (DN) còn hạn chế, khâu thực hiện còn nhiều khó khăn. Không ít DN chưa thực hiện đúng cam kết, đơn phương phá vỡ hợp đồng, thậm chí ép giá thu mua. Cũng có người nuôi hủy hợp đồng, tìm nơi khác bán cá giá cao hơn. Xắn tay cùng liên kết Tuy nhiên, cũng có những mô hình liên kết ban đầu đã đem lại hiệu quả. Tại An Giang, từ năm 2005 Công ty Agifish chủ động thành lập Liên hiệp sản xuất cá sạch APPU với việc các hộ nuôi cam kết nuôi cá sạch cung cấp cho công ty thông qua hợp đồng. Từ 19 hộ ban đầu tới nay có 32 hộ tham gia, liên hiệp có sản lượng đáp ứng 60-
  20. 70% nhu cầu chế biến xuất khẩu của công ty. Ông Ngô Phước Hậu, tổng giám đốc Công ty Agifish, cho biết tới đây sẽ tiếp tục mở rộng mô hình này. Hiện một số DN cũng tính tới việc liên kết cùng nông dân để đảm bảo nguồn nguyên liệu ổn định. Ông Trương Vĩnh Thành, tổng giám đốc Công ty Đầu tư & phát triển đa quốc gia (Đồng Tháp), cho biết đơn vị đang đầu tư cho nông dân An Giang, Đồng Tháp nuôi gia công. Còn ông Phan Văn Tuấn, trưởng phòng kinh doanh Công ty TNHH An Xuyên, cho biết công ty sẽ bắt tay với nhà máy sản xuất thức ăn. Nông dân ký hợp đồng tiêu thụ với công ty sẽ được nhà máy cung cấp thức ăn. Khi thu hoạch bán cá xong, công ty sẽ đứng ra thu hồi tiền cho nhà máy... “Chỉ có giải pháp bắt tay với nông dân mới chủ động và kiểm soát được nguồn nguyên liệu” - ông Tuấn nói. Bốn nhóm giải pháp cho cá tra Theo Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Vũ Văn Tám, với cá tra, cá ba sa, bộ sẽ đưa ra bốn nhóm giải pháp. Thứ nhất,  phải rà soát các trang trại, hộ nuôi và gỡ khó, đặc biệt là đối với những hộ sản xuất nhỏ không còn khả năng  vay vốn. Những hộ này khó hưởng chính sách hỗ trợ lãi suất vì họ đã vay và thế chấp tài sản ở ngân hàng. Vì  vậy phải điều chỉnh ngay trong quý 1­2009 để chính sách đến từng hộ nuôi.  Thứ hai, hạ giá thành sản xuất, tăng cường chất lượng, sớm hình thành các trung tâm giống, đưa thức ăn thành  phẩm vào danh mục để kiểm soát giá, chất lượng. Nếu vẫn chưa kéo được giá thức ăn xuống thì sẽ cho nhập  mặt hàng này vào. Thứ ba, giải quyết tốt mối quan hệ người nuôi và DN theo hướng có những văn bản ràng  buộc DN trong vấn đề gắn kết với người nuôi. Thứ tư, tìm thị trường, bên cạnh đó phải xây dựng thương hiệu  quốc gia cho cá ba sa. Nuôi cá tra công nghiệp: Không lo ngoại chỉ ngại nội Trên các phương tiện thông tin gần đây đưa tin giá cá tra nguyên liệu đang giảm sút và dự báo giá cá có thể ở mức rất thấp so với năm 2006. Thế nhưng, theo nhận định của các doanh nghiệp xuất khẩu cá tra, năm 2007 lại là năm thuận lợi nhất cho xuất khẩu; người nuôi chỉ nên lo về qui trình sản xuất. Không lo đầu ra Đến đầu tháng 5, kim ngạch xuất khẩu thủy sản toàn tỉnh đạt 32,7 triệu USD, tăng 33% so với cùng kỳ năm 2006, tập trung chủ yếu ở cá tra xuất khẩu. Chính những thuận lợi này, hầu như các doanh nghiệp chế biến thủy sản trên địa bàn Tiền Giang đều có xu hướng chuyển sang sản xuất, chế biến xuất khẩu cá tra. Khi đặt vấn đề về thị trường tiêu thụ, hầu hết các doanh nghiệp đều cho rằng, hoạt động xuất khẩu vẫn diễn ra bình thường, chưa có bất kỳ dấu hiệu trở ngại lớn nào đối với hoạt động xuất khẩu các doanh nghiệp. Việc giá cá tra nguyên liệu giảm gần đây vẫn nằm trong biên độ giá bình thường, hiện dao động từ 14.500 - 15.000 đồng/kg. Với giá này người nuôi vẫn còn có lãi. Ông Nguyễn Văn Đạo, Giám đốc Công ty TNHH chế biến thủy sản Gò Đàng nhận định rằng: Giá cá tra nguyên liệu mà công ty thu mua ngày 12/5/2007 vẫn còn ở mức 15.000 đồng/kg. Giá cá giảm chút ít do đã vào mùa thu hoạch, sản lượng cá cả khu vực còn tương đối lớn. Vì vậy, khả năng thiếu hụt nguồn nguyên liệu là khó xảy ra. Hiện công ty đang đẩy nhanh công suất hoạt động, với khoảng 60 tấn nguyên liệu/ngày; kim ngạch xuất khẩu đến cuối tháng 4 là 10 triệu USD trên chỉ tiêu 30 triệu USD của cả năm 2007. Về mặt thị trường tiêu thụ, theo ông Đạo, là vẫn bình thường, chỉ có thị trường Nga có phần chựng lại do theo thông tin từ chính phủ Nga là tăng

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản