Tổng quan về thương mại điện tử - internet (P8)

Chia sẻ: Kha Tu | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:17

0
160
lượt xem
95
download

Tổng quan về thương mại điện tử - internet (P8)

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tổng quan về thương mại điện tử - internet (P8) Chương trình hành động của APEC về thương mại điện tử Các bộ trưởng APEC: Nhìn nhận rằng thương mại điện tử có tiềm năng to lớn giúp mở rộng các cơ hội kinh doanh, giảm bớt chi phí, gia tăng hiệu quả, cải thiện chất lượng cuộc sống, và tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp nhỏ tham gia nhiều hơn vào thương mại toàn cầu; Tính tới thực tế rằng các nền kinh tế thành viên trong khu vực đang ở giai đoạn phát triển khác nhau, có các khuôn...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tổng quan về thương mại điện tử - internet (P8)

  1. Tổng quan về thương mại điện tử - internet (P8) Chương trình hành động của APEC về thương mại điện tử Các bộ trưởng APEC: Nhìn nhận rằng thương mại điện tử có tiềm năng to lớn giúp mở rộng các cơ hội kinh doanh, giảm bớt chi phí, gia tăng hiệu quả, cải thiện chất lượng cuộc sống, và tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp nhỏ tham gia nhiều hơn vào thương mại toàn cầu; Tính tới thực tế rằng các nền kinh tế thành viên trong khu vực đang ở giai đoạn phát triển khác nhau, có các khuôn khổ rất khác nhau về điều tiết, xã hội, kinh tế, và văn hoá. Tính tới sự cần thiết phải tăng cường năng lực làm thương mại điện tử trong các nền kinh tế thành viên APEC, bao gồm cả các hoạt động thông qua hợp tác kinh tế và
  2. kỹ thuật, để tạo điều kiện cho các nền kinh tế APEC thu được lợi ích từ thương mại điện tử. Thoả thuận như sau: • Khu vực doanh nghiệp đóng vai trò tiên phong trong việc hình thành công nghệ, các ứng dụng, các hoạt động và các dịch vụ thương mại điện tử. • Vai trò của các chính phủ là xúc tiến và tạo thuận lợi cho sự hình thành và sự tiếp nhận thương mại điện tử bằng cách: • Tạo ra một môi trường thuận lợi, bao gồm cả các khía cạnh pháp lý và điều tiết, có tính khả kiến, trong trẻo và nhất quán • Tạo ra một môi trường có tác dụng xúc tiến niềm tin giữa những người tham gia thương mại điện tử. • Xúc tiến sự vận hành có hiệu quả của thương mại điện tử trên bình diện quốc tế bằng cách mỗi khi có thể đều hướng vào việc xây dựng ra các khuôn khổ quốc gia tương thích với các chuẩn mực và thực tiễn quốc tế đang diễn ra, và • Trở thành người sử dụng tiên phong nhằm mục đích tạo ra chất xúc tác và nhằm khuyến khích các phương tiện điện tử được sử dụng rộng rãi hơn nữa • Để thương mại điện tử được phát đạt, giới doanh nghiệp và chính phủ các nước mỗi khi có thể đều nên hợp tác với nhau nhằm đảm bảo một hạ tầng cơ sở truyền thông và thông tin rẻ tiền, dễ truy nhập và có tính liên tác. • Trong khi thừa nhận rằng có thể sẽ cần phải có sự điều tiết chính phủ ở một mức độ nào đó, thì nên ưu tiên cho các giải pháp trung tính về công nghệ, các giải pháp dựa trên cơ sở cạnh tranh thị trường mà có thể được bảo vệ bằng chính sách cạnh tranh, và ưu tiên cho giới công nghiệp sự tự định đoạt theo hướng tìm hiệu quả. • Chính phủ và giới doanh nghiệp cần hợp tác để hình thành và ứng dụng các công nghệ và các chính sách mà tạo dựng được sự tín nhiệm và tin nhau trong các hệ thống truyền thống và thông tin an toàn, vững chắc, và đáng
  3. tin cậy, và hướng vào các vấn đề như bảo mật, chứng thực, và bảo vệ người tiêu dùng. Chương trình làm việc Để thu lợi đầy đủ từ thương mại điện tử, các nền kinh tế APEC cần nỗ lực làm việc cùng nhau để xây dựng sự tín nhiệm và tin nhau; đẩy mạnh ứng dụng chính phủ; tăng cường tầm mở rộng cộng đồng; xúc tiến hợp tác kỹ thuật và trao đổi kinh ngìệm; và khi thích hợp, thì hành động theo hướng loại bỏ các trở ngại đối với việc chấp nhận thương mại điện tử; và hình thành ra các môi trường hoàn hảo về pháp lý, kỹ thuật, vận hành và thương mại nhằm tạo thuận lợi cho thương mại điện tử gia tăng và phát triển. Nhằm mục đích ấy, các Bộ trưởng APEC thoả thuận một Chương trình làm việc trên cơ sở của công tác thương mại điện tử đang tiến hành trong APEC, bao gồm: Mở rộng hơn nữa bộ sưu tập các nghiên cứu chuyên vùng do Lực lượng đặc nhiệm tiến hành, và rút kinh nghiệm từ các nghiên cứu ấy, nhằm tạo thuận lợi và trợ giúp cho các hoạt động thương mại điện tử mà các đối tác xí nghiệp nhỏ và vừa, chính phủ, và khu vực doanh nghiệp/nhà nước đang tiến hành. Đảm nhận việc hình thành các biện pháp và các chỉ tiêu đánh giá sự chấp nhận thương mại điện tử, sử dụng thương mại điện tử, và các luồng thương mại điện tử. Đặc tính các chi phí kinh tế đang cản trở sự chấp nhận thương mại điện tử, bao gồm cả các chi phí do các hoàn cảnh thị trường và điều tiết gây ra. Hoan nghênh công tác kiên trì của các Bộ trưởng Tài chính về các khía cạnh tài chính của thương mại điện tử, một ưu tiên đã được thoả thuận cùng với Hội đồng cố vấn kinh doanh, bao gồm cả sự tham gia của giới doanh nghiệp, trên cơ sở nhìn nhận vai trò quan trọng cần thiết phải tiến hành để thương mại điện tử được chấp nhận và vận hành. Khơi sâu hơn nữa hợp tác kinh tế và kỹ thuật để tạo thuận lợi cho việc chấp nhận, sử dụng, và tối đa hoá các lợi ích của thương mại điện tử trong các nền kinh tế APEC. Giao nhiệm vụ cho các chuyên gia về xác thực, bao gồm cả các chuyên gia trong khu vực doanh nghiệp nghiên cứu toàn diện các mô hình doanh nghiệp cho việc chứng thực điện tử, bao gồm cả vai trò của các cơ chế khả dĩ như chứng thực chéo và
  4. sử dụng một cơ quan chứng thực gốc, nhằm nâng cao tính liên tác và tính tin cậy, và nhằm tạo thuận lợi cho thương mại điện tử xuyên biên giới. Hoan nghênh công tác kiên trì của Tổ chức hợp tác phát triển kinh tế (OECD) về các vấn đề thuế, bảo vệ người tiêu dùng, bảo mật và chứng thực, và đồng ý sẽ điều hành sự tiến triến các cuộc thảo luận trong các lĩnh vực này, đồng ý để các chuyên gia tham gia một cuộc gặp hỗn hợp các quan chức APEC-OECD vào năm 1999 để thảo luận các công nghệ và các mô hình doanh nghiệp chứng thực đang xuất hiện ra. Mỗi khi có thể, thì phối hợp với Uỷ ban Liên hiệp quốc về luật thương mại quốc tế (UNCITRAL) và các diễn đàn quốc tế khác trong quá trình thức đẩy việc tạo dựng nền tảng pháp lý cho một hệ thống thương mại điện tử xuyên quốc gia hoàn hảo. Do tính chất phát triển nhanh, biến hoá nhanh của thương mại điện tử, các Bộ trưởng APEC bảo trợ sự thiết lập một Mạng “ảo” Thương mại điện tử/Nguồn tư liệu đa phương tiện để cung cấp tư liệu tham khảo cho việc tiếp tục nâng cao nhận thức và trao đổi thông tin, bao gồm cả các chiến lược phát triển thương mại điện tử của các nước, tình hình các chính phủ sử dụng thương mại điện tử như một phương tiện công tác, sự phát triển các nguồn nhân lực, giáo dục và đạo tạo, và giao cho các quan chức nhiệm vụ phải khai thác mạng này có tính tới các kiến nghị của các nước thành viên, kiến nghị về Tổng kho dữ liệu giáo dục thương mại điện tử các nước thành viên thuộc Hội đồng hợp tác kinh tế Thái bình dương. Tính tới sự khác biệt giữa khuôn khổ pháp lý và điều tiết trong khu vực, các Bộ trưởng APEC thoả thuận rằng, các nền kinh tế thành viên cần nỗ lực giảm thiểu hoặc loại bỏ đòi hỏi về các giấy tờ chứng từ cho hải quan và quản lý buôn bán xuất nhập khẩu, và các chứng từ và thông điệp khác liên quan tới vận tải đường biển, đường không và đường bộ để các nước đã phát triển thực hiện “Buôn bán không giấy tờ” vào năm 2005, và các nước đang phát triển vào năm 2010, hoặc nhanh chóng nhất sau năm ấy. Nhằm mục tiêu này, các phân diễn đàn APEC cần xem xét các sáng kiến cụ thể. Các Bộ trưởng APEC thừa nhận rằng, việc khẩn cấp xem xét vấn đề Sự cố máy tính điện tử năm 2000 (Y2K) có tầm quan trọng sinh tử đối với phát triển kinh tế, buôn bán xuất nhập khẩu, truyền thống quốc tế, các hệ thống vận tải và hành chính, và thương mại điện tử. Do vậy, các Bộ trưởng thoả thuận rằng các nền kinh tế APEC sẽ
  5. tiếp tục hợp tác chuẩn bị đối phó với Sự cố năm 2000 và đầu năm 1999 sẽ tổ chức một hội nghị chuyên viên lập kế hoạch ngân sách phục vụ cho mục đích đó. Các Bộ trưởng APEC xác nhận rằng lực lượng đặc nhiệm này tỏ ra là cơ chế có hiệu quả và có hiệu lực để tạo ra sự phối hợp, sự tập trung vào các tiêu điểm, và chỉ hướng bao quát cho các vấn đề đan xen nhau của thương mại điện tử. Song song với việc hợp lý hoá các cấu trúc quản lý công việc trong APEC, lực lượng đặc nhiệm sẽ hoàn tất công tác bằng việc *** báo cáo của mình lên các nguyên thủ thông qua các quan chức cao cấp và các Bộ trưởng. Để đảm bảo sự phối hợp không ngắt quãng và sự theo đuổi chương trình hành động này, một ban chỉ đạo sẽ được thành lập, bao gồm đại diện của các nước thành viên, có cả các nhóm công tác có liên quan, cùng như các chuyên gia của các doanh nghiệp phù hợp với đường lối cña APEC về sự tham gia của các doanh nghiệp. Ban chỉ đạo sẽ tiến hành thảo luận gián tiếp, khi cần thiết cũng sẽ gặp mặt trực tiếp và mỗi năm một lần có báo cáo lên Cuộc gặp thượng đỉnh về tình hình công tác thương mại điện tử trong APEC. Các Bộ trưởng ghi nhận khả năng thành lập các lực lượng đặc nhiệm ngắn hạn có thu hút sự tham gia của giới doanh nghiệp nhằm đối phó với các vấn đề đan xen nhau lúc này lúc khác có thể phát sinh trong APEC. Chương trình “Tâm điểm mậu dịch” của UNCITAD (UNCITAD Trade Point Programme) 1. Lịch sử Tháng 2.1992, Tổ chức “Hội nghị Liên hiệp quốc về thương mại và phát triển” (UNCITAD) họp tại Cartagena (Colo**ia) đề xuất sáng kiến về hiệu quả thương mại nhằm khuyến khích các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) tham gia nhiều hơn vào buôn bán xuất nhập khẩu các hàng hoá và dịch vụ. Nhằm mục đích ấy UNCITAD chính thức đề xướng “Chương trình tâm điểm mậu dịch” (Trade Point Programme), với bốn mục tiêu: · Nâng cao hiệu quả giao dịch buôn bán với nước ngoài bằng cách đơn giản hoá và tiêu chuẩn hoá quá trình buôn bán; · Giúp cho các công ty buôn bán đã có và các công ty sẽ ra đời hoạt động hiệu quả hơn bằng cách tạo điều kiện cho họ tiếp cận dễ dàng với thông tin thương mại,
  6. cung cấp các dịch vụ hỗ trợ, các công nghệ thông tin, các mạng, và giúp huấn luyện, đào tạo; · Thông qua giao dịch điện tử và các liên kết truyền thống mà tạo ra các mối quan hệ kinh doanh mới, tạo ra nhiều đối tác mới; · Làm cho cho các công ty buôn bán xuất nhập khẩu nhận thức được sự hiện hữu của các cơ hội kinh doanh, và các kỹ thuật mới mà thông tin thương mại, công nghệ và các chuẩn mực quốc tế có liên quan đang mở ra cho họ. Để đạt được các mục tiêu trên, sẽ xây dựng các “tâm điểm mậu dịch” ở các nước, với ba chức năng: · Cung cấp các dịch vụ giao dịch buôn bán; · Cung cấp dịch vụ thông tin kinh tế thương mại; · Làm cửa ngõ dẫn các doanh nghiệp gia nhập vào mạng điện tử toàn cầu. Như vậy, một trong ba chức năng của Trade Point có liên quan tới thương mại điện tử, và trong khuôn khổ chức năng ấy, đã dự kiến rằng các Trade Point sẽ liên kết với nhau thành một “mạng toàn cầu các tâm điểm mậu dịch” (Global Trade Point Network: GTPNet), nhằm “hỗ trợ các nước đang phát triển trong nỗ lực tìm cách thu được lợi ích trong việc tham gia vào lĩnh vực liên lạc điện tử toàn cầu”. Tháng 10.1994, hội nghị các bộ trưởng thành viên UNTAD tuyên bố ủng hộ Chương trình Trade Point. Từ tháng 7.1995, “Trung tâm phát triển tâm điểm mậu dịch” (Trade Point Development Centre: TPDC), cơ quan đầu não của Chương trình Trade Point, được đặt tại Viện công nghệ hoàng gia Men-buốc (the Royal Melbourne Institute of Technology) ở Ô-xtrê-li-a. 2. Tổ chức và hoạt động của Trade Point “Chương trình Trade Point” ấn định ba giai đoạn hình thành và phát triển của một Trade Point: · Thử nghiệm: Chính phủ nước muốn tham gia Chương trình *** UNCITAD một đề nghị chính thức để UNCITAD chỉ định một “điều phối viên tâm điểm mậu dịch” (Trade Point Coodinator) tại nước đó.
  7. · Khởi phát: Thành lập Trade Point như một thực thể có tư cách phápnhân, lập kế hoạch kinh doanh trình lên UNCITAD. · Hoạt động: Trade Point hoạt động theo kế hoạch kinh doanh đã trình và theo đúng các chuẩn mực của “Chương trình Trade Point” của UNCITAD. Vào thành 9.1998 tổng cộng có 159 Trade Point (60% ở các nước Châu Mỹ La tinh, 16% ở các nước Châu Á); trong đó 44 đã ở giai đoạn hoạt động; 21 đang ở giai đoạn khởi phát; còn 84 đang ở giai đoạn thử nghiệm. Chương trình Trade Point nhằm đối tượng là các nước đang phát triển, nhưng ở các nước đã công nghiệp hoá cũng có một số Trade Point, được thành lập với mục đích hỗ trợ hoạt động xuất nhập khẩu của các công ty nhỏ và vừa. Chương trình Trade Point đưa ra 14 loại dịch vụ mà một Trade Point đã ở giai đoạn hoạt động có thể cung cấp được (Trade Point nào thực hiện được 10-14 dịch vụ thì xếp vào loại “nhiều dịch vụ”, thực hiện được 5-9 dịch vụ thì xếp vào loại “một số dịch vụ”, ít hơn nữa thì xếp vào loại “ít dịch vụ”). Dưới đây là kết quả điều tra của UNCTAD về tình hình hoạt động vào năm 1997 của các Trade Point, phân theo các loại dịch vụ. Kết quả điều tra này cho thấy: · Trade Point là một tổ chức kinh doanh, cung cấp đủ loại dịch vụ buôn bán xuất nhập khẩu (kể cả đại lý làm thủ tục hải quan, dịch thuê, cho thuê phòng họp và thiết bị...), với mục tiêu tổng hợp là giúp các doanh nghiệp đẩy mạnh mua bán xuất nhập khẩu và Trade Point sử dụng mọi phương tiện để thực hiện mục tiêu đó, cả phương tiện điện tử lẫn phương tiện truyền thống. Các dịch vụ mà một trade point có thể cung cấp Tỷ trọng Kết nối bạn hàng 88 Thông tin cập nhật về công ty và các sản phẩm công ty 88 Tư vấn các vấn đề về vận tải 76
  8. Nghiên cứu thị trường 76 Dịch thuật và phiên dịch 64 Tạo trang Web và catalogy trên Web 56 Viết thuê các thư thương mại, hợp đồng buôn bán... 48 Cung cấp phương tiện hội nghị, gặp gỡ (phòng, thiết bị...) 48 Làm thủ tục thông quan 44 Trợ giúp trực tiếp các dịch vụ tài chính 40 Đào tạo, huấn luyện 28 Cung cấp các chứng chỉ thương mại 24 Trao đổi dữ liệu điện tử (EDI) 20 Các loại khác 24 · Công việc phổ biến nhất mà các Trade Point thực hiện là kết nối mối bạn hàng, thông tin về công ty và sản phẩm công ty, tư vấn về vận tải, nghiên cứu thị
  9. trường, và phiên dịch biên dịch (64% tới 88% các Trade Point làm việc các việc này); chỉ có 20% các Trade Point có hoạt động đầu mối trao đổi dữ liệu điện tử (EDI). · Mối quan hệ giữa Trade Point với các công ty là quan hệ kinh doanh; các công ty trả tiền cho các dịch vụ thông tin, tiếp thị, hỗ trợ kỹ thuật và đào tạo mà Trade Point cung cấp cho họ. Một tài liệu nghiên cứu cho biết: 60% Trade Point trên thế giới hiện nay là do tư nhân đứng ra kinh doanh, 20% do Nhà nước kinh doanh, còn 20% là liên doanh giữa nhà nước và tư nhân. Xét riêng về chức năng thứ ba của Trade Point (chức năng đưa dần các công ty xuất nhập khẩu vào mạng điện tử toàn cầu, và do đó trực tiếp góp phần xúc tiến thương mại điện tử), Chương trình Trade Point đặt ra bốn mục tiêu chiến lược là: · Mạng toàn cầu các tâm điểm mậu dịch (GTPNet) của UNCITAD sẽ ngày càng trở thành một mạng lấy Internet làm nền. · Chỉ giới hạn trong giao dịch buôn bán giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp (không đi sang các lĩnh vực khác của thương mại điện tử như: doanh nghiệp với người tiêu dùng, doanh nghiệp với các cơ quan chính phủ, giữa các cơ quan chính phủ với nhau, và giữa các chính phủ), với đối tượng chủ yếu là các doanh nghiệp nhỏ và vừa, nhằm “tạo điều kiện cho các doanh nghiệp này tiếp xúc trực tiếp với nhau, giảm trung gian giao dịch tới mức tối thiểu”; · Thoạt tiên giúp các doanh nghiệp ở các nước đang phát triển tạo ra một mạng tiền giao dịch (pre transactional network) để liên lạc với nhau tìm kiếm bạn hàng và cơ hội kinh doang (khi ký hợp đồng thực thì vẫn qua giấy tờ); sau đó mới tiến dần tới ký hợp đồng trên mạng; quá trình đó gọi là tiến “từ tiếp xúc sang ký kết”; · Về thanh toán, sẽ đi theo hướng kết hợp các phương pháp truyền thống với phương pháp thanh toán bằng thẻ thông minh (smart card), mà không theo hướng sử dụng “tiền điện tử” (electronic money). “Trung tâm phát triển tâm điểm mậu dịch” của UNCTAD đặt tại Ô-xtrê-li-a có trách nhiệm tạo ra các công cụ và các giao diện (interface) thích hợp và đổi mới thường xuyên để sử dụng cho “mạng toàn cầu các tâm điểm mậu dịch” trong đó có công cụ “Hệ thống các cơ hội buôn bán điện tử” (Electronic Trading Opportunities System: ETOs). GTPNet World Wide Web site (địa chỉ Internet) có tên gọi là “Dưỡng
  10. mầm điểm buôn bán trên Internet” (Trade Point Internet Incubator) để giúp tạo điều kiện dùng liên lạc điện tử để giao dịch buôn bán giữa các doanh nghiệp và dần dần Internet hoá các giao dịch ấy. Chương trình Trade Point đặt hai máy chủ chính, một ở Giơ-neo (Thuỵ sĩ), một ở Men-buốc (Ô-xtrê-li-a), dùng làm “tổng trạm” (hub). Để gia tăng sự thuận tiện và tốc độ truy nhập vào GTPNet, ở một số nơi trên thế giới, chủ yếu là ở các trường đại học, có điểm gương (micrror site) của hai máy chủ này (tới cuối năm 1998 có 39 điểm gương tại 24 nước và địa khu). Ngoài liên lạc mạng với các máy chủ nói trên, có một số Trade Point nối trực tiếp với Internet thông qua các hãng cung cấp dịch vụ Internet ở nước sở tại. Theo điều tra của UNCTAD, ở một số nơi, các Trade Point đã vào hoạt động đang phát huy tác dụng tích cực giúp các doanh nghiệp (chủ yếu là các công ty nhỏ và vừa, vốn yếu kém về trang bị và năng lực công nghệ, thiếu thông tin và ít cơ hội giao dịch) làm tiếp thị trên mạng (trong đó có kết mối, quảng cáo), giao dịch sơ bộ với bạn hàng, và cung cấp thông tin kinh tế thị trường (tin lấy chủ yếu từ “Trung tâm phát triển tâm điểm mậu dịch” của UNCTAD truyền qua mạng GTPNet, sau đó xử lý và *** cho các doanh nghiệp tham khảo sử dụng thường là dưới dạng bản tin). HIỆP ĐỊNH KHUNG E-ASEAN LỜI MỞ ĐẦU Chúng tôi, những Người-đứng-đầu Chính phủ/ Nhà nước Bru-nây Đa-ru-sa- lem, Vương quốc Căm-pu-chia, Cộng hoà In-đô-nê-si-a, Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào, Ma-lai-xi-a, Liên bang My-an-ma, Cộng hoà Phi-lip-pin, Cộng hoà Xing-ga-po, Vương quốc Thái-Lan, Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, các quốc gia thành viên của hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (dưới đây được gọi là "ASEAN"): Nhận thấy những cơ hội do cuộc cách mạng công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) và thương mại điện tử mang lại; Mong muốn rằng dân tộc mình cần được hưởng những lợi ích từ những cơ hội do ICT và thương mại điện tử đem lại, tiếp cận với những công nghệ mới này, và tạo thuận lợi cho các giao dịch điện tử và thương mại qua biên giới;
  11. Nhận thức rõ rằngmục tiêu cuối cùng của việc phát triển kinh tế là nhằm thúc đẩy phát triển nhân lực về mọi mặt, để giúp nhân dân các nước ASEAN có được cơ hội phát huy tối đa tiềm năng của mình; Tin tưởng rằng sáng kiến e-ASEAN và việc thiết lập Cơ sở Hạ tầng Thông tin ASEAN, như đã đề ra trong Chương trình Hành động Hà nội, sẽ nâng cao khả năng cạnh tranh của ASEAN trên thị trường thế giới; Quan tâm tới nhu cầu thúc đẩy sự phối hợp nhiều hơn giữa khu vực tư nhân và khu vực nhà nước trong việc thực hiện e-ASEAN; quan tâm tớinhững mục tiêu và các quy định của Hiệp định ASEAN về Hệ thống Ưu đãi Thuế quan có Hiệu lực chung (CEPT) cho Khu vực Thương mại Tự do ASEAN (AFTA); Hiệp định khung ASEAN về Dịch vụ (AFAS) và Hiệp định Khung ASEAN về khu vực đầu tư ASEAN (AIA); khẳng định lại quyết định của mình tại Hội nghị Thượng đỉnh không chính thức ASEAN lần thứ 3, tháng 11 năm 1999, về việc thành lập khu vực thương mại tự do (FTA) cho hàng hoá, dịch vụ và đầu tư cho các ngành thông tin-viễn thông trong khuôn khổ một Hiệp định e-ASEAN mới; đã nhất trí các điều khoản dưới đây: Điều 1:Định nghĩa 1. Nhằm phục vụ cho mục đích của Hiệp định này những thuật ngữ dưới đây sẽ, trừ khi có các quy định khác, có nghĩa như sau: a) "Công nghệ thông tin và truyền thông" (ICT) đề cập đến hạ tầng cơ sở, các hệ thống phần cứng và phần mềm cần thiết để thu nhận, xử lý và phổ biến thông tin nhằm tạo ra các sản phẩm và dịch vụ thông tin; (b) "Các sản phẩm ICT" có nghĩa là những sản phẩm trong Hiệp định Công nghệ Thông tin của WTO (ITA1) và những sản phẩm có liên quan mà các nước thành viên có thể đồng ý bổ sung thêm sau; (c) "Dịch vụ ICT" có nghĩa là các dịch vụ có liên quan đến thông tin và truyền thông được được liệt kê trong Bảng phân loại sản phẩm trung tâm (CPC) và bất kỳ những dịch vụ bổ sung có liên quan mà các nước thành viên có thể đồng ý bổ sung sau, và;
  12. (d) "Đầu tư" có nghĩa là đầu tư trực tiếp có liên quan đến việc sản xuất các sản phẩm ICT và cung cấp dịch vụ ICT Điều 2: Mục đích của Hiệp định Mục đích của Hiệp định này là : (a) Đẩy mạnh hợp tác để phát triển, tăng cường và nâng cao tính cạnh tranh của lĩnh vực ICT trong ASEAN; (b) Đẩy mạnh hợp tác để giảm mức độ phát triển không đồng đều về kỹ thuật số trong từng nước và giữa các nước ASEAN; (c) Đẩy mạnh hợp tác giữa các khu vực tư nhân và chính phủ trong việc thực hiện e-ASEAN; và (d) Đẩy mạnh việc tự do hoá thương mại đối với các sản phẩm, dịch vụ và đầu tư về ICT để ủng hộ sáng kiến e-ASEAN Điều 3: Phạm vi của Hiệp định Hiệp định này sẽ đề cập đến các biện pháp nhằm: (a) Tạo thuận lợi cho việc thiết lập Cơ sở Hạ tầng Thông tin ASEAN; (b) Tạo thuận lợi cho tăng trưởng thương mại điện tử trong ASEAN; (c) Thúc đẩy và tạo thuận lợi cho việc tự do hoá thương mại đối với các sản phẩm, dịch vụ ICT và tự do hoá đầu tư để ủng hộ sáng kiến e-ASEAN; (d) Thúc đẩy và tạo điều kiện đầu tư vào sản xuất các sản phẩm ICT và cung cấp các dịch vụ ICT; (e) Phát triển xã hội điện tử trong ASEAN và xây dựng năng lực để giảm bớt sự phát triển không đồng đều về kỹ thuật số trong từng nước ASEAN và giữa các nước ASEAN; vàđẩy mạnh việc sử dụng ICT trong việc cung cấp các dịch vụ chính phủ (e- Government). (g) Giúp các nước thành viên đã sẵn sàng có thể đẩy nhanh việc thực hiện Hiệp định này như đã quy định tại điều 4, 5, 6 và 7 và sẽ thực hiện vào năm 2002, và giúp đỡ các nước thành viên khác nâng cao năng lực của mình. Điều 4:Tạo thuận lợi cho việc thiết lập hạ tầng cơ sở thông tin ASEAN
  13. 1.Các nước thành viên sẽ nâng cao trình độ các thiết kế và tiêu chuẩn của hạ tầng thông tinquốc gia của mình nhằm tạo thuận lợi cho tính liên thông và bảo đảm tính liên tác về mặt kĩ thuật của hạ tầng thông tin giữa các nước. 2.Các nước thành viên sẽ hướng tới việc kết nối trực tiếp với tốc độ cao các hạ tầng cơ sở thông tin của mình nhằm tạo ra sự kết nối trong trục hạ tầng cơ sở thông tin ASEAN. 3.Bổ xung vào hạ tầng cơ sở thông tin của ASEAN, các nước thành viên hướng tới việc phát triển dung liệu ASEAN, liên quan tới nhưng không giới hạn trong việc hợp tác phát triển thư viện kỹ thuật số và các cổng du lịch. 4.Các nước thành viên hướng tới việc tạo thuận lợi cho việc xây dựng các tổng đài và các cổng Internet quốc gia và khu vực, bao gồm cả các bộ nhớ đệm và các trang web phiên bản của khu vực. Ðiều 5:Tạo thuận lợi cho sự phát triển của thương mại điện tử 1.Các nước thành viên sẽ thông qua các khuôn khổ lập pháp và điều tiết đối với thương mại điện tử nhằm tạo dựng lòng tin và sự tin cậy cho người tiêu dùng và tạo thuận lợi cho việc sắp xếp lại các doanh nghiệp theo hướng phát triển e-ASEAN. Để đạt được mục tiêu này, các nước thành viên sẽ: (a) Khẩn trương đưa vào luật và các chính sách quốc gia của mình các vấn đề liên quan đến các giao dịch thương mại điện tử dựa trên các tiêu chuẩn quốc tế; (b) Tạo thuận lợi cho việc thừa nhận lẫn nhau về khuôn khổ chữ ký điện tử. (c) Tạo thuận lợi cho các giao dịch, thanh quyết toán bằng phương pháp điện tử an toàn trong khu vực thông qua các cơ chế cụ thể như các cổng thanh toán điện tử; (d) ÁP dụng các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ phát sinh trong thương mại điện tử. Các nước thành viên được khuyến nghị xem xét việc áp dụng các Hiệp ước của Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới (WIPO) đó là : "Hiệp ước về bản quyền của WIPO năm 1996" và "Hiệp ước về ghi âm và biểu diễn của WIPO năm 1996"; (e) ÁP dụng các biện pháp nhằm tăng cường việc bảo vệ dữ liệu cá nhân và bí mật riêng tư của người tiêu dùng; và (f) Khuyến khích sử dụng các cơ chế giải quyết tranh chấp thay thế (ADR) đối với các giao dịch trực tuyến. Điều 6:Tự do hoá thương mại các sản phẩm, dịch vụ và đầu tư ICT
  14. 1.Các nước thành viên sẽ tiến hành đàm phán nhằm đẩy nhanh việc thực hiện các cam kết của các nước thành viên về các sản phẩm, dịch vụ và đầu tư ICT theo Hiệp định về Chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung (CEPT) nhằm hình thành Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN (AFTA), Hiệp định khung ASEAN về Dịch vụ và Hiệp định khung về Khu vực Đầu tư ASEAN (AIA). 2.Các nước thành viên sẽ loại bỏ hàng rào thuế quan và phi quan thuế đối với thương mại trong khu vực ASEAN đối với các sản phẩm ICT theo 3 đợt. Đợt một sẽ có hiệu lực vào ngày 1/1/2003. Đợt hai sẽ có hiệu lực từ ngày 1/1/2004. Đợt ba sẽ có hiệu lực từ ngày 1/1/2005. Đối với các nước Campuchia, Lào, Myanma và Việt Nam, ba đợt này sẽ có hiệu lực từ 1/1/ 2008, 2009 và 2010. Các sản phẩm ICT thuộc ba đợt này sẽ do các nước thành viên trình lên cho Ban Thư ký ASEAN. 3.Các nước thành viên sẽ đạt được mức độ tự do hoá thương mại cao hơn đối với dịch vụ ICT thông qua các vòng đàm phán liên tục trong khuôn khổ Hiệp định khung ASEAN về dịch vụ nhằm thực hiện dòng lưu chuyển tự do về dịch vụ. 4. Theo các quy định của Hiệp định AIA, mỗi nước thành viên sẽ: (a) mở cửa ngay cho các khoản đầu tư của các nhà đầu tư ASEAN vào các sản phẩm ICT, và (b) dành ngay cho các nhà đầu tư ASEAN và vốn đầu tư của họ vào các sản phẩm ICT và các biện pháp tác động đến đầu tư sự đối xử không kém phần ưu đãi hơn các nhà đầu tư và vốn đầu tư trong nước, bao gồm nhưng không hạn chế, trong việc tiếp nhận, thành lập, mua lại, mở rộng, quản lý, điều hành và thanh lý các vốn đầu tư đó, Điều 7:Tạo thuận lợi cho mua bán các sản phẩm và dịch vụ ICT 1.Để tạo thuận lợi cho việc mua bán các sản phẩm ICT, các nước thành viên sẽ ký các Thoả thuận công nhận lẫn nhau (MRA) về các sản phẩm ICT nếu có thể được và sẽ hài hoà các tiêu chuẩn quốc gia đối với các tiêu chuẩn quốc tế liên quan. 2.Các nước thành viên sẽ nỗ lực thúc đẩy công việc hướng tới thực hiện Thoả thuận công nhận lẫn nhau trong ASEAN về thiết bị viễn thông. 3.Các nước thành viên sẽ hài hoà Biểu thuế quan đối với các sản phẩm ICT thông qua việc hoàn thiện Biểu thuế quan chung ASEAN (AHTN) vào năm 2000 và bắt đầu thực hiện vào đầu năm 2002. Các nước thành viên sẽ hài hoà trị giá tính thuế hải quan cho các sản phẩm ICT bằng việc
  15. thực hiện Hiệp định trị giá tính thuế của WTO. 4.Các nước thành viên sẽ đẩy nhanh việc hướng tới các thoả thuận công nhận lẫn nhau về các tiêu chuẩn xác định chất lượng. Điều 8:Tạo dựng năng lực và xã hội điện tử 1.Các nước thành viên sẽ xây dựng một cộng đồng e-ASEAN bằng việc nâng cao nhận thức, hiểu biết chung và hiểu rõ giá trị của ICT, đặc biệt là Internet. Liên quan đến vấn đề này, một chương trình xây dựng năng lực sẽ được triển khai trên cơ sở của việc đánh giá mức độ sẵn sàng của các nước thành viên ASEAN bao gồm cả giáo dục và đào tạo cho các doanh nghiệp nhỏ, công nhân trong lĩnh vực ICT, các nhà quản lý và hoạch định chính sách ICT. Các nước thành viên tiên tiến hơn, có các phương tiện đào tạo ICT sẽ mở các khoá đào tạo dành cho cho các nước thành viên có trình độ thấp hơn. 2.Để gia tăng sự hiểu biết về ICT và phát triển đội ngũ công nhân ICT trong khu vực, các nước thành viên sẽ triển khai một chương trình phát triển nguồn nhân lực cho các trường học, cộng đồng và cơ quan. 3. Các nước thành viên sẽ hướng tới việc thiết lập một xã hội điện tử bằng cách: (a) thúc đẩy sự phát triển của một xã hội tri thức (b) thu hẹp sự phát triển không đồng đều về kỹ thuật số (c) nâng cao tính cạnh tranh của lực lượng lao động (d) tạo thuận lợi cho việc di chuyển tự do hơn lực lượng lao động có trình độ và (e) sử dụng ICT để nâng cao tính cộng đồng của ASEAN. Điều 9:Chính phủ điện tử 1.Các nước thành viên sẽ sử dụng ICT để cải thiện việc cung cấp và chuyển giao các dịch vụ của Chính phủ. 2.Các nước thành viên sẽ từng bước cung cấp hàng loạt các dịch vụ Chính phủ và tiến hành các giao dịch trực tuyến bằng việc sử dụng ICT để tạo thuận lợi cho việc liên kết giữa khu vực tư nhân và Chính phủ, đồng thời làm tăng tính minh bạch. 3.Các nước thành viên sẽ tiến tới tăng cường hợp tác liên Chính phủ bằng việc: a. Đẩy mạnh việc sử dụng các phương tiện điện tử trong việc mua sắm hàng hoá và dịch vụ, và
  16. b. Tạo thuận lợi cho việc di chuyển tự do hơn đối với hàng hoá, thông tin và con người trong nội bộ ASEAN Điều 10:Giải quyết tranh chấp 1.Bất kỳ khác biệt nào giữa các nước thành viên liên quan đến việc giải thích hoặc áp dụng Hiệp định khung này sẽ được giải quyết thông qua sự tham vấngiữa các nước thành viên liên quan trong phạm vi tối đa có thể được. 2.Nếu không thể giải quyết được, tranh chấp sẽ được giải quyết theo Nghị định thư về Cơ chế Giải quyết Tranh chấp của ASEAN ký ngày 20/11/1996 tại Manila, Philippines. Ðiều 11:Sửa đổi Bất kỳ sửa đổi nào của Hiệp định này sẽ được thông qua bằng sự đồng thuận và sẽ có hiệu lực khi tất cả các nước ký kết nộp văn bản phê chuẩn hoặc chấp thuận cho Tổng Thư ký ASEAN. Điều 12:Các Nghị định thư Các nước thành viên có thể đàm phán và ký các Nghị định thư riêng để thựuc hiện Hiệp định với tư cách là bộ phận không tách rời của Hiệp định này. Điều 13:Các thoả thuận pháp lý Hội nghị các quan chức cao cấp về kinh tế (SEOM) sẽ giám sát, điều phối và kiểm điểm việc thực hiện Hiệp định này. SEOM sẽ báo cáo lên các Bộ Trưởng kinh tế ASEAN (AEM) và giúp AEM trên tất cả các vấn đề liên quan đến Hiệp định. Điều 14:Mối quan hệ với các Hiệp định khác của ASEAN Trừ khi có quy định đặc biệt khác trong Hiệp định này, các quy định trong Hiệp định về Chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung (CEPT) cho Khu vực Tự do Thương mại ASEAN (AFTA) và các Nghị định thư kèm theo, Hiệp định khung ASEAN về Dịch vụ và các Nghị định thư kèm theo, và Hiệp định khung về Khu vực Đầu tư ASEAN, bao gồm nhưng không chỉ giới hạn đối với những quy định liên quan tới các biện pháp tự vệ và các ngoại lệ, vẫn sẽ được áp dụng và không bị ảnh hưởng bởi Hiệp định này. Điều 15:Điều khoản cuối cùng
  17. 1.Hiệp định sẽ có hiệu lực khi tất cả các nước ký kết nộp văn bản phê chuẩn hoặc phê duyệt cho Tổng Thư ký ASEAN. 2.Hiệp định khung này sẽ được nộp lưu chiểu cho Tổng Thư ký ASEAN và Tổng Thư ký ASEAN sẽ *** ngay đến mỗi nước thành viên một bản sao chính xác. Trước sự chứng kiến, chúng tôi ký Hiệp định khung e-ASEAN này. Làm tại Singapore, ngày 24 tháng Mười một năm 2000, với một bản duy nhất bằng tiếng Anh.

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản