Tổng quan chung về ngành bánh kẹo

Chia sẻ: tyeuhoa

Ngành bánh kẹo Việt Nam có các đặc điểm sau: Thứ nhất: Nguyên vật liệu đầu vào chính của ngành bánh kẹo bao gồm bột mì, đường, còn lại là sữa, trứng và...

Bạn đang xem 10 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: Tổng quan chung về ngành bánh kẹo

1. Tổng quan chung về ngành bánh kẹo
Ngành bánh kẹo Việt Nam có các đặc điểm sau:
Thứ nhất: Nguyên vật liệu đầu vào chính của ngành bánh kẹo bao gồm bột
mì, đường, còn lại là sữa, trứng và các nguyên vật liệu khác. Trong đó, nguyên
vật liệu phải nhập khẩu là bột mì (gần như toàn bộ), và đường (nhập 1 phần),
hương liệu và 1 số chất phụ gia, chiếm tỷ trọng khá lớn trong giá thành. Chính vì
vậy sự biến động của giá bột mì, đường trên thị trường thế giới sẽ có những tác
động nhất định đến giá thành của bánh kẹo.
Thứ hai: Thị trường bánh kẹo Việt Nam có tính chất mùa vụ khá rõ nét. Sản
lượng tiêu thụ thường tăng mạnh vào thời điểm từ tháng 8 Âm lịch (Tết Trung
thu) đến Tết Nguyên Đán với các mặt hàng chủ lực mang hương vị truyền
thống Việt Nam như bánh trung thu, kẹo cứng, mềm, bánh qui cao cấp, các loại
mứt, hạt.Trong khi đó, sản lượng tiêu thu bánh kẹo khá chậm vào thời điểm sau
Tết Nguyên đán và mùa hè do khí hậu nắng nóng.
Thứ ba: Dây chuyền công nghệ sản xuất bánh kẹo của các doanh nghiệp
khá hiện đại và đồng đều, đều được nhập khẩu từ các quốc gia nổi tiếng về sản
xuất bánh kẹo như công nghệ cho bánh phủ socola (Hàn quốc), công nghệ bánh
quy (Đan mạch, Anh, Nhật)…
Thứ tư: Việt Nam là một thị trường tiềm năng với tốc độ tăng trưởng
cao (10-12%) so với mức trung bình trong khu vực (3%) và trung bình c ủa thế
giới (1-1,5%). Nguyên nhân là do, mức tiêu thụ bánh kẹo bình quân của Việt Nam
hiện nay vẫn khá thấp (1,8 kg/người/năm) so với trung bình của thế giới là
2,8kg/người/năm.
NGUYÊN LIỆU SẢN XUẤT BÁNH KẸO
Đường Saccaroza
1.
Nguồn gốc: Đường được sản xuất từ mía là chính, ngoài ra còn được sản
xuất từ củ cải đường và từ cây thốt nốt. Saccaroza là một cacbonhydrat có công
thức phân tử là C12H22O11. Tên khoa học là α D – glucopyranosit – β D –
fructofuranosit. Nó là disacarit do 2 monosacarit tạo thành. Như vậy sacarit không
có tính khử. Góc quay cực (+65,5o).
Nhiệt độ nóng chảy 160 – 200oC (tùy thuộc vào độ tinh khiết của
saccaroza), thường nhiệt độ nóng chảy của saccaroza là 185oC.
Vai trò của đường trong sản xuất bánh kẹo
Tạo vị ngọt và màu cho bánh và kẹo và còn là chất dinh dưỡng. Nó là
nguyên liệu chính.
Tính chất
Tính tan
Hòa tan nhiều trong nước. Ở nhiệt độ 20oC cứ 1 lít nước hòa tan 2,09 kg
đường.
Độ tan tăng khi nhiệt độ tăng. Khi ở 100oC độ tan tăng 2,4 lần so với độ tan
ở 20oC.
Có nhiều chất làm thay đổi độ hòa tan của đường:
+ Sự có mặt đường khử độ hòa tan của đường saccaroza giảm, ngưng tổng
lượng đường hòa tan trong nước cao.
+ Các chất có độ nhớt lớn: dextrin, làm tăng độ hòa tan của đ ường
saccaroza. Các phân tử này ngăn cản không cho các phân tử đường ở vị trí xác
định để tạo thành tinh thể đường và tạo thành trạng thái vô định hình.
+ Các muối vô cơ như: NaCl, KCl cũng làm tăng độ hòa tan của đường. Khi
sản xuất bánh kẹo người ta cho thêm muối ăn để tăng độ ngọt và làm chất điều
vị. Còn khi có mặt của CaCl2 sẽ làm giảm độ tan của đường gây hiện trạng hồi
đường.
Tính hút ẩm
Saccaroza hút ẩm khi ẩm độ môi trường lớn hơn 90%. Lợi dụng tính chất
này người ta bảo quản kẹo bằng cách bọc đường bột.
Khi có mặt một số đường khác thì tính háo nước của đường saccaroza tăng.
Tính dễ kết tinh trở lại
Đường saccaroza dễ dàng tạo ra dung dịch quá bão hòa. Dung dịch quá bão
hòa không bền vững vì lượng thừa trong dung dịch dễ kết tinh trở lại. Nhưng để
quá trình kết tinh được dễ dàng phải có:
Làm lạnh đột ngột
Va chạm cơ học
Mầm tinh thể
Nếu hệ số bão hòa càng lớn thì nhân kết tinh càng nhiều
Phản ứng cháy của đường
Dưới tác dụng của nhiệt độ đường saccaroza bị thủy phân (phản ứng
caramen)
180oC
Caramen (hỗn hợp aldehyt)
Sac
H2O
Các phản ứng tạo màu caramen
C12H22O11 – H2O 135oC C6H10O5 + C6H10O5
Ở 185oC – 190oC tạo thành izosaccarozan
Glucozan + levulozan izosaccarozan
C6H10O5 C6H10O5 C12H22O10
Khi ở nhiệt độ cao hơn và mất đi 10% nước tạo ra caramen (C 12H20O9) hoặc
C12H22O10 có màu vàng.
Nếu mất đi 14% nước tạo ra caramelen C36H48O24.H2O.
Khi mất đi 25% nước tạo ra caramelin có màu nâu đen và các sản phẩm
caramen hóa đều có vị đắng.
Để hạn chế phản ứng này xảy ra ta chú ý giảm thời gian nấu và nhiệt độ
nấu.
Sản xuất bánh mì thì phản ứng caramen lại tạo hương vị và màu sắc cho
bánh.
Trong sản xuất kẹo thì nên tránh phản ứng này bằng cách nấu nồi chân
không.
Màu của phản ứng caramen rất bền.
Phản ứng thủy phân của đường
Trong môi trường axit đường saccaroza bị thủy phân tạo ra đường chuyển
hóa.
H+, to>70
C12H22O11 C6H10O6 + C6H10O
Saccaroza Glucoza Fructoza
Khi nấu dung dịch đường bằng saccaroza tinh khiết đậm đặc thì sự thay đổi
không nhiều lắm. Nếu có sự tham gia của các đường khác thì sự chuyển hóa rất
mạnh và có thể xảy ra ở nhiệt độ thấp hơn 100 oC. Khi tăng thời gian và nhiệt độ
nấu thì hàm lượng đường khử tăng. Saccaroza dễ dàng chuyển hóa ở nhiệt độ
cao khi có mặt mật tinh bột (do có pH = 4,8 – 5,2). Vì vậy khi hòa tan s ản xuất
kẹo cứng cần phải rút ngắn thời gian và không nên cho axit hữu cơ để điều vị
vào khi có nhiệt độ cao.
Tiêu chuẩn về đường
Theo yêu cầu sản phẩm mà ta có thể sử dụng đường chất lượng khác nhau.
Bột mì
1.
Bột mì là nguyên liệu chính để sản xuất bánh, được chế biến từ hạt lúa mì.
Bột mì có hai loại: bột mì trắng và bột mì đen. Bột mì trắng được sản xuất từ
hạt lúa mì trắng, bột mì đen được sản xuất từ hạt lúa mì đen.
Nguồn nguyên liệu chủ yếu của nước ta là nhập từ nước ngoài(nhập bột mì
và lúa mì)và ta chỉ nhập loại lúa mì trắng. Lúa mì trắng có hai loại:loại cứng và
loại mềm. Lúa mì cứng có chất lượng cao hơn.
Thành phần hóa học của bột mì
Thành phần hóa học của bột mì phụ thuộc vào thành phần hóa học của hạt
và phụ thuộc vào hạt bột. Những đặc điểm thành phần bột mì về mặt số lượng
và chất lượng định theo giá trị dinh dưỡng và tính chất nướng bánh của bột. Các
chất dinh dưỡng trong bột có hạng cao thì được cơ thể tiêu hóa dễ hơn, nhưng
bột mì ở hạng thấp lại có vitamin và chất khoáng cao hơn.
Bột mì chủ yếu gồm gluxit và protit. Hàm lượng các gluxit và protit chiếm
khoảng 90% trọng lượng bột
Protit của bột mì
Hàm lượng protit có trong các hạng bột mì khác nhau thì không giống nhau.
Hàm lượng protit tăng dần từ bột hạng cao đến bột hạng thấp.
Globulin : hòa tan trong dung dịch muối trung tính.
Protalamin : hòa tan trong dung dịch rượu 60 – 80% còn ó tên gọi là Gliadin.
Glutenlin : hòa tan trong dung dịch kiềm 0,2%.
Trong 4 loại nói trên thì hàm lượng Anbumin và Globulin chiếm khoảng
20%, còn 80% là Protalamin và Glutenlin, và tỉ lệ protalamin và glutenlin trong bột
mì là tương đương nhau. Bột mì nhào với nước rồi để yên một thời gian sẽ tạo
thành Gluten. Rửa bột nhào cho tinh bột trôi đi còn lại một khối dẻo là Gluten.
Gluten thu được khi rửa qua bột nhào gọi là Gluten ướt. Trong gluten ướt có
khoảng 60 – 70% nước. Hàm lượng gluten ướt trong bột mì dao động trong phạm
vi rất lớn, từ 15 đến 55%.
Khi bột mì có chất lượng bình thường thì tỉ lệ Gluten ướt phụ thuộc vào
hàm lượng protit của bột. Với các loại bột mì sản xuất từ hạt bị hỏng, sâu bệnh,
nảy mấm, do sấy ở nhiệt độ quá cao… thì hàm lượng Gluten ướt giảm vì tính
hút nước của protit đã bị thay đổi.
Hàm lượng và chất lượng Gluten bột mì phụ thuộc vào giống lúa mì, điều
kiện trồng trọt, chế độ sấy hạt, chế độ gia công nước nhiệt, chế độ bảo quản…
Gluten của bột mì chất lượng cao thường có độ đàn hồi tốt, độ chịu kéo vừa
phải. Nếu Gluten có độ chịu kéo lớn thì bánh làm ra xốp do giữ được khí tốt. Còn
nếu dung bột mì chất lượng cao và độ chịu kéo nhỏ thì bột nhào thường bị chảy
không đạt yêu cầu, bánh làm ra ít xốp. Chính vì chất l ượng của Gluten có ảnh
hưởng lớn đến quá trình chế biến và chất lượng sản phẩm như vậy nên trong
sản xuất bánh quy thường sử dụng bột có chất lượng yếu và trung bình.
Trong quá trình chế biến có thể vận dụng các yếu tố của nhiệt độ , nồng
độ muối ăn, cường độ nhào… để cải thiện những tính chất vật lý của Gluten.
Giảm nhiệt độ nhào thì Gluten trở nên chặt hơn, tăng nhiệt độ nhào thì Gluten nở
nhanh nhưng khả năng giữ khí kém và bánh ít nở hơn.
Muối ăn có tác dụng làm cho Gluten chặt lại và tăng khả năng hút nước lên,
cường độ thủy phân protit giảm đi rõ rệt.
Cường độ nhào làm tăng quá trình tạo hình Gluten nhưng làm giảm khả
năng giữ khí của Gluten.
Axit ascorbic, kali bromat, peroxyt và một số chất oxi hóa khác có tác dụng
làm cho Gluten chặt hơn còn các chất khử thì có tác dụng ngược l ại.Số l ượng
Gluten không ảnh hưởng lớn đến chất lượng bánh quy, song hàm lượng Gluten
tăng thì độ ẩm của bột nhào tăng, do đó thời gian nướng bị kéo dài. Vìvậy, ta cần
hạn chế số lượng Gluten trong khoảng 27-30%.
Gluxit của bột mì
Gluxit trong bột mì gồm có: tinh bột dextrin, xenluloza, hemieluloza, gluxit
keo, các loại đường. Quá trình tạo thành gluxit được biểu diễn bởi phát triển
tổng quát sau:
6CO2+ 6H2O à C6H12O6 + 6O2
Glucoza đã được tạo nên sẽ chuyển thành các gluxit khác. Quá trình quang
hợp được thực hiện nhờ năng lượng mặt trời và sắc tố xanh của cây ( clorofin )
Tinh bột
Là gluxit quan trọng nhất của tinh bột. Trong hạng bột cao chứa đến 80%
tinh bột. Tinh bột của các loại bột khác nhau thì không giống nhau về hình dáng,
kích thước, khả năng trương nở và hồ hóa. Độ lớn và độ nguyên của hạt tinh bột
có ảnh hưởng đến tính rắn chắc, khả năng hút nước và hàm lượng đ ường trong
bột nhào. Hạt tinh bột nhỏ và hạt tinh bột vỡ thì được đường hóa nhanh hơn.
Trong các hạt tinh bột, ngoài tinh bột ra còn có một l ượng nhỏ axit photphoric.
Axit silicic, axit béo và các chất khác.
Dextrin
Là sản phẩm tạo ra đầu tiên trong quá trình thủy phân tinh bột. Đó là những
chất keo tạo thành với nước một dung dịch dính. Khối lượng phân tử và tính chất
của dextrin phụ thuộc vào mức độ thủy phân của tinh bột. Người ta phân ra thành
các nhóm dextrin sau đây:
Amilodextrin: là hợp chất cấu tạo giống tinh bột, khi tác dụng với iot cho
màu tím.
Eritrodextrin: là hỗn hợp có khối lượng phân tử nhỏ hơn, tác dụng với iot
cho màu đỏ.
Acrodextrin và maltodextrin là những dextrin đơn giản nhất, khi tác dụng
với iot không cho màu đặc trưng.
Trong bột mì sản xuất từ bột mì nảy mầm có chứa từ 3-5% là dextrin.
Dextrin ít lien kết với nước, do đó khi bột nhào có hàm l ượng cao các dextrin thì
bánh làm ra kém dai
Xenluloza
Cũng có công thức chung giống tinh bột nhưng rất khác nhau về cấu trúc
phân tử và các tính chất hóa học. Phân tử xenluloza gồm trên 1500 gốc glucoza.
Xenluloza không tan trong nước lạnh và nước nóng. Thủy phân xenluloza bằng
axit khó khăn hơn thủy phân tinh bột nên không thể tiêu hóa được xenluloza và
chính lượng xenluloza làm giảm giá trị dinh dưỡng của bột. Trong bột hạng cao
có khoảng 0,1 – 0,15 % xenluloza, còn trong bột hạng cao thì chứa 2 – 3 %
xeluloza.
Hemixenluloza
Là polisacarit cấu tạo yừ các gốc pentozan (C5H8O4)n và hecxozan
(C6H10O)n. Hemixenluloza không hòa tan trong nước nhưng hòa tan trong kiềm.
Nó dễ thủy phân hơn xenluloza. Hàm lượng hemixenluloza phụ thuộc vào hạng
bột, thường khoảng 2 – 8%, cơ thể người không tiêu hóa được hemixenluloza.
Gluxit keo
Là các pentozan hòa tan, chủ yếu chứa trong nội nhũ của hạt. Trong bột mì
hàm lượng gluxit keo vào khoảng 1,2%. Gluxit keo có tính háo nướa rất cao. Khi
trương nở trong nước các gluxit keo cho ta những dịch keo này có ảnh hưởng rõ
rệt đến các tính chất lý học của bột nhào.
Đường trong bột
Chứa một lượng không lớn lắm. Trong bột có chứa khoảng 0,1 – 0,5
maltoza. Trong bột mì sản xuất từ hạt nảy mầm thì hàm lượng maltoza tăng lên
rõ rệt. Đường chủ yếu nằm trong phôi hạt. Hàm lượng sacaroza trong bột mì
khoảng 0,2 – 0,6%. Hàm lượng chung các loại đường phụ thuộc vào loại bột và
chất lượng của hạt.
Chất béo
Các lipit là những chất hữu cơ kị nước, có cấu trúc khác nhau, không hòa tan
trong nước nhưng hòa tant rong các dung môi hữu cơ. Trong các lipit của bột mì,
ngoài các chất béo trung tính còn phải kể đến các photphorit, sterin, sắc
tố….Trong bột các lipit ở trạng thái tự do và trng5 thái kết hợp với protit, gluxit.
Những hợp chất này có ảnh hưởng đến tính chất các gluten, chúng làm cho các
gluten đàn hồi hơn. Hàm lượng chung của chất béo trong bột mì vào khoảng 0,1 –
2% tùy theo hạng bột mì.
Vitamin
Trong bột mì có chứa rất nhiều vitamin như B1, B6, PP…Vitamin chứa
nhiều ở lớp alơrong. Tùy theo hạnh bột mì thì hàm lượng vitamin cũng khác
nhau. Hạng bột càng cao thì vitamin càng thấp và ngược lại.
Men trong bột
Là những protit có tính chất xúc tác. Trong bột có chứa rất nhiều men làm
ảnh hưởing đến chất lượng bột, các loại men quan trọng như:
Men thủy phân tinh bột và protit như: proteinaza, polipeptidaza, anpha-
amilaza, beta-amylaza.
Ngoài ra bột mì còn có các men khác như: lipaza, lipoxydaza.
Tạp chất trong bột mì
Trong bột mì có chứa rất nhiều tạp chất như sâu, mọt… và tăng nhiều trong
quá trình bảo quản
2.2. Việc phân hạng và đánh giá chất lượng bột mì
Việc phân hạng bột mì là hết sức quan trọng bởi vì đối với từng hạng thì
thành phần hóa học, hoa lý rất khác nhau dẫn đến tính chất rất khác nhau.
Thực tế phân loại dựa rất nhiều vào quá trình chế biến. Để sản xuất bột mì
thường dùng dây chuyền nghiền bột nhiều hệ có phân loại. Độ tạo hàm lượng
Gluten, độ lớn màu sắc…của bột sau mỗi hệ nghiền rất khác nhau đặc trưng cho
từng hạng.
Để đánh giá chất lượng bột mì theo tiêu chuẩn của Nhà nước thì các chỉ số
trong tiêu chuẩn chất lượng bột mì được đặc trưng bằng tình trạng vệ sinh và
hạng bột . Các chỉ số chất lượng ấy gồm có: mùi vị, độ nhiễm trùng, hàm lượng
các chất sắt và độ ẩm.
Bột phải không có mùi lạ, vị lạ, hàm lượng tạp chất không quá 3mg/kg bột,
độ ẩm của bột phải nhỏ hơn 15%.
Các hạng bột khác nhau thì khác nhau về độ tro, độ trắng, độ mịn, đ ộ axit
và hàm lượng Gluten ướt.
Độ tro là chỉ số cơ bản để xác định hạng của bột, thêm vào đó người ta còn
dùng độ trắng và độ mịn nữa. Còn hàm lượng Gluten, độ axit không đ ặc tr ưng
cho hạng của bột vì chỉ số này luôn luôn biến động.
Độ tro
Hạng của bột được xác định bằng hàm lượng cám ( vỏ quả, vỏ hạt ) . Xác
định trực tiếp hàm lượng cám rất khó khăn, do đó hạng của bột được thể hiện
gián tiếp qua độ tro, xác định độ tro tương đối đơn giản hơn. Độ tro của nội nhũ
lúa mì vào khoảng từ 0,4 – 0,45%, độ tro của cám khoảng 7 – 8,3%. Do đó bột mì
ở hạng cao chứa ít tro hơn bột mì ở thứ hạng thấp. Nhiều nước trên thế giới đã
lấy bột tro làm chỉ số cơ bản để xác định hạng của bột mì.
Độ mịn
Độ mịn của bột đặc trưng cho mức độ nghiền. Bột hạng cao thì mịn hơn,
có nghĩa là gồm từ các phân tử nhỏ hơn. Độ mịn của bột ảnh hưởng đ ến giá tr ị
thực phẩm và quá trình chế biến cũng như chất lượng của thành phẩm. quá trình
hình thành bột nhào có kích thước lớn sẽ chậm trương nở, bột càng mịn thì càng
dễ hình thành bột nhào do tốc độ trương nở của Gluten trong bột thô bé hơn
trong bột mịn và bề mặt riêng của bột bé hơn.
Độ trắng
Các lớp vỏ quả, vỏ hạt thường chứa nhiều sắc tố, nội nhũ chứa ít sắc tố
hơn. Bản thân nội nhũ có chứa sắc tố caratinoit nên bột mì thường có màu trắng
ngà. Độ trắng của bột không phải lúc nào cũng quan hệ chặt chẽ với độ tro, đó
chính là lớp anơrong của hạt không có màu nhưng hàm lượng tro lại có ít hơn.
Số lượng và chất lượng Gluten
Chất lượng của bột mì đặc trưng bằng Gluten.
Gluten của bột hạng cao hơn thường có màu sáng hơn và độ hút nước lớn
hơn. Bột có hàm lượng Gluten cao thường có tính chất nướng bánh cao phụ
thuộc vào chất lượng Gluten.
Khả năng tạo khí của bột được đặc trưng bằng lượng CO2 thoát ra trong
một thời gian nhất định và ứng với một lượng bột nhào nhất định. Khả năng tạo
khí phụ thuộc vào hàm lượng đường và khả năng sinh đường của bột. Chất
lượng các Gluten càng cao thì chất lượng của bột mì cũng càng cao. Gluten của
bột hạng cao thường có màu sáng cao hơn và độ hút nước lớn hơn.
Độ axit
Để đánh giá chất lượng của hạt thì độ axit là một yếu tố. Độ axit của bột
mì khoảng pH = 5,8 – 6,3 . Độ axit và hàm lượng Gluten không đặc tr ưng cho
hạng của bột. Độ axit của bột : Hạt và bột luôn luôn có axit do trong b ột có các
muối photphat axit , các axit béo tự do và các axit hữu cơ khác (lactic, axetic…).
Các axit đó được tạo thành do quá trình thủy phân bằng men trong thời gian bảo
quản bột hoặc hạt. Độ axit của bột mì = 5,8 – 6,3.
2.3. Bảo quản bột mì
Bột mì phải nhập trước khi chế biến nên phải bảo quản tương đối lâu dài.
Bột đóng trong các bao và được bảo quản trong các kho.
• Yêu cầu của kho: thoáng mát, độ ẩm thích hợp(thường 88%), nhiệt độ
(t = 25-30ْ C), các bao sắp xếp một cách khoa học.
• Một số hiện tượng xảy ra trong quá trình bảo quản
- Bột bị vón cục: do Gluten, tinh bột hút nước và trương nở mà xuất hiện
vón cục.
- Mùi ôi khét: do quá trình oxi hóa chất béo.
- Mọt sâu xuất hiện nhiều.
3. Mật tinh bột
3.1. Nguồn gốc
Mật tinh bột là sản phẩm thủy phân không triệt để của tinh bột.
3.2. Thành phần
Mật tinh bột gồm glucoza, maltoza, dextrin.Tùy theo mức độ thủy phân mà
hàm lượng các chất này trong mật tinh bột khác nhau. Nếu mật tinh bột đường
hóa thấp: glucoza 9 – 10%, maltoza 10 – 11%, dextrin 38 – 80%. Trong quá trình
sản xuất kẹo vai trò của glucoza, maltoza và dextrin có khác nhau.
Tác dụng của glucoza: làm tăng độ hòa tan của đường tổng để chúng không
kết tinh được. Glucoza hút ẩm mạnh nên kẹo nhiều glucoza thì hay bị chảy
nước.
Maltoza: làm tăng độ hòa tan, độ nhớt lớn, nên đường saccaroza khoonh kết
tinh được. Do độ nhớt lớn nên tạo bọt khi nấu.
Dextrin: (C6H10O5)n nó là keo thực vật, độ nhớt lớn làm cho khối kẹo bị dai,
độ ngọt giảm, khi khuấy trộn gây khí, bọt nhiều. Thường người ta sử dụng loại
đường hóa tháp và trung bình có hàm lượng đường khử chung 30 – 38% là tốt
nhất.
3.3. Vai trò của mật tinh bột
Mật tinh bột dùng để chống kết tinh đường làm cho khối kẹo tr ở về tr ạng
thái vô định hình.
Trong sản xuất bánh nhất là bánh mì người ta dùng nó để tạo độ bóng cho
vỏ bánh.
Mật tinh bột còn làm chất độn trong sản xuất kẹo.
3.4. Chỉ tiêu chất lượng của mật tinh bột
Yêu cầu chung của mật tinh bột trong sản xuất bánh kẹo:
Bx = 80 – 82%
pH = 4,8 – 5,2
RS = 40 – 45%
Màu sắc: màu vàng nhạt trong suốt
Không có tạp chất cơ học, kim loại nặng


Mạch nha
Mạch nha có tác dụng chống kết tinh đường saccaroza trong quá trình hình
thành viên kẹo.
Thành phần: có 80% maltoza, 20% glucoza và dextrin.
Trong sản xuất kẹo mạch nha là nguyên liệu chính để chống kết tinh
đường rất tốt.
Mạch nha là sản phẩm thủy phân tinh bột do enzime β- amilaza.
Yêu cầu đối với mạch nha: Bx > 80%. Hàm lượng maltoza 80% tính theo
chất khô, không có tạp chất không tan, màu vàng trong suốt.
4. Chất béo
4.1. Nguồn gốc
Từ động vật và thực vật. Được sản xuất bằng cách trích ly, ép đối với
thực. Còn đối với động vật thì được sản xuất bằng cách nhiệt hóa.


4.2. Tính chất
Thường tồn tại dưới 2 dạng lỏng và đặc nó là este đơn giản của glyxerin và
axit béo.
Một số chỉ số:
Chỉ số axit: số mg KOH để trung hòa các axit tự do có trong 1g chất béo (nó
có ý nghĩa nói lên điều kiện và thời gian bảo quản).
Chỉ số iod: là số gam iod tác dụng với 100g chất béo ( viết tắt là I). Chỉ số
iod biểu thị mức độ không no của dầu mỡ, chỉ số iod càng cao thì mức độ không
no càng lớn và ngược lại. Dựa vào chỉ số iod người ta phân loại đâu mỡ làm 3
loại:
- Dầu khô I > 130
- Dầu nửa khô I : 100 – 130
- Dầu không khô I < 100
Tăng giá trị cảm quan và giá trị dinh dưỡng cho bánh kẹo
4.3. Vai trò của chất béo
Tăng giá trị cảm quan và giá trị dinh dưỡng cho bánh kẹo
4.4. Một số chất béo hay dùng trong sản xuất bánh kẹo

Bơ được tách ra từ sữa tươi bằng phương pháp phân ly. Trong điều kiện
bình thường bơ ở trạng thái đặc do chứa nhiều axit béo no.
Thành phàn của bơ: 83% chất béo, một lượng nhỏ protein, đ ường lactoza,
vitamin, muối khoáng 1,5 – 3% là lượng muối cho vào cơ thể để bảo quản nên
bơ có vị mặn, còn lại là nước.
Bơ ca cao
Được tách ra từ quá trình chế biến ca cao. Độ đặc của bơ ca cao lớn hơn bơ
từ sữa tươi vì chứa nhiều axit béo no hơn, do đó nhiệt độ nóng chảy cũng l ớn
hơn khoảng 37oC. Khi sản xuất kẹo người ta thường bọc áp cho vỏ kẹo bóng
hơn.
Magarin và Shortening
Nguồn gốc chủ yếu từ thực vật được hydro hóa trở thành dạng đặc.
Shoretening được sử dụng nhiều trong sản xuất bánh kẹo.
5. Chất keo ưa nước
5.1. Khái niệm và vai trò của chất keo ưa nước trong sản xuất kẹo mềm
Chất keo ưa nước là những chất khi gặp nước thì hút ẩm rất lớn trương nở
tạo thành chất bán lỏng (vừa lỏng vừa có độ nhớt cao). Trong sản xuất kẹo mềm
người ta dùng chất keo để tạo bọt và nhũ hóa, tạo nên cấu trúc xốp, dai, đàn hồi,
mềm dẻo cho kẹo.
5.2. Những chất thường hay sử dụng trong sản xuất bánh kẹo là gelatin và
anbumin
Keo Anbumin
Được sản xuất từ lòng trắng trứng, sấy khô lòng trắng trứng ta được keo ở
dạng bột. Khi ngâm nước keo anbumin hút nước và trương nở chậm, tuy nhiên
dung dịch lòng trắng trứng lại không giữ được lâu, nó lên men và biến chất nhanh
chóng. Do đó, khi ngâm khi ngâm lòng trắng trứng khô trong 8 giờ trước khi sử
dụng. Dịch lòng trắng trứng còn thừa phải bảo quản trong kho lạnh hoặc ở nơi
có nhiệt độ thấp, độ ẩm không khí thấp.
Keo gelatin
Được sản xuất từ các phụ phẩm từ chế biến thịt (da, xương, lông, chân
gà...). Nó là keo động vật chứa nhiều axit amin cần thiết cho cơ thể con người
như: Trytoxin, Glixin, Glutamin, Histidin...
Trong nước gelatin hút nước và trương nở rất lớn, khối lượng tăng lên 15
lần so với khối lượng chính của nó, ngâm khoảng 1 – 2 giờ có thể dùng. Gelatin
hòa tan trong nước nóng, không hòa tan trong dung môi hữu cơ. Nó đông tụ trong
nước lạnh, gelatin rất nhạy cảm với nhiệt độ, khi nấu nóng đến 60 oC thì khẻ
năng keo tụ yếu và mất hẳn tác dụng của axit.
Do nhiệt độ nóng chảy ( tonc = 15 – 27oC) và nhiệt độ đông tụ ( t0dt = 8 –
10oC) thấp gây khó khăn cho sản xuất kẹo.
Gelatin thực phẩm phải trong suốt, dạng bột hoặc dạng tấm, độ ẩm ≤ 10%,
độ tro ≤ 2%.
Gelatin dùng sản xuất kẹo thạch, kẹo mềm hoa quả và các dạng kẹo mềm
khác. Lượng gelatin dùng cho sản xuất kẹo mềm 6 – 9%.
Gelatin dạng bột, hạt à ngâm nước à hút nước và trương nở à hấp nhiệt
độ (50 – 600C) à lỏng àmuốn đông tụ thì hạ nhiệt độ.
Ngoài hai loại keo trên còn có keo pectin được sản xuất từ hoa quả và các
dạng thực vật khác (bã cue cải trắng 20 – 30% pectin). Pectin dễ nở, hòa tan
trong nước nóng tạo thành dung dịch đường có thêm một ít axit thì pectin tạo keo
bền, pH = 3-3,8; nhiệt độ đông tụ 50 – 75oC.
Pectin ở dạng bột màu trắng hoặc vàng nhạt, hơi chua W ≤ 12%, tro ≤ 1%.
Bảo quản ở nhiệt độ mát (≤30oC), Wkk = 85%.
6. Sữa
6.1. Vai trò của sữa trong sản xuất bánh kẹo
Làm bánh ngon tăng giá trị cảm quan và giá trị dinh dưỡng cho bánh
6.2. Thành phần hóa học của sữa
Sữa tươi
Sữa tươi gồm: nước 87%, đạm 3,3%, đường 4,7%, vitamin và các chất
khoáng. Độ chua ban đầu 170T ( độ Taarstne: số ml NaOH 0,1N dùng để trung
hòa cho 100ml sữa), trong quá trình bảo quản độ chua tăng lên 27 – 28 o tạo thành
váng (làm sữa chua) do vi sinh vật lên men lactic.
Đạm anbumin ở 70 – 800C gây đông tụ.
Casein tạo độ sánh kho có men đông tụ à gây đông tụ à lợi dụng tính chất
này để sản xuất phomat.
Sữa đăc
Được sản xuất từ việc cô đặc sữa tươi ở áp suất thấp.
Sữa đặc không đường độ khô > 71,8%.
Sữa đặc có đường độ khô 71,8% nhưng thêm 40% đường saccaroza để dễ
bảo quản, bảo quản trong các lon hộp, khi lon hộp bị phồng chứng tỏ bị nhiễm
vi sinh vật, sữa bị quánh lại, sẫm màu cũng do bị nhiễm vi sinh vật ( vi khuẩn
không khí ).
Bảo quản nơi râm mát.
Sữa bột
Được sản xuất bằng phương pháp sấy phun, sấy màng. Độ ẩm nhỏ hơn
5%, độ tan lớn hơn 98%, chất béo 25-30%. Trong bảo quản sữa bột dễ hút ẩm,
hấp phụ khí, chất lượng giảm do biến đổi nhiệt, do vậy tránh ẩm và tránh đ ể
lẫn các chất có mùi, tránh nhiệt độ cao.
Các loại sữa thường dùng trong công nghệ bánh kẹo, thường dùng sữa bột
và sữa đặt có đường do tính chất dễ bảo quản.
7. Chất làm nở
Thuốc nở
7.1.
Trong sản xuất thường dùng 2 loại thuốc nở Natri bicacbonat (NaHCO3) là
chất cồn màu trắng nhạt, phân hủy ở nhiệt độ 80 oC và bột khai (NH4)2CO3 là
những tinh thể màu trắng, làm cho bánh trắng, phân hủy ở nhiệt độ 60oC.
Cơ chế làm nở: Khi gặp nhiệt độ cao các chất trên bị phân hủy sinh ra các
khí thoát ra tạo các lỗ hổng trong ruột bánh.
Bột nở có cường độ làm nở mạnh, tạo màu vàng, mùi hơi nồng và vị đ ắng
nếu liều quá cao, dùng trong sản xuất bánh qui, bánh mì, bánh bông lan…
Bột khai cường độ làm nở yếu hơn bột nở, mùi khai do tạo ra khí NH 3, tạo
màu trắng, dùng trong sản xuất bánh bao.
7.2. Men
Nấm men thuộc họ Saccharomyces phân giải đường saccaroza tạo ra khí,
được dùng trong sản xuất bánh mì, CO2 tích tụ trong bột nhào khi nướng bánh sẽ
thoát ra làm tăng thể tích của bánh, bánh phồng lên.
8. Axit hữu cơ
Vai trò: dùng làm chất điều vị axit citric, axit tatric, góp phần thúc đẩy quá trình
chuyển hóa đường saccroza xảy ra nhanh ở nhiệt độ cao. Vì thế khi sử dụng axit
hữu cơ không được cho vào lúc nhiệt độ cao.
Tính chất: dễ hòa tan trong nước, hay dùng trong sản xuất kẹo
9. Hương và màu thực phẩm
9.1. Vai trò
Tăng giá trị cảm quan
Tạo ra sự phong phú đa dạng về chủng loại, hình dạng, hương vị...
9.2. Nguyên tắc sử dụng
Phải sử dụng theo đúng quy định của bộ trưởng bộ y tế về danh mục các
chất phụ gia dùng trong thực phẩm, 04-041998 không chứa kim loại nặng (Asen
– tính ra As2O3≤10ppm).
CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT KẸO CỨNG
1. Định nghĩa
Kẹo cứng là khối đường saccharose ở dạng vô định hình. Thành phần chính của
kẹo cứng chính là đường và các chất giữ cho đường saccharose ở trạng thái vô
định hình và hương liệu có hai loại kẹo cứng: có nhân và không có nhân.
2. Yêu cầu của kẹo cứng
Độ ẩm kẹo cứng ≤ 3%, giòn, không dính răng, trong suốt, không có bọt khí.
Hàm lượng đường khử từ 12 – 18% tốt nhất 15 – 16%.
Không hồi đường, không bị cháy khét.
3. Sơ đồ sản xuất kẹo me

t0 = 800C
Đường,muố Hòa tan
i, nước

t0 = 108- 1100C
Phối liệu
Mật tinh
bột

t0 = 115- 1170C
Bốc hơi sơ bộ

t0 = 142 – 1450C
Lọc


Phơi=7 – 8at
Gia nhiệt đốt nóng
t0 = 135- 1400C

Nấu chân không
Pck=700mmHg
Acid, hương me, t0 = 115- 1250C
phụ gia, màu
Trộn

t0 = 80 - 90oC
Kẹo đầu đuôi Làm nguội 1


t0 = 80 - 85oC
Lăn côn


t0 = 80oC
Vuốt


t0 =70 -80oC
Tạo hình


t0 =40- 45oC
Làm nguội 2


Chon kẹo


Bao gói,bảo
quản


Thành phẩm
4. Thuyết minh quy trình
Chuẩn bị nguyên liệu
Mục đích
Dựa vào yêu cầu của kẹo mà tính toán lượng đường và chất chống hồi
đường để nấu ra kẹo đạt yêu cầu, sao cho kẹo không bị hồi đường, không bị hút
ẩm
Yêu cầu
Kẹo sau khi nấu ra kẹo không bị hồi đường, không dính răng, không hút
ẩm, trong suốt và phải giòn.
Đảm bảo tính kinh tế.
Hàm lượng đường khử RS = 12 – 18% tốt nhất là 15 – 16%. Nếu đ ường
khử nhiều thì lượng glucose lớn => kẹo dễ hút ẩm.
Trong sản xuất kẹo cứng người ta không sử dụng đường chuyển hóa mà sử
dụng mật tinh bột vì:
Về kinh tế: đường chuyển hóa được sản xuất từ đường saccharose nên giá
thành cao, hơn nữa thiết bị phải được chế tạo từ loại thép chịu được axit nên
tiền đầu tư lớn, dẫn đến giá thành cao.
Về công nghệ: nếu dùng đường chuyển hóa nhiều, chống hồi đường tốt,
nhưng kẹo dễ bị hút ẩm do hàm lượng glucose hút ẩm nhiều, dẫn đến kẹo mất
tính giòn, chát lượng giảm.
Nếu dùng ít không chống hồi đường được, đường dễ kết tinh trở lại, hơn
nữa tính dính thấp làm kẹo rất giòn.
Đối với dùng mật tinh bột
Về kinh tế: mật tinh bột đươvj sản xuất từ nguồn gốc là tinh bột nên giá
thành rẻ, là chất độn lý tưởng.
Về công nghệ: mật tinh bột chống hồi đường tốt (nó có tính chống hồi
kép). Tính dính cao, thuận lợi cho sản xuất.
Bên cạnh những ưu điểm đó mật tinh bột vẫn có khuyết điểm, đó là độ
nhớt cao, dẫn đến truyền nhiệt kém.
Công thức tính hàm lượng đường khử trong kẹo
100% + RS’
RS% = mRS x

m
Trong đó:
RS: hàm lượng đường khử trong kẹo (%)
mRS: khối lượng đường khử có trong phối liệu (kg)
m: khối lượng chất khô có trong hỗn hợp phối liệu (kg)
RS’: hàm lượng đường khử sinh ra trong quá trình nấu so với lượng đ ường
khử ban đầu. Thường nấu thủ công RS’= 4%, nấu chân không 2%.
Tính toán lượng nguyên liệu trong phối liệu
Hòa tan đường
Mục đích
Hòa tan đường nhằm mục đích vá vỡ trạng thái tinh thể của đ ường và
chuyển sang dạng dung dịch.
Yêu cầu
Đường saccharose trong siro phải ở trạng thái hòa tan hoàn toàn. Nếu hòa
tan không triệt để sẽ hình thành các mầm tinh thể khi cô đặc xuất hiện tình trạng
hồi đường.
Nồng độ chất khô trong siro cao nhất thường 80 – 81%. Nếu siro cao quá thì
độ nhớt lớn.
Siro phải trong suốt, ít bọt.Nếu nhiều bọt khi nấu kẹo sẽ bị đục không
trong.
Lượng nước hòa tan vừa đủ. Nhiều quá dễ hòa tan nhưng tốn nhiều năng
lượng khi cô đặc. Còn ít quá thì khó hòa tan đường và hòa tan khồn triệt để.
Thời gian hòa tan phải là ngắn nhất để tiết kiệm năng lượng. Nếu thời gian
nấu kéo dài, do phối trộn với mật tinh bột có độ pH = 4.8 – 5.2 trong môi trường
acid và nhiệt độ phản ứng thủy phân sẽ xảy ra. Đây là phản ứng không mong
muốn làm cho kẹo sau khi nấu dễ hút ẩm, sẫm màu do caramen hóa các loại
đường đơn.
Công thức tính lượng nước cần để hòa tan các nguyên liệu
wn = 0.3mck - wpl
Trong đó:
wn: lượng nước cần dùng để hòa tan đường (lít hoặc kg)
mck: tỏng lượng chất khô có trong phối liệu (kg)
wpl: lượng ẩm có trong phối liệu (kg)
0.3 là hệ số thực nghiệm. Thường nước bằng 30 – 33% so với lượng đường.
Bốc hơi sơ bộ


Lọc
Khi dung dịch đường sôi phải kịp thời đem lọc, nếu không nước bốc hơi
nhiều dung dịch đặc lại sẽ khó khăn. Quá trình lọc nhằm loại bỏ tất cả các tạp
chất có trong dịch đường nhất là các tạp chất keo trong nguyên liệu.
Sau khi phối liệu và nấu sơ bộ đến nồng độ chất khô là 84-86% thì cho siro vào
bộ phận lọc các tạp chất chứa trong dịch đường nhất là các tạp chất keo rồi đưa
vào bình chứa tạm thời rồi dùng bơm chuyển vào thiết bị nấu chân không.Lưới
lọc bằng kim loại không gỉ ( thép, inox…), ít bị ăn mòn, khoảng 120 lỗ/cm2 ,
đường kính lỗ 3-0,5 mm.
Gia nhiệt đốt nóng
Nấu chân không
Trộn
Làm nguội khối kẹo
Cán
Mục đích cán là để sản xuất ra loại kẹo cứng trong suốt vì cán có nhiệm vụ sau:
Phân bố đều các phụ liệu trong khối kẹo.
Loại trừ phần không khí thừa có trong khối kẹo.
Làm cho khối kẹo có nhiệt độ như nhau để nhân phân bố đều trong khối
kẹo và khối kẹo có hình dạng đồng nhất.
Sau khi cán khối kẹo cần có nhiệt độ là 75- 800C
Quật
Quật là nhằm sản xuất loại kẹo cứng không trong suốt.
Mục đích của quật :
- Sau khi quật, khối kẹo xốp hơn vì có 1 lượng không khí xâm nhập vào khối
kẹo.
- Khả năng hấp thụ độ ẩm của khối kẹo sau khi quật tăng vì bề mặt của nó
tăng
- Kẹo làm ra ít dính hơn vì sau khi quật nó có khả năng di chuyển độ ẩm tốt ( từ
bề mặt vào bên trong). Do đó khi bảo quản kẹo ít bị biến dạng hơn kẹo không
quật.
- Do độ ẩm phân bố đều khắp khối kẹo và trong kẹo có một lớp không khí nên
kẹo có khả năng tạo hình lớn hơn kẹo không quật.
Lăn côn
Để chuyển khối kẹo thành băng kẹo có kích thước yêu cầu ta phải đưa
khối kẹo về dạng hình chóp ( hình côn ), sau đó mới vuốt thành băng được.
Khối kẹo hình chóp được thực hiện trong máy lăn côn. Máy này có 4 hoặc 6
trục lăn hình chóp được sắp xếp tạo thành hình lòng máng. Khi chúng quay sẽ
chuyển khối kẹo đi vào thành dạng hình chóp.
Người công nhân sẽ cầm lấy đầu hình chóp của khối kẹo cho vào máy
vuốt.Khối kẹo ra khỏi máy lăn côn có đường kính 3-5 cm đi tiếp vào máy vuốt.
Vuốt
Mục đích của giai đoạn này là tạo băng kẹo có đường kính yêu cầu, taoj
ddieeuf kiện cho quá trình tạo hình được thuận lợi.
Máy vuốt có 4 hay 5 cặp bánh lăn có tốc độ tăng dần, khe hở giữa 2 bánh lăn
của mỗi cặp và chiều dày bánh lăn nhỏ dần làm cho đường kính của băng kẹo
ngày càng giảm. Băng kẹo ra khỏi máy vuốt có đường kính khoảng 1,5-2 cm đi
tiếp vào máy dập viên tạo hình.
Yêu cầu: tránh để viên kẹo bị thay đổi nhiệt độ một cách đột ngột khi tiếp
xúc với rulo
Tạo hình kẹo
Mục đích của tạo hình là chia băng kẹo thành những viên kẹo riêng biệt và
có hình dạng nhất định.
Máy dập trước khi sử dụng phải vệ sinh sạch sẽ, khuôn kẹo có đường nét
rõ ràng và được gia nhiệt sơ bộ trước để viên kẹo dập ra có hình dáng đẹp, đồng
đều, không bị chảy cũng như nứt nẻ.
Để thu được kẹo có chất lượng tốt cần theo dõi chế độ nhiệt độ vỏ kẹo
cũng như nhân. Trước khi tạo hình cần đưa vào máy bảo ôn để giữ nhiệt độ
thích hợp. Nhiệt độ khối kẹo đưa vào máy tạo hình là 800C, nhiệt độ nhân phụ
thuộc vào thời tiết và trong khoảng 60- 680C, nhiệt độ kẹo rơi xuống băng
chuyền hẹp không được quá 700C.
Nếu khối kẹo quá lạnh thì khó tạo hình và trên mặt sẽ xuất hiện các đường
rạn nứt.
Nếu tạo hình khối kẹo có nhiệt độ dưới mức yêu cầu còn nhân lại nóng thì
kẹo sẽ dễ bị biến dạng lúc chuyển xuống băng chuyền hẹp. Nếu nhân quá lạnh
thì khi cắt kẹo nhân dễ chảy ra ngoài ( ở chỗ băng kẹo bị cắt, vỏ kẹo không
nóng chảy được để bịt mối cắt lại ).
Thường quá trình tạo hình không lâu quá 30 phút.
Làm nguội kẹo viên
Mục đích
Đưa kẹo từ trạng thái dẻo dễ bị biến dạng về trạng thái vô định hình cứng,
dòn và ít bị biến dạng.
Sau khi tạo hình, kẹo có nhiệt độ 65-700C. Ở nhiệt độ này kẹo có tính dẻo
và dễ biến dạng. Do đó sau khi tạo hình cần làm lạnh nhanh đến 40-450 0C, lúc
đó kẹo dòn, cứng và không bị biến dạng trong quá trình bao gói, bảo quản.
Chọn kẹo
Sau khi làm nguội phải chọn để loại ra những viên kẹo bị biến dạng không
đúng qui cách, bị hồi đường, bị bể…nếu không máy gói dễ bị sự cố ( cán kẹo,
đứt nhãn…) cũng như không đạt yếu tố cảm quan. Kẹo loại ra được đưa vào mẻ
sau. Kẹo hồi, chảy sẽ được tái chế lại.
Bao cho kẹo một lớp mỏng chất béo - sáp không thấm nước bảo vệ kẹo
tránh tác dụng của độ ẩm xung quanh, đồng thời tăng vẻ bóng đẹp cho kẹo.
Gói kẹo
Kẹo chọn xong phải được gói ngay vì những viên kẹo đã làm nguội hút ẩm
rất nhanh. Nhiệt độ trong phòng gói kẹo không quá 200C, độ ẩm tương đối 60%
trở xuống.
Để chống hút ẩm tốt ta nên gói kẹo cứng bằng hai lớp: bên trong là lớp
giấy chống ẩm, bên ngoài là giấy nhãn.
Đóng bao
Kẹo cứng thường được gói kiểu gối hay xoắn 2 đầu, đóng túi 150g, 200g
hoặc 1 kg.
Bảo quản
Nhiệt độ bảo quản thường không quá 18oC. Độ ẩm của không khí khoảng
75%.
Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản