Tính tất yếu của thời kỳ quá độ lên CNXH

Chia sẻ: thao113

Câu 5 : Tính tất yếu , đặc điểm cơ bản của thờI kì quá độ lên CNXH.Các kiểu quá độ lên CNXH Trả lờI : *Tính tất yếu : -Là một tất yếu lịch sử : + CNXH là giai đoạn đầu của hình thái kinh tế _xã hộI cộng sản CN không thể tự phát ra đờI trong lòng xã hộI cũ . + Xây dựng XHCN phảI thông qua quá trình đấu tranh gian khổ của sử dụngà giành chính quyền nhà nước àgiai cấp CN và nhân dân lao động xây dựng xã hộI mớI từ hạ tầng cơà cảI tạo xã hộI...

Bạn đang xem 7 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: Tính tất yếu của thời kỳ quá độ lên CNXH

Tính tất yếu của thời kỳ quá độ lên
CNXH
I. Câu 5 : Tính tất yếu , đặc điểm cơ bản của thờI kì quá độ lên CNXH.Các kiểu
quá độ lên CNXH
Trả lờI :
*Tính tất yếu :
-Là một tất yếu lịch sử :
+ CNXH là giai đoạn đầu của hình thái kinh tế _xã hộI cộng sản CN không thể
tự phát ra đờI trong lòng xã hộI cũ .
+ Xây dựng XHCN phảI thông qua quá trình đấu tranh gian khổ của sử dụng◊
giành chính quyền nhà nước ◊giai cấp CN và nhân dân lao động xây dựng xã hộI
mớI từ hạ tầng cơ◊ cảI tạo xã hộI cũ ◊bộ máy nhà nước sở đến kiến trúc
thượng tầng .
V.I.Lenin viết: " Cần phảI có một thờI kì quá độ khá lâu dài từ CNTB lên CNXH
vì cảI tổ sản xuất là việc khó khăn , vì cần phỉa có thờI gian mớI thực hiện được
những thay đổI căn bản trong mọI lĩnh vực của cuộc sống , & phảI trảI qua một
cuộc đấu tranh quyết liệt , lâu dài mớí có thể thắng được sức mạnh to lớn của
những thói quen quản lí theo kiểu tiểu tư sản & tư sản .BởI vậy , Cmac có nói
đến cả một thờI kì chuyên chính vô sản , thờI kì quá độ từ CNTB lên CNXH.
* Đặc điểm cơ bản :
---- Đặc điểm nổi bật của thờI kì quá độ lên CNXH là những nhân tố của xã hộI
mớI & tàn tích của xã hộI cũ tồn tạI đan xen lẫn nhau , đấu tranh vớI nhau trên
mọI lĩnh vực của đờI sống chính trị , văn hoá , xã hộI tư tưởng , tập quán trong xã
hội.
-----Đặc điểm bản chất nhất của thờI kì quá độ là sự quá độ về chính trị, ở đó
nhà nước chuyên chính vô sản được thiết lập , củng cố & ngày càng thêm hoàn
thiện .
nền kinh tế nhiều thành phần◊-----Xét về kinh tế ngòài các thành phần kinh tế
XHCN còn có những thành phần kinh tế khác trong đó có cả thành phần kinh tế
tư bản.
1 cơ cấu xã hộI _giai cấp phức tạp◊-----Nền kinh tế nhiều thành phần - trong đó
có cả những giai cấp mà lợI ích cơ bản của họ đốI lập nhau
Có sự khác biệt cơ bản giữa thành thị và nông◊-----Xét về mặt xã hộI thôn , giữa
các miền đất nước , giữa lao động trí tuệ & lao động giản đơn .
----- Về văn hoá , tư tưởng : bên cạnh nền văn hóa & tư tưởng mớI , còn tồn tạI
những tàn tích của xã hộI cũ , hệ tư tưởng cũ lạc hậu , lốI sống cũ.
Những đặc điểm trên nói lên tính phức tạp◊ & khó khăn của thờI kì quá độ lên
CNXH
• Các kiểu quá độ lên CNXH :
+ Quá độ trực tiếp từ CNTB
+ Quá độ từ những xã hộI tiền TBCN

89) Vấn đề liên minh giai cấp công nhân vì giai cấp nông dân và các tầng lớp lao
động xã hội khác trong cuộc cách mạng của giai cấp công nhân đấu tranh chống
giai cấp tư sản, do Mác, Ăng - ghen phát hiện, xây dựng, được Lê - nin vận dụng
phát triển trong quá trình cách mạng XHCN và bước đầu xây dựng CNXH ở
nước Nga, là một nguyên lý căn bản trong lý luận CNXH KH.
TB và xây dựng thành công xã hội mới, XH XHCN, tiến lên CNCS thì giai cấp
công nhân phải coi việc xây dựng liên minh công – nông - trí thức là vấn đề có
tính chiến lược; nhất là trong thời kỳ quá độ đi lên CNXH và đặc biệt hơn đối
với các nước tiền tư bản, bỏ qua chế độ TBCN đi lên CNXH.
Qua phân tích cơ cấu xã hội TBCN và kinh nghiệm lịch sử đấu tranh của giai
cấp công nhân, từ những tổn thất, thất bại trong cuộc đấu tranh đó, các nhà kinh
điển đã chỉ ra rằng, vì đã không tổ chức liên minh với “người bạn tự nhiên” của
mình đó là nông dân Lê - nin đã vận dụng và phát triển lý luận về liên minh công
nông và các tằng lớp lao động khác của Mác trong giai đoạn CNTB phát triển cao
- giai đoạn ĐQCN, đã tổ chức liên minh và nhờ đó giành thắng lợi trong Cách
mạng tháng Mười vĩ đại. Trong hoàn cảnh lịch sử mới, giai cấp công nhân đã xoá
bỏ được chế độ xã hội cũ, bước đầu xây dựng xã hội mới, Lê nin lãnh đạo Đảng
cộng sản tiếp tục mở rộng liên minh, không chỉ chủ yếu công - nông trước đây
mà các tầng lớp lao động, đặc biệt nhấn mạnh hơn vai trò của tầng lớp trí thức.
Trung thành với Chủ nghĩa Mác - Lênin, Đảng Cộng sản Việt Nam, do Chủ
tịch Hồ Chí Minh sáng lập và lãnh đạo, đã vận dụng một cách sáng tạo nguyên lý
đó, từng bước xây dựng được khối liên minh công - nông - trí thức ngày càng
vững chắc và góp phần to lớn vào thắng lợi trong trong suốt quá trình cách mạng
Việt Nam từ khi có Đảng. Từ Đại hội lần thứ II năm 1951, Đảng ta đã xác định
rõ vị trí, vai trò của “liên minh công nhân với nông dân và lao động trí thức”.
Tính tất yếu khách quan về sự liên minh của giai cấp công nhân với giai cấp
nông dân và tầng lớp trí thức trong thời kỳ quá độ lên CNXH, không phải xuất
phát từ ý chí chủ quan của các nhà kinh điển hay của các ĐCS mà nó đặt trên cơ
sở chín muồi của những yếu tố, điều kiện khách quan.
Khi phân tích cơ cấu xã hội - giai cấp trong CNTB, C.Mác chỉ ra, ngoài giai
cấp công nhân là giai cấp đang phát triển mạnh mẽ cùng với nền công nghiệp
hiện đại thì còn các giai cấp và tầng lớp lao động xã hội khác thống nhất với lợi
ích cơ bản của giai cấp công nhân và cùng đối lập với lợi ích cơ bản với giai cấp
tư sản. Từ những cuộc đấu tranh mang tính đối đầu đầu tiên của giai cấp công
nhân với giai cấp tư sản bị thất bại, theo Mác là do công nhân chiến đấu đơn
độc, chưa liên hệ được với nông dân nên trở thành “bài ca ai điếu”. Trong Cách
mạng tháng Mười và sau khi giai cấp công nhân đập tan chính quyền của giai cấp
thống trị bóc lột, Lênin khẳng định “Chuyên chính vô sản là một hình thức đặc
biệt của liên minh giai cấp giữa giai cấp vô sản, đội tiền phong của những người
lao động với đông đảo những tầng lớp lao động không phải vô sản (tiểu tư sản,
tiểu chủ, nông dân, trí thức)”
Công cuộc xây dựng xã hội mới trong thời kỳ quá độ lên CNXH là công
việc hoàn toàn mới, đầy khó khăn gian khổ, phức tạp, lâu dài, diễn ra trên mọi
lĩnh vực của đời sống xã hội, vì sự nghiệp giải phóng không chỉ cho giai cấp
công nhân, mà cho toàn xã hội. Trong cơ cấu xã hội của thời kỳ quá độ còn tồn
tại nhiều giai cấp tầng lớp, trong đó nông dân còn chiếm đa số, tầng lớp trí thức
có xu hướng ngày càng phát triển. Mỗi giai cấp tầng lớp còn có những đặc điểm,
vị trí kinh tế - xã hội, vai trò khác nhau. Để thực hiện được vai trò lãnh đạo tiên
phong của mình, giai cấp công nhân mà đứng đầu là ĐCS phải tổ chức tập hợp
được mọi lực lượng xã hội, trong đó chủ yếu là nông dân, trí thức. Muốn thế
phải nắm bắt được đặc điểm, vai trò, nhu cầu của các giai cấp tầng lớp.
Đối với giai cấp công nhân: do vị trí lịch sử quy định, là giai cấp ngày càng
đông đảo theo sự phát triển của nền kinh tế công nghiệp trong nước cũng như
trên thế giới. Họ có những đặc điểm riêng có, ưu việt mà không có giai cấp nào
có được. Trong thời đại ngày nay, thời đại quá độ từ CNTB lên CNXH trên phạm
vi thế giới, là giai cấp đại biểu cho phương thức sản xuất tiên tiến, có sứ mệnh
lịch sử lãnh đạo, đi đầu trong việc giải phóng con người, giải phóng xã hội. Giai
cấp công nhân phải tổ chức lực lượng cách mạng, vì sự nghiệp cách mạng nào
cũng là sự nghiệp của quần chúng. Việc tìm đến với giai cấp nông dân và tầng
lớp trí thức là một nhu cầu tự thân.
Giai cấp nông dân là một tập đoàn xã hội đông đảo sinh sống trên địa bàn
nông thôn, sản xuất nông nghiệp là chủ yếu với tư liệu sản xuất đất rừng, sông
biển, tạo ra các sản phẩm nông nghiệp đáp ứng yêu cầu của thị trường về lương
thực, thực phẩm, nguyên liệu cho công nghiệp và xuất khẩu. Nông dân có tính hai
mặt, vừa là người lao động, đồng thời là người tư hữu nhỏ. Trong mọi chế độ xã
hội nông dân không có hệ tư tưởng độc lập, luôn luôn phụ thuộc vào hệ tư tưởng
của giai cấp thống trị đương thời. Luôn có nguyện vọng được giải phóng khỏi
chế độ áp bức bóc lột nhưng chưa bao giờ tự làm nổi cuộc cách mạng tự giải
phóng của mình. Tuy nhiên, nông dân luôn có vai trò to lớn trong mỗi chế độ xã
hội, là lực lượng cách mạng của giai cấp đại biểu cho phương thức sản xuất
tiến bộ của các giai đoạn lịch sử. Trong thời kỳ quá độ lên CNXH, về cơ bản
nông dân được giải phóng khỏi chế độ áp bức bóc lột, nhưng đa số nông dân vẫn
có đời sống còn thấp kém hơn các giai tầng xã hội khác. Mặt khác nông dân lại
có vai trò to lớn trong cuộc cách mạng xây dựng và phát triển kinh tế xã hội. Họ
là lực lượng sản xuất đông đảo đầy tiềm năng, là nguồn cung cấp nhân lực cho
công nghiệp hóa, là nơi cung cấp lương thực, thực phẩm chủ yếu cho xã hội, thị
trường đầy tiềm năng trong nền kinh tế thị trường của thời kỳ quá độ. Giai cấp
nông dân đã được giai cấp công nhân giải phóng khỏi chế độ áp bức bóc lột, nhu
cầu tìm đến với giai cấp công nhân cũng là nhu cầu tự thân của họ, nên là người
bạn tự nhiên, gần gũi nhất của giai cấp công nhân. Đây chính là mối quan hệ
đồng hành, gắn bó khách quan tạo ra sự cố kết chặt chẽ công – nông.
Tầng lớp trí thức, ta thường gọi là đội ngũ trí thức, là một tập đoàn những
người lao động xã hội đặc biệt bằng trí óc, phương thức lao động chủ yếu là lao
động trí tuệ cá nhân, tạo ra những sản phẩm khoa học, trí tuệ, tinh thần. Nói
chung họ là những người có trình độ học vấn và chuyên môn cao, am hiểu sâu
rộng lĩnh vực chuyên môn của mình. Họ không phải là giai cấp mặc dù số lượng
ngày càng đông, mà chỉ là một tầng lớp vì họ không trực tiếp sở hữu tư liệu sản
xuất, họ chỉ sở hữu trí tuệ, lại xuất thân từ nhiều giai tầng khác nhau trong xã
hội, không có hệ tư tưởng độc lập. Dưới các chế độ thống trị trước đây, trí thức
bao giờ cũng bị các giai cấp thống trị nắm lấy, làm công cụ trong tay mình. Họ
cũng là người bị bóc lột về cơ bản, và cũng luôn có nguyện vọng được giải
phóng. Cũng như giai cấp nông dân, họ chưa bao giờ tự làm nổi cuộc cách mạng
giải phóng mình thành công. Trong thời kỳ quá độ lên CNXH, trí thức cũng đã
được giải phống, càng có điều kiện để phát huy vai trò của mình. Ở mọi quốc
gia, trí thức là bộ phận tiêu biểu cho trí tuệ, văn hoá của đất nước. Họ có vai trò
nghiên cứu khoa học, phát minh sang chế, vận dụng, ứng dụng, chuyển giao các
thành tựu khoa học - công nghệ tiên tiến phù hợp để xây dựng, phát triển kinh tế
- xã hội của đất nước. Họ có nhiều ý kiến đóng góp vào việc hoạch định đường
lối, chủ trương chính sách của Đảng, của Nhà nước để phát triển kinh tế, văn
hoá, giáo dục, trực tiếp đào tạo, bồi dưỡng, phát triển nguồn nhân lực cho sự
nghiệp CNH, HĐH đất nước. Trí thức nói chung rất nhạy cảm về mặt chính trị
xã hội, nên khi đã thấy được vị trí vai trò tiên phong, lãnh đạo của giai cấp công
nhân thì họ sẵn sàng tự giác đứng về phía công nhân và dân tộc để thực hiện sự
nghiệp giải phóng xã hội chung, trong đó có bản thân mình.
Như vậy, cả giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức đều là
những lực lượng lao động sản xuất, lực lượng chính trị - xã hội với những đặc
điểm, vai trò xác định. Họ là những giai cấp, tầng lớp đông đảo nhât trong thời kỳ
quá độ lên CNXH. Đặc biệt đối với các nước tiền tư bản, nông nghiệp lạc hậu
quá độ bỏ qua chế độ TBCN đi lên CNXH đây là lực lượng cách mạng chủ yếu.
Với tư cách là giai cấp lãnh đạo, giai cấp công nhân mà đứng đầu là Đảng cộng
sản phải nắm bắt được những yếu tố khách quan từ các giai cấp tầng lớp, để tổ
chức thành liên minh vững chắc, khi đó không chỉ giành được sự thắng lợi mà
cũng “không có thế lực nào phá vỡ nổi”
Chủ nghĩa Mác - Lênin bàn về tính tất yếu của liên minh công - nông - trí thức,
không chi trong giai đoạn giành chính quyền, mà còn đặc biệt lưu ý trong giai
đoạn xây dựng CNXH “trong thời đại chuyên chính vô sản”. Trong cuộc cách
mạng giành chính quyền, cần phải liên minh thì trong sự nghiệp xây dựng xã hội
mới liên minh càng phải được tiếp tục duy trì và củng cố. “Nguyên tắc cao nhất
của CCVS là duy trì khối liên minh…để giai cấp vô sản có thể giữ được vai trò
lãnh đạo và chính quyền nhà nước”. Trên cơ sở đó để giai cấp công nhân thực
hiện nhiệm vụ xây dựng xã hội mới, như mục tiêu Đảng ta đã đề ra là dân giàu,
nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Vai trò đó chỉ được giữ vững
và thực hiện có kết quả tốt khi tổ chức tốt liên minh công, nông và trí thức. Xét
về lợi ích cơ bản và mục tiêu của Nhà nước XHCN là xây dựng thành công
CNXH, vì lợi ích của toàn thể nhân dân, nhưng nhân dân lại tập trung chủ yếu
trong công nhân, nông dân, trí thức. Đó là tất yếu về chính trị - xã hội. Vì mục têu
chung cũng như lợi ích chính trị của từng giai cấp, tầng lớp là bảo vệ vững chắc
độc lập dân tộc và những thành quả của cách mạng XHCN, các giai cấp tâng lớp
không được tách rời nhau hoặc hoạt động tự phát mà phải gắn bó hữu cơ với
nhau thành một khối liên minh vững mạnh. Liên minh phải được Đảng cộng sản
- đội tiền phong của gia cấp công nhân lãnh đạo và tổ chức hoạt động, thống
nhất cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức thì mới làm cơ sở cho Nhà nước XHCN
và nòng cốt của khối Đại đoàn kết toàn dân tộc. Cơ sở gắn kết của các giai cấp
tầng lớp công - nông - trí thức ở nước ta còn tất yếu chính trị từ trong cuộc cách
mạng dân tộc dân chủ. Nhờ sự lãnh đao của Đảng, họ đã đoàn kết lại trong mặt
trận dân tộc thống nhất, trong đó liên minh công nông là nòng cốt. Lợi ích, niềm
tin của công nhân, nông dân, trí thức đối với Đảng đã được thiết lập vững chắc.
Bước vào thờI kỳ quá độ, mối liên kết chính trị đó tiếp tục được phát huy cao độ
hơn. Sự phân tích trên cho thấy cơ sở khách quan, là diều kiện chính tri- xã hội
để liên minh công - nông - tri thức ngày càng bền chặt hơn.
Lê - nin đặc biệt nhấn mạnh khi chuyển từ giai đoạn giành quyền sang giai
đoạn “ chuyên chính vô sản”, chính trị đã chuyển sang chính trị trong lĩnh vực
kinh tế, liên minh muốn được phát huy và củng cố hơn phải lấy kinh tế làm cơ
sở. Phải xuất phát từ yêu cầu khách quan về kinh tế - kỹ thuật của một nước
nông nghiệp lạc hậu đi lên CNXH, mà nhiệm vụ trung tâm là CNH, HĐH. Do đó
phải gắn công nghiệp với nông nghiệp và khoa học công nghệ hiện đại. Về tất
yếu kinh tế - kỹ thuật, Lênin chỉ rõ: nếu không có kinh tế nông nghiệp làm cơ sở
thì một nước nông nghiệp không thể xây dựng được nền công nghiệp. Hồ Chí
Minh cũng chỉ rõ về tính tất yếu này: biến nền kinh tế lạc hậu thành một nền
kinh tế XHCN với công nghiệp và nông nghiệp hiện đại, khoa học kỹ thuật tiên
tiến. Tư tưởng đó tiếp tục được thể hiện trong hội nghị trung ương bảy( Khóa
IX), trung ương bảy (Khóa X).
Tóm lại, khi liên minh công - nông - trí - thức được thiết lập, củng cố trên cơ
sở các điều kiện khách quan đó thì liên minh trở thành nền tảng chính trị - xã hội
vững chắc cho sự lãnh đạo của ĐCS, cho Nhà nước. Để tập hợp lực lượng rộng
rãi quần chúng nhân dân trong khối Đại đoàn kết toàn dân cũng phải lấy liên
minh công - nông - trí làm nòng cốt. Có liên minh cũng là điều kịên bảo đảm ổn
định chính trị cho công cuộc đổi mới, cải cách của CNXH.

II.


Tính tất yếu và nội dung của thời kỳ
quá độ từ CNTB lên CNXH.
III. 13/01/2010 // Chưa có phản hồi // Xem: 135 views // Chuyên mục: Tin Tức IT.


1. Tính tất yếu:

Để chuyển từ xã hội TBCN lên xã hội XHCN cần phải trải qua một thời kỳ quá
độ nhất định. Tính tất yếu của TKQĐ lên CNXH được lý giải từ các căn cứ sau
đây:

- Một là, CNTB và CNXH khác nhau về bản chất. CNTB được xây dựng trên cơ
sở chế độ tư hữu TBCN về các tư liệu sản xuất; dựa trên chế độ áp bức và bóc
lột. CNXH được xây dựng trên cơ sở chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ
yếu, tồn tại dưới 2 hình thức là nhà nước và tập thể; không còn các giai cấp đối
kháng, không còn tình trạng áp bức, bóc lột. Muốn có xã hội như vậy cần phải có
một thời kỳ lịch sử nhất định.

- Hai là, CNXH được xây dựng trên nền sản xuất đại công nghiệp có trình độ
cao. Quá trình phát triển của CNTB đã tạo ra cơ sở vật chất – kỹ thuật nhất định
cho CNXH, nhưng muốn có cơ sở vật chất – kỹ thuật đó cần phải có thời gian tổ
chức, sắp xếp lại.

Đối với những nước chưa từng trải qua quá trình CNH tiến lên CNXH , TKQĐ
cho việc xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật cho CNXH có thể kéo dài với nhiệm
vụ trọng tâm của nó là tiến hành CNH XHCN.

- Ba là, các quan hệ xã hội của CNXH không tự phát nảy sinh trong lòng CNTB,
chúng là kết quả của quá trình xây dựng và cải tạo XHCN. Sự phát triển của
CNTB dù đã ở trình độ cao cũng chỉ có thể tạo ra những điều kiện, tiền đề cho
sự hình thành các quan hệ xã hội XHCN, do vậy cũng cần phải có thời gian nhất
định để xây dựng và phát triển các quan hệ đó.

- Bốn là, công cuộc xây dựng CNXH là một công việc mới mẻ, khó khăn và phức
tạp, cần phải có thời gian để GCCN từng bước làm quen với những công việc
đó.

TKQĐ lên CNXH ở các nước có trình độ phát triển kinh tế – xã hội khác nhau có
thể diễn ra với khoảng thời gian dài, ngắn khác nhau. Đối vơi những nước đã
trải qua CNTB phát triển ở trình độ cao thì khi tiến lên CNXH, TKQĐ có thể
tương đối ngắn. Những nước đã trải qua giai đoạn phát triển CNTB ở mức độ
trung bình, đặc biệt là những nước còn ở trình độ phát triển tiền tư bản, có nền
kinh tế lạc hậu thì TKQĐ thường kéo dài với rất nhiều khó khăn, phức tạp.
Đặc điểm và thực chất của thời kỳ quá độ từ CNTB lên CNXH là sự tồn tại đan
xen giữa những yếu tố của xã hội cũ bên cạnh những nhân tố mới của CNXH
trong mối quan hệ vừa thống nhất vừa đấu tranh với nhau trên tất cả các lĩnh vực
(kinh tế, chính trị, tư tưởng – văn hóa) của đời sống xã hội.

2. Nội dung của TKQĐ lên CNXH:

- Trên lĩnh vực kinh tế: thực hiện việc sắp xếp, bố trí lại các lực lượng sản xuất
hiện có của xã hội; cải tạo quan hệ sản xuất cũ, xây dựng quan hệ sản xuất mới
theo hướng tạo ra sự phát triển cân đối của nền kinh tế, bảo đảm phục vụ ngày
càng tốt đời sống nhân dân lao động.

Việc sắp xếp, bố trí lại các lực lượng sản xuất của xã hội nhất định không thể
theo ý muốn nóng vội, chủ quan mà phải tuân theo tính tất yếu khách quan của
các quy luật kinh tế, đặc biệt là quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ
phát triển của lực lượng sản xuất.

Đối với những nước chưa trải qua quá trình CNH TBCN, tất yếu phải tiến hành
CNH XHCN nhằm tạo ra được cơ sở vật chất – kỹ thuật của CNXH. Nhiệm vụ
trọng tâm của những nước này trong TKQĐ là phải tiến hành CNH, HĐH nền
kinh tế theo định hướng XHCN. Quá trình CNH,HĐH XHCN diễn ra ở các nước
khác nhau với những điều kiện lịch sử khác nhau có thể được tiến hành với
những nội dung cụ thể và hình thức, bước đi khác nhau. Nước ta quá độ lên
CNXH bỏ qua chế độ TBCN, chưa trải qua quá trình CNH TBCN, nên trong thời
gian qua, Đảng ta chủ trương đẩy mạnh CNH, HĐH, tạo nền tảng để đi lên
CNXH; bên cạnh đó là chủ trương phát triển kinh tế thị trường định hướng
XHCN cũng là để giải phóng sức sản xuất, tiến tới một nền sản xuất lớn.
- Trong lĩnh vực chính trị: tiến hành cuộc đấu tranh chống lại các thế lực thù địch
chống phá sự nghiệp xây dựng CNXH; xây dựng, củng cố nhà nước và nền dân
chủ XHCN ngày càng vững mạnh, bảo đảm quyền làm chủ trong hoạt động kinh
tế, chính trị, văn hóa, xã hội của nhân dân lao động, xây dựng các tổ chức chính
trị – xã hội thực sự là nơi thực hiện quyền làm chủ của nhân dân lao động; xây
dựng Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh ngang tầm với các nhiệm vụ của
mỗi thời kỳ lịch sử.

- Trong lĩnh vực tư tưởng – văn hóa: tuyên truyền, phổ biến những tư tưởng khoa
học và cách mạng của giai cấp công nhân trong toàn xã hội; khắc phục những tư
tưởng và tâm lý có ảnh hưởng tiêu cực đối với tiến trình xây dựng CNXH; xây
dựng nền văn hóa mới XHCN, tiếp thu giá trị tinh hoa các nền văn hóa trên thế
giới.

- Trong lĩnh vực xã hội: khắc phục những tệ nạn xã hội do xã hội cũ để lại; từng
bước khắc phục sự chênh lệch phát triển giữa các vùng miền, các tầng lớp dân
cư trong xã hội nhằm thực hiện mục tiêu bình đẳng xã hội; xây dựng mối quan
hệ tốt đẹp giữa người với người theo mục tiêu lý tưởng: tự do của người này là
điều kiện, tiền đề cho sự tự do của người khác.
Tóm lại, TKQĐ lên CNXH là một thời kỳ lịch sử tất yếu trên con đường phát
triển của hình thái kinh tế – xã hội cộng sản chủ nghĩa. Đó là thời kỳ lịch sử có
đặc điểm riêng với những nội dung kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội đặc thù
mà giai đoạn xã hội XHCN trên con đường phát triển của hình thái kinh tế – xã
hội CSCN chỉ có thể đạt được trên cơ sở hoàn thành các nội dung đó.


Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp
với trình độ phát triển của lực lượng
sản xuất
IV. 13/01/2010 // Chưa có phản hồi // Xem: 121 views // Chuyên mục: Tin Tức IT.

1.Khái niệm lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất

Lực lượng sản xuất là phương thức kết hợp giữa người lao động với tư liệu sản
xuất, tri thức, năng lực, kỹ năng kinh nghiệm của họ tạo ra một sức sản xuất
trong sản xuất vật chất.

- Lực lượng sản xuất bao gồm tư liệu sản xuất và người lao động với trình độ tri
thức, kỹ năng, kinh nghiệm sản xuất và thói quen lao động.

- Lực lượng sản xuất là những nhân tố có tính sáng tạo và tính sáng tạo đó có tính
lịch sử. Các yếu tố của lực lượng sản xuất có mối quan hệ chặt chẽ với nhau,
trong đó người lao động giữ vai trò quyết định, công cụ lao động thể hiện trình
độ phát triển của lực lượng sản xuất (trình độ chinh phục tự nhiên của con
người).

- Ngày nay, khoa học công nghệ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Những
thành tựu của khoa học công nghệ được ứng dụng rộng rãi, nhanh chóng, thúc
đẩy quá trình sản xuất phát triển mạnh mẽ.

Quan hệ sản xuất là quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất (sản
xuất và tái sản xuất xã hội).

Quan hệ sản xuất bao gồm: quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất, quan hệ tổ chức
và quản lý quá trình sản xuất, quan hệ trong phân phối kết quả của quá trình sản
xuất đó. Những quan hệ sản xuất này tồn tại trong mối quan hệ thống nhất và
chi phối, tác động lẫn nhau trên cơ sở quyết định của quan hệ sở hữu về tư liệu
sản xuất.

2. Mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất

Mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là mối quan hệ thống
nhất biện chứng, trong đó lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất và
quan hệ sản xuất tác động trở lại lực lượng sản xuất.
Mối quan hệ thống nhất giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất tuân theo
nguyên tắc khách quan. Quan hệ sản xuất phải phụ thuộc vào thực trạng phát
triển của lực lượng sản xuất trong mỗi giai đoạn lịch sử xác định; bởi vì, quan
hệ sản xuất chỉ là hình thức kinh tế – xã hội của quá trình sản xuất, còn lực
lượng sản xuất là nội dung vật chất, kỹ thuật của quá trình đó.

Tuy nhiên, quan hệ sản xuất, với tư cách là hình thức kinh tế – xã hội của quá
trình sản xuất, nó luôn luôn có khả năng tác động trở lại sự vận động, phát triển
của lực lượng sản xuất. Sự tác động này có thể diễn ra theo chiều hướng tích
cực hoặc tiêu cực. Điều đó phụ thuộc vào tính phù hợp hay không phù hợp của
quan hệ sản xuất với thực trạng và nhu cầu khách quan của sự vận động, phát
triển lực lượng sản xuất Nếu “phù hợp” sẽ có tác dụng tích cực và ngược lại,
“không phù hợp” sẽ có tác dụng tiêu cực.

- Mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là mối quan hệ
thống nhất có bao hàm khả năng chuyển hóa thành các mặt đối lập và phát sinh
mâu thuẫn.

Mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là mối quan hệ mâu
thuẫn biện chứng giữa nội dung vật chất, kỹ thuật với hình thức kinh tế – xã hội
của quá trình sản xuất. Sự vận động của mâu thuẫn này là một quá trình đi từ sự
thống nhất đến những khác biệt và đối lập xung đột từ đó làm xuất hiện nhu cầu
khách quan phải được giải quyết theo nguyên tắc quan hệ sản xuất phải phù hợp
với sự phát triển của lực lượng sản xuất. Sự vận động của mâu thuẫn này cũng
tuân theo quy luật “từ những sự thay đổi về lượng thành những sự thay đổi về
chất và ngược lại”, quy luật “phủ định của phủ định”, khiến cho quá trình phát
triển của nền sản xuất xã hội vừa diễn ra với tính chất tiệm tiến, tuần tự, lại
vừa có tính nhảy vọt với những bước đột biến, kế thừa và vượt qua của nó ở
trình độ ngày càng cao hơn.

3. Sự vận dụng quy luật này ở nước ta

Từ một nền nông nghiệp lạc hậu, sản xuất nhỏ là chủ yếu, nước ta đi lên
CNXH. Kinh nghiệm thực tế chỉ rõ, lực lượng sản xuất bị kiềm hãm không chỉ
trong trường hợp quan hệ sản xuất lạc hậu, mà ngay khi quan hệ sản xuất phát
triển không đồng bộ và có những yếu tố đi quá xa so với trình độ phát triển của
lực lượng sản xuất.

Thực tế lực lượng sản xuất nước ta còn thấp kém lại phát triển không đồng đều,
cho nên cần phải coi trọng những hình thức kinh tế trung gian, quá độ từ thấp
đến cao, từ quy mô nhỏ đến quy mô lớn. Để xây dựng phương thức sản xuất
XHCN, Đảng ta chủ trương xây dựng một nền kinh tế thị trường định hướng
XHCN nhằm phát huy mọi tiềm năng của các thành phần kinh tế, phát triển
mạnh mẽ lực lượng sản xuất để xây dựng cơ sở kinh tế của CNXH. Từng bước
xã hội hóa XHCN, quá trình đó không phải bằng gò ép, mà được thực hiện từng
bước thông qua sự hỗn hợp các hình thức sở hữu như công ty cổ phần, chủ nghĩa
tư bản nhà nước, các hình thức hợp tác,… để dần dần hình thành các tập đoàn
kinh tế lớn, trong đó, kinh tế nhà nước và tập thể đóng vai trò là nền tảng. Chúng
ta chỉ bỏ qua những gì của xã hội cũ không còn phù hợp, thực hiện chủ trương
chuyển hóa cái cũ thành cái mới theo định hướng XHCN.
Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công
nhân Việt Nam
V. IV. Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam
1. Sự ra đời, đặc điểm và điều kiện giai cấp công nhân vươn lên thành giai cấp
lãnh đạo cách mạng Việt Nam
Với chính sách khai thác thuộc địa của chủ nghĩa thực dân Pháp ở Việt Nam, giai
cấp công nhân Việt Nam đã ra đời từ đầu thế kỷ này, trước cả sự ra đời của giai
cấp tư sản Việt Nam và là giai cấp trực tiếp đối kháng với tư bản thực dân Pháp.
Sinh ra và lớn lên ở một nước thuộc địa nửa phong kiến, dưới sự thống trị của
đế quốc Pháp, một thứ chủ nghĩa tư bản thực lợi không quan tâm mấy đến phát
triển công nghiệp ở nước thuộc địa, nên giai cấp công nhân Việt Nam phát triển
chậm.
Mặc dù số lượng ít, trình độ nghề nghiệp thấp, còn mang nhiều tàn dư của tâm
lý và tập quán nông dân, song giai cấp công nhân Việt Nam đã nhanh chóng vươn
lên đảm đương vai trò lãnh đạo cách mạng ở nước ta do những điều kiện sau
đây:
38
- Giai cấp công nhân Việt Nam sinh ra trong lòng một dân tộc có truyền thống
đấu tranh bất khuất chống ngoại xâm. ở giai cấp công nhân, nỗi nhục mất nước
cộng với nỗi khổ vì ách áp bức bóc lột của giai cấp tư sản đế quốc làm cho lợi
ích giai cấp và lợi ích dân tộc kết hợp làm một, khiến động cơ cách mạng, nghị
lực cách mạng và tính triệt để cách mạng của giai cấp công nhân được nhân lên
gấp bội.
- Giai cấp công nhân Việt Nam ra đời và từng bước trưởng thành trong không khí
sôi sục của một loạt phong trào yêu nước và các cuộc khởi nghĩa chống thực dân
Pháp liên tục nổ ra từ khi chủ nghĩa đế quốc Pháp đặt chân lên đất nước ta:
phong trào Cần Vương và cuộc khởi nghĩa của Phan Đình Phùng, của Hoàng Hoa
Thám, các cuộc vận động yêu nước của Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Nguyễn
Thái Học, v.v. đã có tác dụng to lớn đối với việc cổ vũ tinh thần yêu nước, ý chí
bất khuất và quyết tâm đập tan xiềng xích nô lệ của toàn thể nhân dân ta. Nhưng
tất cả các phong trào ấy đều thất bại và sự nghiệp giải phóng dân tộc đều lâm
vào tình trạng bế tắc về đường lối.
- Vào lúc đó, phong trào cộng sản và công nhân thế giới phát triển, cuộc Cách
mạng Tháng Mười Nga bùng nổ, thắng lợi và ảnh hưởng đến phong trào dân tộc
dân chủ ở nước khác, nhất là ở Trung Quốc, trong đó có phong trào cách mạng ở
nước ta. Chính vào lúc đó, nhà yêu nước Nguyễn ái Quốc trên hành trình tìm
đường cứu nước đã đến với chủ nghĩa Mác-Lênin và tìm thấy ở chủ nghĩa Mác-
Lênin bí quyết thần kỳ cho sự nghiệp giải phóng dân tộc ta. Từ đó, Người đã đề
ra con đường duy nhất đúng đắn cho cách mạng Việt Nam - con đường cách
mạng dân tộc dân chủ nhân dân và chuyển cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân
lên cách mạng xã hội chủ nghĩa.
Tấm gương cách mạng Nga và phong trào cách mạng ở nhiều nước khác đã cổ
vũ giai cấp công nhân non trẻ Việt Nam đứng lên nhận lấy sứ mệnh lãnh đạo
cách mạng nước ta và đồng thời cũng là chất xúc tác khích lệ nhân dân ta lựa
chọn, tiếp nhận con đường cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin và đi theo con
đường cách mạng của giai cấp công nhân. Từ đó giai cấp công nhân Việt Nam là
giai cấp duy nhất lãnh đạo cách mạng Việt Nam.
- Giai cấp công nhân Việt Nam, mà tuyệt đại bộ phận là xuất thân từ nông dân
lao động và những tầng lớp lao động khác, nên có mối liên hệ tự nhiên với đông
đảo nhân dân lao động bị mất nước, sống nô lệ nên cũng là điều kiện thuận lợi
để giai cấp công nhân xây dựng nên khối liên minh công nông vững chắc và khối
đoàn kết dân tộc rộng rãi bảo đảm cho sự lãnh đạo của giai cấp công nhân trong
suốt quá trình cách mạng ở nước ta.
39
2. Vai trò lãnh đạo giai cấp công nhân trong cách mạng Việt Nam
Lịch sử Việt Nam cũng chứng minh rằng, giai cấp công nhân Việt Nam ra đời
chưa được bao lâu ngay cả khi nó chưa có Đảng mà đã tổ chức một cách tự phát
nhiều cuộc đấu tranh chống bọn tư bản thực dân và được nhân dân ủng hộ. Cuộc
bãi công của 600 thợ nhuộm ở Chợ Lớn năm 1922 mà Nguyễn ái Quốc coi đó
mới chỉ là "do bản năng tự vệ" của những người công nhân "không được giáo
dục và tổ chức" nhưng đã là "dấu hiệu... của thời đại"1. Năm 1927 có gần chục
cuộc bãi công với hàng trăm người tham gia. Năm 1928-1929 có nhiều cuộc bãi
công khác với hàng nghìn người tham gia, trong đó tiêu biểu nhất là cuộc đấu
tranh của công nhân xi măng Hải Phòng, sợi Nam Định, xe lửa Trường Thi
(Vinh), AVIA (Hà Nội), Phú Riềng (Bình Phước). Những cuộc đấu tranh như thế
không chỉ giới hạn trong công nhân mà còn tác động sâu sắc đến các tầng lớp
khác, đặc biệt là đến giai cấp nông dân, các tầng lớp nhân dân lao động, thanh
niên, sinh viên làm cho bọn thống trị thực dân hoảng sợ.
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác-
Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước ở nước ta vào đầu năm
1930 của thế kỷ XX. Đảng đã đem yếu tố tự giác vào phong trào công nhân, làm
cho phong trào cách mạng nước ta có một bước phát triển nhảy vọt về chất.


V. Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công
nhân Việt Nam
VI.
VII. Giai cấp công nhân Việt Nam lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiên phong của
nó là Đảng Cộng sản Việt Nam. Khi nói giai cấp công nhân lãnh đạo là nói đến
toàn bộ giai cấp như một chỉnh thể chứ không phải từng nhóm, từng người. Để
có thể lãnh đạo, giai cấp công nhân phải có lực lượng, có tổ chức tiêu biểu cho
sự tự giác và bản chất giai cấp của mình. Lực lượng đó là Đảng Cộng sản. Xét
về thành phần xuất thân thì nước ta có nhiều đảng viên không phải là công nhân.
Nhưng, bất cứ đảng viên nào cũng phải đứng trên lập trường giai cấp công nhân
thể hiện ở lý tưởng, ở lý luận Mác-Lênin và đường lối cách mạng, ở tinh thần
kiên quyết cách mạng trong cuộc đấu tranh để thực hiện sứ mệnh của giai cấp
công nhân vì lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của cả dân
tộc. Điều này được Đảng ta khẳng định rất rõ: "Đảng Cộng sản Việt Nam là đội
tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao
động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công
nhân, nhân dân lao động và của dân tộc"1. Đảng của giai cấp công nhân nước ta
đã lãnh đạo toàn dân hoàn thành thắng lợi trọn vẹn cuộc cách
1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, t. 2, tr. 114.
1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X,
Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr. 130
40
mạng giải phóng dân tộc và đang tiến hành công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội
và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Đây là nhiệm vụ lịch sử khó khăn, phức tạp
nhất.
Trong công cuộc xây dựng đất nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội hiện nay, đội
ngũ công nhân Việt Nam bao gồm những người lao động chân tay và lao động trí
óc hoạt động sản xuất trong ngành công nghiệp và dịch vụ thuộc các doanh
nghiệp nhà nước, hợp tác xã, hay thuộc khu vực tư nhân, hợp tác liên doanh với
nước ngoài, tạo thành một lực lượng giai cấp công nhân thống nhất đại diện cho
phương thức sản xuất tiên tiến dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam
được vũ trang bằng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh đang lãnh
đạo công cuộc đổi mới và phát triển đất nước. Họ là lực lượng đi đầu trong sự
nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, là cơ sở xã hội chủ yếu nhất của Đảng và
Nhà nước ta, là hạt nhân vững chắc trong liên minh công nhân - nông dân - trí
thức, nền tảng của khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Tuy nhiên, do hoàn cảnh hình thành, điều kiện kinh tế - xã hội quy định, giai cấp
công nhân Việt Nam còn có những nhược điểm (như số lượng còn ít, chưa được
rèn luyện nhiều trong công nghiệp hiện đại, trình độ văn hoá và tay nghề còn
thấp...). Nhưng điều đó không thể là lý do để phủ nhận sứ mệnh lịch sử của giai
cấp công nhân Việt Nam. Để khắc phục những nhược điểm ấy, Nghị quyết Hội
nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khoá VII của Đảng ta, một Nghị
quyết gắn trực tiếp vấn đề công nghiệp hoá, hiện đại hoá với vấn đề xây dựng
phát triển giai cấp công nhân đã chỉ rõ phương hướng xây dựng giai cấp công
nhân nước ta trong giai đoạn hiện nay là: "Cùng với quá trình phát triển công
nghiệp và công nghệ theo xu hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, cần
xây dựng giai cấp công nhân phát triển về số lượng, giác ngộ về giai cấp, vững
vàng về chính trị, tư tưởng, có trình độ học vấn và tay nghề cao, có năng lực tiếp
thu và sáng tạo công nghệ mới, lao động đạt năng suất, chất lượng, hiệu quả
cao, vươn lên làm tròn sứ mệnh lịch sử của mình"1.
Công cuộc đổi mới đất nước, định hướng xã hội chủ nghĩa do Đảng ta khởi
xướng và lãnh đạo đã thu được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa rất quan trọng.
Giai cấp công nhân đang đi đầu trong xây dựng xã hội mới, nhất là trong việc xây
dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội nhằm thực hiện dân giàu,
nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Đó là bằng chứng chỉ rõ năng
lực lãnh đạo của giai cấp công nhân nước ta, vai trò không có lực lượng xã hội
nào có thể thay thế được trong sự
1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành
Trung ương khóa VII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994, tr.98. 41
nghiệp... "lãnh đạo thành công công cuộc xây dựng một xã hội mới, trong đó nhân
dân lao động làm chủ, đất nước độc lập và phồn vinh, xoá bỏ áp bức bất công,
mọi người đều có điều kiện phấn đấu cho cuộc sống ấm no, tự do, hạnh
phúc"2..
VIII.
IX. Đảng Cộng sản Việt Nam đặc biệt chú trọng phương hướng xây dựng giai cấp
công nhân Việt Nam trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
của Đảng chỉ rõ: "Đối với giai cấp công nhân, phát triển về số lượng, chất lượng
và tổ chức; nâng cao giác ngộ và bản lĩnh chính trị, trình độ học vấn và nghề
nghiệp, xứng đáng là một lực lượng đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước."3
Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản