Tổng quan về các chất có hoạt tính sinh học trong thực vật

Chia sẻ: Nguyen Quang Duc | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:19

3
452
lượt xem
173
download

Tổng quan về các chất có hoạt tính sinh học trong thực vật

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Ancaloid là một hợp chất hữu cơ có cấu tạo phức tạp mà mỗi phân tử của nó đều chứa ít nhất một nguyên tử nitơ dưới dạng dị vòng. Do đó, nó là nhóm các hợp chất không thuần khiết về mặt hoá học. Hiện nay, người ta đã tìm được khoảng gần 6000 ancaloid và chủ yếu là các chất ít tan trong nước nhưng dễ tan trong các dung môi hữu cơ, nhiều chất có hoạt tính sinh học cao như:

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tổng quan về các chất có hoạt tính sinh học trong thực vật

  1. 9:06:34 a7/p7 Nguyen quang duc 2. Tổng quan về các chất có hoạt tính sinh học trong thực vật 2.1. Ancaloid Ancaloid là một hợp chất hữu cơ có cấu tạo phức tạp mà mỗi phân tử của nó đều chứa ít nhất một nguyên tử nitơ dưới dạng dị vòng. Do đó, nó là nhóm các hợp chất không thuần khiết về mặt hoá học. Hiện nay, người ta đã tìm được khoảng gần 6000 ancaloid và chủ yếu là các chất ít tan trong nước nhưng dễ tan trong các dung môi hữu cơ, nhiều chất có hoạt tính sinh học cao như: Ancaloid có tác dụng sinh lý đối với cơ thể sống của con người và động vật theo chiều hướng tích cực lẫn tiêu cực. Để nghiên cứu định tính ancaloid, người ta thường dùng các phương pháp sau: Phản ứng Wagner, phản ứng nhận biết với thuốc thử dragendooc, phản ứng với dung dịch acid pyric Các phương pháp chiết suất ancaloid bằng dung môi thường dùng hiện nay: Chiết bằng dung môi hữu cơ, chiết bằng dung dịch nước acid, cồn 2.2. Flavonoid Flavonoid là dẫn xuất của phenol có hầu hết ở người, động thực vật và vi sinhvật do đưa trực tiếp vào từ nguồn thức ăn. Bản thân con người không có khả năng tự tổng hợp được phenol. Flavonoid tham gia vào tất cả các quá trình trao đổi chất, sinh tổng hợp và quá trình enzym. Về mặt cấu tạo, flavonoid là các polyphenol có tính acid, đính nhóm hydroxy tự do ở các vòng. Trong thực vật, flavonoid tồn tại chủ yếu ở hai dạng: dạng tự do (aglycol) và dạng liên kết với glucid (glycosid). Trong đó, dạng aglycol thưòng tan trong các dung môi hữu cơ như ete, Stand by me
  2. 9:06:34 a7/p7 Nguyen quang duc aceton, cồn nhưng hầu như không tan trong nước, còn dạng glycosid thì tan trong nước nhưng không tan trong các dung môi không phân cực như aceton, benzen, cloroform. Hoạt tính sinh học của flavonoid: Có tác dụng với khối u và một số dạng ung thư như enpatin (3,5,3'-trihydroxy-6,7,4'- trimetoxyflavon), enpatoretin (3,3'-dihydroxy -5,6,7,4'- tetrametoxyflavon); Nâng cao tính bền của thành mạch máu như rutin; Có tác dụng estrogen như glycosid quecxetin và kaempferol- 3-3-ramnogalacto-7-ramnorid. Ngoài các tác dụng trên, flavonoid còn có các tác dụng khác như: chống dị ứng, chống co giật, giãn phế quản, giãn mạch, lợi mật, giảm đau và có tác dụng diệt nấm... Một số dẫn chất của flavonoid có tác dụng thông tiểu như quercetin (có trong lá diếp cá), kháng khuẩn như acvicularin. Đặc biệt, flavonoid còn có hoạt tính vitamin P, làm bền những mao mạch và giảm tính giòn của thành mạch. Các kết quả nghiên cứu khoa học đã kết luận rằng: tác dụng sinh học của flavonoid là do khả năng chống oxy hoá của chúng quy định. Do khả năng ức chế quá trình oxy hoá nênchúng có hiệu ứng chống u lành tính và u ác tính. Các flavonoid còn được ứng dụng rộng rãi để điều trị các bệnh nhiễm trùng như chống viêm loét dạ dày, viêm mật cấp tính và mãn tính, viêm gan, thận, thương hàn, lị... 2.3. Glycosid trợ tim Glycosid trợ tim là một nhóm glycosid có cấu trúc steroid, có tác dụng đặc hiệu đối với bệnh tim nhưng với liều cao chúng là các chất gây độc. Trong cây, chúng tồn tại ở dạng glycosid hoà tan trong các dịch tế bào. Dưới tác dụng của enzym hay acid loãng, các glycosid bị thuỷ phân tạo thành các genin và các ose. Là glycosid nên chúng tan nhiều trong nước và cồn loãng, ít tan trong các dung môi không phân cực như ete, dầu, benzen... Stand by me
  3. 9:06:34 a7/p7 Nguyen quang duc Tác dụng của glycosid tim làm tăng sức co bóp của cơ tim cả ở người lành lẫn người bệnh; làm tăng trương lực cơ tim: làm ngắn chiều dài của các sợi cơ tim đã bị căng, giãn do vậy làm tăng trương lực cơ tim, giảm thể tích và kích thước tim; làm chậm nhịp tim: do vừa có tác dụng trên dây thần kinh phế vị, vừa làm giảm tính tự động của nút xoang; làm giảm dẫn truyền trong nhĩ, đặc biệt nút nhĩ thất; làm giảm tính kích thích của cơ tâm nhĩ, nhưng trái lại, làm tăng tính kích thích của cơ tâm thất; gây lợi tiểu nhẹ do giảm tái hấp thu natri ở ống lượn gần. 2.4. Coumarin Coumarin là nhóm hợp chất tự nhiên, được xem là dẫn xuất lacton củab axit octo-hydroxy xinamic. Đến nay đã xác định được khoảng 600 chất và coumarin tồn tại trong cây chủ yếu dưới dạng tự do. Ví dụ như: Coumarin được dùng để làm thuốc chống đông máu. Ngoài ra một số coumarin có tác dụng làm giãn động mạch vành [1], [2] và mạch ngoại vi. Đồng thời có tác dụng chống co thắt. Một số chất có tác dụng ức chế sinh trưởng thực vật, tác dụng kháng khuẩn, diệt nấm, chống viêm... 2.5. Terpenoid Terpenoid là nhóm chất hữu cơ thiên nhiên không no có công thức chung là (izo-C5H8)n (n>=2). Ngoài các hydrocacbon không no, các dẫn xuất của chúng như ancol, andehyd, ceton, cacboxylic acid cũng được gọi là tecpen. Tuỳ theo số nguyên tử cacbon trong mạch hydrocacbon, người ta phân chúng thành các nhóm: monoterpen, secpuiterpen, diterpen, triterpen, tetraterpen, polyterpen. Trong đó monoterpen là quan trọng nhất trong terpenoid. Nó có cấu trúc mạch hở, mạch vòng. Các terpenoid có chứa nhiều trong thực vật như secpuiterpen, diterpen và triterpen có chứa trong tinh dầu, nhựa của thực vật Stand by me
  4. 9:06:34 a7/p7 Nguyen quang duc bậc cao, polyterpen là thành phần chính của các cao su tự nhiên.Chính vì do dặc điểm cấu tạo của chúng nên các terpenoid có tác dụng làm thông mạch và làm tăng độ đàn hồi của cơ tim và thành mạch. 2.6. Steroid Là những hợp chất thiên nhiên có bộ khung cacbon stenan gồm bốn vòng ngưng tụ với nhau, chứa các mạch bên và các nhóm chức khác nhau như: CO, -CHO, -COOH, -OH. Steroid tồn tại trong động , thực vật dưới dạng glycosid hoặc liên kết với các cacbon acid amin. Các steroid tham gia vào các quá trình sinh học trong cơ thể sống. Cho đến nay, người ta đã biết đến hàng chục nghìn sterod và trong số đó có hàng trăm chất được sử dụng trong y học. Một số chất tiêu biểu: 2.7. Saponin Saponin được dùng để chỉ nhóm glycosid có đặc tính chung là khi hoà tan vào nước sẽ có tác dụng làm giảm sức căng bề mặt của dung dịch và tạo bọt. Dưới tác dụng của các enzym thực vật, vi khuẩn, hoặc acid loãng, saponin bị thuỷ phân thành genin (gọi là sapogenin) và phần glucid. Phần glusid gồm các ose phổ biến là D-glucose, D- galactose, L-mannose và L-arabinose. Phần sapogenin gồm hai nhóm lớn là saponin triterpen và saponin steroid. Trong đó, saponin steroid phânbố tập trung ở cây một lá mầm còn saponin triterpen phân bố rộng nhưng tập trung chủ yếu ở cây hai lá mầm. Về mặt hoạt tính sinh học, saponin cung cấp nhiều loại thuốc quan trọng với một số tác dụng chính như sau: Tác dụng bổ, tăng cường sinh lực (saponin có trong họ nhân sâm); Tác dụng long đờm, dịu ho (có trong cam thảo, viễn chí); Giảm đau Stand by me
  5. 9:06:34 a7/p7 Nguyen quang duc nhức khớp xương (có trong ngưu tất, cỏ xước), hạ cholesterol trong máu. xem tiếp: phần 2 3. Vật liệu và thực nghiệm  3.1. Vật liệu, phương tiện sử dụng trong nghiên cứu:         Máy cất quay chân không,  cân điện tử có độ chính xác  tới 10­3  , dụng cụ bằng thuỷ tinh: Bình cầu, cốc, ống sinh  hàn, ...         Thuốc thử thích hợp như NH3, CHCl3, HCl, Mayer,  Dragendooc, Axit Pycric, H2SO4….           Các dung môi chiết xuất dùng trong nghiên cứu: Nước  tinh khiết, cồn, Cloroform, Etyl Acetat... 3.2. Thực nghiệm 3.2.1. Nguyên tắc chung.          Trong quá trình nghiên cứu hoá thực vật cần phải tôn  trọng nguyên tắc chung là không được làm thay đổi cấu trúc  hoá học có sẵn trong thực vật và không làm ảnh hưởng đến  thành phần hoá học của chúng tại thời điểm lấy mẫu. Như  vậy, ngay sau khi thu hái mẫu xong, cần phải tiến hành diệt  men để tránh sự chuyển hoá do các quá trình sinh tổng hợp  xảy ra ở thực vật, sấy khô ở nhiệt độ thích hợp, bảo quản  mẫu trong điều kiện khô ráo. Stand by me
  6. 9:06:34 a7/p7 Nguyen quang duc         Để tách các chất ra khỏi thực vật có thể được tiến hành  bằng nhiều cách khác nhau: ép lấy dầu béo, lôi cuốn bằng  hơi nước để tách các tinh dầu, ngâm chiết bằng dung môi  hữu cơ… Tuy nhiên có hai phương pháp phổ biến hơn cả để  tách các chất ra khoir thực vật.         Cách 1: Trước tiên, chiết bằng dung môi rượu ­ nước để  tách hầu hết các chất ra khỏi thực vật. Sau đó, chiết sang lọc  bằng các dung môi từ không phân cực đến phân cực. Các  dung môi chiết chứa các hợp chất hữu cơ có độ phân cực  gần nhau sẽ được cất đưổi dung môi, bảo quản dung cho  các quá trinh tách tiếp theo.          Cách 2: Chiết và phân lập các chất trong mẫu thực vật  bằng các loại dung môi từ không phân cực đến các dung môi  có độ phân cực tăng dần: n­ hexan, clorofom, etylaxetat, n­  butanol, methanol, etanol­ nước. 3.2.2. Định tính các nhóm hợp chất a. Định tính alcaloid        Định tính alcaloid trong cây, chúng tôi đã tiến hành như  sau: lấy khoảng 10g nguyên liệu khô, sau đó được tẩm bằng  hơi NH3 trong bình hút ẩm cho vào bình tam giác và rót vào  khoảng 60ml CHCl3 lắc đều rồi để yên. Sau đó dịch chiết  được lọc và chuyển vào phễu chiết. Tiếp theo cho vào dung  dịch này khoảng 10ml HCl 10%, hỗn hợp này được lắc cẩn  thận trong vài phút rồi để yên, sau đó chiết lấy phân trên  Stand by me
  7. 9:06:34 a7/p7 Nguyen quang duc (phần tan trong dung dịch HCl). Lấy phần dung dịch này để  thử định tính. ­ Để định tính có thể dùng các thuốc thử sau. + Thuốc thử Dragendoff: cho vài giọt thuốc thử này vào dung  dịch cần định tính nếu thấy kết tủa màu da cam thì chứng tỏ  có alcaloid. + Thuốc thử Wagner: cho vài giọt thuốc thử này vào dung  dịch cần định tính nếu thấy có eets tủa màu nâu chứng tỏ có  alcaloid.             Kết quả: có alcaloid. b. Định tính flavonoid           Cho  khoảng 5 gam nguyên liệu đã giã nhỏ vào bình  cầu, sau đó thêm khoảng 50ml cồn 95% và đun trên bếp  cách thuỷ cho đến sôi, lắc bình vài lần, đóng nút bình lại và  để khoảng 3 – 4 h (có thể để qua đêm) dịch chiết còn lại  được rót ra và cô đặc lại đến còn khoảng 15ml. Được chia  làm 3 phần và chuyển vào trong 3 ống nghiệm. ­ Phản ứng xianidin: thêm vào ống nghiệm thứ nhất khoảng  3ml dung dịch HCl đặc và một mảnh kim loại Mg, quan sát  trong 10 phút, nếu có màu từ vàng, đỏ, xanh thì chứng tỏ có  Stand by me
  8. 9:06:34 a7/p7 Nguyen quang duc flavonoid. Thêm vào ống nghiệm thứ 2 khoảng 2ml dung  dịch HCl, đun cách thuỷ 5 phút nếu có màu đỏ. Ống thứ 3 làm đối chứng. ­ Phản ứng với thuốc thử : FeCl31%+K3[Fe(CN)6]  dung dịch  cho màu xanh thẫm. ­ Phản ứng với H2SO4 cho màu hồng nhạt                            Kết quả: có flavonoid. c. Định tính Coumarin         Trong bình cầu trộn khoảng 10 gam nguyên liệu khô đã  giã nhỏ, thêm khoảng 80ml cồn 95%, đun sôi trên bếp cách  thuỷ và để lại 3 – 4h, luôn lắc trộn. Dịch chiết được gạn lọc  và làm bay hơi còn khoảng 5ml. Tiến hành phản ứng sau:         Trong 2 ống nghiệm, rót 2ml dịch chiết cồn, mỗi ống  nghiệm thêm 0,5ml dung dịch NaOH 10%. Sau đó đun cả 2  ống nghiệm trên bếp cách thuỷ và làm lạnh. Trong mỗi ống  rót vào khoảng 4ml nước cất. Nếu như trong ống đã được  thêm kiềm và nước trong suốt hơn so với ống nghiệm không  có kiềm, có thể khẳng định có phản ứng lacton. Khi axit hoá  bằng vài giọt HCl đặc thì thấy xuất hiện màu vàng đục hoặc  kết tủa bông thì kết luận có cumarin.    Kết quả: có coumarin. Stand by me
  9. 9:06:34 a7/p7 Nguyen quang duc d.  Định tính saponin            Để xác định saponin trong mẫu chúng tôi làm như  sau: lấy vài gam nguyên liệu đã nghiền nhỏ, lắc mạnh với 5  – 10ml nước, dấu hiệu đầu tiên có saponin là xuất hiện bọt  bền vững. + Bọt bảo toàn 15 phút. ++ Bọt bảo toàn 30 phút. +++ Bọt bảo toàn trên 60 phút.          Có thể xác định sơ bộ saponin steroid và saponin  triterpen như sau: lấy khoảng 0,5 gam nguyên liệu khô và  nghiền nhỏ, thêm vào 5ml nước cất. Hỗn hợp được đun nóng  trong ống nghiện đến sôi trên bếp cách thuỷ, làm lạnh và lọc  lấy nước. Để xác định sự có mặt của saponin ta lấy 2 ống  nghiệm. Trong ống 1, thêm 5ml dung dịch HCl 0,1N (pH =  1), ống nghiệm 2 thêm vào 5ml dung dịch NaOH 0,1N (pH =  13).Trong cả 2 ống nghiệm thêm vào 2 – 3 giọt nước sắc và  lắc thật mạnh trong khoảng 1 phút.          Nếu như trong cả 2 ống nghiệm bọt được tạo thành  bằng nhau cả về kích thước, số lượng và sự bền vững của  cột bọt thì nguyên liệu chứa saponin triterpen. Nếu như ở pH  = 13 bọt lớn hơn một vài lần về số lượng và sự bền vững thì  nguyên liệu chứa saponin steroit. Kết quả: có saponin steroid. Stand by me
  10. 9:06:34 a7/p7 Nguyen quang duc e. Định tính glycosid tim          Lấy 10 gam nguyên liệu khô đã giã nhỏ vào bình tam  giác thêm vào 100ml cồn 20 – 30% và để lại sau 1 ngày,  thỉnh thoảng khuấy trộn,l sau đó lọc thu được dịch chiết. Để  tủa chất bẩn trong dịch chiết ta tiến hành tuả lần lượt bằng  chì axetat và dung dịch natrisunfat bão hoà. Từ dung dịch đã  lọc bỏ chất bẩn lấy các glycozet ra bằng hỗn hợp CHCl3 và  cồn (3:1), phân đoạn khoảng 20ml dịch chiết CHCl3 ­ cồn  của các glycosid được làm khô bằng natrisunfat khan và lọc  vào bình cầu. Chưng cất thu hồi dung môi đến khô trên bếp  cách thuỷ.          Hỗn hợp các glycosid thu được từ cách điều chế trên  được xác định bằng phản ứng định tính Keller – Kiliani: trong  2ml axit acetic băng chứa oxit sắt ( trộn 99ml axit axetic  băng với 1ml dung dịch FeCl3 5%) được hoà tan 1 ­2 mg  glycosid, dung dịch được chuyển sang theo thành ống  nghiệm của một ông nghiệm khác chứa sẵn 2ml H2SO4 đặc  sao cho phân làm hai lớp, ở giới hạn hai lớp xuất hiện màu  nâu hoặc nâu đen, ở trên mặt vành màu nâu từ từ xuất hiện  lớp màu xanh lục hoặc xanh trong vòng 1 – 2 phút thì kết  luận có glycosid tim.   Kết quả: có glycosid tim f. Định tính đường Stand by me
  11. 9:06:34 a7/p7 Nguyen quang duc        Nguyên liệu được nghiền nhỏ, ngâm trong cồn 90%,  chiết lấy dung dịch, thêm 50ml dung dịch vào ống nghiệm  sau đó thêm 3ml dung dịch thuốc thử Fellinh, đun sôi 3 phút,  nếu có kết tủa đỏ gạch thì chứng tỏ có đường khử. Kết quả: có đường khử. g. Định tính cyanua       Dùng giấy lọc tẩm dung dịch axit picric 1% để 1­2 phút,  sau đó nhúng giấy vào dung dịch Na2CO3 rồi để cho giấy  khô. Bình cầu đụng nguyên liệu tươi đã được nghiền nhỏ trộn  với axit lactric, đậy bình cầu bằng nút cao su có cắm sinh  hàn khí. Treo giấy picrat vào trongn bình đó, đun bình trên  bếp cách thuỷ sau một thời gian nếu thấy giấy picrat chuyển  sang màu vàng nâu chứng tỏ nguyên liệu có chứa cyanua.   Kết quả: có cyanua. 3.2.3. Định lượng các nhóm hợp chất bằng phương pháp  trọng lượng a. Phương pháp xác định hàm lượng chất hoà tan       Nguyên liệu được sấy khô ở 50oC đến khối lượng không  đổi, sau đó giã nhỏ cân chính xác khối lượng gói vào giấy  lọc, cho vào cốc, cho thêm nước cất với thể tích nước mỗi lần  như nhau, rồi đun trên bếp cách thuỷ ở 100oC.   Chiết gạn  nhiều lần đến khi cân phần bã đã sấy khô thấy khối lượng  Stand by me
  12. 9:06:34 a7/p7 Nguyen quang duc không đổi là được. Hàm lượng chất hoà tan theo công thức  sau:                  Y (%) = [(m­n)/m] * 100                Y: Phần trăm hàm lượng chất hoà tan (%)                m: Khối lượng mẫu khô ban đầu (g)                n: Khối lượng mẫu sau khi hoà tan và sấy khô (g)    b. Phương pháp định lượng các chất tan tan trong dung môi   etylacetat           Nguyên liệu khô được chiết trong thiết bị soxhlet với dung  môi là C2H5OH  70%,  kết thúc chiết khi  dịch được chiết trở  thành không màu. Dịch chiết cồn bằng thiết bị soxhlet được  lọc qua giấy lọc để loại bỏ vụn dược liệu, sau đó cô đặc bằng  cách thu hồi dung môi dưới áp suất giảm. Dịch chiết đặc này  được chiết lại bằng nước nóng và clorofom (CHCl 3) nhiều lần  để loại tạp chất màu và chất béo. Phần tan trong nước được  chiết   tiếp   với   etylacetat   nhiều   lần.   Thu   được   dịch   chiết  etylacetat màu vàng (sau khi loại dịch nước).  Dịch chiết này  được  thu   hồi   dung  môi   dưới   áp  suất  giảm  ta  sẽ   thu   được  cặn , sấy cặn ở 500C, ta thu được cao toàn phần Hàm lượng được xác định theo công thức sau: Stand by me
  13. 9:06:34 a7/p7 Nguyen quang duc             Trong đó: X(%)=(b/a)*100 (1)               a: Trọng lượng nguyên liệu khô (g).               b: Trọng lượng cao sấy khô (g).                X:   Hàm   lượng   cao   etylacetat   trong   dược   liệu   khô  (%).  c. Phương pháp định lượng các chất tan tan trong dung môi   clorofom. Lấy dịch chiết cồn 70% thu được ở trên, ngâm với HCl 6N  ,sau   12   giờ,   ta   cho   NH3  vào   đến   khi   pH   của   dung   dịch  khoảng 10­13, sau đó chiết với CHCl 3 cho đến khi dịch chiết  không màu, thu hồi CHCl3   dưới áp suất giảm, ta thu được  cao, đem sấy cao ở 500C và xác định khối lượng theo (1).   4. Kết quả nghiên cứu 4.1. Kết quả định tính các loại nhóm hợp chất      Để   tiến   hành   định   tính   các   loại   nhóm   chất   trong   mẫu  nghiên cứu, chúng tôi sử dụng các phương pháp đã nêu và  thu được kết quả thể hiện ở các bảng sau:              Bảng 1. Kết quả định tính các loại nhóm chất  Stand by me
  14. 9:06:34 a7/p7 Nguyen quang duc   Nhóm  Kết  Thuốc thử Hiện tượng hợp chất luận Ancaloid 1. Dragendooc kết tủa vàng Có 2.Phản ứng Wagner kết tủa vàng Có   1. Phản ứng Xianidin của  Dung   dịch   nhạt  Có Wilstatter màu   dẫn   đến    màu đỏ nhạt Flavonoid 2. FeCl31%+K3[Fe(CN)6] màu xanh thẫm Có 3.  H2SO4 Hồng nhạt Có Coumarin Phản   ứng   tạo   kết   tủa  Có kết tủa Có bông Saponin Phản ứng tạo bọt Có bọt  Có Glucosid  Phản ứng Keller­Kaliani xuất hiện vạch  Có tim màu nâu đen    Đường khử Fellinh Kết tủa đỏ gạch Có Cyanua  Giấy picrat Vàng nâu có   Nhận xét:  Qua   bảng   trên,   thấy   trong   mẫu   nghiên   cứu   có  chứa nhiều nhóm hợp chất thiên nhiên có hoạt tính sinh học  cao như ancaloid, flavonoid, saponin, glucosid tim, coumarin  và xuất hiện cyanua trong mẫu nghiên cứu. Stand by me
  15. 9:06:34 a7/p7 Nguyen quang duc 4. 2.Kết quả định lượng một số loại nhóm chất 4.2.1. Hàm lượng chất hoà tan Bảng 2: Hàm lượng chất hoà tan trong cồn 70% của mẫu  khô (độ ẩm 24%) Mẫu   nghiên  Khối   lượng  Khối   lượng   bã  Hàm lượng  (%) cứu mẫu   khô   ban  khô   sau   khi  đầu (g) chiết (g) 1 15,564 13,402 13,893 2 7,534 6,602 12,367 3 10,245 9,008 12,078 Hàm lượng chất hoà tan trung bình là:                                      12,780%           Bảng  3  : Hàm lượng chất hoà tan trong nước của mẫu  tươi   Mẫu   nghiên  Khối   lượng  Khối   lượng   bã  Hàm lượng  (%) cứu mẫu   ban   đầu  khi chiết, sấy ở  (g) 50oC (g) 1 74,426 2,829 96,199 2 63,456 2,023 95,884 Stand by me
  16. 9:06:34 a7/p7 Nguyen quang duc 3 65,089 2,078 95,732 Hàm   lượng   chất   hoà   tan   trung   bình   là:                                           95,938%       Nhận xét:  Từ bảng trên, hàm lượng chất hoà tan trong  nước của cây lược vàng trong dung môi cồn 70% tương đối  nhỏ so với trong dung môi là nước, do đó nước là dung môi  chiết tốt các chất có trong mẫu cây Lược vàng. 4.2.2. Hàm lượng các chất tan trong etylacetat  Bảng 4: Hàm lượng các chất tan trong etylacetat chiết mẫu bằng dung môi là nước Mẫu nghiên  Khối lượng  Khối lượng cao Hàm lượng  (%) cứu nguyên liệu  (g) tươi (g)   1 74,426 0,093 0,125 2 63,456 0,072 0,114 3 65,089 0,0685 0,105 Hàm lượng  trung bình là:                                      0,115%   Bảng 5: Hàm lượng các chất tan trong etylacetat khi Stand by me
  17. 9:06:34 a7/p7 Nguyen quang duc chiết mẫu bằng dung môi cồn 70% Mẫu  Khối lượng  Khối lượng cao  Hàm lượng (%) nguyên liệu khô  (g) nghiên cứu (g) 1 15,564 0,352 2,2616 2 7,534 0,212 2,8139 3 10,245 0,253 2,4695  Hàm   lượng   trung   bình:                                                                   2,515%        Qua hai bảng trên nhận thấy các chất tan được trong dung  môi  etylacetat  của dich  chiết  cồn 70% lớn hơn so với của  dịch chiết nước, trong dịch chiết etylacetat chủ yếu các hợp  chất có độ phân cực tương đương với etylacetat tan trong đó,  như flavonoid, saponin, coumarin,…, do đó có thể sử dung  dung môi này để chiết các nhóm chất có độ phân cực tương  đương với etylacetat.  4.2.3.   Hàm   lượng   các   chất   thu   được   theo   cách   thực  nghiệm 3.2.3.c trong cây Lược vàng.         Bảng 6: Hàm lượng các chất tan trong clorofom trong  dịch chiết cồn Mẫu nghiên  Khối lượng  Khối lượng cao Hàm lượng (%) Stand by me
  18. 9:06:34 a7/p7 Nguyen quang duc nguyên liệu  cứu  (g) khô (g) 1 15,564 0,072 0,4626 2 7,534 0,036 0,4778 3 10,245 0,053 0,5173 Hàm   lượng   ancaloid   trung   bình:                                                      0,4859                 Theo   cách   thực   nghiệm   3.2.3.c   thì   trong   dịch   chiết  clorofom chủ yếu là các chất có độ phân cực tương đương  với   clorofom   như   các   ancaloid,   saponin,…   nhưng   chủ   yếu  vẫn là các alcaloid, hàm lượng các chất này tương đối lớn  trong cao thu được, do đó có thể sử dụng cách thực nghiệm  này để chiết các alcaloid. 5. Kết luận Qua   nghiên   cứu   bằng   các   phương   pháp   định   tính   như   đã  trình  bày  ở trên,  chúng  tôi  đưa ra  kết  luận  trong  cây  lược  vàng có các hoạt chất sinh học:   Ancaloid Flavonoid Stand by me
  19. 9:06:35 a7/p7 Nguyen quang duc Coumarin Saponin Glycosid tim Đường khử Cyanua. Stand by me

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản