TÌNH HÌNH TÔN GIÁO VÀ CHÍNH TRỊ TỪ HIỆP ƯỚC 1862 ĐẾN CUỘC TRANH ĐẤU CỦA VĂN THÂN 1868

Chia sẻ: Thanh Son | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:9

0
286
lượt xem
93
download

TÌNH HÌNH TÔN GIÁO VÀ CHÍNH TRỊ TỪ HIỆP ƯỚC 1862 ĐẾN CUỘC TRANH ĐẤU CỦA VĂN THÂN 1868

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Trong hiệp ước mà Tự Đức ký kết với Pháp, khoản hai liên quan đến việc tự do tín ngưỡng, nhưng Tự Đức không bao giờ đề cập đến khoản đó. Nhân dịp ngày sinh nhật, Tự Đức tuyên bố ân xá cho các tù nhân, trong đó có các người Công giáo.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: TÌNH HÌNH TÔN GIÁO VÀ CHÍNH TRỊ TỪ HIỆP ƯỚC 1862 ĐẾN CUỘC TRANH ĐẤU CỦA VĂN THÂN 1868

  1. PHẦN THỨ III BÁCH HẠI DƯỚI PHONG TRÀO VĂN THÂN VÀ CẦN VƯƠNG (1862-1888) CHƯƠNG HAI MƯƠI BỐN TÌNH HÌNH TÔNG GIÁO VÀ CHÍNH TRỊ TỪ HIỆP ƯỚC 1862 ĐẾN CUỘC TRANH ĐẤU CỦA VĂN THÂN 1868 I. TỰ ĐỨC HẠ CHỈ ÂN XÁ (1862) Trong hiệp ước mà Tự Đức ký kết với Pháp, khoản hai liên quan đến việc tự do tín ngưỡng, nhưng Tự Đức không bao giờ đề cập đến khoản đó. Nhân dịp ngày sinh nhật, Tự Đức tuyên bố ân xá cho các tù nhân, trong đó có các người Công giáo. “Đã từ lâu, một lớp ngu dân theo tả đạo, mặc dù trẫm đã ban lời khuyên dạy nhưng bọn côn đồ vẫn chưa ra khỏi giấc mơ. Lúc chúng quá khóa ngoài miệâng, chúng chỉ làm một việc dối trá, trẫm đã ra lệnh cho các trấn thủ các tỉnh bắt giam các chức dịch cứng đầu. Trẫm cũng đã truyền phân tháp ngay các bọn Gia Tô trong các làng lương dân để chúng có dịp cải tà quy chính. Vì chúng đã cải quá một phần nào nên trẫm thương đến bọn chúng. Do đó, và cũng nhân lễ sinh nhật của trẫm, trẫm truyền lệnh dù ở kinh đô hay ở các tỉnh, phải phóng thích cho các ông già, phụ nữ và trẻ con, mặc dầu những người này đã bước hay chưa bước qua thập tự giá. Cũng phải phóng thích tất cả những chức dịch Công giáo đã thành thực xuất giáo, nhưng nếu chúng thuộc về những làng toàn tòng, mặc dù chúng bỏ đạo, chúng phải ở nơi hiện chúng phải giam giữ. Phải trả lại cho người Gia Tô nhà cửa, ruộng nương. Chúng được miễn thuế thân.”1 Những chức dịch chưa xuất giáo và những thanh niên chưa chịu bỏ đạo, còn phải giam giữ cho đến lúc chúng chịu quá khóa.”2 Nhưng nhờ sự can thiệp của cha Đặng Đức Tuấn, Tự Đức lại “tha tội cho những dân xấu chưa chịu bỏ đạo, những người đầu sỏ trai tráng đều cho tha hết...”3 Vì lệnh bách đạo năm trước ở Nam Định rất nghiêm ngặt, nên đã có hơn 4.800 người bị chém. Nguyễn Đình Tân lo sợ dân đạo giữ lòng thù oán theo giặc Pháp, nên xin cho Nam Định được tiếp tục giam giữ tù nhân Công giáo như cũ nhưng Tự Đức không chấp thuận.4 Có người như Phạm Suy, viên cai tổng Tự Tân, Ninh Bình giam ngầm một vị linh mục, rồi bí mật thủ tiêu cha ấy.5 Lúc bổn đạo vừa về tới làng, lập tức có sắc dụ khác đến quấy rối họ, không để yên. Sắc dụ thứ hai dưới đây ra lệnh cho các quan cứ hai năm buộc giáo hữu đến tòa để khuyên bảo họ xuất giáo. 1 Dương Kinh Quốc, Việt Nam (Hà Nội, 1981), Tập I, trg 49. 2 Khoản này cũng chẳng nơi nào giữ, làng nào cũng lấy làm mệt nhọc lúc phải canh giữ người gíáo hữu, nên phóng thích tất cả các người này. 3 Lâm Giang, Đặng Đức Tuấn, Minh Đạo Bình Tây Sách (Sài Gòn, 1970), trg 227. 4 ĐNTL - ĐIVK: CBTTĐ, Tập 29, trg 318. 5 Ibid, Tập 30, trg 29
  2. “Mặc dù ta cho phép dân theo đạo Gia Tô nhưng như thế không phải là ta không có quyền khuyên dân từ bỏ tà đạo để theo những lề lối nước nhà.” Ai cũng hiểu thế nào là lời khuyên bảo của Tự Đức. Khuyên nhưng không nghe là phải tù, mà muốn khỏi ngồi tù thì phải dùng tiền để hối lộ quan trên. Nhiều giáo hữu trước kia đã chối đạo dùng dịp này để xưng đạo công khai. Nhận thấy không đem lại kết quả nào, Tự Đức thay đổi chiến lược, ra một sắc dụ cấm ngặt người không Công giáo theo đạo. Chỉ có những cựu giáo hữu và những giáo hữu đạo dòng mới được phép giữ đạo. Những ai đã xuất giáo được liệt kê thành những người không Công giáo, và như thế, theo sắc dụ này không có quyền giữ đạo. Những giáo hữu nào trong thời kỳ phân tháp đã chạy trốn, vì thế không có khắc chữ tả đạo, được liệt kê như những người không Công giáo và họ không được phép giữ đạo. Các cơ quan được lệnh dùng vũ lực ngăn cản hai hạng người này không được giữ đạo Công giáo. Còn đối với những người Công giáo đạo gốc được tự do hành đạo, Tựỉ Đức cấm họ không được đọc kinh lớn tiếng, không được hội họp quá 100 người trong nhà thờ nếu không có giấy phép của các quan. Các ông cai tổng và lý trưởng được lệnh đến dự các lễ nghi Công giáo và làm báo cáo cho thượng cấp. Người Công giáo trong thời kỳ cấm đạo đã trở nên nghèo túng khổ sở, và bây giờ Tựỉ Đức cố gắng tìm mọi biện pháp để bắt họ tiếp tục sống trong tình cảnh nghèo khổ cơ cực. Vì vậy, người Công giáo không được lãnh một chức vụ nào trong làng, trong tỉnh, trong nước. Cũng theo sắc dụ đó, tất cả những thanh niên trên 20 tuổi phải khai tên nhập ngũ hoặc đi lao công. Theo luật lệ, mỗi làng chỉ ghi một số thanh niên, và trong số những người đã ghi tên sẽ có một số được tuyển mộ làm hai công việc kể trên. Những thanh niên còn lại sẽ làm việc đồng áng tại làng. Nhưng vì chủ mưu phá tuyệt các làng Công giáo, vua ra lệnh phải khai tên tất cả thanh niên Công giáo trên 20 tuổi và phải tuyển mộ tất cả những người ấy.6 Đó là biện pháp Tự Đức đùng để tôn trọng tự do tín ngưỡng theo như hiệp ước 1862 ký với Espanha và Pháp. Sau cùng Tự Đức cũng chiếu cố đến số phận các thừa sai. Theo sắc dụ của Tự Đức, các thừa sai chỉ được cư ngụ tại những nơi do ông trấn thủ định sẵn, không có quyền vắng mặt trên 5 ngày, và muốn đi đâu phải có giấy thông hành của quan. Chỉ những ai khắc chữ tả đạo trên má mới được vào nhà tiếp chuyện với thừa sai. Các thừa sai không được tụ họp 100 bổn đạo một lần, cấm ngặt làm việc tông giáo ở ngoài nơi chỉ định và cấm giảng đạo cho những người không Công giáo. Theo như luận điệu triều đình Việt Nam thời ấy, tất cả những biện pháp trên là để bảo tồn mạng sống của các vị thừa sai.7 Triều đình Việt Nam phải chịu trách nhiệm về sinh mạng của các thừa sai trước mặt chính phủ Pháp và Espanha, nên triều đình không dám để cho các thừa sai lưu thông trong nước. Muốn che chở các ông, các quan cần phải luôn theo dõi, nhưng dù vậy ai cũng hiểu là chính phủ Việt Nam muốn ngăn cản các thừa sai làm phận sự truyền giáo nơi dân chúng. Cuối năm 1862, lúc đã dẹp được nội chiến ngoài Bắc, Tự Đức muốn sát hại người Công giáo một lần nữa. Các quan đã tuyên bố rằng: ”Một lúc mà lấy được Gia Định rồi, họ sẽ thẳng tay giết cho tuyệt cả loài Gia Tô.” 6 Nguyễn Văn Hội, Lịch Sử Giáo Phận Huế (Huế, 1993), trg 264-274. - BAVH, 1918, “Le Traité de 1862.” 7 Thời nay Việt Cộng cũng đã dùng phương pháp “bảo vệ an ninh này” để bắt bớ và giám sát các vị lãnh đạo tôn giáo.
  3. II. TÌNH HÌNH TÔNG GIÁO Ở BẮC KỲ Hai thừa sai Eugène Charbonnier và JB. Mathevon bị bắt ở Cửa Bạng giữa năm 1861, và bị dẫn đến Thanh Hoá. Các ngài bị tra tấn dã man và bị giam đói. Thừa sai Mathevon đã dọn mình chết, trối các mảnh áo của ông lại cho thừa sai Charbonnier và xưng tội lớn tiếng vì hai cũi cách xa nhau. Cả hai phải giải vào Huế tháng 6-1862. Khi hai ông đến Huế, Tự Đức truyền tháo gông và phát cho 7 chiếc áo mới. Đồng thời, hai thừa sai Desvaux và Croc cũng đến Huế để yêu cầu Tự Đức cho về giáo phận giảng đạo đúng theo trí ý của hòa ước 1862. Nhờ dịp này Tự Đức gởi thừa sai Charbonnier và Mathevon vào Gia Định trả cho chính phủ Pháp. Sau kỳ cấm đạo, giáo phận Tây Đàng Ngoài chỉ còn 36 linh mục Việt Nam, và ba thừa sai ngoại quốc là Giám mục Jeantet, Giám mục Theurel và thừa sai Saiget. Giám mục Jeantet lập chủng viện tại Kẻ Chàm và tòa giám mục tại Kẻ Sở. Giáo phận Đông gồm các tỉnh Hải Phòng, Hải Dương, Thái Bình, Bắc Ninh và Lạng Sơn8 dưới quyền quản trị của Giám mục Alcazar Hy. Ngài truyền chức giám mục cho thừa sai Fernandez Nghĩa trong ngày lễ Phục Sinh năm 1864 với sự hiện diện của khoảng 20.000 người.9 Giáo phận Trung Đàng Ngoài gồm các tỉnh Nam Định và Hưng Yên phải xôn xao lâu lắm vì các quan còn bắt bớ bổn đạo nhiều cách. Từ lúc Giám mục Ochoa Vinh tử đạo, giáo phận này chẳng có giám mục. Mãi đến 1865 Toà Thánh mới ban sắc dụ truyền chức Giám mục cho thừa sai Cezon. Giáo phận Nam Đàng Ngoài gọi là giáo phận Vinh, gồm các tỉnh Nghệ An, Hà Tỉnh và Bắc Bố Chính và Quảng Bình.10 Giáo phận này do Giám mục Gauthier cai quản. Quan vùng này tuy tha bổn đạo theo hiệp ước 1862 nhưng lại không cho họ liên lạc với giám mục, và ngài luôn luôn có lính canh giữ. Có một lần ngài lên thuyền lãnh mấy hòm sách và khi về đến nhà, ngài bị phạt 50 roi vì không có giấy phép rời nơi cư ngụ. Sự thật thì lúc xin giấy phép, các quan không cấp cho. Vào năm 1865 có bệnh dịch lan tràn, cộng thêm đại hạn mất mùa khiến nhiều người ăn cám, rễ cây, lá cỏ. Nhiều người bị chết đói. Năm 1866, Tự Đức gởi giám mục Gauthier, linh mục Nguyễn Hoằng, Nguyễn Trường Tộ và quan thượng Nguyễn Tăng Doãn qua Pháp11 để lo vận động việc mở một trường đại học kỹ thuật tại kinh đô Huế.12 III. TÌNH HÌNH TÔNG GIÁO Ở TRUNG KỲ 1. Giáo Phận Huế Các giáo phận miền Trung cũng gặp nạn đói và dịch tả. Giám mục Sohier cai quản giáo phận Huế, xưa nay trốn tránh, nghe tin đại tá Palanca và đô đốc Bonard đến Huế liền gởi thư báo cho họ biết sự hiện diện của mình tại Huế. Trước đó trong thời kỳ bách đạo, các quan đã quả quyết nhiều lần với Tự Đức rằng Giám mục Sohier đã chết. Thật là một sự ngạc nhiên tột độ khi 8 T.T.Đ.M, , trg 779, 2-1951. Giáo phận Trung Đàng Ngoài chỉ gồm có hai tỉnh Nam Định và Hưng Yên. Xem, - Ravier, Sử Ký Hội Thánh (Hà Nội, 1895), Tập III, trg 535. 9 Bùi Đức Sinh, Dòng Đa Minh Trên Đất Việt (TPHCM, 1995), Tập II, trg 17. 10 Ravier, op. cit., trg 535. 11 S.I., trg 454, 1936. - Dương Kinh Quốc, op. cit., Tập I, trg 57 và tiếp theo. - Cao Vĩnh Phan, Lịch Sử Giáo Phận Vinh (San Jose, 1996), trg 399-403. 12 Ravier, op. cit., trg 569. - Trương Bá Cần, Nguyễn Trường Tộ (TPHCM, 1988), trg 44. Bộ Truyền giáo trao 20.000 francs để giúp trường này.
  4. Giám mục Sohier xuất hiện bằng xương thịt trước mắt triều đình. Họ tiếc điên đầu vì đã mất một miếng mồi quá ngon. Bonard và Palanca tiếp đón Giám mục Sohier rất long trọng. Hai ông cùng các sĩ quan tùy viên đều đến đáp lễ tại Tòa Giám mục13 làm cho triều đình Việt Nam hết sức bỡ ngỡ. Lúc hai vị toàn quyền Pháp-Espanha trở về Sài Gòn, Tự Đức nổi cơn lôi đình vì các quan đã phỉnh dối làm ông tin Giám mục Sohier đã mất. Tự Đức cất chức ông tri huyện đã chểnh mảng không chịu cố gắng săn bắt giám mục. Vì giám mục đã được hai chính phủ Espanha và Pháp nhìn nhận một cách công khai, ngài được tự do đi lại và từ vua đến quan cũng phải công nhận sự hiện diện của ngài ở kinh đô Huế. Muốn theo dõi hành động của ngài, Tự Đức gởi 5 hoặc 6 cậu ấm, con các quan đến dinh giám mục học tiếng Pháp, nhưng Giám mục Sohier chẳng lo sợ gì. Ngài đi thăm tất cả các họ đạo tại kinh thành, và nơi đâu ngài cũng cử hành những thánh lễ long trọng oai nghiêm. Lương giáo đến dự những lễ nghi đông đảo như ngày hội. Thì ra Giáo Hội mà Tự Đức muốn tiêu diệt lại sinh sống mạnh mẽ ngay tại kinh đô Huế. 2. Giáo Phận Qui Nhơn Giám mục Cuénot mất từ năm 1861, và mãi đến năm 1865 giáo phận Qui Nhơn mới có Giám mục Charbonnier đến thay thế. Ngài trước kia đã làm cha chính giáo phận Tây Đàng Ngoài nhiều năm. Hôm 14-7-1865, một chiếc tàu thủy đưa ngài đến Qui Nhơn giữa tiếng vui mừng hân hoan của đồng bào Công giáo. Họ đón rước vị giám mục từ trời gởi đến. Ngài mặc phẩm phục tiến tới các khải hoàn môn, không khỏi cảm động vì nhận thấy những người đang đón tiếp cách nồng nhiệt như thế là những chiến sĩ của đức tin. Họ hiên ngang, hãnh diện vì trên má họ còn khắc hai chữ “tả đạo.” Chiếu theo sắc dụ phân tháp 1860, từng nghìn trẻ con đã gia nhập vào những gia đình bên lương. Giám mục phải bỏ ra một số tiền rất lớn để chuộc lại những trẻ này. Giám mục Charbonnier còn phải lo nghĩ đến việc xây cất nhà thờ, nhà ở cho các cha và các chủng sinh. Ngài cần cù và nhiệt thành cáng đáng công việc lớn lao của một giáo phận bị tàn phá hoàn toàn. Tuy bổn đạo mừng rỡ chào đón ngài về giáo phận, nhưng nạn dịch tả và hạn hán mất mùa vẫn còn hoành hành. Đến nỗi mỗi bữa sáng lúc mở cửa Tòa giám mục có đến 3 hay 4 người đã nằm chết trước nhà. Các linh mục phải liên tiếp đi thăm bệnh nhân giữa lúc cơn dịch tả đang bành trướng. Lúc được bằng yên, nhà chung lại thiếu của, thiếu tiền, không sao giúp đỡ bổn đạo được. Các quan còn thực hiện nhiều gian kế để ngăn cản việc giảng đạo, nhưng các linh mục vẫn chịu khó làm việc, nên trong một thời gian vắn, các họ đạo lại trở nên thịnh vượng như trước. IV. TÌNH HÌNH CHÍNH TRỊ VÀ TÔNG GIÁO Ở NAM KỲ 1. De la Grandière Chiếm Ba Tỉnh Miền Tây Nam Kỳ Theo như hiệp ước 1862, mặc dù Pháp chiếm đóng Vĩnh Long, họ phải trả tỉnh ấy lại cho Việt Nam và không dự vào việc nội bộ trong vùng. Việt Nam có toàn quyền cai trị và kiểm soát. Sau khi bại trận tại Vĩnh Long, tướng tá và binh lính Việt Nam rút lui về những vùng ngoại ô và chuẩn bị phản công phục thù. Nổi bật trong đám tàn quân có Trương Định chỉ huy một số nghĩa quân chống lại Pháp. Nhận thấy tình thế căng thẳng và nguy hiểm có thể đưa đến những cuộc xung đột, Pháp yêu cầu Tự Đức chiêu hồi tất cả các lực lượng kháng chiến trong vùng. Với điều kiện ấy, Pháp mới trả lại Vĩnh Long cho Việt nam. Vì tình hình khó khăn nên 13 Nguyễn Văn Hội, op. cit., trg 276.
  5. triều đình bổ ông Phan Thanh Giản làm trấn thủ Vĩnh Long. Lúc đó, Đô đốc Bonard về Pháp, và De La Grandière đến cầm quyền binh bị và hành chánh thay thế. 2. Sứ Bộ Phan Thanh Giản qua Pháp Năm 1863 Phan Thanh Giản được lệnh dẫn đầu phái đoàn Việt Nam gồm có tả tham tri lại bộ Phạm Phú Thứ và án sát tỉnh Quảng Nam là Nguyễn Khắc Đản cùng với 53 tùy viên trong số có linh mục Nguyễn Hoằng14 và Pétrus Trương Vĩnh Ký15. Phái đoàn sang Pháp và Espanha để điều đình lấy lại ba tỉnh đã bị Pháp chiếm cứ.16 Mặc dù Pháp hoàng Napoléon tiếp rước phái đoàn rất long trọng, nhưng cuộc đàm phán thất bại. Trở về Việt Nam, Phan Thanh Giản được cử làm kinh lược ba tỉnh miền tây Nam kỳ. Lúc ở Pháp sang, De La Grandière đã có dã tâm chiếm nốt ba tỉnh miền Tây nên viện cớ rằng toàn vùng này là nơi hay xảy ra nhiều xung đột với quân Pháp. Ở Cao Mên một nhà sư, tên là Bu Cầm, tự xưng là con cháu Nậc Ông Chân nổi lên đánh vua Norodom. Súy phủ Pháp ở Sài Gòn, De La Grandière, vu cáo quan ta đã xúi giục và giúp đỡ bọn phiến loạn bên Cao Mên. Tháng 6-1867 De La Grandière đánh chiếm 3 tỉnh Vĩnh Long, Hà Tiên và An Giang. Phan Thanh Giản uống thuốc độc tự tử giữa sự thương tiếc của toàn dân. 14 S.I. Indochinese Priests Monthly, 1936, Lm. Nguyễn Hoằng sinh ở Hà Tĩnh năm 1839. Người được gởi đi học ở Pénang; năm 1876 được cử làm tham biện thương chính ở Hải Phòng và Hải Dương; năm 1885 lên chức hồng lô tự khanh kiêm chức tham biện Viện Cơ Mật; năm 1886 làm quan phụ tá đại thần. Cha mất năm 1909. Phạm Văn Sơn trong Quân Sử 3 ở trang 242 ghi rằng, “Pháp đã nhờ Lm. Hoằng (một tên gian ác có tiếng) là người thông thạo địa thế vùng Hà Tĩnh nghiên cứu và vẽ một bản đồ tình hình, đặc biệt là các đường xuyên sơn có thể dẫn tới Tổng Hành Dinh lưu động của vua Hàm Nghi và ông Thuyết để chỉ dẫn đường, cùng là cung cấp một số chỉ điểm người Công giáo cho Pháp.” Phạm Văn Sơn không đưa ra được bằng chứng cụ thể nào chứng minh lời vu cáo trên. 15 Trương Vĩnh Ký sinh năm 1837 tại Cái Mơn, Bến Tre, học ở trường Pénang và thông thạo nhiều thứ tiếng như Latinh, Hy lạp, Pháp, Anh, Tàu và Nhật. Xem, - Đào Văn Hội, Danh Nhân Nước Nhà (Sài Gòn, 1951), trg 126. 16 Lê Thành Khôi, Le Việt Nam Histoire and Civilisation (Paris, 1955), trg 369. - Trương Bá Cần, op. cit., trg 26.
  6. Hình 43: Cụ Phan Thanh Giản.
  7. V. TÌNH HÌNH TÔNG GIÁO Ở MIỀN NAM (1862-1868) Trước lúc Việt Pháp ký hiệp ước 1862, Giám mục Lefèbvre đã bắt đầu tổ chức công việc trong giáo phận. Năm 1860, ngài dời Tòa giám mục từ Xóm Chiếu về Sài Gòn. Ngài mời các nữ tu Thánh Phaolô đến tham gia công việc từ thiện ở Sài Gòn ngay từ năm 1860. Ngài chú ý đến việc lập chủng viện ở Sài Gòn, vận động cho các bà Dòng Carmel lập tu viện và đồng thời chấp thuận cho những sư huynh trường Thiện Giáo đến lo việc giáo dục tinh thần cho các nam học sinh. Giám mục Lefèbvre là một người có đức tin lạ lùng. Chính trong những lúc thời thế mờ tối nhất, ngài vẫn điềm nhiên và giao phó mọi sự trong tay Thiên Chúa. Tính tình ngài hiền lành nhưng cũng có lúc ngài phải xung giận đối với những kẻ lang sói. Một hôm hay tin một sĩ quan Pháp dùng vũ lực để cướp bắt một cô thiếu nữ công giáo ở họ Xóm Chiếu,17 lập tức giám mục đứng dậy và đi tìm con chiên bị sói tha đem về sau lúc đã giảng một bài nảy lửa cho viên sĩ quan. Trước kia ở Cung Quán hay ở Khám Đường, tại triều đình Huế hoặc bây giờ ở trước mặt các sĩ quan Pháp, ngài luôn giữ một thái độ điềm tỉnh. Bây giờ dưới sự bảo hộ của Pháp, ngài nhận thấy sự tồi bại đang xảy ra. Ngài nuối tiếc thời kỳ cấm đạo mà roi đòn, gươm giáo có thể nghiền nát thân thể, nhưng làm cho tâm hồn mạnh mẽ và trong sạch, nung đúc các thiếu nữ Việt Nam trở nên những anh hùng tử đạo. Còn giờ đây, một số trở thành những cô gái điếm núp dưới bóng cờ tam sắc của quân đội Pháp.18 Bốn năm hòa bình mà giám mục chung sống với các người đồng hương Pháp làm cho ngài già hơn 25 năm sống dưới thời kỳ cấm đạo. Bực mình và chán nản với những cảnh tưởng đang xảy ra trước mắt, ngài xin Tòa Thánh từ chức giám mục giáo phận năm 1864. Ngài trở về Pháp và Giám mục Jean Miche Mep. lên cầm quyền cai quản giáo phận Sài Gòn. 1. Các Nữ Tu Thánh Phaolô (1860) Theo lời mời của Giám mục Lefèbvre, các nữ tu thánh Phaolô ở Hongkong đến Sài Gòn vào tháng 4-1860. Giám mục giao cho các bà săn sóc các trẻ em mồ côi và con cái của các giáo hữu bị giết trong các thời kỳ cấm đạo. Các bà đặt trụ sở gần Tòa giám mục, nghĩa là gần chợ Sài Gòn bây giờ, khu đất ấy vào năm 1860 là một ao hồ rộng lớn, bẩn thỉu. Về sau đô đốc Bonard tặng một khu đất khác trong thành phố để các bà dễ tổ chức công việc từ thiện hơn. Các bà còn mở một bệnh viện bình dân tại Chợ Quán. Chính phủ Pháp viện trợ thuốc men và tiền bạc. Bệnh viện này lập nên có mục đích săn sóc cách riêng những người nghèo khổ. Bao lâu các bà còn trong bệnh viện thì bệnh viện vẫn được tổ chức một cách chu đáo vì lòng hy sinh của các bà đối với bệnh nhân khơi nguồn từ tình yêu của Chúa đối với nhân loại. Các bà luôn kính trọng sự tự do tín ngưỡng của bệnh nhân. Ích gì cho Giáo hội nếu những ngườụi gia nhập chỉ vì bó buộc. Muốn cướp bệnh viện, chính phủ thuộc địa bịa ra thác cớ các bà không tôn trọng tự do tín ngưỡng rồi dùng quyền lực đuổi các bà ra khỏi bệnh viện để nhường chỗ cho các nữ y tá.19 17 Louvet, La Cochinchine Religieuse (Paris, 1885), Tập II, trg 356. 18 Ibid, trg 357. 19 Bùi Đức Sinh, Giáo Hội Công Giáo Ở Việt Nam (Sài Gòn, 1974), Tập III, trg 673. Năm 1903 chính phủ Combes trục xuất các nữ tu điều dưỡng St. Paul ra khỏi các bệnh viện và các sư huynh Lasan ra khỏi các trường nhà nước tại Đông Dương.
  8. 2. Chủng Viện Sài Gòn (2) Trong 30 năm cấm đạo, các linh mục Việt Nam vẫn được huấn luyện tại Pénang. Nhưng bây giờ cơn bắt đạo đã qua, Giám mục Lefèbvre nghĩ đến việc xây cất chủng viện Sài Gòn và giao công việc ấy cho thừa sai Wibaux. Ban đầu chủng viện được đặt ở Thị Nghè, nhưng nơi đây gần ranh giới phân chia khu vực Việt- Pháp, nên lắm lúc gặp những chuyện không hay. Rất đáng tiếc đang lúc giáo phận cần linh mục, nhiều chủng sinh được bề trên cử đi làm thông ngôn hoặc hành chính cho quân đội Pháp. Vì được lương bổng cao, sau lúc mãn hạn nhiều chủng sinh không chịu trở về lại nhà trường. Giáo phận còn có một tiểu chủng viện khác ở Cái Nhum. 3. Các Nữ Tu Dòng Carmel (1861) Giám mục Lefèbvre đã có liên lạc với dòng Carmel Lisieux từ năm 1849, nhưng lúc ấy vì cơn bắt đạo đang diễn ra dữ dội, các bà không thể nào đến lập dòng tại Việt Nam. Mãi đến năm 1861, có 4 nữ tu lên đường tới Sài Gòn. Tại đây, các bà phải ở nhờ với các bà phước Thánh Phaolô. Ngoài những nỗi khó khăn về vật chất còn có những trở ngại lớn về tinh thần. Các bà ở một thế giới xa lạ đến, chưa bao giờ có kinh nghiệm về đời sống tông đồ ở xứ truyền giáo, làm sao các bà cò thể đào tạo các thiếu nữ Việt Nam theo lề luật và trí ý dòng Carmel. Hơn thế nữa, các bà không biết tiếng Việt, mà muốn học tiếng cần phải có sách tự điển. Nghiệt một nỗi sách và tự điển dạy tiếng Việt lại viết bằng tiếng Latinh, các bà làm sao hiểu được. Chỉ còn một lối thoát là nhờ các thừa sai dạy, nhưng các thừa sai vừa hiếm, vừa gánh vác rất nhiều công việc. Trong sáu tháng đầu mỗi lần muốn liên lạc với người Việt, các bà phải quơ tay dùng dấu hiệu, nhưng vẫn không làm sao hiểu cho hết ý được. Vì những khó khăn trên và vì thủy thổ không hạp, sau ba tháng, hai bà dòng Carmel xin hồi hương vào đầu năm 1862. Các bà thuộc về một dòng tu lo việc nguyện ngắm đọc kinh, lẽ dĩ nhiên là chính phủ Pháp không giúp họ một chút gì. Vào tháng 6- 1862, các bà cùng với 6 thiếu nữ Việt Nam dọn đến một khu nhà gần chủng viện. Ngày 4-10-1865, Giám mục Miche nhận lời khấn của nữ tu Carmel Việt Nam tiên khởi là Marie de Gonsague. Trong một thời gian ngắn, dòng Carmel ở Sài Gòn dần dà trở nên một tổ ấm, vang dội tiếng cầu kinh liên lỉ của những thiếu nữ Việt Nam sẵn sàng hy sinh cuộc đời xuân xanh để phụng sự Thiên Chúa.20 4. Các Sư Huynh Trường Thiện Giáo (1866) Nhờ sự vận động của Đô đốc De La Grandière và của Chasseloup-Laubat, bộ trưởng thuộc địa và hải quân, sư huynh tổng quyền Philippe phái 6 sư huynh đến Sài Gòn để tổ chức một hệ thống giáo dục. Các sư huynh đến Việt Nam ngày 6-1-1866, và vài hôm sau các vị nhận trường d’Adran do thừa sai Puginier21 sáng lập năm 1864. Các sư huynh hy sinh tận tụy với trách nhiệm bổn phận, lại có óc khôn ngoan lập ngay ở Việt Nam một tu viện để đào tạo các sư huynh Việt Nam. Năm 1867, các sư huynh mở trường ở Mỹ Tho và qua năm 1869 ở Vĩnh Long. Cứ mỗi kỳ thi, học sinh ở trường các sư huynh bao giờ cũng liệt vào hạng ưu tú nhất.22 Hồi ấy trường của các sư huynh được uy tín nhất ở Sài Gòn. Các gia đình Công gíáo hay không Công giáo hoàn toàn tin cậy vào sự giáo dục của các thầy, không những về trí thức mà còn về luân lý. Đàng khác, chính phủ thuộc địa nhận thấy lòng hy sinh về tinh thần lẫn vật chất 20 La Rèvérende Mère Philomène de l’Immaculée Conception et la fondation du Carmel de Saigon. Imprimerie des Orphelins apprentis d’Auteuil 40. Rue La Fontaine Paris, XVI 1936. 21 Về sau thừa sai Puginier sẽ được chọn làm Giám mục ở giáo phận Tây Đàng Ngoài. 22 Muốn biết đầy đủ và rõ ràng những kết quả của công việc giáo dục của các sư huynh, xem - Louvet, La Cochinchine Religieuse (Paris, 1885), Tập II, trg 367.
  9. của các sư huynh là một việc lợi lớn cho chính phủ thuộc địa, nên họ chẳng gây phiền phức gì cho các trường. 5. Sát Hại Công Giáo ở Thủ Dầu Một (1868) Đang lúc các thầy dòng và bà phước hy sinh dạy dỗ con em thì ở phía Bắc Sài Gòn, trong họ Thị Tính xảy ra một việc tàn ác. Vào khoảng tháng 7-1868, một thầy sư tên là Thác cầm đầu một toán binh đánh đồn Thị Tính, giết một hạ sĩ quan, 3 binh sĩ rồi chiếm đồn Thị Tính. Xong họ đi vây bắt tất cả anh em Công giáo ở chung quanh đồn và buộc họ muốn sống phải xuất giáo. Hai người tân tòng phải bắt, sau lúc đã buộc tay chân, họ xô hai người này vào trong lều đang cháy vì họ không chịu xuất giáo. Cả hai kêu to “Lạy Chúa!” Tất cả bọn vô đạo cười rầm lên và nói ”Vô ích, Chúa mày không cứu mày được đâu.” Ngày 16-7-1868 tất cả những người Công giáo được đem ra xử trước mặt ông thầy sư Thác. Những giáo hữu gan dạ này gồm 12 người đàn ông, 4 đàn bà và 8 trẻ con nhất định không bỏ đạo. Họ bị vất xuống giếng sau khi bị chém. Nhiều người chỉ bị thương nhẹ, tìm cách bò lên nhưng quân của thầy sư cầm giáo dí xuống. Chúng dã man đến nỗi lấy giáo chích một em nhỏ xuyên từ mông đến cuống họng đang lúc người mẹ còn bồng trên tay.23 Hình 44: Hình bìa Sử Ký Thánh Yghêrêgia, xuất bản năm 1890. 23 23 Ibid, trg 389.

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản