Tổng quan chung về Ngân hàng và các dịch vụ Ngân hàng

Chia sẻ: Tran Kieu Oanh | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:51

2
945
lượt xem
717
download

Tổng quan chung về Ngân hàng và các dịch vụ Ngân hàng

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Trong những năm gần đây,kinh tế Việt Nam đã có nhiều khởi sắc với tốc độ tăng trưởng GDP cao và ổn định.Đóng góp vào kết quả đó,không thể không kể đến vai trò của Thị trường chứng khoán.Mặc dù còn non trẻ,Thị trường chứng khoán đã từng bước khẳng định vị thế,tầm quan trọng của mình,là sản phẩm của nền kinh tế thị trường hiện đại.Bên cạnh đó,sự phối hợp giữa Thị trường chứng khoán và các trung gian tài chính đặc biệt là ngân hàng thương mại ngày càng khăng khít và chặt chẽ.Vậy thì vai trò của Ngân hàng thương mại trên Thị...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tổng quan chung về Ngân hàng và các dịch vụ Ngân hàng

  1.  Tổng quan về Ngân hàng và các dịch vụ Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh, tháng năm …..
  2. Dẫn nhập: Trong những năm gần đây,kinh tế Việt Nam đã có nhi ều kh ởi s ắc v ới t ốc đ ộ tăng trưởng GDP cao và ổn định.Đóng góp vào kết quả đó,không thể không k ể đến vai trò của Thị trường chứng khoán.Mặc dù còn non trẻ,Thị trường chứng khoán đã t ừng bước khẳng định vị thế,tầm quan trọng của mình,là sản phẩm của n ền kinh tế thị trường hiện đại.Bên cạnh đó,sự phối hợp giữa Thị trường chứng khoán và các trung gian tài chính đặc biệt là ngân hàng thương mại ngày càng khăng khít và ch ặt ch ẽ.V ậy thì vai trò của Ngân hàng thương mại trên Thị trường ch ứng khoán là gì?Nhóm chúng tôi muốn tìm hiểu,nghiên cứu và đưa ra một cái nhìn đầy đ ủ,chính xác và khách quan nhất về vấn đề này. Bài viết gồm những phần chính sau đây: 1.Tổng quan về NHTM ………………………………………………………………..2 2.Tổng quan về TTCK…………………………………………………………………14 3.Hoạt động của NHTM trên TTCK……………………………………………………24 4.Vai trò của NHTM trên TTCK……………………………………………………….37 5.Giải pháp nâng cao vai trò NHTM trên TTCK……………………………………….47
  3. Thành viên của nhóm: 1,Thái Bá Anh 2,Nguyễn Thùy Trang 3,Vũ Huy Hoàng 4,Lê Anh Dũng 5,Dương Nữ Kiều Oanh 6,Trịnh Anh Pháp 7,Lê Thanh Hải 8,Trịnh Tuấn Anh 9,Hoàng Quốc Dũng 10,Nguyễn Thùy Linh 11,
  4. Tổng quan về Ngân hàng và các dịch vụ Ngân hàng Tài liệu sẽ trình bày vai trò của ngân hàng trong nền kinh tế, kết quả nghiên cứu những xu hướng trong hoạt động ngân hàng như: cạnh tranh, thay đổi công nghệ, quá trình hợp nhất ngân hàng, toàn cầu hóa, và cùng các nhà quản lý ngân hàng tìm kiếm giải pháp tồn tại và tiếp tục phát triển. Ngân hàng là gì? Ngân hàng là 1 loại hình tổ chức có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế nói chung và đối với từng cộng đồng địa phương nói riêng. Vậy mà vẫn có sự nhầm l ẫn trong vi ệc định nghĩa ngân hàng là gì? Rõ ràng, các ngân hàng có thể được đ ịnh nghĩa qua chức năng (các dịch vụ) mà chúng thực hiện trong nền kinh t ế. V ấn đ ề là ở ch ỗ không ch ỉ chức năng của các ngân hàng đang thay đổi mà chức năng c ủa các đ ối th ủ c ạnh tranh chính sách của ngân hàng cũng không ngừng thay đ ổi. Th ực t ế là, r ất nhi ều t ổ ch ức tài chính - bao gồm cả các công ty kinh doanh chứng khoán, công tymôi gi ới ch ứng khoán, quĩ tương hỗ và công ty bảo hiểm hàng đầu đều đang c ố gắng cung c ấp các d ịch v ụ của ngân hàng. Ngược lại, ngân hàng cũng đối phó với các đ ối th ủ c ạnh tranh (các t ổ chức tài chính phi ngân hàng) bằng cách mở rộng phạm vi cung c ấp dịch vụ, hướng v ề lĩnh vực bất động sản và môi giới chứng khoán, tham gia hoạt động bảo hi ểm, đầu t ư vào quĩ tương hỗ và thực hiện nhiều dịch vụ mới khác. Một ví dụ điển hình về nỗ lực của các tổ chức tài chính trong vi ệc cung c ấp d ịch v ụ ngân hàng được ghi nhận vào những năm 1980 khi rất nhiều công ty b ảo hi ểm và kinh doanh chứng khoán lớn, bao gồm cả Merrill Lynch và Dreyfus Corporation, Prudential nhảy vào lĩnh vực ngân hàng bằng cách thành lập cái mà họ gọi là “các ngân hàng phi ngân hàng”. Họ nhận thức được rằng, theo pháp luật nước Mỹ, bất kỳ một tổ chức nào cung cấp tài khoản tiền gửi cho phép khách hàng rút tiền theo yêu cầu (như bằng cách viết séc hay bằng việc rút tiền điện tử) và cho vay đối với các tổ chức kinh doanh hay cho vay thương mại sẽ được xem là một ngân hàng . Merrill Lynch và các tổ chức phi ngân hàng khác nhận định rằng họ có thể né tránh nh ững quy đ ịnh này và s ẽ có th ể cung cấp dịch vụ ngân hàng khác cho công chúng. Tuy nhiên, C ục D ự tr ữ liên bang (Fed), không muốn thấy sự xâm phạm vào lĩnh vực ngân hàng c ủa các “ngân hàng giả”, đã đưa ra quyết định rằng: việc cho vay đối với cá nhân và hộ gia đình cũng là một trong những hoạt động ngân hàng tiêu biểu để phân biệt ngân hàng với các t ổ chức tài chính khác. Điều đó đưa Merrill Lynch và các tổ chức tương tự trở thành các ngân hàng thực thụ và phải tuân theo qui định chặt chẽ của Chính phủ. Sau đó các công ty kinh doanh và môi gi ới chứng khoán hàng đ ầu đã ki ện lên tòa liên bang, buộc tội Fed đã vượt quá quyền hạn. Năm 1984, tòa án liên bang công nh ận này và buộc Fed phải cho phép tồn tại hình thức “các ngân hàng phi ngân hàng” và cho h ọ tham gia bảo hiểm tiền gửi liên bang. Chỉ trong vòng vài tuần sau phán quyết này, hàng tá đơn xin thành lập “ngân hàng phi ngân hàng” đã đ ược n ộp . E.F. Hutton,
  5. J.C.Penney và Sears Roebuck là những công ty cung cấp d ịch v ụ tài chính hàng đ ầu được tổ chức dưới dạng ngân hàng phi ngân hàng. Hơn thế, các công ty s ở h ữu ngân hàng lớn của Citicorp và Chase Manhattan cũng thành lập các “ngân hàng phi ngân hàng” của riêng họ bởi vì với loại ngân hàng này h ọ có th ể m ở r ộng chi nhánh t ự do qua biên giới bang. Năm 1987, Quốc hội hạn chế sự bành chướng c ủa các “ngân hàng phi ngân hàng” bằng cách ràng buộc các công ty sở h ữu ngân hàng phi ngân hàng vào những quy định tương tự như các tổ ch ức ngân hàng truyền thống. Cuối cùng, Quốc hội đã “bắn phát súng cuối cùng” trong việc đưa ra một đ ịnh nghĩa mang tính pháp lý về ngân hàng: ngân hàng được định nghĩa như một công ty là thành viên của Công ty Bảo hiểm tiền gửi Liên bang. Đây thật là một sự thay đổi thông minh vì theo luật hiện hành của Mỹ, người ta không các định ngân hàng trên c ơ sở nh ững ho ạt đ ộng c ủa nó mà trên cơ sở cơ quan chính phủ nào sẽ bảo hiểm cho tiền gửi của nó. Dòng nước đã bị vẩn đục. Vào năm 1991, chính quyền của tổng thống George Bush đề nghị cho phép các ngân hàng với vốn tự có thích hợp sẽ được quyền cung c ấp hàng loạt những dịch vụ mới và được phép liên kết với các công ty môi gi ới và kinh doanh chứng khoán, các công ty đầu tư (các quĩ tương hỗ); cho phép công ty công nghi ệp s ở hữu các công ty cung cấp dịch vụ tài chính ( những công ty này có th ể đi ều hành nganhangf và các công ty bảo hiểm); cho phép các công ty ngân hàng đầu tư vào nh ững ngành công nghiệp phi tài chính trên cơ sở m ột số điều kiện ràng bu ộc. Do đó, các hàng rào pháp lý có tính lịch sử ở Hoa kỳ phân tách hoạt động ngân hàng v ới các ho ạt động kinh doanh khác – điều đã tồn tại qua nhiều thế hệ - đang bị tấn công và có th ể sẽ sớm đưa đến một sự thay đổi lớn lao trong việc định nghĩa ngân hàng là gì và nó cung cấp những dịch vụ gì. Kết qủa của tất cả những thay đổi về pháp lý dẫn đến tình trạng có sự nhầm l ẫn trong công chúng khi phân biệt ngân hàng với một số tổ chức tài chính khác. Cách ti ếp cận thận trọng nhất là có thể xem xét các tổ chức này trên phương diện nh ững lo ại hình dịch vụ mà chúng cung cấp. Ngân hàng là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục và dịch vụ tài chính đa hạng nhất – đặc biệt là tín d ụng, ti ết ki ệm và dịch vụ thanh toán – và thực hiện nhiều chức nằng tài chính nhất so với bất kỳ m ột t ổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế. Sự đa hạng trong các dịch vụ và chức năng của ngân hàng dẫn đến việc chúng được gọi là các “Bách hóa tài chính” (financial department stores) và người ta bắt đầu thấy xuất hiện các kh ẩu hi ệu qu ản cáo t ương tự như: Ngân hàng của bạn – Một tổ chức tài chính cung cấp đầy đủ d ịch v ụ (Your Bank – a full service Financial institution) (xem Sơ đồ 1 - 1)
  6. Sơ đồ 1 – 1. Những chức năng cơ bản của ngân hàng đa năng ngày nay: Các dịch vụ ngân hàng: Ngân hàng là loại hình tổ chức chuyên nghiệp trong lĩnh vực tạo lập và cung cấp các dịch vụ quản lý cho công chúng, đồng thời nó cũng thực hiện nhiều vai trò khác trong nền kinh tế (xem bảng 1-1). Thành công của ngân hàng hoàn toàn phụ thuộc vào năng lực trong việc xác định các dịch vụ tài chính mà xã hội có nhu cầu, thực hiện các dịch vụ đó một cách có hiệu quả và bán chúng tại một mức giá cạnh tranh. Vậy ngày nay xã hội đòi hỏi những dịch vụ gì từ phía các ngân hàng? Trong phần này, chúng tôi s ẽ giới thiệu tổng quân về danh mục dịch vụ mà ngân hàng cung cấp. Các dịch vụ truyền thông của ngân hàng: Thực hiện trao đổi ngoại tệ. Lịch sử cho thấy rằng một trong những dịch vụ ngân hàng đầu tiên được thực hiện là trao đổi ngoại tệ - m ột nhà ngân hàng đ ứng ra mua, bán một loại tiền này, chẳng hạn USD lấy m ột lại tiền khác, chẳng h ạn Franc hay Pesos và hưởng phí dịch vụ. S ự trao đổi đó là rất quan trọng đối với khách du lịch vì họ sẽ cảm thấy thuận tiện và thoải mái hơn khi có trong tay đồng bản tệ của quốc gia hay thành phố họ đến. Trong thị trường tài chính ngày nay, mua bán ngo ại t ệ th ường chỉ do các ngân hàng lớn nhất thực hiện bởi vì những giao dịch như vậy có m ức độ rủi ro cao, đồng thời yêu cầu phải có trình độ chuyên môn cao. Chiết khấu thương phiếu và cho vay thương mại. Ngay ở thời kỳ đầu, các ngân hàng đã chiết khấu thương phiếu mà thực tế là cho vay đối v ới các doanh nhân đ ịa phương những người bán các khoản nợ (khoản phải thu) của khách hàng cho ngân hàng để lấy tiền mặt. Đó là bược chuyển tiếp từ chiết thương phiếu sang cho vay
  7. trực tiếp đối với các khách hàng, giúp họ có vốn để mua hàng d ự tr ữ ho ặc xây d ựng văn phòng và thiết bị sản xuất. Nhận tiền gửi. Cho vay được coi là hoạt động sinh lời cao, do đó các ngân hàng đã tìm kiếm mọi cách để huy động nguồn vốn cho vay. Một trong nh ững ngu ồn v ốn quan trọng là các khoản tiền gửi tiết kiệm gửi tiết kiệm của khách hàng – một quỹ sinhlợi được gửi tại ngân hàng trong khoảng thời gian nhi ều tuần, nhi ều tháng, nhi ều năm, đôi khi được hưởng mức lãi suất tương đối cao. Trong lịch sử đã có những k ỷ lục về lãi suất, chẳng hạn các ngân hàng Hy Lạp đã trả lãi suất 16% m ột năm để thu hút các khoản tiết kiệm nhằm mục đích cho vay đối với các chủ tàu ở Đ ịa Trung H ải v ới lãi suất gấp đôi hay gấp ba lãi suất tiết kiệm. Bảo quản vật có giá trị: Ngay từ thời Trung Cổ, các ngân hàng đã bắt đầu thực hi ện việc lưu giữ vàng và các vật có giá khác cho khách hàng trong kho bảo quản. M ột điều hấp hẫn là các giấy chứng nhận do ngân hàng ký phát cho khách hàng (ghi nhận về các tài sản đang được lưu giữ) có thể được lưu hành như ti ền – đó là hình th ức đ ầu tiên của séc và thẻ tín dụng. Ngày nay, nghiệp vụ bảo quản vật có giá tr ị cho khách hàng thường do phòng “Bảo quản” của ngân hàng thực hiện. Tài trợ các hoạt động của Chính phủ. Trong thời kỳ Trung Cổ và vào những năm đầu cách mạng Công nghiệp, khả năng huy động và cho vay v ới kh ối l ượng l ớn c ủa ngân hàng đã trở thành trọng tâm chú ý của các Chính phủ Âu – M ỹ. Thông th ường, ngân hàng đượccấp giấy phép thành lập với điều kiện là họ phải mua trái phiếu Chính phủ theo một tỷ lệ nhất định trên tổng lượng ti ền gửi mà ngân hàng huy đ ộng đ ược. Các ngân hàng đã cam kết cho Chính phủ Mỹ vay trong th ời kỳ chi ến tranh. Ngân hàng Bank of North America được Quốc hội cho phép thành lập năm 1781, ngân hàng này được thành lập để tài trợ cho cuộc đấu tranh xóa bỏ sự đô h ộ c ủa n ước Anh và đ ưa Mỹ trở thành quốc gia có chủ quyền. Cũng như vậy, trong thời kỳ nội chiến, Quốc hội đã lập ra một hệ thống ngân hàng liên bang mới, chấp nhận các ngân hàng qu ốc gia ở mọi tiểu bang miễn là các ngân hàng này phải lập Quỹ phục vụ chiến tranh. Cung cấp các tìa khoản giao dịch. Cuộc cách mạng công nghiệp ở Châu Âu và Châu Mỹ đã đánh dấu sự ra đời những hoạt động và dịch vụ ngân hàng m ới. M ột d ịch v ụ mới, quan trong nhất được phát triển trong thời kỳ này là tài kho ản ti ền gửi giao d ịch (demand deposit) – một tài khoản tiền gửi cho phép người gửi tiền viết séc thanh toán cho việc mua hàng hóa và dịch vụ. Việc đưa ra loại tài khỏan ti ền gửi m ới này đ ược xem là một trong những bước đi quan trọng nhất trong công nghi ệp ngân hàng b ởi vì nó cải thiện đáng kể hiệu quả của quá trình thanh toán, làm cho các giao d ịch kinh doanh trở nên dễ dàng hơn, nhanh chóng hơn và an toàn hơn. Cung cấp dịch vụ ủy thác. Từ nhiều năm nay, các ngân hàng đã thực hiện việc quản lý tài sản và quản lý hoạt động tài chính cho cá nhân và doanh nghi ệp th ương m ại. Theo đó ngân hàng sẽ thu phí trên cơ sở giá trị c ủa tài sản hay quy mô h ọ qu ản lý. Chức năng quản lý tài sản này được gọi là dịch vụ ủy thác (trust service). H ầu h ết các ngân hàng đều cung cấp cả hai loại: dịch vụ ủy thác thông thường cho cá nhân, h ộ gia đình; và ủy thác thương mại cho các doanh nghiệp.
  8. Thông qua phòng Ủy thác cá nhân, các khách hàng có thể tiết ki ệm các kho ản ti ền đ ể cho con đi học. Ngân hàng sẽ quản lý và đầu tư khỏan tiền đó cho đến khi khách hàng cần. Thậm chí phổ biến hơn, các ngân hàng đóng vai trò là người đ ược ủy thác trong di chúc quản lý tài sản cho khách hàng đã qua đời bằng cách công b ố tài sản, bảo qu ản các tài sản có giá, đầu tư có hiệu quả, và đảm bảo cho người th ừa k ế h ợp pháp vi ệc nhận được khoản thừa kế. Tron gphòng ủy thác thương mại, ngân hàng quản lý danh mục đầu tư chứng khoán và kế hoạch tiền lương cho các công ty kinh doanh. Ngân hàng đóng vai trò như những người đại lý cho các công ty trong ho ạt đ ộng phát hành cổ phiếu, trái phiếu. Điều này đòi hỏi phòng ủy thác trả lãi hoặc cổ tức cho ch ứng khoán của công ty, thu hồi các chứng khoán khi đến hạn bằng cách thanh toán toàn b ộ cho người nắm giữ chứng khoán. Những dịch vụ ngân hàng mới phát triển gần đây Cho vay tiêu dùng. Trong lịch sử, hầu hết các ngân hàng không tích cực cho vay đ ối với cá nhân và hộ gia đình bởi vì họ tin rằng các khoản cho vay tiêu dùng nói chung có quy mô rất nhỏ với rủi ro vỡ nợ tương đối cao và do đó làm cho chúng tr ở nên có m ức sinh lời thấp. Đầu thế ký này, các ngân hàng bắt đầu dựa nhi ều hơn vào ti ền gửi c ủa khách hàng để tài trợ cho những món vay thương mại lớn. Và rồi sự c ạnh tranh kh ốc liệt trong việc giành giật tiền gửi và cho vay đã buộc các ngân hàng ph ải h ướng t ới người tiêu dùng như là một khách hàng trung thành ti ềm năng. Cho t ới nh ững năm 1920 và 1930, nhiều ngân hàng lớn do Citicorp và Bank of America d ẫn đ ầu đã thành lập những phòng tín dụng tiêu dùng lớn m ạnh. Sau chi ến tranh th ế gi ới th ứ hai, tín dụng tiêu dùng đã trở thành một trong những lo ại hình tín d ụng có m ức tăng tr ưởng nhanh nhất. Mặc dầu vậy, tốc độ tăng trưởng này gần đây đã chậm lại do c ạnh tranh về tín dụng tiêu dùng ngày càng trở nên gay gắt trong khi n ền kinh t ế đã phát tri ển chậm lại. Tuy nhiên, người tiêu dùng vẫn ti ếp tục là ngu ồn v ốn chủ y ếu c ủa ngân hàng và tạo ra một trong số những nguồn thu quan trọng nhất. Tư vấn tài chính: Các ngân hàng từ lâu đã được khách hàng yêu cầu thực hi ện ho ạt động tư vấn tài chính, đặc biệt là về tiết kiệm và đầu tư. Ngân hàng ngày nay cung cấp nhiều dịch vụ tư vấn tài chính đa dạng, từ chuẩn bị về thuế và k ế ho ạch tài chính cho các cá nhân đến tư nhân về các cơ hội thị trường trong nước và ngoài n ước cho các khách hàng kinh doanh của họ. Quản lý tiền mặt. Qua nhiều năm, các ngân hàng đã phát hiện ra rằng m ột số d ịch v ụ mà họ làm cho bản thân mình cũng có ích đối với các khách hàng. M ột trong nh ững ví dụ nổi bật nhất là dịch vụ quản lý tiền mặt, trong đó ngân hàng đ ồng ý qu ản lý vi ệc thu và chi cho một công ty kinh doanh và tiến hành đầu tư phần thặng dư tiền mặt tạm thời vào các chứng khoản sinh lợi và tín dụng ngắn hạn cho đ ến khi khách hàng c ần tiền mặt để thanh toán. Trong khi các ngân hàng có khuynh hướng chuyên môn hóa vào dịch vụ quản lý ti ền mặt cho các tổ chức, hiện nay có một xu hường đang gia tăng về vi ệc cung c ấp các dịch vụ tương tự cho người tiêu dùng. Sở dĩ khuynh hướng này đang lan rộng là do các công ty môi giới chứng khoán, các tập đoàn tài chính khác cũng c ấp cho ng ười tiêu
  9. dùng tài khoản môi giới với hàng loạt dịch vụ tài chính liên quan. M ột ví d ụ là tài khoản quản lý tièn mặt của Merrill Lynch, cho phép khách hàng c ủa nó mua và bán chứng khoán, di chuyển vốn trong nhiều quĩ tương hỗ, vi ết séc, và s ử d ụng th ẻ tín dụng cho khoản vay tức thời. Dịch vụ thuê mua thiết bị. Rất nhiều ngân hàng tích cực cho khách hàng kinh doanh quyền lựa chọn mua các thiết bị, máy móc c ần thi ết thông qua h ợp đ ồng thuê mua, trong đó ngân hàng mua thiết bị và cho khách hàng thuê. Ban đ ầu các qui đ ịnh yêu c ầu khách hàng sử dụng dịch vụ thuê mua thiết bị phải trả ti ền thuê (mà cu ối cùng s ẽ đ ủ để trang trải chi phí mua thiết bị) đồng thời phải ch ịu chi phí s ửa ch ữa và thu ế. Năm 1987, quốc hội Mỹ đã bỏ phiếu cho phép ngân hàng quốc gia sở h ữu ít nh ất m ột s ố tài sản cho thuê sau khi hợp đồng thuê mua đã hết hạn. Điều đó có lợi cho các ngân hàng cũng như khách hàng bởi vì bới tư cách là m ột người chủ th ực sự c ủa tài s ản cho thuê, ngân hàng có thể khấu hao chúng nhằm làm tăng lợi ích về thuế. Cho vay tài trợ dự án. Các ngân hàng ngày càng trở nên năng động trong vi ệc tài tr ợ cho chi phí xây dựng nhà máy mới đặc biệt là trong các ngành công nghệ cao. Do rủi ro trong loại hình tín dùng này nói chung là cao nên chúng th ường đ ược th ực hi ện qua một công ty đầu tư, là thành viên của công sở hữu ngân hàng, cùng với sự tham gia c ủa các nhà thầu, là thành viên của công ty sở hữu ngân hàng, cùng với sự tham gia của các nhà đầu tư khác để chia sẻ rủi ro. Những ví dụ nổi bật về lo ại hình công ty đầu t ư này là Bankers Trust Venture Capital anh Citicorp Venture,Inc Bán các dịch vụ bảo hiểm. Từ nhiều năm nay, các ngân hàng đã bán bảo hi ểm tín dụng cho khách hàng, điều đó bảo đảm việc hòan trả trong trường hợp khách hàng vay vốn bị chết hay bị tàn phế. Trong khi các quy định ở M ỹ c ấm ngân hàng th ương m ại trực tiếp bán các dịch vụ bảo hiểm, nhiều ngân hàng hi vọng có thể đưa ra các h ợp đồng bảo hiểm cá nhân thông thường và hợp đồng bảo hi ểm tổn th ất tài s ản nh ư ôtô hay nhà cửa trong tương lai. Hiện nay, ngân hàng thường b ảo hi ểm cho khách hàng thông qua các liên doanh hoặc các thỏa thuận đại lý kinh doanh đ ộc quyền theo đó m ột công ty bảo hiểm đồng ý đặt một văn phòng đại lý t ại hành lang c ủa ngân hàng và ngân hàng sẽ nhận một phần thu nhập từ các dịch vụ ở đó. Một số bang như Delawake và South Dakota đã cho phép ngân hàng cung c ấp các dịch v ụ b ảo hi ểm đ ược quy đ ịnh trên toàn quốc. Những ngân hàng hoạt động trên toàn quốc nếu đ ược phép s ẽ có th ể cung cấp các dịchvụ về bảo hiểm thông qua các chi nhánh riêng bi ệt, những quy mô đầu tư của nó chỉ được giới hạn ở mực 10% tổng số vốn chủ sở hữu. Gần đây, Citicorp đã thông báo kế hoạch sáp nhập với công ty b ảo hi ểm Travelers tromg m ột s ố nỗ lực nhằm đưa ra các dịch vụ bảo hiêm đa dạng hơn. Cung cấp các kế hoạch hưu trí: Phòng ủy thác ngân hàng rất năng động trong vi ệc quản lý kế hoạch hưu trí mà hầu hết các doanh nghiệp lập cho người lao động, đầu tư vốn và phát lương hưu cho những người đã nghỉ hưu ho ặc tàn phế. Ngân hàng cũng bán các kế hoạch tiền gửi hưu trí (được biết như IRAS và Keogle) cho các cá nhân và giữ nguồn tiền gửi cho đến khi người sở hữu các kế hoạch này cần đến.
  10. Cung cấp các dịch vụ môi giới đầu tư chứng khoán. Trên thị trường tài chính hiện nay, nhiều ngân hàng đang phấn đấu để trở thành một “bách hóa tài chính” th ực sự, cung cấp đủ các dịch vụ tài chính cho phép khách hàng thỏa mãn m ọi nhu c ầu t ại m ột địa điểm. Đây là một trong những lý do chính khi ến các ngân hàng b ắt đ ầu bán các dịch vụ môi giới chứng khoán, cung cấp cho khách hàng c ơ hội mua c ổ phi ếu, trái phiếu và các chứng khoán khác mà không phải nhờ đến người kinh doanh ch ứng khoán. Trong một vài trường hợp, các ngân hàng mua lại một công ty môi gi ới đang hoạt động (ví dụ Bank of America mua Robertson Stephens Co.) ho ặc thành l ập các liên doanh với một công ty môi giới. Cung cấp dịch vụ quỹ tương hỗ và trợ cấp. Do ngân hàng cung cấp các tài khoản tiền gửi truyền thống với lãi suất quá thấp, nhiều khách hàng đã h ướng t ới vi ệc s ử dụng cái gọi là sản phẩm đầu tư (investment products) đặc biệt là các tài kho ản c ủa quỹ tương hỗ và hợp đồng trợ cấp, những loại hình cung cấp tri ển v ọng thu nh ập cao hơn tài khoản tiền gửi dài hạn cam kết thanh toán m ột khoản tiền m ặt hàng năm cho khách hàng bắt đầu từ một ngày nhất định trong tương lai ( chẳng hạn ngày ngh ỉ h ưu). Ngược lại, quỹ tương hỗ bao gồm các chương trình đầu tư được quản lý m ột cách chuyên nghiệp nhằm vào việc mua cổ phiếu, trái phiếu và các chứng khoán phù hợp với mục tiêu của quỹ (ví dụ: Tối đa hóa thu nhập hay đạt được sự tăng giá tr ị v ốn). Trong khi quá trình phát triển của các kế hoạch trợ cấp diễn ra khá chậm do những v ụ kiện tụng bởi các đối thủ cạnh tranh chống lại sự m ở rộng c ủa ngân hàng sang lĩnh vực dịch vụ mới này thì việc cung cấp cổ phiếu trong quỹ vốn ngân hàng quản lý chiếm 15% tổng giá trị tài sản của quỹ tương hỗ trong những năm 90. M ột vài ngân hàng đã tổ chức những chi nhánh đặc bi ệt để thực hi ện nhi ệm v ụ này (ví d ụ: Citicorp’s Investment Services) hoặc liên doanh với các nhà kinh doanh và môi gi ới chứng khoán. Gần đây, hoạt động cung cấp nghiệp vụ quỹ tương hỗ của ngân hàng đã có nhiều giảm sút do mức thu nhập không còn cao như trước, do những qui đ ịnh nghiêm ngắt hơn và đồng thời do sự thay đổi trong quan điểm đầu tư của công chúng. Cung cấp dịch vụ ngân hàng đầu tư và ngân hàng bán buôn. Ngân hàng ngày nay đang theo chân các tổ chức tài chính hàng đầu trong việc cung c ấp d ịch v ụ ngân hàng đầu tư và dịch vụ ngân hàng bán buôn cho các tập đoàn lớn. Nh ững d ịch v ụ này bao gồm xác định mục tiêu hợp nhất, tài trợ mua lại Công ty, mua bán ch ứng khoán cho khách hàng (ví dụ: bảo lãnh phát hành chứng khoán), cung c ấp công c ụ Marketing chiến lược, các dịch vụ hạn chế rủi ro để bảo vệ khách hàng. Các ngân hàng cũng dấn sâu vào thị trường bảo đảm, hỗ trợ các khoản nợ do chính phủ và công ty phát hành để những khách hàng này có thể vay vốn với chi phí thấp nhất từ thị trường tự do hay từ các tổ chức cho vay khác. Ở Mỹ, các dịch vụ ngân hàng đầu tư (như bảo lãnh phát hành chứng khoán) liên quan tới việc mua bán cổ phiếu mới và nợ do ngân hàng thương m ại thực hi ện thay m ặt cho các công ty đã bị cấm sau khi Quốc hội thông qua các Đạo luật Glass-Steagall năm 1933. Tuy nhiên, trước áp lực lớn từ các công ty ngân hàng trong n ước hàng đ ầu, và do thành công của các đối thủ cạnh tranh nước ngoài, vào những năm 80 C ục l ữu tr ữ liên bang đã bắt đầu nới lỏng các quy định đối với vi ệc ngân hàng kinh doanh ch ứng khoán do khách hàng của chúng phát hành. Thông qua nghi ệp v ụ bảo lãnh phát hành, ngân hàng đã tạo cho các công ty một kênh huy động v ốn m ới bên c ạnh hình th ức cho vay
  11. vốn truyền thống. Nhiều công ty đã đánh giá rất cao nghi ệp v ụ này c ủa ngân hàng, hơn cả hình thức cho vay truyền thống bởi vì nó cung c ấp cho h ọ m ột ngu ồn v ốn dài hạn với chi phí thấp hơn. Cho tới cuối những năm 90, Cục dự trữ Liên bang M ỹ đã cấp cho hơn 40 ngân hàng đặc quyền cung cấp dịch vụ bảo lãnh phát hành ch ứng khoán. Trên thực tế, điều này cho phép nhân viên tín dụng ngân hàng cộng tác chặt chẽ với giới kinh doanh chứng khoán trong quá trình tìm nguồn tài trợ cho khách hàng. Năm 1996, Cục quản lý tiền tệ Mỹ ra quy định mới cho phép các ngân hàng có gi ấy phép hoạt động trên toàn quốc có thể cung c ấp dịch vụ bảo lãnh phát hành n ếu nh ư d ịch v ụ này được thực hiện thông qua các công ty con, với điều kiện ngân hàng không đ ược đầu tư quá 10% vốn cổ phần vòa một công ty. Một sự nới lỏng hơn nữa trong lĩnh vực kinh doanh chứng khoán và như vậy, ngân hàng có thể cung cấp toàn b ộ d ịch v ụ tài tr ợ và tư vấn quản lý đối với hoạt động kinh doanh chứng khoán. Một ví vụ gần đây là sự kiện ngân hàng NationBank mua Mortgetary Security Inc., Bank America mua công ty Robertson Stephens và ngân hàng Banker Trust of New York mua công ty Alex Brow. Sự thuận tiện: Tổng hợp tất cả các dịch vụ ngân hàng. Rõ ràng là không phải tất cả mọi ngân hàng đều cung cấp nhiều dịch vụ tài chính như danh m ục d ịch v ụ mà chúng tôi đã miêu tả ở trên, nhưng quả thật danh mục dịch v ụ ngân hàng đang tăng lên nhanh chóng. Nhiều loại hình tín dụng và tài khỏan ti ền gửi m ới đang đ ược phát tri ển, các loại dịch vụ mới như giao dịch qua Internet và th ẻ thông minh (Smart) đang đ ược mở rộng và các dịch vụ mới (như bảo hiểm và kinh doanh chứng khoán) được tung ra hàng năm. Nhìn chung, dạnh mục các dịch vụ đầy ấn tượng do ngân hàng cung c ấp tạo ra sự thuận lợi rất lớn hơn cho khách hàng. Khách hàng có th ể hoàn toàn th ỏa mãn tất cả các nhu cầu dịch vụ tài chính của mình thông qua một ngân hàng và tại m ột đ ịa điểm. Thực sự ngân hàng đã trở thành “bách hóa tài chính” ở k ỷ nguyên hi ện đ ại, công việc hợp nhất các dịch vụ ngân hàng, bảo hiểm, môi gi ới ch ứng khoán… d ưới m ột mái nhà chính là xu hướng mà người ta thường gọi là Universal Banking ở M ỹ, Canada và Anh, là Allginanz ở Đức, và là Bancassurance ở Pháp. Các khuynh hướng ảnh hưởng tới hoạt động ngân hàng Sự gia tăng nhanh chóng trong danh mục dịch v ụ. Như chúng ta đã thấy ở phần trước, các ngân hàng đang mở rộng danh mục dịch vụ tài chính mà h ọ cung c ấp cho khách hàng. Qúa trình mở rộng danh mục dịch vụ đã tăng tốc trong những năm gần đây dười áp lực cạnh tranh gia tăng từ các tổ chức tài chính khác, từ sự hiểu biết và đòi hỏi cao hơn của khách hàng, và từ sự thay đổi công nghệ. Nó cũng làm tăng chi phí c ủa ngân hàng và dẫn đến rủi ro phá sản cao hơn. Các dịch v ụ m ới đã có ảnh h ưởng t ốt đến ngành công nghiệp này thông qua việc tạo ra những nguồn thu m ới cho ngân hàng – các khoản lệ phí của dịch vụ không phải lãi, một bộ phận có xu h ướng tăng tr ưởng nhanh hơn so với các nguồn thu truyền thống từ lãi cho vay. Sự gia tăng cạnh tranh. Sự cạnh tranh trong lĩnh vực dịch vụ tài chính đang ngày càng trở lên quyết liệt khi ngân hàng và các đối thủ cạnh tranh m ở rộng danh mục d ịch v ụ. Các ngân hàng địa phương cung cấp tín dụng, kế hoạch ti ết ki ệm, k ế ho ạch h ưu trí, dịch vụ tư vấn tài chính cho các doanh nghiệp và người tiêu dùng, k ế ho ạch ti ết ki ệm,
  12. kế hoạch hưu trí, dịch vụ tư vấn cho các doanh nghi ệp và người tiêu dùng. Đây là những dịch vụ đang phải đối mặt với sự cạnh tranh trực ti ếp từ các ngân hàng khác, các hiệp hội tín dụng, các công ty kinh doanh chứng khoán như Merrill Lynch, các công ty tài chính như GE Capital và các tổ chức bảo hiểm như Prudential. Áp l ực c ạnh tranh đóng vai trò như một lực đẩy tạo ra sự phát triển dịch vụ cho tương lai. Phi quản lý hóa. Cạnh tranh và quá trình mở rộng dịch vụ ngân hàng cũng đ ược thúc đẩy bởi sự nới lỏng các quy định – giảm bớt sức mạnh kiểm soát c ủa Chính ph ủ. Điều này bắt đầu từ hai thập kỷ trước, xu hướng n ới lỏng các quy đ ịnh đã đ ược b ắt đầu với việc Chính phủ nâng lãi suất trần đối với tiền gửi tiết ki ệm nhằm c ố gắng giúp công chúng một mức thu nhập khá hơn từ khoản tiết kiệm của mình. Cũng lúc đó, nhiều loại tài khoản tiền gửi mới được phát triển giúp cho công chúng có th ể h ưởng lãi trên các tài khoản giao dịch. Gần như đồng thời, các dịch vụ mà nh ững đ ối th ủ chính của ngân hàng như hiệp hội tín dụng và cho vay cũng đ ược m ở r ộng nhanh chóng và do đó khả năng cạnh tranh với ngân hàng c ủa những t ổ ch ức này cũng đ ược củng cố. Các quốc gia hàng đầu như Australia, Canada, Anh quốc và Nhật Bản gần đây đã tham gia vào trào lưu phi quản lý hóa, n ới rộng gi ới hạn pháp lý cho ngân hàng, cho người kinh doanh chứng khoán và cho các công ty d ịch v ụ tài chính khác. Chi phí và rủi ro tổn thất theo đó cũng tăng lên. Sự gia tăng chi phí vốn: Sự nới lỏng luật lệ kết hợp với sự gia tăng c ạnh tranh làm tăng chi phí trung bình thực tế của tài khoản tiền gửi – nguồn vốn c ơ bản c ủa ngân hàng. Với sự nới lỏng các luật lệ, ngân hàng buộc phải trả lãi do thị tr ường c ạnh tranh quyết định cho phần lớn tiền gửi. Đồng thời, Chính ph ủ yêu c ầu các ngân hàng ph ải sử dụng vốn sở hữu nhiều hơn – một nguồn vốn đắt đỏ - để tài trợ cho các tài sản của mình. Điều đó buộc họ phải tìm cách cắt gi ảm các chi phí ho ạt đ ộng khác nh ư giảm số nhân công, thay thế các thiết bị lỗi thời bằng hệ thống xử lý điện tử hiện đại. Các ngân hàng cũng buộc phải tìm các nguồn vốn mới như chứng khoán hóa m ột số tài sản, theo đó một số khoản cho vay của ngân hàng được tập hợp l ại và đ ưa ra kh ỏi bảng cân đối kế toán; các chứng khoán được đảm bảo bằng các món vay đ ược bán trên thị trường mở nhằm huy đọng vốn mới một cách rẻ hơn và đáng tin c ậy h ơn. Hoạt động này cũng có thể tạo ra một khoản thu phí không nhỏ cho ngân hàng, l ớn hơn so với các nguồn vốn truyền thống (như tiền gửi). Sự gia tăng các nguồn vốn nhạy cảm với lãi suất . Các qui đinj của Chính phủ đối với công nghiệp ngân hàng tạo cho khách hàng khả năng nhận đ ược m ực thu nh ập cao hơn từ tiền gửi, nhưng chỉ có công chúng mới làm cho các c ơ h ội đó tr ở thành hi ện thực. Và công chúng đã làm việc đó. Hàng tỷ USD trước đây được gửi trong các tài khoản tiết kiệm thu nhập thấp và các tài khoản giao dịch không sinh l ợi ki ểu cũ đã được chuyển sang các tài khoản có mức thu nhập cao hơn, những tài kho ản có t ỷ l ệ thu nhập thay đổi thoe điều kiện thị trường. Ngân hàng đã phát hiện ra rằng h ọ đang phải đối mặt với những khách hàng có giáo dục hơn, nhạy cảm v ới lãi su ất h ơn. Các khoản tiền gửi “trung thành” của họ có thể dễ tăng cường khả năng c ạnh tranh trên phương diện thu nhập trả cho công chúng gửi ti ền và nhạy c ảm h ơi v ới ý thích thay đổi của xã hội về vấn đề phân phối các khoản tiết kiệm.
  13. Cách mạng trong công nghệ ngân hàng . Đối mặt với chi phí hoạt động cao hơn, từ nhiều năm gần đây các ngân hàng đã và đang chuyển sang sử dụng h ệ th ống ho ạt động tự động và điện tử thay thế cho hệ thống dựa trên lao đ ộng th ủ công, đ ặc bi ệt là trong công việc nhận tiền gửi, thanh toán bù trừ và cấp tín d ụng. Nh ững ví d ụ n ổi b ật nhất bao gồm các máy rút tiền tự động ATM, ở Mỹ có hơn 100.000 chi ếc, cho phép khách hàng truy nhập tài khoản tiền gửi của họ 24/24 giờ; Máy thanh toán tiền POS được lắp đặt ở các bách hóa và trung tâm bán hàng thay th ế cho các ph ương ti ện thanh toán hàng hóa dịch vụ bằng giấy; và hệ thống máy vi tính hi ện đại xử lý hàng ngàn giao dịch một cách nhanh chóng trên toàn thế giới. Do đó, ngân hàng đang trở thành ngành sử dụng nhiều vốn và chi phí c ố đ ịnh; s ử d ụng ít lao động và chi phí biến đổi. Nhiều chuyên gia tin r ằng các tòa nhà ngân hàng và các cuộc mít tinh gặp mặt trực tiếp giữa các nhà ngân hàng và khach shàng cu ối cùng s ẽ trở thành những di tích của quá khứ và bị thay thế bởi các cu ộc liên quan và giao ti ếp điện tử. Sản xuất và cung cấp dịch vụ sẽ hoàn toàn tự động. Nh ững b ước đ ị đó s ẽ giảm đáng kể chi phí nhân công hóa ngân hàng và gây ra tình trạng m ất vi ệc làm khi máy móc thay thế người lao động. Tuy nhiên, những kinh nghi ệp gần đây g ợi ý r ằng một ngành ngân hàng hoàn toàn tự động có th ể vẫn còn là đi ều xa v ời. M ột t ỷ l ệ l ớn khách hàng vẫn ưa chuộng các dịch vụ của con người và những c ơ h ội đ ể nh ận đ ược sự tư vấn cá nhân về các vấn đề tài chính. Sự củng cố và mở rộng hoạt động về mặt địa lý . Sử dụng có hiệu quả quá trình tự động hóa và những đổi mới công gnhệ đòi hỏi các hoạt động ngân hàng ph ải có qui mô lớn. Vì vậy, ngân hàng cần pahỉ mở rộng cơ sở khách hàng bằng cách vươn tới các thị trường mới, xa hơn và gia tăng số lượng tài kho ản. Kết qu ả là ho ạt đ ộng m ở chi nhánh ngân hàng diễn ra. Mô hình công ty sở hữu ngân hàng mua lại các ngân hàng nh ỏ và đưa chúng trở thành bộ phận của các tổ chức ngân hàng mua lại các ngân hàng n ỏi và đưau chúng trở thành bộ phận của các tổ chức ngân hàng đa tr ụ sở đã ngày càng phổ biến. Nhiều vụ đại hợp nhất đã diễn ra như vụ hợp nhất giữa Chemical Bank và Chase Manhttan ở New York hay Bank of America và Nations Bank. S ố l ượng các ngân hàng sở hữu độc lập và bắt đầu giảm và qui mô trung bình của các công ty ngân hàng đã tăng đáng kể. Cùng lúc đó, số lượng các ngân hàng nhỏ của Mỹ (tổng tài sản dưới 1 tỷ USD) đã giảm mạnh ít nhất là 1/3 kể từ giữa thập kỷ 80, số lượng nhân viên giảm hơn 100.000 người trong cùng thời ký. Hơn nữa, thập kỷ 80 và 90 đã mở ra một kỷ nguyên sự bành tr ướng “liên ti ểu bang” trong hệ thống ngân hàng Mỹ. Hơn 300 tổ chức ngân hàng đã vương ra khỏi thị trường tiểu bang, thôn tính các ngân hàng nhỏ để trở thành những ngân hàng t ầm c ỡ qu ốc gia. Hiện nay ngân hàng đang tìm mọi cách để đạt được sự đa dạng hóa và ngân hàng không còn muốn duy trì mô hình ngân hàng c ổ đi ển và nhấn m ạnh vai trò c ủa nó nh ư là các tổ chức tài chính năng động, đổi mới và hướng về khách hàng. Với sự phát triển của tự động hóa, ngày càng nhiều ngân hàng m ở chi nhánh ở những vùng xa với các thiết bị viễn thông và máy rút tiền tự động – m ột ph ương pháp m ở rộng qui mô thị trường hơn là xây dựng các c ơ sở vạt chất m ới. Trong nhi ều tr ường
  14. hợp, hệ thống thiết bị vệ tinh cung cấp dịch vụ hữu hạn sẽ thay th ế các văn phòng chi nhánh đa năng của ngân hàng. Quá trình toàn cầu hóa ngân hàng. Sự bành trướng địa lý và hợp nhất các ngân hàng đã vượt ra khỏi ranh giới lãnh thổ một quốc gia đơn lể và lan rộng ra v ới quy mô toàn cầu. Ngày nay, các ngân hàng lớn nhất thế giới cạnh tranh v ới nhau trên t ất c ả các l ục địa. Vào những năm 80, các ngân hàng Nhật, dẫn đ ầu là Dai_I Chi Kangyo Bank và Fuji Bank đã phát triển nhanh hơn hầu hết các đối th ủ c ạnh tranh trên kh ắp th ế gi ới. Các ngân hàng lớn đặt trụ sở tại Pháp (dẫn đầu là Caisse Nationale de Credit Agricole), tại Đức (dẫn đầu là Deutsche Bank) và tại Anh (dẫn đầu là Barclays PLC) cũng tr ở thành những đối thủ nặng ký trên thị trường cho vay Chính phủ và cho vay công ty. Quá trình phi quản lý hóa đã giúp tất c ả các tổ chức này c ạnh tranh hi ệu qu ả h ơn so với các ngân hàng Mỹ và nắm được thị phần ngày càng tăng trên th ị tr ường toàn c ầu về dịch vụ ngân hàng. Ngày nay, Canada, Mỹ và Mexico đã th ực hi ện Hi ệp ước m ậu dịch tư do Bắc Mỹ (NAFTA) điều mà cho phép ngân hàng ở nh ững n ước này s ở h ữu và quản lý các chi nhánh ngân hàng ở nước kia và sức mạnh d ịch v ụ c ủa các chi nhánh loại này hoàn toàn so sánh được với những chi nhánh sở h ữu b ởi các ngân hàng trong nước. Rủi ro vỡ nợ gia tăng và sự yếu kém của hệ thống bảo hiểm tiền gửi. Trong khi xu hướng hợp nhất và bánh trướng về mặt địa lý đã giúp nhi ều ngân hàng ít t ổn th ương trong điều kiện kinh tế trong nước thì sự đẩy mạnh cạnh tranh gi ữa các ngân hàng và các tổ chức phi ngân hàng kèm theo các khoản tín dụng có ván đề một nền kinh tế luôn biến động đã dẫn tới sự phá sản ngân hàng ở nhiều quốc gia trên thế gi ới. Xu h ướng phi quản lý hóa trong lĩnh vực tài chính đã mở ra c ơ hội cho các nhà ngân hàng, nh ưng cũng chỉ tạo ra một thị trường tài chính xảo trá hơn, n ơi mà sự phá sản, thôn tính và thành lý ngân hàng dễ xảy ra hơn. Phải chăng các ngân hàng đang chết? Gần đây Mỹ, châu Âu và châu Á, hàng trăm ngân hàng và các t ổ ch ức nh ận ti ền g ửi đã sáp nhập và sụp đổ. Người ta bắt đầu lo lắng cho tương lai của ngành công nghi ệp ngân hàng. Thậm chí, đối với các ngân hàng còn sống sót, có những b ằng ch ứng cho thấy thị phần của chúng trên thị trường dịch vụ tài chính b ắt đầu suy gi ảm trong khi các công ty chứng khoán, các công ty bảo hiểm, các quỹ tương hỗ và các công ty tài chính đã đạt được sự tăng trưởng thị phần đáng kể. Gần đây, ngân hàng D ự tr ữ Liên bang St.Louis đã tính toán rằng tỷ lệ tổng tài sản do ngân hàng và các t ổ ch ức nh ận tiền gửi nắm giữ so với tất cả các trung gian tài chính gi ảm t ừ 56% năm 1982 xu ống hơn 42% trong năm 1991 – một “sự co rút tự nhiên” theo sau làn sóng phi qu ản lý hóa trong ngành công nghiệp này và với mtộ thị trường tài chính phức tạp h ơn. M ột s ố nhà phân tích (ví dụ Beim đã tuyen bố rằng các ngân hàng hiện nay đang “chết”. Khi các thị trường ngày càng trở nên có hiệu quả với những ti ến b ộ gần đây trong công nghệ, cùng với xu hướng các khách hàng lớn h ơn tăng c ường tìm ki ếm nh ững phương thức vay nợ mới (như bán chứng khoán trên thị trường m ở), các ngân hàng truyền thống ngày càng trở nên ít cần thiết. Ít nhất thì cũng có quá nhiều ngân hàng - ở
  15. Mỹ có gần 9.000 – và có quá nhiều nguồn lực được tập trung vào lĩnh vực ngân hàng. Người ta có thể phản đối rằng rất nhiều những ngân hàng này đơn gi ản là đang nhận được sự bảo vệ và nâng đỡ của Chính phủ dưới hình thức b ảo hi ểm ti ền gửi và các khoản vay của Chính phủ với giá rẻ. Có lẽ, sự sáp nhập và đổ vỡ ngân hàng toàn c ầu gần đây chỉ đơn giản là dấu hiệu cho thấy ngành công nghi ệp ngân hàng đã “quá đông” và đang phải đương đầu về sự sa sút nhu cầu đối với các dịch vụ truyền thống. Rồi nữa, các ngân hàng cũng phải chịu gánh n ặng từ những qui đ ịnh c ủa Chính ph ủ hơn hầu hết các đối thủ cạnh tranh. Trong những năm 1990, m ột cu ộc đi ều tra c ủa Hiệp hội ngân hàng Mỹ ABA đã ước tính rằng chi phí do tuân theo qui đ ịnh c ủa liên bang và cảu tiểu bang lên tới 11 tỷ USD (khoảng 60% lợi nhuận hàng năm c ủa ngành này). Sự sa sút trong thị phần ngân hàng thị trường dịch v ụ tài chính đã gây lo ng ại cho các nhà hoạch định chính sách và cho các khách hàng của ngân hàng. Trong đó có người lo sợ rằng tầm quan trọng bị suy giảm của ngân hàng có thể: • Làm giảm khả năng của Ngân hàng trung ương trong việc đi ều ti ết sự tăng trưởng của mức cung tiền tệ và trong việc đạt được các mục tiêu kinh t ế qu ốc gia. • Gây thiệt hại cho khách hàng (chủ yếu là các doanh nghiệp nh ỏ và h ộ gia đình) là những người hầu hết dựa vào tiền vay và các dịch vụ tài chính khác của ngân hàng. • Làm cho các dịch vụ ngân hàng kém thuận tiện cho khách hàng khi các chi nhánh ngân hàng bị hợp nhất và đóng cửa. Nhiều nhà kinh tế phản đối rằng những qui định đối với ngân hàng hi ện nay là quá chặt chẽ trong khi các qui định đối với đối thủ cạnh tranh c ủa nó là quá ít th ậm chí không có. Họ cũng cho rằng tăng cường quá trình phi quản lý hóa là đi ều c ần đ ược thực hiện nếu muốn các ngân hàng trở nên vững mạnh hơn. Rất nhiều ngân hàng, đ ặc biệt là những ngân hàng lớn, đang cố gắng chống lại hay làm chậm l ại quá trình gi ảm sút thị phần bằng cách: (1) đưa ra dịch vụ mới (như bán c ổ phiếu cho quĩ tương hỗ, bán hợp đồng bảo hiểm), (2) tính phí sử dụng cao hơn cho các d ịch v ụ không m ất ti ền trước đây, (3) cung cấp nhiều dịch vụ hơn qua các công ty con không b ị đi ều ti ết như ngân hàng hoặc (4) tham gia liên doanh với các công ty đ ộc l ập (nh ư Dean Witerr v ới National Bank) và nhằm tránh gánh nặng quy định. Rồi nữa, có những chuyên gia trong lĩnh vực này (như Kaufman và Mote) ph ản đ ối rằng sự sa sút ngân hàng chỉ mang tính bề ngoài hơn là bản chất. Bản ch ất c ủa ngành công nghiệp ngân hàng đã thay đổi rất nhiều trong những năm gần đây v ới s ự phát triển các dịch vụ mới, không phải tất cả chúng đều được thể hiện trên bản cân đối kế toán. Đồng thời các chuyên gia cũng cho rằng chúng ta c ần phải phát tri ển các ph ương pháp đo lường qui mô ngân hàng mới để xác định xem tầm quan tr ọng c ủa ngân hàng có đang thực sự giảm sút không. Cùng lúc, các chương trình hỗ trợ và tr ợ cấp c ủa Chính phủ cho ngân hàng sẽ có thể phải được đổi mới và cắt gi ảm. Dường như Bảo hiểm tiền gửi của Chính phủ đã đánh lừa khách hàng rằng tất cả các ngân hàng đều an toàn và điều này có thể cho một ngân hàng nào đó những thuật l ợi không chính đáng trong hoạt động thu hút tiền của công chúng. Những ngân hàng không lành m ạnh phải
  16. được phép rời khỏi ngành sẽ không nhất thiết phải tồn tại, hầu h ết các ngân hàng có thể tăng khả năng cạnh tranh nếu chúng được phép cung c ấp nhi ều d ịch v ụ h ơn và bảo hiểm tiền gửi được định giá một cách chính xác để phản ánh m ức đ ộ r ủi ro c ủa mỗi ngân hàng. Tóm lại, ngân hàng truyền thống có thể chết nhưng n ếu các ngân hàng được tự do hơn trong việc đáp ứng các nhu cầu thay đổi không ngừng c ủa công chúng về những dịch vụ mới, chúng không nhất thiết phải chết. TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN A. Những vấn đề cơ bản về chứng khoán I. Khái niệm chứng khoán Chứng khoán là các công cụ để huy động vốn trung và dài h ạn, các gi ấy t ờ có giá, có khả năng chuyển đổi, chuyển nhượng nhằm xác nhận quyền sở h ữu, quan h ệ vay nợ giữa người nắm giữ nó và chủ thể phát hành ra nó. Đối với m ỗi lo ại chứng khoán thường có các tính chất sau: 1. Tính thanh khoản (tính lỏng) của một chứng khoán là kh ả năng chuyển đ ổi gi ữa chứng khoán đó sang tiền mặt. Tính lỏng của chứng khoán thể hiện qua vi ệc chứng khoán đó được mua bán, trao đổi trên thị trường. 2. Tính sinh lời: Thu nhập của nhà đầu tư được sinh ra từ vi ệc tăng giá ch ứng khoán trên thị trường, hay các khoản tiền lãi được trả hàng năm. 3. Tính rủi ro: Đây là đặc trưng cơ bản của chứng khoán.Trong quá trình trao đ ổi, mua đi bán lại, giá của chứng khoán bị giảm hoặc mất hoàn toàn ta gọi là rủi ro. II. phân loại chứng khoán 1. Cổ phiếu Là loại chứng khoán xác nhận quyền sở hữu và lợi ích hợp pháp đ ối v ới thu nh ập và tài sản của công ty cổ phần. Số vốn đóng góp để thành lập công ty đ ược chia ra thành nhiều phần nhỏ bằng nhau gọi là cổ phần. Người mua c ổ phần gọi là c ổ đông. Cổ phiếu có thể được phát hành dưới dạng chứng chỉ vật chất ho ặc bút toán ghi s ổ. Giá trị ban đầu ghi trên cổ phiếu là mệnh giá của cổ phiếu. Mệnh giá là giá tr ị danh nghĩa. Số tiền nhận được từ khoản góp vốn gọi là cổ tức.Giá cổ phiếu giao động qua các phiên giao dịch trên thị trường chứng khoán và tách r ời so v ới m ệnh giá.C ổ phi ếu được chia thành 2 loại:
  17. a. Cổ phiếu thường: Là loại cổ phiếu không có kỳ hạn, tồn tại cùng v ới sự t ồn t ại của công ty phát hành ra nó, nó không có lãi suất cố định, số lãi đ ược chia vào cu ối mỗi niên độ quyết toán. Cổ đông nắm giữ cổ phiếu này có quyền b ỏ phi ếu, mua c ổ phiếu mới, tham gia vào đại hội cổ đông. b. Cổ phiếu ưu đãi: Gồm 2 loại * Cổ phiếu ưu đãi biểu quyết: Là cổ phiếu dành cho các c ổ đông sáng lập. C ổ đông nắm giữ loại cổ phiếu này phải nắm giữ trong một khoảng thời gian nhất đ ịnh, không được chuyển nhượng, trao đổi. * Cổ phiếu ưu đãi tài chính: Tưong tự như cổ phiếu thường nhưng có một số hạn chế: cổ đông nắm giữ cổ phiếu này không được tham gia bầu cử, ứng c ử vào hội đồng quản trị, ban kiểm soát của công ty. Nhưng họ được h ưởng ưu đãi v ề tài chính theo mức cổ tức riêng biệt, có tính cố định hàng năm. 2. Trái phiếu Là loại chứng khoán quy định nghĩa vụ của người phát hành phải tr ả cho người nắm giữ chứng khoán đó một khoản tiền xác định vào những thời hạn c ụ th ể và theo những điều kiện nhất định. Đây là những chứng khoán n ợ, được phát hành dưới dạng chứng chỉ vật chất hoặc bút toán ghi sổ.Trái phiếu bao gồm các loại sau: a. Trái phiếu vô danh: Loại này không ghi tên trái chủ trên c ả chứng ch ỉ và sổ sách của các tổ chức phát hành. Việc chuyển nhượng loại trái phiếu này rất dễ dàng nên nó thường được giao dịch trên thị trường chứng khoán. b. Trái phiếu ghi danh: Ghi tên, địa chỉ của trái chủ trên chứng ch ỉ và s ổ sách c ủa tổ chức phát hành.Loại này ít được đem trao đổi trên thị trường. c. Trái phiếu chính phủ: Là loại trái phiếu do chính phủ phát hành nhằm bù đ ắp cho thâm hụt ngân sách. Đây là loại chứng khoán mà các nhà đầu t ư không ưa m ạo hiểm rất ưa thích vì nó hầu như không có rủi ro thanh toán. d. Trái phiếu công trình:là loại trái phiếu được phát hành để huy động v ốn xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng hay công trình phúc lợi công cộng. e. Trái phiếu công ty: Do công ty phát hành để vay vốn trung và dài h ạn. Khi công ty bán trái phiếu thì công ty là người đi vay còn người mua là ch ủ n ợ. Công ty ph ải cam kết trả cả lãi và gốc cho trái chủ như ®· nªu trong hợp đồng.Nó bao gồm các loại: Trái phiếu có đảm bảo, trái phiếu không có bảo đảm, trái phiếu có thể mua lại…
  18. 3. Chứng chỉ quỹ đầu tư Là chứng khoán được phát hành bởi công ty quản lý quỹ đ ể huy đ ộng v ốn t ừ các nhà đầu tư. Vốn được dùng để mua bán kinh doanh các lo ại ch ứng khoán khác đ ể kiếm lời, sau đó chia tiền lời đó cho các nhà đầu tư.Có thể phân lo ại chứng ch ỉ qu ỹ đầu tư thành: a. Quỹ đầu tư chung: §ây là loại quỹ mà tất cả mọi người đều có thể tham gia. b. Quỹ đầu tư riêng: Chỉ giới hạn ở một nhóm người nhất định. c. Quỹ đầu tư dạng mở: Là quỹ đầu tư trong đó nhà đầu tư có quyền bán l ại chứng chỉ quỹ đầu tư cho quỹ phát hành chứng khoán liªn tôc ®Ó huy ®éng vèn và sẵn sàng mua lại số chứng khoán mà nó ®· phát hành ra. d. Quỹ đầu tư cổ phiếu: Quỹ chuyên đầu tư vào một loại cổ phiếu nhất định. e. Quỹ đầu tư trái phiếu: Là quỹ để đầu tư vào một loại trái phiếu nào đó. g. Quỹ đầu tư hỗn hợp: Loại quỹ đầu tư vào bất kì loại chứng khoán nào n ếu thấy có hiệu quả Ngoài ra, còn có một số loại chứng khoán khác như: Gi ấy bảo đảm quyền mua c ổ phiếu, các hợp đồng kì hạn, chứng quyền… B. Tổng quan về thị trường chứng khoán I. Khái niệm thị trường chứng khoán Trong nền kinh tế thị trường, xã hội của sản xuất được phân chia thành hai cực: Một cực có vốn tìm nơi đầu tư và một cực cần vốn để đầu tư vào sản xuất và kinh doanh. Trong những ngày đầu của sản xuất hàng hóa và lưu thông tiền tệ, hệ thống ngân hàng sớm ra đời để huy động các nguồn vốn tiền tệ nhàn rỗi hình thành trong xã hội nhằm tái phân phối cho nền kinh tế quốc dân theo nguyên tắc tín dụng. Như vậy, một kênh vốn nối hai cực đó lại với nhau và phải thông qua các trung gian tài chính, trong đó chủ yếu là hệ thống ngân hàng được gọi là kênh dẫn vốn gián tiếp. Khi xã hội của sản xuất và lưu thông hàng hóa phát triển ở giai đoạn cao, ngày một hoàn thiện thì những người có vốn đã có đủ điều kiện về môi trường pháp lý, môi trường tài chính v.v… để chuyển vốn của mình trực tiếp đầu tư vào sản xuất không phải thông qua tầng lớp trung gian tài chính mà phải thông qua thị trường chứng khoán – một thị trường dẫn vốn trực tiếp từ cực có vốn này sang cực cần vốn kia theo nguyên tắc đầu tư. Kênh dẫn vốn đó được gọi là kênh dẫn vốn trực tiếp. Qua sự khảo sát giữa hai kênh dẫn vốn gián tiếp và trực tiếp thấy rằng, bên cạnh những ưu điểm đem lại từ kênh dẫn vốn trực tiếp mà kênh gián tiếp không thể có được, còn cho thấy thị trường chứng khoán đã tạo điều kiện dễ dang cho việc điều
  19. hòa vốn trong nền kinh tế quốc dân thông qua việc mua bán chuyển nhượng vốn giữa các chủ thể của nền kinh tế. Chính vì lẽ đó, khi nền sản xuất hàng hóa phát triển ở giai đoạn cao đòi hỏi sự ra đời thị trường chứng khoán quốc gia và trong điều kiện quốc tế hóa đời sống kinh tế và xã hội nhưng ngày nay thì vấn đề toàn cầu hóa hoạt động thị trường chứng khoán của các nước trở nên cấp thiết và sẽ phát triển. Vậy thị trường chứng khoán là gì? Có nhiều khái niệm về thị trường chứng khoán khác nhau, nhưng nhìn chung có thể dẫn ra một khái niệm có tính phổ biến: Thị trường chứng khoán là một thị trường mà ở nơi đó người ta mua bán, chuyển nhượng, trao đổi chứng khoán nhằm mục đích kiếm lời. Thị trường chứng khoán phải tồn tại ở một nơi mà ở nơi đó việc mua bán chứng khoán được thực hiện. Trong quá trình phát triển và hoàn thiện thị trường chứng khoán ở các nước có nền sản xuất và lưu thông hàng hóa lâu đời như Mỹ, Anh, Pháp, v.v… nơi đó tồn tại dưới hai hình thức: Thị trường chứng khoán có tổ chức và Thị trường chứng khoán phi tổ chức. Hình thái điển hình của thị trường chứng khoán có tổ chức là Sở giao dịch chứng khoán (Stock exchange). Mọi việc mua, bán, chuyển nhượng, trao đổi chứng khoán phải tiến hành trong Sở giao dịch và thông qua các thành viên của Sở giao dịch theo quy chế của Sở giao dịch chứng khoán. Sở giao dịch chứng khoán có thể là tổ chức sở hữu nhà nước, là doanh nghiệp cổ phần hoặc một hiệp hội và đều có tư cách pháp nhân hoạt động kinh doanh chứng khoán. Có thể dẫn ra những Sở giao dịch chứng khoán nổi tiếng của thế giới như: NYSE (New York Stock exchange), TSE (Tokyo Stock exchange), LSE (London Stock exchange )v.v… Thị trường chứng khoán phi tổ chức là một thị trường không có hình thái tổ chức tồn tại, nó có thể là bất cứ nơi nào mà tại đó người mua và người bán trực tiếp gặp nhau để tiến hành giao dịch. Nơi đó có thể là tại quầy giao dịch ở các ngân hàng bất kỳ nào đó. Thị trường hình thành như thế gọi là thị trường giao dịch qua quầy (Over-the-counter – OTC) Ngày nay, nhờ vào thành quả của cách mạng tin học, hệ thống INTERNET đã gắn kết các thành viên của thị trường lại với nhau, do đó việc trao đổi thông tin, tiến hành giao dịch mua bán chứng khoán không phải đến tận quầy của các ngân hàng và có thể tiến hành ngay trên bàn máy vi tính. Đây là một hình thái của thị trường chứng khoán phi tổ chức bậc cao mới xuất hiện trong thập kỉ qua. Thị trường này chưa có tên chính thức, có người gọi đó là thì trường thứ ba (Third Market) II. Vai trò của thị trường chứng khoán trong phát triển kinh tế. Xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực với sự ra đời của tổ chức thương mại thế giới (WTO), của liên minh Châu Âu, khối thị trường chung đòi hỏi các qu ốc gia phải thúc đẩy phát triển kinh tế với tốc độ cao và hiệu quả cao. Thực tế phát tri ển kinh tế ở các quốc gia trên thế giới đã khẳng định vai trò của thị trường ch ứng khoán trong phát triển kinh tế.
  20. 1. thứ nhất, thị trường chứng khoán với việc tạo ra các công c ụ có tính thanh khoản cao, có thể tích tụ, tập trung và phân phối vốn, chuyển th ời h ạn c ủa v ốn phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế. Ở Hàn Quốc, thị trường chứng khoán đã đóng vai trò không nh ỏ trong s ự tăng trưởng kinh tế trong hơn ba mươi năm, cho tới thập kỷ 90 thị tr ường ch ứng khoán nước này đã lớn mạnh và đứng hàng thứ 13 trên thế gi ới góp ph ần t ạo m ức tăng trưởng kinh tế đạt bình quân 9% năm, thu nhập quốc dân bình quân đầu người năm 1995 là trên 10.000USD. Yếu tố thông tin là yếu tố cạnh tranh trên thị trường sẽ đảm bảo cho vi ệc phân phối vốn một cách hiệu quả Trên thị trường chứng khoán, tất cả các thông tin được cập nhật và được chuyển ti tới tất cả các nhà đầu tư để họ có thể phân tích và đ ịnh giá cho các chứng khoán. Thị trường chứng khoán đã tạo ra một sự cạnh tranh có hiệu quả trên thị trưòng tài chính, do đó các ngân hàng thương mại và các tổ chức tài chính ph ải quan tâm t ới ho ạt động tài chính của họ và làm giảm chi phí tài chính. Việc huy động vốn trên thị trường chứng khoán có thể làm tăng v ốn t ự có c ủa các công ty và giúp họ tránh các khoản vay có chi phí cao cũng như sự kiểm soát ch ặt ch ẽ của các ngân hàng thương mại. Thị trường chứng khoán khuyến khích tính c ạnh tranh của các công ty trên thị trường.Sự tồn tại của các thị trường chứng khoán cũng là yếu tố quyÕt ®Þnh để thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Đây là yếu tố đảm bảo cho s ự phân bổ có hiệu quả các nguồn lực trong một quốc gia cũng như trong ph ạm vi qu ốc tế. 2. Thứ hai, thị trường chứng khoán góp phần thực hiện tái phân phối công bằng hơn, giải toả sự tập trung quyền lực kinh tế của các tập đoàn, huy động tầng l ớp trung lưu trong xã héi, tăng cường sự giám sát của xã hội đối với quá trình phân phối. Từ đó, tạo ra sự cạnh tranh công bằng hơn qua đó thúc đẩy phát tri ển kinh t ế, t ạo ra sự hiệu quả, tiến tới xây dựng một xã hội công bằng và dân chủ. 3. Thứ ba, thị trường chứng khoán tạo điều kiện cho việc tách bi ệt gi ữa sở h ữu và quản lý doanh nghiệp. Khi quy mô của doanh nghi ệp tăng lên thì nhu c ầu v ề qu ản lý chuyên trách cũng tăng theo. Thị trường chứng khoán tạo điều ki ện cho ti ết kiệm v ốn và chất xám thúc đẩy quá trình cổ phần hoá doanh nghiệp nhà n ưíc, giảm tiêu cực

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản