Tổ chức bảo hiểm tiền gửi với sự phát triển ổn định của hệ thống tài

Chia sẻ: Nguyen Nhi | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:9

0
182
lượt xem
94
download

Tổ chức bảo hiểm tiền gửi với sự phát triển ổn định của hệ thống tài

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tổ chức BHTG có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển an toàn của hệ thống tài chính - ngân hàng cũng như việc bảo vệ quyền lợi người gửi tiền của các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là khi xẩy ra khủng hoảng tài chính. Rủi ro trong lĩnh vực hoạt động ngân hàng Với đặc thù của một tổ chức tài chính kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ là đi vay để cho vay nên hoạt động ngân hàng chứa đựng nhiều yếu tố rủi ro. Nguyên nhân xẩy ra rủi ro...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tổ chức bảo hiểm tiền gửi với sự phát triển ổn định của hệ thống tài

  1. Tổ chức bảo hiểm tiền gửi với sự phát triển ổn định của hệ thống tài Tổ chức BHTG có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển an toàn của hệ thống tài chính - ngân hàng cũng như việc bảo vệ quyền lợi người gửi tiền của các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là khi xẩy ra khủng hoảng tài chính. Rủi ro trong lĩnh vực hoạt động ngân hàng Với đặc thù của một tổ chức tài chính kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ là đi vay để cho vay nên hoạt động ngân hàng chứa đựng nhiều yếu tố rủi ro. Nguyên nhân xẩy ra rủi ro có thể do từ phía khách hàng, từ chính ngân hàng, thậm chí có thể do một tin đồn thất thiệt nào đó gây ra. Trong thực tế rủi ro đối với hoạt động ngân hàng có nhiều loại, có loại khi xẩy ra nó chỉ làm thiệt hại cho chính bản thân ngân hàng đó như rủi ro tín dụng, rủi ro lãi suất, rủi ro tỷ giá. Có loại rủi ro khi xẩy ra nó không chỉ gây thiệt hại đối với chính ngân hàng đó, mà còn ảnh hưởng đến các các ngân hàng khác và có thể dẫn tới sự đổ vỡ dây chuyền mang tính hệ thống, làm mất lòng tin đối với người gửi tiền, là nguyên nhân gây ra những cuộc khủng hoảng tài chính khu vực và thế giới như rủi ro thanh khoản do sự cố rút tiền hàng loạt. Thực tế đã cho thấy những cuộc khủng hoảng tài chính xẩy ra đều bắt nguồn từ nguyên nhân đổ vỡ của một hoặc một số ngân hàng như cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á năm 1997- 1998, cuộc khủng hoảng tài chính thế giới xẩy ra từ năm 2008 mà đến nay vẫn chưa kết thúc… Tại Việt Nam sự cố rút tiền hàng loạt do tin đồn hoặc thông tin không chính xác ở Ngân hàng cổ phần Á Châu (năm 2003), Ngân hàng cổ phần Phương Nam, Ngân hàng cổ phần Nông thôn Ninh Bình (năm 2005) cũng đã làm cho các ngân hàng này điêu đứng nếu như không có sự can thiệp kịp thời của Ngân hàng Nhà nước và các cơ quan liên quan.
  2. Để phòng ngừa rủi ro, đảm bảo cho các tổ chức tài chính nói chung, các ngân hàng nói riêng hoạt động an toàn, hiệu quả, bất kỳ một quốc gia nào cũng phải đề ra một hệ thống chính sách và giải pháp nhằm phòng ngừa, giảm thiểu rủi ro, đảm bảo quyền lợi của người gửi tiền và sự an toàn lành mạnh của mỗi ngân hàng cũng như của cả hệ thống. Một trong những công cụ, chính sách không thể thiếu đó là bảo hiểm tiền gửi (BHTG). Bảo hiểm tiền gửi- công cụ quan trọng góp phần ổn định hoạt động ngân hàng Bảo hiểm tiền gửi xuất hiện lần đầu tiên ở Mỹ sau những vụ đổ vỡ hàng loạt ngân hàng vào giai đoạn 1930 - 1933 ở quốc gia này, đó là Tổng công ty BHTG liên bang Mỹ (FDIC) được thành lập và đi vào hoạt động từ ngày 1/1/1934. Đây là mô hình được xem là hình mẫu đầu tiên về BHTG trên thế giới. Sau sự ra đời của FDIC, tính đến nay trên thế gới đã có khoảng hơn 90 quốc gia có tổ chức BHTG. Ngày 6/5/2002, Hiệp hội BHTG quốc tế (IADI) đã được thành lập, có trụ sở tại Thụy Sỹ với sự tham gia của nhiều tổ chức BHTG trên thế giới. Điều đó nói nên vai trò của tổ chức BHTG là rất quan trọng đối với sự phát triển an toàn của hệ thống tài chính - ngân hàng cũng như việc bảo vệ quyền lợi người gửi tiền của các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là khi xẩy ra khủng hoảng tài chính. Hiện nay, trên thế giới tổ chức BHTG được phân chia theo 3 loại mô hình, đó là: i) Mô hình chi trả; ii) Mô hình chi trả với quyền hạn mở rộng; iii) Mô hình giảm thiểu rủi ro, trong đó, mô hình giảm thiểu rủi ro là phổ biến và xu hướng chung là các quốc gia trên thế giới tiến hành xây dựng tổ chức BHTG theo mô hình này. Bởi vậy, vai trò của tổ chức BHTG ngày càng được phát huy nhất là khi xẩy ra khủng hoảng tài chính. Tùy theo từng mô hình được áp dụng mà tổ chức BHTG có thể khẳng định và phát huy được vai trò của mình. Dưới đây là một số chức năng, nhiệm vụ cơ bản của tổ chức BHTG theo mô hình giảm thiểu rủi ro:
  3. Thứ nhất, Giám sát để ngăn ngừa và cảnh báo rủi ro đối với hoạt động ngân hàng: Tổ chức BHTG thực hiện chức này thông qua hai hình thức là giám sát từ xa và kiểm tra tại chỗ, trong đó giám sát từ xa là chủ yếu. Đây là nghiệp vụ quan trọng trong quá trình quản lý rủi ro đối với các tổ chức tham gia BHTG nhằm đánh giá chính xác, khách quan mức độ rủi ro cũng như tính tuân thủ pháp luật của tổ chức tham gia BHTG. Hoạt động giám sát từ xa được tiến hành thường xuyên trên cơ sở các nguồn thông tin, dữ liệu về hoạt động của tổ chức tham gia BHTG. Ở các nước phát triển mà tổ chức BHTG ra đời lâu năm thì nguồn thông tin, dữ liệu phục vụ cho giám sát từ xa thường được khai thác từ kho dữ liệu chung do một cơ quan giám sát điều phối hoặc là tổ chức BHTG có thể truy cập trực tiếp ( thông qua việc nối mạng trực tuyến) vào hệ thống dữ liệu của tổ chức tham gia BHTG. Tổ chức tham gia BHTG chỉ báo cáo trực tiếp cho tổ chức BHTG những thông tin đột xuất, bất thường như khả năng chi trả, sự cần thiết phải hỗ trợ tài chính của tổ chức BHTG… Vì vậy, thông tin, dữ liệu rất chính xác và được cập nhật kịp thời, do vậy mà chất lượng báo cáo giám sát rất cao. Đối với hoạt động kiểm tra tại chỗ thường được tiến hành khi mức độ sai phạm của tổ chức tham gia BHTG là nghiêm trọng. Tổ chức BHTG thực hiện kiểm tra tại chỗ là để xác định mức vi phạm và yêu cầu tổ chức tham gia BHTG có biện pháp khắc phục để trở về hoạt động bình thường. Để đảm bảo hiệu quả, tránh chồng chéo và tiết kiệm chi phí, hoạt động giám sát, kiểm tra được điều phối bởi một cơ quan điều phối chung, theo đó mỗi cơ quan giám sát chịu trách nhiệm giám sát đối với một số ngân hàng hoặc tổ chức tài chính nhất định, chẳng hạn tại Mỹ có 4 cơ quan giám sát, trong đó: i) Cục dự trữ liên bang (FED) chịu trách nhiệm giám sát 8 ngân hàng thương mại liên bang lớn nhất nước Mỹ; ii) Tổ chức giám sát tiền tệ thuộc Bộ Tài chính (OCC) chịu trách nhiệm giám sát các ngân hàng quốc gia không phải là thành viên của FED và một
  4. phần tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm liên bang; iii) Tổ chức giám sát các tổ chức nhận tiền gửi phi ngân hàng thuộc Bộ Tài chính (OTS) chịu trách nhiệm giám sát tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm tại tiểu bang và một phần tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm liên bang chia sẻ với OCC (chính quyền của Tổng thống Obama đang có dự kiến sáp nhập OTS và OCC để thành lập cơ quan liên bang bảo vệ tài chính cho người tiêu dùng); iv) Bảo hiểm tiền gửi liên bang (FDIC) chịu trách nhiệm giám sát các ngân hàng tiểu bang. Thứ hai, Hỗ trợ tài chính đối với các tổ chức tham gia BHTG gặp khó khăn về thanh khoản: Đây là một trong những nghiệp vụ hỗ trợ khách hàng của tổ chức BHTG. Kinh nghiệm của các tổ chức BHTG thành công trên thế giới cho thấy các hoạt động hỗ trợ khách hàng có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển ổn định và an toàn của các tổ chức tham gia BHTG. Tổ chức BHTG thực hiện nghiệp vụ hỗ trợ tài chính đối với các tổ chức tham gia BHTG thông qua các hình thức: i) cho vay hỗ trợ khi tổ chức tham gia BHTG có khó khăn về khả năng thanh khoản và thanh toán; ii) mua lại các tài sản có đặc biệt là tài sản có chưa đến hạn thanh toán của tổ chức tham gia BHTG để củng cố khả năng thanh khoản của họ; iii) bảo lãnh cho tổ chức tham gia BHTG đi vay vốn tại một tổ chức tín dụng khác. Thứ ba, Chi trả tiền gửi được bảo hiểm cho người gửi tiền tại tổ chức tham gia BHTG bị giải thể, phá sản: Là việc tổ chức BHTG thực hiện cam kết thanh toán cho người gửi tiền thuộc đối tượng được bảo hiểm (bao gồm cả gốc và lãi), theo một mức độ nhất định, tùy thuộc vào quy định về hạn mức chi trả ở mỗi hệ thống BHTG. Việc chi trả được thực hiện khi tổ chức tham gia BHTG bị mất khả năng thanh toán phải chấm dứt hoạt động, nó có ảnh hưởng tới niềm tin của người gửi tiền đối với hoạt động ngân hàng của quốc gia. Mục đích của việc chi trả là nhằm đảm bảo quyền lợi cho người gửi tiền, tạo ra tâm lý an tâm đối với người dân có tiền gửi, ngăn chặn được việc rút tiền hàng loạt tại các tổ chức tham gia BHTG khác từ đó góp phần đảm bảo cho hệ thống ngân hàng hoạt động được ổn định
  5. Thứ tư, Tham gia vào việc tái cấu trúc hệ thống ngân hàng thông qua nghiệp vụ tiếp nhận, xử lý: Đây là một trong những chức năng, nhiệm vụ rất quan trọng của tổ chức BHTG theo mô hình giảm thiểu rủi ro, đặc biệt là trong giai đoạn xẩy ra khủng hoảng tài chính. Tổ chức BHTG thực hiện tiếp nhận, xử lý tổ chức tham gia BHTG có vấn đề theo nguyên tắc chi phí thấp nhất, chi trả nhanh nhất và bán lại tài sản với giá cao nhất. Việc tiếp nhận xử lý thường được áp dụng theo 2 cách sau đây: - Ngay sau khi cơ quan có thẩm quyền ra lệnh đóng cửa tổ chức tham gia BHTG, tổ chức BHTG tiến hành soạn thảo hợp đồng mua bán và sang nhượng cho một tổ chức tham gia BHTG khác. Tổ chức này sẽ tiếp quản các khoản tiền gửi và một phần hoặc toàn bộ tài sản của tổ chức tham gia BHTG bị đổ vỡ. Công việc này được thực hiện trong 2 ngày cuối tuần, đến ngày thứ 2 tuần kế tiếp, toàn bộ tiền gửi của khách hàng được giao dịch bình thường tại tổ chức tham gia BHTG mới ( tổ chức tiếp nhận). Các khoản phí chênh lệch do việc bán lại tổ chức bị đổ vỡ do tổ chức BHTG chi trả từ nguồn quỹ BHTG tích lũy được. - Nếu chưa có tổ chức nào đứng ra mua lại, tổ chức BHTG sẽ sử dụng nghiệp vụ ngân hàng bắc cầu để tái cơ cấu và quản lý hoạt động của tổ chức tham gia BHTG đổ vỡ dưới tên gọi mới (do tổ chức BHTG thành lập). Khi đó, ngân hàng bắc cầu được xem như cơ quan ủy nhiệm tạm thời để quản lý và duy trì việc kinh doanh của tổ chức tham gia BHTG bị đổ vỡ cho đến khi tìm được một tổ chức tham gia BHTG khác tiếp nhận. Trên thế giới, đặc biệt ở các nước phát triển, tổ chức BHTG được trao quyền rất lớn, ngoài quyền làm đầu mối trong quá trình tiếp nhận, xử lý những tổ chức tham gia BHTG gặp sự cố hoặc đổ vỡ, tổ chức BHTG còn có quyền tham gia điều tra, truy tố tổ chức, cá nhân vi phạm dẫn đến sự đổ vỡ của tổ chức tham gia BHTG đó. Vai trò của DIV đối với hệ thống tài chính- ngân hàng Việt Nam
  6. Ở Việt Nam, tổ chức BHTG (DIV) ra đời đến nay được gần 10 năm, so với các nước phát triển có tổ chức BHTG hoạt động theo mô hình giảm thiểu rủi ro thì chức năng, nhiệm vụ của DIV còn rất hạn chế ( hiện đang hoạt động theo mô hình chi trả với quyền hạn mở rộng). Tuy nhiên, kể từ khi ra đời và đi vào hoạt động đến nay, DIV cũng đã có những đóng góp rất quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi người gửi tiền, góp phần nâng cao niềm tin công chúng và duy trì sự phát triển ổn định của hệ thống tài chính - ngân hàng. Những kết quả mà DIV đã đạt được thể hiện trên một số mặt chính sau đây: Một là, đã thực hiện công khai hóa chính sách BHTG theo quy định của pháp luật với các yếu tố: Quy định bắt buộc đối với các TCTD phải tham gia BHTG; đối tượng tiền gửi được bảo hiểm; loại tiền gửi được bảo hiểm; mức phí bảo hiểm và đơn vị phải nộp; hạn mức chi trả tiền gửi được bảo hiểm… để người dân và các tổ chức tín dụng được biết. Qua đó, góp phần từng bước đưa chính sách BHTG của Nhà nước vào cuộc sống. Hai là, chi trả tiền gửi được bảo hiểm cho người gửi tiền. Sau một thời gian ngắn đi vào hoạt động ( cuối năm 2001), DIV đã bắt tay vào việc chi trả tiền gửi được bảo hiểm cho người gửi tiền tại một số QTDND cơ sở do hoạt động yếu kém phải giải thể bắt buộc mà ngày đó đang có nguy cơ lan rộng làm ảnh hưởng đến sự an toàn của hệ thống QTD nói riêng cũng như của cả hệ thống ngân hàng nói chung. Việc chi trả kịp thời tiền gửi được bảo hiểm tại các QTD này đã thể hiện được vai trò của DIV trong việc bảo vệ quyền lợi người gửi tiền, tạo lập được lòng tin của người dân đối với hệ thống ngân hàng, ngăn chặn được sự đổ vỡ dây truyền trong hệ thống QTDND. Đồng thời góp phần vào việc củng cố, chấn chỉnh hệ thống QTD để hệ thống này phát triển an toàn, ổn định theo tinh thần chỉ thị số 57/CT- TW của Bộ chính trị và Quyết định số 135/2000/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Tính đến nay, DIV đã thực hiện chi trả tiền gửi được bảo hiểm cho 1519
  7. người gửi tiền với tổng số tiền là 18.700 triệu đồng tại 37 QTDNDCS trên phạm vi toàn quốc. Ba là, giám sát 100% các tổ chức tham gia BHTG và thực hiện nhiều cuộc kiểm tra tại các tổ chức này. Qua hoạt động giám sát từ xa và kiểm tra tại chỗ, DIV đã có những kiến nghị và cảnh báo giúp tổ chức tham gia BHTG khắc phục các sai phạm và có biện pháp để phòng ngừa rủi ro trong hoạt động. Để nâng cao hiệu quả của hoạt động này, những năm qua DIV đã nghiên cứu để từng bước cải tiến và áp dụng các chuẩn mực quốc tế trong việc giám sát, kiểm tra đối với tổ chức tham gia BHTG theo hướng giám sát, kiểm tra mức độ rủi ro của tổ chức tham gia BHTG là chủ yếu. Tuy còn có những khó khăn, bất cập song có thể khẳng định hoạt động giám sát, kiểm tra của DIV đã giúp cho cơ quan chức năng đánh giá về mức độ rủi ro của hệ thống tài chính - ngân hàng được chính xác hơn. Bốn là, hỗ trợ tài chính đối với tổ chức tham gia BHTG gặp khó khăn tạm thời về khả năng chi trả. Hiện tại, nghiệp vụ hỗ trợ tài chính của DIV mới chỉ thực hiện đối với các tổ chức tham gia BHTG là QTDND cơ sở. Tuy nhiên, qua 5 năm thực hiện cho thấy việc hỗ trợ tài chính để giải quyết khó khăn tạm thời về chi trả là rất cần thiết đối với các tổ chức tham gia BHTG, đặc biệt là các QTDND cơ sở khi có khủng hoảng tài chính, bởi tính hệ thống của tổ chức này rất lỏng lẻo nếu không được hỗ trợ kịp thời thì nguy cơ đổ vỡ là rất lớn. Thực tế cho thấy, sau khi được DIV hỗ trợ các QTD đều vượt qua được khó khăn, trở lại hoạt động bình thường và đã trả hết nợ cho DIV. Những hạn chế, bất cập Bên cạnh những kết quả đã đạt được nêu trên có thể nói hoạt động của tổ chức BHTG tại Việt Nam còn nhiều vướng mắc, bất cập và những vướng mắc, bất cập này đã làm ảnh hưởng đến việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ vốn có của tổ chức BHTG theo thông lệ và chuẩn mực quốc tế, đó là:
  8. (1) Văn bản pháp lý điều chỉnh lĩnh vực hoạt động BHTG mới chỉ ở mức Nghị định, trong khi hầu hết các lĩnh vực về hoạt động tài chính - ngân hàng đều đã có luật điều chỉnh. Do đó chưa đảm bảo tính đồng bộ trong hoạt động cũng như cơ chế xử lý các sự việc phát sinh liên quan đến sự an toàn của tổ chức tham gia BHTG. Bên cạnh đó quy định về mối quan hệ giữa tổ chức BHTG với các cơ quan giám sát khác chưa được quy định rõ ràng dẫn đến chồng chéo và làm hạn chế vai trò của tổ chức BHTG. (2) Năng lực tài chính của tổ chức BHTG còn thấp ( hiện tại khoảng trên 3.000 tỷ đồng), đạt tỷ lệ xấp xỉ 1% số dư tiền gửi được bảo hiểm. So với thông lệ quốc tế thì tỷ lệ này rất thấp ( thông lệ quốc tế thường là 1,5% - 5% và những nước có nền kinh tế chuyển đổi như Việt Nam thường là 5 %). Với hạn chế này sẽ rất khó khăn cho DIV trong quá trình triển khai thực hiện nhiệm vụ, nhất là việc can thiệp, xử lý đối với tổ chức tham gia BHTG khi xẩy khủng hoảng mang tính hệ thống. (3) Một số chức năng, nhiệm vụ của DIV chưa được quy định rõ ràng, cụ thể như nghiệp vụ hỗ trợ tài chính, nghiệp vụ tiếp nhận, xử lý… đã làm hạn chế vai trò của tổ chức BHTG. Đối với một số chức năng, nhiệm vụ như chức năng giám sát, kiểm tra tuy được giao nhưng lại không quy định chế tài xử lý nên hiệu quả không cao. (4) Nhận thức của công chúng về BHTG và vai trò của tổ chức BHTG đối với người gửi tiền và hệ thống tài chính còn hạn chế. Đây là nguy cơ tiềm ẩn rủi ro do sự cố rút tiền hàng loạt khi có những thông tin không chính xác gây hoảng loạn ngân hàng làm mất an toàn hệ thống. Một số kiến nghị, đề xuất Để DIV phát huy tốt hơn nữa vai trò trong việc bảo vệ quyền lợi người gửi tiền, góp phần nâng cao niềm tin công chúng và đảm bảo sự phát triển an toàn, bền vững của hệ thống tài chính - ngân hàng cần xử lý tốt một số vấn đề sau:
  9. 1. Sớm hoàn thiện khung pháp lý về BHTG, cụ thể là khẩn trương xây dựng Luật BHTG để DIV phát huy tốt vai trò trong việc bảo vệ người gửi tiền và góp phần đảm bảo an toàn hệ thống tài chính - ngân hàng. Để việc xây dựng Luật BHTG đạt hiệu quả, phù hợp với thông lệ quốc tế và đặc thù của Việt Nam cần có tổng kết đánh giá những mặt được cũng như những hạn chế, bất cập sau 10 năm thực hiện chính sách BHTG, từ đó đưa ra mô hình tổ chức BHTG tiên tiến, hiệu quả. 2. Bổ sung kịp thời số vốn điều lệ còn thiếu cho DIV theo quy định của Chính phủ là 5.000 tỷ đồng để DIV thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ được giao. Trong khi chưa được cấp đủ vốn cần có cơ chế để DIV tiếp cận các nguồn vốn từ các tổ chức tài chính quốc tế có sự bảo lãnh của Chính phủ. 3. Đẩy mạnh tuyên truyền để người dân ngày càng hiểu rõ hơn chính sách BHTG. Việc tuyên truyền không chỉ do DIV thực hiện mà cần có sự phối hợp của cả các tổ chức tham gia BHTG. Làm tốt điều này sẽ giúp người dân an tâm khi gửi tiền vào các tổ chức nhận tiền gửi, hạn chế và ngăn chặn tình trạng rút tiền hành loạt gây ra đổ vỡ ngân hàng. ThS. Đỗ Quốc Tình - Bảo hiểm Tiền gửi Việt Nam Tài liệu tham khảo: - Bảo hiểm tiền gửi - Nguyên lý, thực tiễn và định hướng - TS. Nguyễn Thị Kim Oanh; - Các báo cáo giám sát, báo cáo tổng kết 2007, 2008 của DIV; - Website của FDIC - Bản tin DIV

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản