Tổng quan chung về du lịch Việt Nam

Chia sẻ: Đinh Như Nguyệt | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:13

4
3.320
lượt xem
1.070
download

Tổng quan chung về du lịch Việt Nam

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Du lịch bao gồm tất cả mọi hoạt động của những người du hành, tạm trú, trong mục đích tham quan, khám phá và tìm hiểu, trải nghiệm hoặc trong mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn; cũng như mục đích hành nghề và những mục đích khác nữa, trong thời gian liên tục nhưng không quá một năm, ở bên ngoài môi trường sống định cư; nhưng loại trừ các du hành mà có mục đích chính là làm tiền. Du lịch cũng là một dạng nghỉ ngơi năng động trong môi trường sống khác hẳn nơi định cư....

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tổng quan chung về du lịch Việt Nam

  1. Tổng quan chung về du lịch Việt Nam CHƯƠNG 1 : GIỚI THIỆU CHUNG VỀ DU LỊCH 1.1 Du lịch là gì ? Theo định nghĩa của Tổ chức Du lịch thế giới (World Tourist Organization) thì: Du lịch là đi đến một nơi khác xa nơi thường trú, để giải trí, nghỉ dưỡng... trong thời gian rỗi. Du lịch bao gồm tất cả mọi hoạt động của những người du hành, tạm trú, trong mục đích tham quan, khám phá và tìm hiểu, trải nghiệm hoặc trong mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn; cũng như mục đích hành nghề và những mục đích khác nữa, trong thời gian liên tục nhưng không quá một năm, ở bên ngoài môi trường sống định cư; nhưng loại trừ các du hành mà có mục đích chính là làm tiền. Du lịch cũng là một dạng nghỉ ngơi năng động trong môi trường sống khác hẳn nơi định cư. 1.2 Vai trò của du lịch Vai trò quan trọng của du lịch là giúp nâng cao chất lượng cuộc sống của con người, giúp con người nhanh chóng hồi phục sức khỏe và chữa bệnh. Du lịch giúp nâng cao trình độ hiểu biết, khả năng học hỏi của mỗi người. Khi đi du lịch, các nhu cầu thường ngày: ăn, mặc, ở, đi lại, giao tiếp, học tập, chữa bệnh, làm đẹp,… đều gia tăng và có sự biến đổi cấu trúc chung của các nhu cầu. Đó là cơ hội làm giàu cho một lãnh thổ và một quốc gia. Ví dụ, bóng đá thế giới ở Mỹ (1994) tạo ra các dòng người du lịch tới Mỹ, đem về cho quốc gia này tới 4 tỉ USD lợi nhuận. Du lịch không những làm thay đổi cấu trúc chung của các nhu cầu, nó còn làm thay đổi cấu trúc thời gian của các nhu cầu. Nó tạo ra các mùa, vụ, sự tăng giảm khác nhau của nhu cầu theo thời gian trong năm. Nắm bắt được cấu trúc thời gian mà nhu cầu du lịch tạo ra cũng sẽ là cơ hội cho các nhà kinh doanh du lịch làm giàu. Sự mua hàng hóa trực tiếp của du khách đã tạo ra khả năng xuất hàng tại chỗ của du lịch. Điều này kích thích sự phát triển của nhiều ngành sản xuất trong nước, nhất là đối với hàng hóa thủ công mỹ nghệ: đan lát, thêu, mộc, gốm sứ, tranh, ảnh, khảm, xà cừ,… Du lịch giúp tạo ra các lãnh thổ nghỉ ngơi, các vườn quốc gia, công viên du lịch,… đẩy mạnh việc bảo vệ môi sinh, môi trường; là cơ sở giúp người ta bảo tồn các nền văn hóa, tôn tạo lại các di tích lịch sử, các công trình văn hóa, phục hồi các khu phố cổ, phục chế các di phẩm văn hóa,… đồng thời giúp giải quyết việc làm cho đa số lao động phụ ở các thành phố, thị trấn. Du lịch là “con gà đẻ trứng vàng”, nó là chất xúc tác cho sự phát triển và đa dạng hóa các ngành nghề kinh tế.
  2. 1.3 Các loại hình du lịch chủ yếu - Du lịch làm ăn - Du lịch giải trí, năng động và đặc biệt - Du lịch nội quốc, quá biên - Du lịch tham quan trong thành phố - Du lịch sinh thái - Du lịch mạo hiểm, khám phá, trải nghiệm - Du lịch hội thảo, triển lãm MICE - Du lịch giảm stress, du lịch balo, tự túc khám phá. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH  VIỆT NAM 2.1 Lịch sử phát triển ngành Từ 1960 đến 1975, Hội đồng Chính phủ ban hành nghị định số 20/CP ngày  9/7/1960 thành lập công ty du lịch Việt Nam trực thuộc Bộ Ngoại thương; năm  1969, chức năng này chuyển về Phủ thủ tướng; sau đó chuyển sang Bộ Công an.  Ngành du lịch đã từng bước mở rộng nhiều cơ sở du lịch ở Hà Nội, Hải Phòng,  Quảng Ninh, Nghệ An,… Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, hoạt động du lịch dần trải rộng ra các miền trên toàn quốc. Ngành du lịch chuyển dần sang cơ chế thị trường định hướng XHCN. Từ 1975 đến 1990, ngành du lịch đã làm tốt nhiệm vụ tiếp quản, bảo toàn và phát  triển các cơ sở du lịch ở các tỉnh, thành phố vừa giải phóng; lần lượt mở rộng, xây  dựng thêm nhiều cơ sở mới từ Huế, Đà Nẵng, Bình Định, đến Nha Trang, Lâm  Đồng, TP.HCM, Vũng Tàu, Cần Thơ,… từng bước thành lập các doanh nghiệp du  lịch nhà nước trực thuộc Tổng cục du lịch và UBND tỉnh, thành phố và đặc khu. 
  3. Tháng 6/1978, Tổng cục du lịch Việt Nam được thành lập trực thuộc Hội đồng  Chính phủ. Trong giai đoạn này, du lịch đã góp phần tích cực tuyên truyền, giới  thiệu về đất nước, con người Việt Nam với bạn bè thế giới và tổ chức cho nhân dân  đi du lịch giao lưu 2 miền Nam – Bắc, góp phần giáo dục tinh thần yêu nước, tự  hào dân tộc. Giai đoạn 1990 đến 2005, ngành du lịch vươn lên đổi mới quản lí và phát triển, đạt  được những thành quả quan trọng, ngày càng tăng quy mô và chất lượng. Chỉ thị  46/CP – TƯ của Ban Bí thư trung ương Đảng khóa VII tháng 10/1994 khẳng định  “Phát triển du lịch là một hướng chiến lược quan trọng trong đường lối phát triển  kinh tế ­ xã hội nhằm góp phần thực hiện Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa đất  nước”. Cơ chế chính sách phát triển du lịch từng bước được hình thành, nâng cao  hiệu lực quản lí. Sau 2 năm sáp nhập vào Bộ Văn hóa – Thông tin rồi vào Bộ Thương mại, tháng  11/1992, Tổng cục du lịch đã nhanh chóng củng cố, ổn định tổ chức bộ máy để  thực hiện tốt chức năng quản lí nhà nước về du lịch từ Trung ương đến các tỉnh,  thành phố. Ngày 27/6/2005, Luật du lịch được Quốc hội thông qua. Từ 2006 đến nay, ngành du lịch Việt Nam dần dần hoàn thiện, sẵn sàng bước vào  sân chơi quốc tế. 2.2 Tiềm năng và thách thức 2.2.1 Tiềm năng Việt Nam không phải là một quốc gia nằm sâu trong nội lục mà nước ta tựa lưng  vào một khối lục địa lớn nhất thế giới, ngoảnh ra một đại dương rộng lớn nhất hoàn  cầu, khách du lịch từ nước ngoài có thể tới Việt Nam từ nhiều phía với nhiều  phương tiện khác nhau.  Lịch sử kiến tạo địa chất qua nhiều niên đại đã chạm khắc nên bộ mặt lãnh thổ  nước ta nhiều đường nét hình khối độc đáo và không đơn điệu: núi trẻ và núi già,  núi đất và núi đá, cao nguyên cổ, đồng bằng phù sa mới, các vết đứt gãy và hang  động, thềm lục địa và hải đảo. Đặc biệt địa hình Việt Nam là những tài nguyên có  giá trị. Địa hình đá vôi phân bố rộng khắp từ vĩ tuyến 160 trở lên với nhiều hệ 
  4. thống hang động như: Phong Nha, Hương Tích, Bích Động,... Đặc biệt hơn cả là địa hình núi và hang động ngập nước nhiệt đới điển hình ở Vịnh  Hạ Long mà giá trị của nó đã góp phần làm cho địa danh này được ghi tên vào  danh sách các di sản thiên nhiên thế giới. với 3/4 là đồi núi và địa hình bờ nước Nước ta nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, có khí hậu ổn định, chênh lệch nhiệt  độ trong ngày và giữa các mùa không cao, dồi dào tiềm năng về du lịch chữa bệnh  nên được du khách rất ưa thích. Đặc biệt những du khách đến từ xứ lạnh hay đến  Việt Nam để tránh rét, những du khách đến từ xứ nóng tìm đến các “phòng lạnh  thiên nhiên” như: Đà Lạt, SaPa, Tam Đảo,… Việt Nam là quốc gia đứng thứ 27 trong số 106 quốc gia có biển trên thế giới với  125 bãi tắm biển, trong đó hầu hết là các bãi tắm đẹp và thuận lợi cho khai thác du  lịch. Ngoài ra, theo các nhà địa chất thủy văn Việt Nam, ở nước ta có trên 400  điểm nước khoáng có giá trị du lịch như Kim Bôi (Hòa Bình), Quang Hanh (Quảng  Ninh), suối nước nóng Bình Châu (Bà Rịa – Vũng Tàu), Tháp Bà (Nha Trang),...  Việt Nam có hơn 40000 di sản văn hóa vật thể và bất động sản (đình chùa, miếu  đền, thành quách, lăng mộ,…). Tính đến tháng 4/2004, VN có 2741 di tích, thắng  cảnh được xếp hạng quốc gia (trong đó có 1322 di tích lịch sử, 1263 di tích kiến  trúc nghệ thuật, 54 di tích khảo cổ và 102 di tích thắng cảnh). Đặc biệt, Việt Nam  có 6 di sản được UNESCO công nhận di sản thế giới, đó là: Vịnh Hạ Long (Quảng  Ninh, 2 lần công nhận), vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng (Quảng Bình), cố đô  Huế, phố cổ Hội An và thánh địa Mỹ Sơn (Quảng Nam).  Tính đến năm 2007, Việt Nam được UNESCO công nhận 6 “khu dự trữ sinh quyển  thế giới” đó là: Cát Bà (Hải Phòng), khu dự trữ sinh quyển Châu thổ sông Hồng  trên địa bàn 2 huyện Tiền Hải (Thái Bình) và Giao Thủy (Nam Định), Cần Giờ  (TPHCM), vườn quốc gia Cát Tiên thuộc địa bàn tỉnh Đồng Nai, biển Kiên Giang  và khu vực Tây Nghệ An. Việt Nam là 1 trong hơn 20 quốc gia có vịnh “đẹp nhất  thế giới”, đó là: Vịnh Hạ Long (Quảng Ninh) và vịnh Nha Trang (Khánh Hòa).  Ngoài các tiềm năng có sẵn, du lịch Việt Nam có những điều kiện thuận lợi để thu  hút khách quốc tế: Việt Nam được xem là một trong những nước có điều kiện an  ninh chính trị và an toàn xã hội được đảm bảo. Hơn nữa, đồng USD cũng như các  ngoại tệ khác đang tăng giá so với tiền đồng Việt Nam. 
  5. Chính phủ dành nhiều ngân sách và ưu tiên cho việc phát triển du lịch. Tính riêng  năm 2007, nhà nước đã hỗ trợ đầu tư 750 tỷ đồng cho 59 tỉnh, thành phố phát  triển hạ tầng du lịch.  Nhìn chung, du lịch Việt Nam có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển. Những  năm gần đây, ngành du lịch đã và đang thu hút nhiều du khách trong và ngoài  nước, góp phần quan trọng trong cơ cấu thu nhập quốc dân. Mặt khác, bên cạnh  những nỗ lực trong việc xây dựng thêm nhiều sản phẩm du lịch hấp dẫn, ngành du  lịch đang cố gắng nhằm tạo ra thuận lợi để ngày càng nhiều du khách có dịp khám  phá các điểm đến của non nước Việt Nam. 2.2.2 Thách thức Do nằm ở vị trí địa lý đặc biệt nên nước ta thường xuyên xảy ra thiên tai, dịch  bệnh làm ảnh hưởng lớn đến sự phát triển chung của toàn ngành. Du lịch Việt Nam vẫn còn một khoảng cách khá xa với các nước du lịch phát  triển trong khu vực, bộc lộ rõ nét các hạn chế về chất lượng phục vụ, sản phẩm  du lịch nghèo nàn, đơn điệu nhưng giá cả du lịch lại cao; cơ sở hạ tầng không  theo kịp tốc độ phát triển. Theo thống kê của Phòng Thương mại và Công  nghiệp Việt Nam VCCI, trong năm 2007 lượng khách quốc tế đến Việt Nam  ước đạt trên 4 triệu lượt. Chỉ tính riêng 5 tháng đầu năm 2008, lượng khách  quốc tế đến Việt Nam ước đạt 2.078.954 lượt. Tuy nhiên, số lượng khách sạn,  nhà nghỉ tại Việt Nam không đủ đáp ứng nhu cầu của khách du lịch, thậm chí  là quá kém so với thế giới và khu vực. Thiếu nguồn nhân lực hoạt động trong ngành du lịch một cách trầm trọng, ấy là  chưa kể đến trình độ, kĩ năng chuyên môn của nguồn nhân lực này. Đặc biệt là  đội ngũ hướng dẫn viên vừa thiếu vừa yếu trong kĩ năng giao tiếp, ngoại ngữ,  hiểu biết kiến thức về văn hóa – xã hội, tâm lí khách hàng. Trong đó trình độ  ngoại ngữ là yếu nhất, năm 2006, 32% lao động dịch vụ trực tiếp biết tiếng Anh  ở mức độ khác nhau, tiếng Pháp 3,2%; Trung Quốc 3,6%; hướng dẫn viên ở 2  thị trường khá lớn là Nhật Bản và Hàn Quốc chưa tương xứng.  Ngành du lịch Việt Nam mới bắt đầu hội nhập, vừa hợp tác vừa tìm hiểu cơ chế  và luật chơi quốc tế nên khả năng chủ động đưa ra các dự án hợp tác còn  nhiều hạn chế. Chính vì vậy, các doanh nghiệp du lịch Việt Nam, nhất là các 
  6. đơn vị lữ hành dễ rơi vào tình trạng phụ thuộc và trở thành “người làm thuê” cho  các doanh nghiệp nước ngoài. Đa phần các doanh nghiệp du lịch nước ta thuộc  loại vừa và nhỏ, nên khi hòa mình vào sân chơi mới cùng thế giới, các doanh  nghiệp phải gánh trên vai áp lực nặng nề.  Luật du lịch Việt Nam vừa mới được ban hành và có hiệu lực, do vậy Luật chưa  thể “đáp ứng” được so với tình hình thực tế luôn thay đổi. Thủ tục hành chính  và hệ thống hạ tầng yếu kém vẫn là rào cản với các nhà đầu tư bất động sản  du lịch. Ông Macr Townsend, giám đốc điều hành CBRE Việt Nam“Xét về cơ  sở vật chất, cơ sở hạ tầng, Việt NamBaLi cách đây 28 năm”. Một nhà đầu tư  khác cho biết: “Chúng tôi mất khoảng 3 – 6 tháng để chờ duyệt hồ sơ đăng kí  đầu tư, rồi 3 năm để mua được đất, sau đó thì thêm vài năm nữa để chờ đợi  quá trình giải tỏa mặt bằng, đền bù,… để có được đất “sạch”. Quá trình này  quá mệt mỏi!”. Cộng với việc lãi suất ngân hàng Việt Nam cao nhất nhì thế giới  cũng là một bất lợi cho các nhà đầu tư. nhận định: hiện nay vẫn chưa bằng Những đợt quảng bá, xúc tiến du lịch Việt Nam tại các thị trường ngoài nước ít  có hiệu quả do thiếu trọng tâm và quá trình khảo sát, nghiên cứu thị trường  trước đó chưa liên tục, ít đổi mới, sáng tạo về hình thức, do vậy dễ chìm khuất,  không gây ấn tượng; sản phẩm du lịch của Việt Nam còn nghèo nàn, “thô” thì  có mà “tinh” thì không. Ngành du lịch chưa khai thác hết tiềm năng của điều  kiện tự nhiên, lịch sử, văn hóa. Nguy cơ hủy hoại môi trường và cảnh quan du  lịch cao nếu không có sự quan tâm đúng mức và những biện pháp quản lí có  hiệu quả từ phía nhà nước. Đầu tư du lịch một cách tràn lan, nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ chỉ làm theo ý  mình mà không xin ý kiến chuyên gia, khiến khách du lịch thất vọng. Các  doanh nghiệp làm du lịch chỉ quan tâm đến lợi ích mà họ có được, thiếu ý thức,  hiểu biết, kém năng động, chỉ có xu hướng moi tiền khách mà không thích  cung cấp hay phục vụ. Du lịch Việt Nam bên cạnh những cái thiếu đã nêu, gặp phải một cái thiếu cơ  bản của nền kinh tế là: Vốn – thiếu vốn, các doanh nghiệp du lịch Việt Nam  không đủ năng lực tài chính, dẫn đến khả năng khai thác thị trường trong nước,  khu vực và thế giới còn yếu.
  7. 2.3 Việt Nam phát triển du lịch như thế nào? 2.3.1 45 năm đầu phát triển (1960 – 2005) Được Đảng và nhà nước xác định là “Một ngành kinh tế quan trọng trong chiến  lược phát triển kinh tế ­ xã hội của đất nước” với mục tiêu: “Phát triển mạnh du lịch,  từng bước đưa nước ta trở thành trung tâm du lịch có tầm cỡ trong khu vực”, du lịch  Việt Nam trong 45 năm đầu phát triển tuy còn non trẻ nhưng hoạt động khá sôi  nổi.  Nhìn chung, giai đoạn từ tháng 10/1992 trở về trước, hệ thống tổ chức bộ máy  ngành Du lịch chưa thực sự định hình, trong 32 năm (1960 ­ 1992) đã có 6 lần  chuyển đổi. Vì vậy sự chỉ đạo trực tiếp của bộ máy quản lý nhà nước về du lịch từ  Trung ương xuống các tỉnh, thành phố và doanh nghiệp mất tính liên tục và kế  thừa dẫn đến tình trạng lỏng lẻo, hiệu quả kinh doanh không cao và ngành du lịch  tụt hậu so với du lịch các nước có điều kiện tương đồng. Trước thực tế đó, trên cơ  sở Nghị quyết của Quốc hội, ngày 17/10/1992, Chính phủ đã có Nghị đinh số  05/CP thành lập lại Tổng cục Du lịch; tiếp đó có Nghị định số 20­CP, ngày  27/12/1992 và Nghị định số 53­CP, ngày 07/8/1995, quy định chức năng, nhiệm  vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Tổng cục Du lịch. Nhờ ổn định và từng bước  được kiện toàn về tổ chức, du lịch nước ta mới khởi sắc và phát triển. Bênh cạnh đó, chiến lược phát triển du lịch Việt Nam 2001 – 2010 và Chương trình  hành động quốc gia về Du lịch giai đoạn 2006­2010 đã được Thủ tướng Chính phủ  phê duyệt. Năm 2005, Quốc hội đã thông qua Luật Du lịch để điều chỉnh các quan  hệ Du lịch ở tầm cao hơn; khẳng định một lần nữa vị thế của ngành Du lịch ngay từ  trong đường lối, chính sách và thể chế. Lực lượng kinh doanh du lịch phát triển mạnh, thích nghi dần với cơ chế mới, từng  bước làm ăn có hiệu quả: Hoạt động du lịch thu hút sự tham gia của cả 6 thành  phần kinh tế (nhà nuớc; tập thể; cá thể, tiểu chủ; tư bản tư nhân; tư bản nhà nước;  100% vốn nước ngoài). Tính đến năm 2005, cả nước đã có khoảng 6.000 cơ sở  kinh doanh lưu trú; 399 doanh nghiệp lữ hành quốc tế, trong đó có 203 doanh  nghiệp trách nhiệm hữu hạn, 124 doanh nghiệp nhà nước, 63 doanh nghiệp cổ 
  8. phần, 8 liên doanh và 2 doanh nghiệp tư nhân. Trong 5 năm (2001 – 2005), Chính phủ đã cấp 2.146 tỷ đồng hỗ trợ đầu tư hạ tầng  du lịch ở các khu du lịch trọng điểm. Cùng với đầu tư của Nhà nước và các thành  phần kinh tế trong nước, ngành Du lịch đã thu hút mạnh mẽ nguồn đầu tư trực tiếp  nước ngoài. Tính đến năm 2005 cả nước có 190 dự án với tổng số vốn đăng ký  đầu tư là 4,64 tỷ USD, ở 29 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Từ đó, Du lịch mang lại thu nhập ngày một lớn cho xã hội, năm 1990 thu nhập xã  hội từ du lịch mới đạt 1.350 tỷ đồng thì đến năm 2004, con số đó đã là 26.000 tỷ  đồng, gấp 20 lần. Riêng năm 2005, mặc dù gặp rất nhiều khó khăn, song hoạt  động du lịch vẫn diễn ra sôi động: ngành Du lịch đón được khoảng 3,43 triệu lượt  khách quốc tế, vượt chỉ tiêu kế hoạch 7% và tăng 17% so với năm 2004; Khách du  lịch nội địa đạt trên 16 triệu lượt người, vượt chỉ tiêu 7% và tăng 11% so với kế  hoạch năm 2004.  Tóm lại, trong giai đoạn này, được sự quan tâm lãnh đạo của Đảng và Nhà nước,  sự phối hợp của các cấp, các ngành, cùng với sự hưởng ứng của nhân dân và hỗ  trợ quốc tế, du lịch Việt Nam đã hoàn thành tốt nhiệm vụ, từng bước hội đủ điều  kiện của một ngành kinh tế mũi nhọn. 2.3.2 Từ 2006 đến nay Sau khi Luật du lịch được thông qua và Việt Nam gia nhập WTO thì du lịch Việt  Nam đã vươn lên, tham gia chủ động dần trong hội nhập du lịch quốc tế, tiếp tục  thiết lập và mở rộng quan hệ hợp tác du lịch nhiều mặt với các nước láng giềng,  các nước trong khu vực và trên thế giới. Du lịch nước ta là thành viên của Tổ chức  du lịch thế giới, Hiệp hội du lịch Châu Á – Thái Bình Dương, Hiệp hội du lịch Đông  Nam Á và phát huy được vai trò, quyền lợi hội viên.  Nhờ thế đã tranh thủ được vốn, kinh nghiệm, công nghệ, nguồn khách để phát  triển, đồng thời tham gia đầu tư ra nước ngoài, chủ yếu là kinh doanh ăn uống ở  các nước láng giềng, Nhật Bản, Đức và Hoa Kỳ. Việc Tổng cục du lịch được nâng  lên cấp Bộ, mở ra cho du lịch Việt Nam một tương lai mới. Năm 2006 là năm đầu thực hiện Kế hoạch 5 năm giai đoạn 2006 – 2010, du lịch  Việt Nam có nhiều sự kiện quan trọng như: Năm du lịch quốc gia 2006 với chủ đề 
  9. “Quảng Nam: một điểm đến, hai di sản thế giới”, tổ chức thành công Hội nghị bộ  trưởng du lịch trong khuôn khổ APEC, Festival Huế, … Mức tăng trưởng tăng 20%,  ước khoảng 36 nghìn tỷ đồng, lượng khách quốc tế ước đạt 3,6 triệu lượt, tăng 3%  so với năm 2005. Các thị trường chính đưa khách đến Việt Nam: Hàn Quốc tăng  29,4%; Nhật Bản tăng 14,3%; Mỹ tăng 16,8%; Canada tăng 15%; Đức tăng  10,6%.  Năm 2007 được coi là năm thành công của du lịch Việt Nam: lượng khách du lịch  đến với Việt Nam mục đích đơn thuần là du lịch tăng 26%, khách thương mại 16%,  khách thăm người thân tăng 9%, khách đến với mục đích khác giảm 10%. Tổng  cộng khách du lịch quốc tế đạt 4,2 triệu lượt (tăng 18% so với năm 2006) cụ thể,  lượng khách Tây Âu: Pháp tăng 42%, Đức tăng 32%, Anh xấp xỉ 28%; thị trường  Đông Bắc Á như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan với tổng lượng khách 1,2 triệu  lượt chiếm 30% tổng lượng khách du lịch quốc tế. Khách nội địa tăng 9,7% so với  năm 2006 (19,2 triệu lượt).  Trong năm, nhiều hoạt động du lịch đã được diễn ra: Năm Du lịch quốc gia Thái  Nguyên với chủ đề “Về thủ đô gió ngàn – chiến khu Việt Bắc”, tổ chức thành công  hội nghị bộ trưởng 3 nước Việt Nam – Lào – Campuchia bên lề hội chợ du lịch  quốc tế tại TPHCM, lần đầu tiên du lịch Việt Nam được quảng bá chính thức trên  kênh truyền hình CNN, Vịnh Hạ Long được nhiều người bình chọn vào nhóm “kì  quan thiên nhiên thế giới”, Festival Hoa Đà Lạt được tổ chức thành công. Thu nhập  xã hội về du lịch ước đạt 56 nghìn tỷ đồng (tăng 9,8%), đưa mức tăng trưởng du  lịch lên từ 16% lên 18% đổi với khách quốc tế, 11% với khách trong nước Năm 2008, Ngành du lịch tiếp tục phát triển, nhưng do ảnh hưởng của cuộc khủng  hoảng kinh tế thế giới nên lượng khách quốc tế có phần chững lại. Khách du lịch  đến Việt Nam vì công việc tăng mạnh (trên 34% so với cùng kì năm 2007), lượng  khách đến với mục đích du lịch tăng nhẹ (2,71% so với cùng kì năm 2007). Du  khách tại các thị trường gần như Philippine, Trung Quốc vẫn chọn Việt Nam làm  điểm điến. Tuy nhiên một số thị trường xa lại có xu hướng giảm xuống, trong đó:  Hàn Quốc tăng 0,49%; Tây Ban Nha giảm 9,4%; Italia giảm 8,8%; Pháp giảm  2,5%; Hà Lan giảm 26% (so với cùng kì năm 2007).  Trong 9 tháng đầu năm 2008, lượng khách quốc tế ước đạt 3,3 triệu lượt, tăng  5,8% so với cùng kì năm 2007. Năm 2008, ngành du lịch Việt Nam tổ chức nhiều  sự kiện đặc sắc, hấp dẫn: năm Du lịch quốc gia “Miệt vườn sông nước Cửu Long”, 
  10. chương trình “Du lịch về cội nguồn 2008” tổ chức tại Phú Thọ ­ Yên Bái ­ Lào Cai,  Festival Huế với chủ đề “Di sản văn hóa với hội nhập và phát triển”, lần đầu tiên  cuộc thi hoa hậu hoàn vũ thế giới được tổ chức tại Nha Trang – Khánh Hòa và  cuộc thi hoa hậu du lịch Việt Nam được tổ chức tại TPHCM,…  Công tác xúc tiến quảng bá được chú trọng hơn: Đã thành lập Cục Xúc tiến Du  lịch; tính chuyên nghiệp được nâng dần; chất lượng tổ chức các sự kiện tốt hơn.  Tổng cục Du lịch đã chủ động phối hợp với Hàng không Việt Nam, các Đại sứ  quán Việt Nam ở nước ngoài, Bộ Văn hóa – Thông tin, các cơ quan thông tấn báo  chí, phát thanh truyền hình, tổ chức nhiều sự kiện xúc tiến du lịch ở nước ngoài.  Với nỗ lực mở rộng hợp tác quốc tế, Du lịch Việt Nam đã ký và thực hiện tốt 26  hiệp định hợp tác du lịch song phương với các nước là thị trường du lịch trọng điểm  và trung tâm giao lưu quốc tế, tăng cường hợp tác du lịch với các nước khác; ký  Hiệp định hợp tác du lịch đa phương 10 nước ASEAN; tham gia chủ động hơn  trong hợp tác du lịch Tiểu vùng sông Mêkông mở rộng, hợp tác hành lang Đông –  Tây, hợp tác sông Mêkông – sông Hằng, hợp tác ASEAN, APEC, hợp tác trong  Hiệp hội du lịch Châu Á – Thái Bình Dương (PATA), trong Tổ chức Du lịch thế giới  (WTO)…; có quan hệ bạn hàng với 1.000 hãng của 60 nước và vùng lãnh thổ. 45 năm phát triển, du lịch đã đạt và duy trì tốc độ tăng trưởng cao, lượng khách du  lịch hàng năm tăng, nhiều năm vượt chỉ tiêu đề ra. Từ năm 1990 đến 2005, lượng  khách du lịch luôn duy trì được mức tăng trưởng cao 2 con số (trung bình năm trên  20%) 2.4 Các loại hình du lịch chủ yếu ở Việt Nam ­ Du lịch sinh thái: Vịnh Hạ Long, động Phong Nha, các vườn quốc gia,… ­ Du lịch khảo sát, mạo hiểm, thể thao: đỉnh Phan Xi Păng, dãy Lang Biang (Đà  Lạt), thác Bản Dốc (Cao Bằng), biển Nha Trang,… ­ Du lịch truyền thống dân tộc, lịch sử văn hóa, nghệ thuật: phố cổ Hội An, cung  đình Huế, các làng nghề truyền thống,…
  11. ­ Du lịch nghỉ ngơi, chữa bệnh, vui chơi, giải trí: Đà Lạt, Vũng Tàu,… ­ Du lịch kinh doanh ­ Du lịch tổng hợp nhiều mục đích tùy theo nhóm khách. 2.5 Tác động của du lịch 2.5.1 Đối với kinh tế Chưa có con số thống kê chính thức nhưng chắc chắn ngành công nghiệp không  khói này đã đem lại hàng triệu việc làm cho người lao động. Với đà tăng trưởng  xấp xỉ 20% trong những năm gần đây, doanh thu của toàn ngành ước tính đạt  khoảng 30 ngàn tỷ đồng/năm. Một dẫn chứng cụ thể là lượng ngoại tệ thu được từ  chi tiêu của khách quốc tế năm 2005 đạt 2,3 tỷ USD, năm 2006 đạt 2,85 tỷ USD,  năm 2007 đạt 3,33 tỷ USD. Qua đó du lịch Việt Nam đã đóng góp 3,7% vào tổng  sản phẩm xã hội. Du lịch phát triển kéo theo sự phát triển của rất nhiều ngành,  nghề: hàng không, giao thông đường bộ, khách sạn, thủ công mỹ nghệ,… Trên bình diện chung, hoạt động du lịch có tác dụng biến đổi cán cân thu chi của  khu vực và đất nước. Khi khu vực nào đó trở thành một điểm du lịch, du khách từ  mọi nơi đổ về sẽ làm cho nhu cầu về mọi hàng hóa tăng lên đáng kể. Việc đòi hỏi  một số lượng lớn vật tư, hàng hóa có chất lượng cao, phong phú về chủng loại,  hình thức đẹp và hấp dẫn yêu cầu các doanh nghiệp phải đầu tư trang thiết bị hiện  đại, sử dụng công nhân có tay nghề cao. Du lịch quốc tế xuất khẩu tại chỗ được  nhiều mặt hàng mà không phải qua nhiều khâu nên tiết kiệm được lao động, đồng  thời kích thích sản xuất và tiêu dùng. Tuy nhiên du lịch cũng có một số ảnh hưởng tiêu cực, rõ ràng nhất là tình trạng  lạm phát cục bộ hay giá cả hàng hóa tăng cao, nhiều khi vượt quá khả năng chi  tiêu của người dân địa phương, nhất là của những người mà thu nhập của họ  không liên quan đến du lịch.
  12. 2.5.2 Đối với môi trường Sự phát triển nhanh chóng của du lịch thời gian qua đã góp phần tích cực vào sự  ổn định và bền vững của môi trường. Du lịch phát triển làm tăng hiệu quả sử dụng  quỹ đất nhờ sử dụng đất còn trống hoặc đất sử dụng không hiệu quả; giảm sức ép  do khai thác tài nguyên quá mức từ các hoạt động dân sinh, kinh tế; đảm bảo chất  lượng nước trong và ngoài khu vực phát triển du lịch nếu như các giải pháp kĩ thuật  trong cấp thoát nước được áp dụng; bảo tồn và tăng thêm mức độ đa dạng sinh  học tại các điểm du lịch. Ngoài ra du lịch còn góp phần tích cực vào sự nghiệp  giáo dục môi trường – một vấn đề mà thế giới đang hết sức quan tâm.  Bên cạnh những tác động tích cực, hoạt động du lịch đã có những tác động tiêu  cực nhất định: tại nhiều khu vực do tốc độ phát triển du lịch quá nhanh vượt ngoài  khả năng và nhận thức nên đã tạo sức ép lớn đến khả năng đáp ứng của môi  trường và thiên nhiên, gây ô nhiễm cục bộ và nguy cơ suy thoái lâu dài, góp phần  làm tăng nguy cơ ô nhiễm môi trường đất, nước; phát triển du lịch còn làm tăng  thêm sức ép lên quỹ đất tại các vùng vốn đã rất hạn chế; các hệ sinh thái và môi  trường rất nhạy cảm và dễ bị tổn thương,… 2.5.3 Đối với văn hóa Du lịch phát triển là điều kiện tốt để bảo tồn, nâng cao giá trị và khôi phục các di  sản kiến trúc, nghệ thuật, vật thể và phi vật thể, văn hóa thủ công mỹ nghệ, trang  phục, phong tục truyền thống,… Hoạt động du lịch cũng gây những tác động tiêu cực đến đời sống văn hóa ở một  số khu vực. Cụ thể: các giá trị văn hóa truyền thống của nhiều cộng đồng dân cư  trên các vùng núi cao thường khá đặc sắc nhưng rất dễ bị biến đổi do tiếp xúc với  các nền văn hóa xa lạ, do xu hướng thị trường hóa các hoạt động văn hóa, do mâu  thuẫn nảy sinh khi phát triển du lịch hoặc do tương phản về lối sống; để thỏa mãn  nhu cầu của du khách, vì lợi ích kinh tế to lớn trước mắt nên các hoạt động văn  hóa truyền thống bị lôi ra trình diễn một cách thiếu tự nhiên, không chuyên nghiệp  hoặc làm trò cười cho du khách, cộng với việc các mặt hàng truyền thống được  sản xuất cẩu thả làm méo mó giá trị chân thực, làm sai lệch hình ảnh của một nền  văn hóa bản địa; các di sản văn hóa, lịch sử, khảo cổ thường được xây dựng bằng 
  13. các vật liệu dễ bị hủy hoại, lại phải chịu thêm tác động của khách du lịch tới thăm;  các hoạt động du lịch chuyên đề như khảo cổ học có thể nảy sinh mâu thuẫn với  các hoạt động tín ngưỡng ở địa phương. 2.5.4 Đối với xã hội Đối với xã hội, du lịch có vai trò giữ gìn, phục hồi sức khỏe và tăng cường sức sống  cho người dân. Trong một chừng mực nào đó, du lịch có tác dụng hạn chế bệnh  tật, kéo dài tuổi thọ và khả năng lao động của con người. Khi đi du lịch, mọi người  có điều kiện tiếp xúc, gần gũi nhau hơn, tăng thêm tình đoàn kết và vốn sống.  Những chuyến tham quan tại các di tích lịch sử, các công trình văn hóa có tác  dụng giáo dục tinh thần yêu nước, khơi dậy lòng tự hào dân tộc. Du lịch còn đóng  góp rất lớn cho các họat động xã hội. Bản chất của hoạt động du lịch là giao lưu, tiếp xúc giữa các cá thể, cộng đồng có  thế giới quan không phải luôn luôn đồng nhất. Quá trình giao tiếp này cũng là môi  trường để các ảnh hưởng tiêu cực thâm nhập vào xã hội một cách nhanh chóng  như: nạn nghiện hút, mại dâm, trộm cướp,… Do có cách nhìn nhận về đạo đức  khác nhau, một số du khách không thấy những hành động, cử chỉ, cách ăn mặc,…  của mình là không phù hợp với phong tục truyền thống của cư dân nơi đến du lịch,  điều này sẽ tác động xấu đến nhận thức của giới trẻ. 2.5.5 Đối với an ninh, chính trị Trước hết phải khẳng định du lịch là chiếc cầu nối hòa bình giữa các dân tộc  trên thế giới. Hoạt động du lịch giúp cho các dân tốc xích lại gần nhau hơn,  hiểu hơn về giá trị văn hóa của đất nước bạn. Tất nhiên không phải không có những ảnh hưởng tiêu cực của du lịch về mặt  an ninh trật tự và an toàn xã hội. Du lịch là con đường mà các thế lực phản  động thường hay sử dụng để tuyên truyền, kích động. Đội lốt du khách, có  những kẻ đã thâm nhập sâu vào nước đến để móc nối, xây dựng cơ sở.

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản