Tổng quan về tổ chức Apec

Chia sẻ: jewelphan

Apec - diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương với mục tiêu tăng cường mối quan hệ về kinh tế và chính trị.

Bạn đang xem 20 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: Tổng quan về tổ chức Apec

PHẦN 1: TỔNG QUAN VỀ TỔ CHỨC APEC 1
Khái quát chung về APEC
APEC(Asia-Pacific Economic Cooperation)_diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á – Thái
Bình Dương với mục tiêu tăng cường mối quan hệ về kinh tế và chính trị.




Các thành viên của APEC được tô màu đen đậm




2
Trụ sở chính
Singapore


Năm thành lập
1989


Các nước thành viên
21


Ngôn ngữ sử dụng chính thức
Tiếng anh


Hình thức hợp tác
Diễn đàn kinh tế


Người đứng đầu_Giám đốc
điều hành
Juan Carlos Capuñay


Vị trí các nước thành viên
Khu vực Châu Á-Thái bình
dương


Website chính thức
http://www.APEC.org




3
Biểu trưng của APEC:
Biểu trưng APEC ra đời năm 1991, do Hàn Quốc khởi xướng việc thiết kế và đã nhận
đưọc sự chấp thuận của các thành viên. Biểu trưng APEC có hình dáng quả địa cầu với
màu trắng, xanh lá cây và xanh nước biển. Biểu trưng này không chỉ là biểu tượng của
APEC, một khuôn khổ hợp tác kinh tế khu vực quan trọng nhất, mà còn thể hiện những hy
vọng và ước nguyện của cả khu vực Châu Á – Thái Bình Dương.




Biểu trưng thể hiện những ý tưởng sau:
Khu vực bán cầu Thái Bình Dương là vị trí địa lý của các thành viên APEC. Màu xanh da
trời và xanh nước biển thể hiện những ước vọng của người dân Châu Á – Thái Bình
Dương về một cuộc sống thịnh vượng, mạnh khỏe, ấm no, còn màu trắng biểu tượng cho
hòa bình và ổn định
Mảng màu đậm bên lề thể hiện triển vọng tiến bộ và tăng trưởng nổi trội của khu vực
Châu Á – Thái Bình Dương.




4
CHƯƠNG 1: BỐI CẢNH VÀ SỰ RA ĐỜI CỦA APEC

1.1.Sáng kiến của Australia về việc thành lập APEC:

Ngay từ những năm 1960, ý tưởng về liên kết kinh tế khu vực đã được một số học
giả người Nhật Bản đưa ra. Năm 1965, hai học giả người Nhật Bản Kojima và Kurimoto
đã đề nghị thành lập một "Khu vực mậu dịch tự do Thái Bình Dương" mà thành viên gồm
năm nước công nghiệp phát triển, có thể mở cửa cho một số thành viên liên kết là các
nước đang phát triển ở khu vực lòng chảo Thái Bình Dương. Sau đó, một số học giả khác
như Tiến sĩ Saburo Okita (cựu Ngoại trưởng Nhật Bản) và Tiến sĩ John Crawford (Đại học
Tổng hợp Quốc gia Ôt-xtrây-lia) đã sớm nhận thức được sự cần thiết phải xây dựng sự
hợp tác có hiệu quả về kinh tế ở khu vực. Tư tưởng này đã thúc đẩy những nỗ lực hình
thành Hội đồng Hợp tác Kinh tế Thái Bình Dương (PECC) năm 1980. Chính PECC sau này
đã cùng với ASEAN đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành chế độ tư vấn kinh tế
rộng rãi giữa các nền kinh tế trong khu vực cũng như thúc đẩy ý tưởng thành lập APEC.
Vào cuối những năm 1980, một số quan chức chính phủ Nhật Bản, đặc biệt Bộ
trưởng Bộ Thương mại và Công nghiệp (MITI) lúc đó là Hajime Tamura, đã gợi ý thành
lập một diễn đàn hợp tác có tính chất kỹ thuật về các vấn đề kinh tế khu vực. Mỹ lúc đầu
tỏ ra ít quan tâm đến gợi ý này vì đang tập trung thúc đẩy tiến triển của vòng đàm phán U-
ru-goay của GATT và hình thành Khu vực Mậu dịch Tự do Bắc Mỹ (NAFTA), trong khi
chính phủ Công Đảng của Thủ tướng Bob Hawke ở Ôt-xtrây-lia lúc đó đã nhận thức được
tầm quan trọng thiết yếu của mối quan hệ kinh tế, thương mại với châu Á đối với Ôt-
xtrây-lia nên đã kịp thời nắm bắt và thúc đẩy ý tưởng về một diễn đàn hợp tác kinh tế.
Tháng 1 năm 1989, tại Xê-un, Hàn Quốc, Thủ tướng Bob Hawke đã nêu ý tưởng về
việc thành lập một Diễn đàn tư vấn kinh tế cấp Bộ trưởng ở châu Á - Thái Bình Dương
với mục đích phối hợp hoạt động của các chính phủ nhằm đẩy mạnh phát triển kinh tế ở
khu vực và hỗ trợ hệ thống thương mại đa phương. Australia, Nhật Bản, Malaysia, Hàn
Quốc, Thái Lan, Philippines, Singapore, Brunei, New Zealand, Indonesia, Canada và Mỹ đã
ủng hộ sáng kiến này. Tháng 11 năm 1989, các Bộ trưởng Ngoại giao và Kinh tế của các
nước nói trên đã họp tại Can-bê-ra, Ôt-xtrây-lia quyết định chính thức thành lập APEC.
Sau đó, APEC kết nạp thêm Trung Quốc, Hồng Công và Đài Loan (với tên gọi theo
tiếng Anh là Chinese Taipei) vào tháng 11 năm 1991; Mexico, Papua New Ghine tháng 11
năm 1993; Chile tháng 11 năm 1994 và tạm ngừng thời hạn xét kết nạp thành viên trong ba
năm. Đến tháng 11 năm 1998, APEC kết nạp thêm ba thành viên mới là Peru, Liên bang Nga
và Việt Nam, đồng thời quyết định tạm ngừng thời hạn xem xét kết nạp thành viên mới
trong mười năm để củng cố tổ chức.
Đến nay APEC đã có 21 nước thành viên, bao gồm cả hai khu vực kinh tế mạnh và
năng động nhất thế giới: khu vực Đông Á và khu vực Bắc Mỹ (gồm Mỹ, Ca-na-đa và Mê-
hi-cô) với những nét đặc thù và vô cùng đa dạng về chính trị, xã hội, kinh tế và văn hóa. 5
Chỉ trong mười năm đầu tồn tại và phát triển, các nền kinh tế thành viên APEC đã đóng
góp gần 70% cho sự tăng trưởng chung của nền kinh tế toàn cầu.
So với toàn thế giới, APEC có vị trí quan trọng, diện tích chiếm 46%, dân số chiếm
41,2%(với khoảng 2,5 tỷ dân), mật độ dân số bằng 89,8%, GDP chiếm 57,7%(19.000 tỷ đô
la Mỹ mỗi năm), GDP bình quân đầu người bằng 140,1%, chiếm 47% thương mại thế
giới, xuất khẩu chiếm 50,1%, xuất khẩu bình quân đầu người bằng 121,7%. Tỷ lệ xuất
khẩu so với GDP đạt 19,1%, tuy thấp hơn tỷ lệ 22% của thế giới, nhưng lại có những
thành viên đạt rất cao, như: Singapore 196,5%; Hồng Kông; 163,3%; Malaysia 121,2%;
Brunei 74,5%; Thái Lan; 67,7%; Việt Nam 59,6%; Đài Loan 53%...
Trong số 14 nền kinh tế lớn nhất thế giới có GDP lớn hơn 500 tỷ USD (Mỹ, Nhật
Bản, Đức, Anh, Pháp, Trung Quốc, Italia, Canada, Tây Ban Nha, Mexico, Hàn Quốc, Ấn
Độ, Australia, Hà Lan), thì có 7 là thành viên của APEC, trong đó có 2 nền kinh tế lớn nhất
thế giới là Mỹ, Nhật Bản. Đặc biệt, gần đây Trung Quốc với tốc độ kinh tế liên tục tăng
cao và tăng trong thời gian dài kỷ lục…
1.2. Những nhân tố dẫn đến sự ra đời của APEC
Từ cuối những năm 1970, đặc biệt là trong những năm 1980, sự tăng trưởng kinh tế
liên tục và với nhịp độ cao của châu Á mà nòng cốt là các nền kinh tế Đông Á đã thu hút sự
chú ý của cả thế giới. Tiếp theo "sự thần kỳ" của Nhật Bản, các nền kinh tế công nghiệp
mới (NIEs), ASEAN và đặc biệt là sự nổi lên của Trung Quốc đã biến châu Á thành khu
vực phát triển kinh tế năng động bậc nhất thế giới.
Từ những năm 1980, các nước châu Á luôn luôn dẫn đầu thế giới về tốc độ phát
triển kinh tế trong khi kinh tế thế giới bị suy thoái vào đầu những năm 1990. Xuất khẩu
thực sự là động lực tăng trưởng kinh tế ở các nước châu Á. Trong giai đoạn 1980-1992,
xuất khẩu của các nước châu Á tăng nhanh nhất thế giới, đạt tốc độ bình quân hàng năm
trên 10%, so với 4% của các nước châu Âu và Mỹ La-tinh và 6% của các nước công nghiệp
phát triển vốn chiếm tới 2/3 thương mại thế giới. Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào
các nước châu Á tăng mạnh, phần lớn từ Mỹ, Nhật Bản và các nền kinh tế NIEs. Tiềm lực
lớn về xuất khẩu hàng hoá, dịch vụ và vốn đầu tư đòi hỏi phải có thị trường ổn định, rộng
mở và hạn chế đến mức tối đa những hàng rào ngăn trở sự lưu chuyển của hàng hoá, dịch
vụ, đầu tư trong khu vực. Do đó, hợp tác và liên kết kinh tế khu vực trở thành nhu cầu cấp
thiết để bảo đảm cho sự phát triển kinh tế cao và ổn định.
Trong khi đó, xu thế toàn cầu hóa phát triển mạnh, thể hiện qua sự phân công lao
động quốc tế đan xen nhau dưới tác động của những tiến bộ của khoa học - công nghệ,
đặc biệt là công nghệ thông tin. Việc Trung Quốc cải cách và mở cửa càng làm gia tăng xu
thế này ở châu Á - Thái Bình Dương. Trong nền kinh tế thế giới, các hoạt động sản xuất,
thương mại, tài chính và dịch vụ ngày càng được quốc tế hóa. Cùng với toàn cầu hóa và
như một sự ứng phó với toàn cầu hoá, xu thế khu vực hóa cũng phát triển mạnh mẽ cả về
chiều rộng và chiều sâu. Từ cuối những năm 1980, liên kết kinh tế khu vực ở châu Âu và
Bắc Mỹ được đẩy mạnh thêm một bước. Các nước thuộc Liên hiệp châu Âu đã thoả
thuận lập ra một thị trường chung vào năm 1992 và ráo riết lập kế hoạch cho một liên
minh tiền tệ với một đồng tiền chung. Còn ở Bắc Mỹ, tháng 1 năm 1989 Mỹ và Ca-na-đa
chính thức ký Hiệp định thành lập Khu vực Mậu dịch Tự do song phương (CAFTA). Trong
khi đó, ở châu Á- Thái Bình Dương tuy có ổn định tương đối về chính trị, và là một khu
6
vực năng động và có nhịp độ tăng trưởng kinh tế cao nhưng chưa có một hình thức liên kết
nào có tính chất chính thức, liên chính phủ và toàn khu vực để bảo đảm lợi ích của các
nước trong khu vực trước sự gia tăng ngày càng mạnh của chủ nghĩa khu vực bảo hộ ở
Tây Âu và Bắc Mỹ.
Từ những năm 1970 -1980, nhất là cuối những năm 1980, trong khu vực châu Á -
Thái Bình Dương đã thấy rõ xu thế là các nền kinh tế ngày càng tuỳ thuộc lẫn nhau một
cách chặt chẽ hơn về nhiều mặt. Chỉ nói riêng về thương mại, năm 1989, xuất khẩu hàng
hóa của các nước châu Á - Thái Bình Dương sang Mỹ chiếm 25,8% tổng giá trị xuất khẩu
của họ, trong khi đó xuất khẩu của Mỹ sang châu Á - Thái Bình Dương chiếm 30,5% tổng
giá trị xuất khẩu của Mỹ. Xuất khẩu của Nhật Bản sang các nước châu Á - Thái Bình
Dương chiếm 33% tổng kim ngạch xuất khẩu của Nhật Bản và giá trị xuất khẩu của châu
Á - Thái Bình Dương sang Nhật Bản chiếm 9,8% tổng kim ngạch xuất khẩu của các nước
này. Xuất khẩu của Nhật Bản sang Mỹ chiếm 34,2% giá trị xuất khẩu của Nhật Bản và
xuất khẩu của Mỹ sang Nhật Bản chiếm 12,3% tổng giá trị xuất khẩu của Mỹ. Sự tuỳ
thuộc lẫn nhau ngày càng tăng về kinh tế đã tạo ra một lực gắn kết, một nhu cầu phối hợp
giữa các nền kinh tế trong khu vực với nhau.
Như vậy, chính sự tăng trưởng cao liên tục và phát triển của nền kinh tế ở khu vực
châu Á - Thái Bình Dương, xu thế toàn cầu hóa và khu vực hóa cũng như sự tuỳ thuộc lẫn
nhau ngày càng tăng giữa các nền kinh tế đã đặt ra yêu cầu khách quan, cấp bách cho việc
hình thành một diễn đàn mở rộng trong khu vực nhằm phối hợp chính sách về các lĩnh vực
kinh tế, thúc đẩy tự do hóa và khuyến khích thương mại hàng hoá, dịch vụ và đầu tư, tăng
cường hợp tác kinh tế, khoa học - công nghệ giữa các nền kinh tế ở châu Á - Thái Bình
Dương, qua đó duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và bảo đảm sự phát triển bền vững
của khu vực châu Á - Thái Bình Dương khi bước vào thế kỷ XXI.
1.3.Quy chế thành viên của APEC
Việc soạn thảo qui chế thành viên của APEC được giao cho các quan chức cao cấp
của APEC thực hiện và đệ trình lên Hội nghị Bộ trưởng xem xét và Hội nghị các nhà Lãnh
đạo Cấp cao APEC thông qua vào kỳ họp hàng năm tại Van-cu-vơ, Ca-na-đa, tháng 11 năm
1997. Về cơ bản, nước hoặc vùng lãnh thổ kinh tế, muốn trở thành thành viên APEC phải
có đủ một số điều kiện cần thiết như sau:
1- Vị trí địa lý: Nằm ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương, tiếp giáp với bờ biển Thái Bình
Dương.
2- Quan hệ kinh tế: Có các mối quan hệ kinh tế chặt chẽ với các nền kinh tế thành viên
APEC về thương mại hàng hóa và dịch vụ, đầu tư trực tiếp nước ngoài và sự tự do đi lại
của các quan chức.
3- Tương đồng về kinh tế: Chấp nhận chính sách kinh tế mở cửa theo hướng thị trường.
4- Quan tâm và chấp thuận các mục tiêu của APEC: Tỏ rõ mối quan tâm mạnh mẽ tới
các lĩnh vực hoạt động của APEC bằng cách tham gia vào các Nhóm công tác hoặc nghiên
cứu độc lập và các hoạt động khác của APEC. Tuy nhiên, không có mối liên quan đặc biệt
nào giữa việc tham gia vào các Nhóm công tác của APEC và việc trở thành thành viên.
Nước muốn trở thành thành viên phải hoàn toàn chấp nhận những mục tiêu và nguyên tắc
cơ bản được đề ra trong các Tuyên bố và Quyết định của APEC, kể cả các nguyên tắc
đồng thuận và tự nguyện. 7
Ngoài quy chế thành viên chính thức, APEC còn có quy chế quan sát viên dành cho ba
tổ chức khu vực là Ban Thư ký ASEAN, Hội đồng Hợp tác Kinh tế Thái Bình Dương
(PECC) và Diễn đàn Đảo Thái Bình Dương (PIF), không có quy chế quan sát viên cho một
nước hay vùng lãnh thổ riêng biệt. Quan sát viên có thể tham dự các cuộc họp từ cấp Bộ
trưởng trở xuống và tham gia vào các hoạt động của APEC. Các nước không phải thành
viên APEC có thể được tham gia các hoạt động với tư cách khách mời tại các Nhóm công
tác của APEC.




8
CHƯƠNG 2: MỤC TIÊU VÀ NGUYÊN TẮC HOẠT ĐỘNG CỦA APEC

2.1 Mục tiêu
Trong bối cảnh quá trình liên kết và hợp tác kinh tế ở các khu vực và trên phạm vi
toàn cầu phát triển mạnh, tự do hóa kinh tế, thương mại và đầu tư trở thành xu hướng bao
trùm, APEC ra đời như một sự đáp ứng đúng lúc đối với yêu cầu và lợi ích của các nền
kinh tế ở châu Á- Thái Bình Dương vốn đang ngày càng tuỳ thuộc lẫn nhau hơn. Từ chỗ
ban đầu hoạt động như là một nhóm đối thoại không chính thức, APEC đã dần dần trở
thành một thực thể khu vực đi đầu trong việc thúc đẩy tự do hóa mậu dịch, đầu tư và hợp
tác kinh tế. Ngày nay, APEC bao gồm tất cả các nền kinh tế lớn trong khu vực và các nền
kinh tế năng động nhất, tăng trưởng nhanh nhất trên thế giới. Các nền kinh tế của các
thành viên APEC cho thấy sự đa dạng, phong phú của khu vực cũng như các trình độ và
phương thức phát triển khác nhau. Mặc dù giữa các nền kinh tế trong khu vực có nhiều
điểm khác biệt nhưng việc họ hợp tác được với nhau trong một diễn đàn đã phản ánh mục
đích và quyết tâm chính trị chung là thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển kinh tế bền vững
trong khu vực và trên thế giới. Mục đích chung của APEC đã được xác định ngay từ Hội
nghị Bộ trưởng APEC lần thứ nhất ở Can-bê-ra, Ôt-xtrây-lia năm 1989. Mục tiêu tăng
trưởng và phát triển kinh tế của khu vực đòi hỏi phải thúc đẩy hệ thống thương mại đa
phương mở, tập trung giải quyết những vấn đề kinh tế nhằm tăng cường lợi ích chung
thông qua việc khuyến khích các luồng hàng hoá, dịch vụ, vốn đầu tư và chuyển giao công
nghệ giữa các thành viên.
Những yêu cầu cơ bản trên được đúc kết thành các mục tiêu cơ bản của APEC tại
Hội nghị Bộ trưởng lần thứ ba ở Xê-un, Hàn quốc năm 1991. Tại Hội nghị này, các Bộ
trưởng đã thông qua Tuyên bố Xê-un, đặt nền móng cho sự phát triển của APEC như một
khuôn khổ hợp tác khu vực với 4 mục tiêu là:
- Duy trì sự tăng trưởng và phát triển của khu vực vì lợi ích chung của các dân tộc trong
khu vực, và bằng cách đó đóng góp vào sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế thế
giới;
- Phát huy các kết quả tích cực đối với khu vực và nền kinh tế thế giới do sự tuỳ thuộc
lẫn nhau ngày càng tăng về kinh tế tạo ra, khuyến khích các luồng hàng hoá, dịch vụ, vốn
và công nghệ;
- Phát triển và tăng cường hệ thống thương mại đa phương mở vì lợi ích của các nước
châu Á - Thái Bình Dương và các nền kinh tế khác;
- Cắt giảm những hàng rào cản trở việc trao đổi hàng hoá, dịch vụ và đầu tư giữa các
thành viên phù hợp với các nguyên tắc của GATT/WTO ở những lĩnh vực thích hợp và
không làm tổn hại tới các nền kinh tế khác.
Tuy nhiên, không giống như các tổ chức khu vực khác (đặc biệt là EU), ngay từ đầu
APEC không nhấn mạnh đến mục tiêu tạo lập hệ thống ưu đãi thuế quan, liên minh thuế
quan, hay thị trường chung, mà nhấn mạnh tới việc tăng cường hệ thống thương mại đa
phương mở. Điều này ta có thể lý giải bởi hai lý do. Đầu tiên , APEC là tập hợp của các 9
nền kinh tế rất đa dạng về trình độ phát triển, chế độ chính trị-xã hội cũng như điều kiện
lịch sử - văn hóa. Vì thế, các nước đang phát triển như ASEAN, NIEs không muốn thành
lập một khu vực tự do hóa và bị lệ thuộc vào các nền kinh tế lớn hơn, có trình độ phát
triển cao hơn như Mỹ, Nhật Bản, Ô-xtrây-lia và Ca-na-đa. Hơn nữa, các nền kinh tế
APEC, đặc biệt là các nước Đông Á phụ thuộc rất lớn vào môi trường kinh tế thế giới. Sự
tăng trưởng của các nền kinh tế Nhật Bản, NIEs và ASEAN trong thập kỷ 70 và 80 chủ
yếu nhờ vào sự thành công của chiến lược hướng vào xuất khẩu, do vậy, họ rất muốn duy
trì một hệ thống thương mại toàn cầu mở và ổn định. Việc thế giới bị chia cắt thành các
khu vực cát cứ sẽ là điều bất lợi trước hết đối với những thành viên APEC có nền kinh tế,
thương mại phát triển cao.
Ngay từ đầu, APEC đã tích cực theo đuổi mục tiêu tăng cường hệ thống thương
mại đa phương mở. Trong tất cả các Hội nghị Bộ trưởng hàng năm của APEC đều thảo
luận những tiến triển trong Vòng đàm phán đa phương U-ru-goay của GATT và ra những
tuyên bố chung nhằm phối hợp hành động của các thành viên APEC trong quá trình đàm
phán, kêu gọi các nước khác tăng cường nỗ lực để Vòng đàm phán U-ru-goay đạt kết quả.
Mỹ và một số thành viên APEC coi diễn đàn này là chỗ dựa để xúc tiến tự do hóa thương
mại trong trường hợp vòng đàm phán U-ru-goay thất bại. Trên thực tế, APEC đã đóng một
vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự thành công của Vòng đàm phán U-ru-goay. Tuyên
bố chung của Hội nghị Cấp cao lần thứ nhất năm 1993 nhấn mạnh: "Cơ sở của sự tăng
trưởng kinh tế của chúng ta là một hệ thống thương mại đa phương mở. Vì vậy, chúng ta
cam kết cố gắng hết sức để Vòng đàm phán U-ru-goay kết thúc thành công vào ngày
15/12". Các Bộ trưởng APEC dẫn đầu là Mỹ và Nhật Bản đã đưa ra sự nhượng bộ về tiếp
cận thị trường đối với một loạt các sản phẩm trị giá 250 tỷ đô-la trong vòng đàm phán cuối
cùng ở U-ru-goay, qua đó thúc đẩy các nước khác, đặc biệt là Cộng đồng châu Âu, kết thúc
cuộc đàm phán đúng kỳ hạn.
Việc kết thúc thành công Vòng đàm phán U-ru-goay và sự ra đời của Tổ chức
Thương mại Thế giới (WTO) đã đặt APEC trong một khung cảnh mới. Hội nghị Bộ
trưởng Thương mại APEC tại Gia-các-ta tháng 11 năm 1994 nhận định: "Trong bối cảnh
sau Vòng đàm phán U-ru-goay, đang có một cơ hội rộng mở để APEC bắt đầu tiến tới sự
tự do hóa rộng lớn hơn phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của GATT/WTO, có tính tới sự
đa dạng về trình độ phát triển kinh tế khác nhau của các thành viên APEC".
Trên thực tế, mục tiêu về một khu vực thương mại mở ở châu Á - Thái Bình Dương
đã được đề cập ngay từ Hội nghị Bộ trưởng lần thứ hai năm 1990. Tại Hội nghị này, các
Bộ trưởng đã đồng ý rằng "chủ đề trung tâm kế tiếp của APEC sau sự kết thúc Vòng đàm
phán U-ru-goay là xúc tiến một hệ thống thương mại cởi mở hơn". Mục tiêu này được
thúc đẩy tại Hội nghị Cấp cao lần thứ nhất tại Seattle (Mỹ) tháng 11 năm 1993 khi các nhà
Lãnh đạo APEC thừa nhận sự tuỳ thuộc lẫn nhau về kinh tế và sự đa dạng của các nền
kinh tế ở khu vực, đồng thời bắt đầu nhìn nhận về một "cộng đồng” châu Á - Thái Bình
Dương.
Một năm sau, tại Hội nghị Cấp cao ở Bô-go, In-đô-nê-xi-a, các nhà Lãnh đạo APEC
đã tiến một bước lớn hướng tới mục tiêu dài hạn về thương mại và đầu tư tự do và mở
cửa trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Tuyên bố về Quyết tâm chung của Hội nghị
nhấn mạnh: "Chúng ta nhất trí tuyên bố cam kết hoàn thành việc đạt được mục tiêu về
thương mại, đầu tư tự do và mở trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương vào năm 2010 10
đối với các thành viên phát triển và năm 2020 đối với các thành viên đang phát triển". Mặc
dù còn có những khác biệt giữa các thành viên APEC về nhận thức đối với cam kết của các
nhà Lãnh đạo Cấp cao hay những bảo lưu của một vài thành viên về mục tiêu tự do hóa
thương mại, cam kết của các nhà Lãnh đạo đã đặt nền tảng đầu tiên cho việc hình thành
một khu vực tự do hóa thương mại và đầu tư ở một khu vực rộng lớn nhất thế giới và có
tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh nhất thế giới.
Nhận thức rõ tầm quan trọng của việc hợp tác chặt chẽ nhằm huy động có hiệu
quả các nguồn lực trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương, duy trì tốc độ tăng trưởng bền
vững của các nền kinh tế, đồng thời giảm bớt sự chênh lệch về trình độ phát triển giữa
các thành viên, APEC cũng rất coi trọng đẩy mạnh hợp tác kinh tế và kỹ thuật. Ngay từ
Hội nghị Bộ trưởng lần thứ nhất năm 1989, các Bộ trưởng đã nhất trí rằng để APEC đem
lại những lợi ích thực sự, các thành viên phải tiến xa hơn, không chỉ đồng ý về các nguyên
tắc cơ bản mà phải đi vào những vấn đề hợp tác cụ thể. Tại Hội nghị Bộ trưởng lần thứ
hai năm 1990, APEC đã lập ra 7 Nhóm công tác nhằm phối hợp các hoạt động hợp tác trong
các lĩnh vực cụ thể. Hội nghị Bộ trưởng lần thứ tư năm 1992 đã thông qua một khuôn khổ
chung về thương mại và đầu tư nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho thương mại và đầu tư
trong khu vực.
Chính những hoạt động của các Nhóm công tác và khuôn khổ chung về thương mại
và đầu tư đã đặt nền tảng cho sự hợp tác về kinh tế và kỹ thuật của APEC và được ghi
nhận như là nội dung thứ hai (để bổ sung và hỗ trợ cho nội dung thứ nhất là thúc đẩy tự do
hóa thương mại và đầu tư) trong Chương trình Hành động Ô-xa-ca được thông qua tại Hội
nghị Cấp cao ở Ô-xa-ca, Nhật Bản năm 1995.
2.2 Nguyên tắc hoạt động của APEC
a. Nguyên tắc cùng có lợi
Tuyên bố Xê-un của Hội nghị Bộ trưởng lần thứ ba năm 1991 nêu rõ: "Việc hợp tác
trong APEC dựa trên nguyên tắc cùng có lợi, có tính đến sự khác biệt trong các giai đoạn
phát triển kinh tế trong các hệ thống chính trị - xã hội, và chú ý đầy đủ đến các nhu cầu
của những nền kinh tế đang phát triển". Việc duy trì nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi
đóng vai trò quyết định đối với sự phát triển của APEC vì diễn đàn này là tập hợp lực
lượng của các nền kinh tế rất đa dạng về điều kiện địa lý, lịch sử và văn hoá, về chế độ
chính trị - xã hội và đặc biệt có sự chênh lệch rất lớn về trình độ phát triển. Trong điều
kiện APEC bao gồm cả những nền kinh tế lớn và phát triển nhất, cũng như những nền
kinh tế nhỏ và kém phát triển hơn, APEC đã nhấn mạnh tới các mối quan tâm chung, lợi
ích chung của các thành viên và tập trung vào các vấn đề hợp tác kinh tế và phát triển. Nhờ
vậy, APEC có sức hấp dẫn lớn đối với các nước trong và ngoài khu vực. Chỉ gần mười
năm sau khi thành lập, APEC đã bao gồm 21 thành viên, trong đó có những nền kinh tế
hùng mạnh bậc nhất thế giới như Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc.
Trong khi thừa nhận mối quan hệ hợp tác giữa các nước trong khu vực phải dựa trên
cơ sở cùng có lợi, để phù hợp với tính đa dạng của khu vực, nguyên tắc này cũng nhấn
mạnh cần chú ý tới sự khác biệt về trình độ phát triển, chế độ chính trị - xã hội và yêu cầu
của các nền kinh tế đang phát triển. Đây là điểm rất quan trọng trong nguyên tắc hoạt
động của APEC nhằm giải toả mối lo ngại của một số thành viên là nước đang phát triển
trong APEC rằng sự khác biệt lớn về trình độ phát triển kinh tế, khoa học và công nghệ có
11
thể dẫn tới sự lệ thuộc bất bình đẳng của họ vào các nền kinh tế tiến tiến hơn, làm tăng
mâu thuẫn và phân cực Bắc - Nam ngay trong APEC.
Các nước ASEAN đã thông qua nguyên tắc nhất trí Cun-ching (1989), trong đó nhấn
mạnh: "Việc tăng cường APEC cần phải dựa trên cơ sở công bằng, bình đẳng và cùng có
lợi, có chú ý đầy đủ đến sự khác biệt trong các giai đoạn phát triển kinh tế và hệ thống
chính trị - xã hội của các nước trong khu vực".
Trong các hoạt động của APEC, các thành viên đang phát triển đã được dành cho
những ưu đãi nhất định. Trước hết, việc đạt mục tiêu tự do hóa thương mại và đầu tư
được chia làm hai thời biểu, theo đó các nước phát triển sẽ hoàn thành mục tiêu này vào
năm 2010 và các nền kinh tế đang phát triển sẽ chậm hơn 10 năm (2020). Hợp tác trong
APEC không chỉ nhấn mạnh tới mục tiêu tự do hóa thương mại và đầu tư mà còn triển
khai trên các lĩnh vực cụ thể nhằm hỗ trợ các nền kinh tế đang phát triển vươn lên rút
ngắn khoảng cách giàu nghèo. Vì thế, tại Hội nghị Bộ trưởng Ô-xa-ca năm 1995, các thành
viên đã thông qua Chương trình Hành động Ô-xa-ca, trong đó coi hợp tác kinh tế và kỹ
thuật như là nội dung thứ hai trong hoạt động của APEC, có tác động hỗ trợ để đạt tới
mục tiêu tự do hóa thương mại và đầu tư trong khu vực.
b. Nguyên tắc đồng thuận (consensus)
Một trong những nguyên tắc quan trọng nhất của hợp tác trong APEC, như Tuyên
bố Xê-un đã nêu rõ, là dựa trên "cam kết về sự đối thoại cởi mở và xây dựng sự đồng
thuận, bình đẳng, tôn trọng quan điểm của tất cả thành viên tham gia".
Khác với hoạt động trong GATT/WTO, trong đó các nước phải qua một quá trình
thương thuyết, đàm phán lâu dài và thường là gay gắt để đạt được những thoả thuận và
hiệp định có tính pháp lý quốc tế cao, APEC đi tới các quyết định thông qua quá trình xây
dựng sự đồng thuận. Tất cả các Hội nghị, từ Hội nghị Cấp cao đến Hội nghị cấp Bộ
trưởng hay cấp chuyên viên đều mang tính chất tư vấn, theo nghĩa là các thành viên không
tham gia vào những cuộc thương lượng, mặc cả thực sự để đạt tới những quyết định có
tính ràng buộc. Toàn bộ quyết định của các nhà Lãnh đạo Cấp cao, các Bộ trưởng đều
được đưa ra trong Tuyên bố chung phản ánh ý chí của tất cả các thành viên.
Nguyên tắc đồng thuận thể hiện một mô hình hợp tác tương đối thành công trong
khu vực do ASEAN khởi xướng. Do tính chất đa dạng của các nền kinh tế trong khu vực,
nguyên tắc đồng thuận tỏ ra khá hiệu quả. Thông qua nguyên tắc này, APEC đã xây dựng
được những nền tảng có ý nghĩa quan trọng và thực tế để đẩy mạnh hợp tác, một chương
trình làm việc toàn diện và một thoả thuận lịch sử về tự do hóa thương mại và đầu tư
trong khu vực tới năm 2020.
Duy trì nguyên tắc nhất trí trong một tập hợp đa dạng như APEC là một điều khó
khăn, đặc biệt khi APEC đi vào những vấn đề hành động cụ thể. Tuy nhiên, các thành viên
APEC coi đây là một trong những nguyên tắc cơ bản của quá trình hoạt động và ra quyết
định của APEC, bảo đảm sự bình đẳng giữa các thành viên trong Diễn đàn này.
c. Nguyên tắc tự nguyện
Xuất phát từ đặc điểm của các nền kinh tế thành viên và các mối quan hệ kinh tế
quốc tế trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương, sự hợp tác giữa các thành viên trong
APEC mang tính chất tự nguyện. Nguyên tắc tự nguyện thể hiện trên hai điểm:
12
Trước hết, APEC chỉ là một Diễn đàn tư vấn kinh tế, một cơ chế liên chính phủ nhằm
xúc tiến sự hợp tác, tăng trưởng và phát triển của khu vực. Ngay từ Hội nghị đầu tiên, các
Bộ trưởng APEC đã nhất trí coi APEC như một Diễn đàn tham khảo ý kiến về các vấn đề
kinh tế nhằm tăng cường trao đổi quan điểm giữa các nước châu Á - Thái Bình Dương.
Tính chất tự nguyện trong hoạt động của APEC được thể hiện trong nguyên tắc Cun-ching
do các nước ASEAN đề xướng: "APEC cần cung cấp một Diễn đàn tư vấn kinh tế và
không nhất thiết dẫn tới sự thông qua các quyết định có tính chất bắt buộc bất cứ thành
viên nào phải chấp nhận hay thực hiện". Cơ chế hoạt động tự nguyện còn được khẳng
định lại trong Tuyên bố Xê-un năm 1991: "APEC sẽ hoạt động thông qua quá trình tư vấn
và trao đổi quan điểm giữa các đại điện cao cấp của các nền kinh tế thành viên APEC, dựa
trên các nghiên cứu, phân tích và các ý tưởng về chính sách do các nền kinh tế tham gia và
các tổ chức liên quan bao gồm các Ban Thư ký của ASEAN, PECC và PIF đóng góp".
Thứ hai, do APEC chỉ là một Diễn đàn tư vấn kinh tế nên nó không đưa ra những quyết
định, nguyên tắc có tính bắt buộc đối với các thành viên. Mọi hoạt động hợp tác đều dựa
trên cơ sở tự nguyện, phù hợp với lợi ích của các bên. Điều này phản ánh tính đặc thù của
quá trình hội nhập kinh tế trong khu vực. Trong khi các tổ chức hợp tác khu vực khác, đặc
biệt là Liên hiệp châu Âu (EU) có cơ cấu tổ chức hết sức chặt chẽ với các cơ quan liên
chính phủ như Hội đồng châu Âu, Toà án châu Âu và Quốc hội châu Âu để điều phối sự
hợp tác giữa các nước thành viên, APEC đến nay về cơ bản vẫn là một cấu trúc tương đối
lỏng lẻo với một Ban Thư ký, Uỷ ban Ngân sách và Quản lý để điều phối hoạt động trong
APEC và của các thành viên. Ngay từ khi Cộng đồng châu Âu được thành lập vào những
năm 1950, quá trình phát triển của nó đã được đặc trưng bởi sự hội nhập thể chế, trong đó
những yếu tố chính trị tác động rất quan trọng và đã hình thành một cơ cấu liên chính phủ
có khả năng phán quyết trên một số lĩnh vực của các thành viên. Trong khi đó, sự hội nhập
kinh tế ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương được dẫn dắt và thúc đẩy chủ yếu bởi các
lực lượng thị trường. Sự phát triển về cơ cấu tổ chức cho đến nay mới chỉ mang tính chất
hỗ trợ cho quá trình hợp tác trong APEC chứ không phải là mục tiêu tự thân của nó. Con
đường phát triển của APEC như vậy phù hợp với đặc điểm đa dạng về chế độ chính trị -
xã hội của khu vực vì nó cho phép trong khi khai thác được những lợi ích từ sự hợp tác kinh
tế, các thành viên vẫn giữ được chủ quyền kinh tế, bảo đảm không có sự can thiệp từ bên
ngoài vào chế độ chính trị - xã hội của các thành viên.
Mặc dù có cơ cấu tổ chức lỏng lẻo, thời gian qua APEC vẫn có những bước tiến
đáng kể. Nếu như EU cần tới hơn 40 năm để có được mức độ liên kết kinh tế như ngày
nay, GATT/WTO cũng cần tới một thời gian gần 50 năm để đạt tới những mức độ nhất
định về tự do hóa thương mại và đầu tư thì trong vòng gần mười năm, APEC đã đi từ nhận
thức chung tới những hành động cụ thể nhằm đạt mục tiêu tự do hóa thương mại và đầu
tư. Tại Hội nghị Bộ trưởng lần thứ năm ở Bô-go, In-đô-nê-xi-a, các Bộ trưởng đã thông
qua 10 nguyên tắc đầu tư không ràng buộc nhằm thúc đẩy đầu tư và luồng tư bản trong
khu vực. Phù hợp với nguyên tắc tự nguyện, trong Tuyên bố chung về Chương trình Hành
động Ô-xa-ca, các Bộ trưởng đã nhấn mạnh cách tiếp cận duy nhất của APEC đối với tự
do hóa và thuận lợi hóa thương mại và đầu tư là phải kết hợp giữa ba mặt hành động:
Hành động đơn phương có phối hợp, hành động tập thể và hành động đa phương. Hành
động đơn phương có phối hợp là các việc làm tự nguyện của mỗi thành viên trên lĩnh vực

13
thuế quan, phi thuế quan, dịch vụ, sở hữu trí tuệ... phù hợp với phương hướng, mục tiêu và
Chương trình hành động của APEC.
Sau Hội nghị Cấp cao lần thứ ba ở Ô-xa-ca năm 1995, các nhà Lãnh đạo của các nền
kinh tế thành viên đã lần lượt công bố các cam kết ban đầu nhằm thực hiện Chương trình
Hành động của APEC. Trung Quốc đã công bố cam kết lớn nhất cắt giảm 30% thuế quan
cho 2/3 các mặt hàng. Tại Hội nghị Cấp cao lần thứ tư ở Ma-ni-la năm 1996, Phi-li-pin
tuyên bố tự nguyện giảm hàng rào thuế quan (trừ hàng nông phẩm) xuống mức 5% vào
năm 2004, Thái Lan cam kết giảm thuế quan trung bình xuống 17% vào năm 1997 và In-đô-
nê-xia giảm thuế quan xuống còn từ 0-10% vào năm 2003. Các nhà lãnh đạo APEC cũng đã
thông qua Kế hoạch Hành động Ma-ni-la (MAPA) năm 1996 bao gồm các biện pháp hành
động cho thời gian trước mắt, trung hạn và dài hạn trong 15 lĩnh vực cụ thể để thực hiện
Chương trình Hành động Ô-xa-ca (1995).
d. APEC là diễn đàn mở, hoạt động phù hợp với các nguyên tắc của GATT/WTO
APEC là một diễn đàn "mở" theo nghĩa APEC ủng hộ chế độ thương mại đa
phương, không tạo ra sự phân biệt đối xử giữa APEC với các nước và nhóm nước khác
trên thế giới, đồng thời APEC mở cửa cho các nền kinh tế không phải thành viên APEC
trong khu vực tham gia.
Ủng hộ chế độ thương mại đa phương mở không chỉ là một nguyên tắc mà còn là
một trong những mục tiêu của APEC. Ngay từ giai đoạn đầu của APEC (1989 - 1993), khi
Vòng đàm phán U-ru-goay của GATT bị mất động lực và rơi vào bế tắc, APEC đã đặt việc
phấn đấu để kết thúc thành công vòng đàm phán này thành một trong những mục tiêu chủ
yếu của mình. Các thành viên châu Á của APEC cùng chung mối lo ngại về xu hướng bảo
hộ ở châu Âu và Bắc Mỹ vì nó có thể sẽ gây tổn hại tới chiến lược hướng về xuất khẩu
của họ. Vì thế, sự cam kết về một chế độ thương mại đa phương mở - thể hiện trong
thuật ngữ "chủ nghĩa khu vực mở", là một trong những nhân tố quan trọng gắn kết các
thành viên APEC với nhau. APEC đã đi đầu trong những nỗ lực nhằm tăng cường hệ thống
thương mại đa phương mở. Là một khu vực chiếm tới 47% thương mại toàn cầu và có tốc
độ tăng trưởng kinh tế cao nhất thế giới, những sáng kiến của APEC trong các cuộc đàm
phán toàn cầu đủ để thúc đẩy châu Âu và các nước khác xúc tiến tự do hóa thương mại mà
không cần tạo ra sự phân biệt đối xử mới trong hệ thống thương mại thế giới. Trong
Tuyên bố chung tại Xơ-un năm 1991, các Bộ trưởng đã ghi nhận rằng: "Một trong những
nguyên tắc cơ bản của APEC là tạo ra ảnh hưởng mạnh mẽ, tích cực tới sự tiến triển của
hệ thống thương mại toàn cầu, và khả năng của APEC để thực hiện điều đó sẽ được tăng
cường mạnh mẽ qua việc tự mình làm một hình mẫu tích cực. Việc theo đuổi tự do hóa
thương mại trong APEC phù hợp với cơ sở của GATT/WTO và không làm tổn hại tới các
nước khác sẽ tạo ra sự hỗ trợ mạnh mẽ cho hệ thống thương mại toàn cầu...".
Tuyên bố Xê-un còn nêu rõ: "Về nguyên tắc, việc tham gia vào APEC sẽ rộng mở
đối với những nền kinh tế trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương có những mối quan hệ
kinh tế chặt chẽ với khu vực châu Á - Thái Bình Dương và chấp nhận những mục tiêu và
nguyên tắc của APEC". Từ khi thành lập tới nay, APEC đã kết nạp thêm 9 thành viên mới
(Trung Quốc, Đài Loan, Hồng Công, Pa-pua Niu Ghi-nê, Mê-hi-cô, Chi-lê, Pê-ru, Liên bang
Nga, Việt Nam). Nguyên tắc "mở" của APEC còn thể hiện ở chỗ các thành viên của APEC
không chỉ là những quốc gia có chủ quyền với chế độ chính trị - xã hội riêng biệt và được
cộng đồng quốc tế công nhận mà còn bao gồm cả các lãnh thổ kinh tế. 14
CHƯƠNG 3: CƠ CẤU TỔ CHỨC CỦA APEC

3.1 Cấp chính sách
a. Hội nghị không chính thức các nhà Lãnh đạo Kinh tế APEC (AELM)
Hội nghị các nhà Lãnh đạo cao nhất của các thành viên APEC được tổ chức hàng
năm bắt đầu từ năm 1993.Tháng 11 năm 1993 tại Seattle (Mỹ) theo sáng kiến của Tổng
thống Mỹ Bin Clintơn,lần đầu tiên trong lịch sử,14 vị nguyên thủ quốc gia và đứng đầu
chính phủ của các thành viên APEC đã gặp gỡ , trao đổi về các vấn đề kinh tế. Hội nghị
Cấp cao APEC lần thứ nhất đã nâng vị thế của APEC lên tầm cao mới trên trường quốc
tế, như Tuyên bố chung của các nhà Lãnh đạo khẳng định: "Cuộc họp của chúng ta phản
ánh sự nổi lên của một tiếng nói mới cho khu vực châu Á - Thái Bình Dương trong các vấn
đề quốc tế".
Để tăng cường hơn nữa cam kết ở cấp Lãnh đạo cao nhất của các thành viên đối
với các mục tiêu và tiến trình của APEC, kể từ năm 1993, các thành viên APEC đã nhất trí
tổ chức Hội nghị các nhà Lãnh đạo Kinh tế APEC mỗi năm một lần vào dịp cuối năm, năm
2003 là Hội nghị lần thứ 11 được tổ chức tại Băng-cốc, Thái Lan vào tháng 10. Việc lập ra
cơ chế Hội nghị Cấp cao thường niên với tư cách là cơ quan quyết định chính sách cao
nhất của APEC đánh dấu một bước tiến quan trọng trong sự phát triển của APEC.
Giáo sư C.F. Bergsten, Chủ tịch "Nhóm Danh nhân" (EPG) đã nhận xét: "Các nhà
lãnh đạo tại Seattle đã bắt đầu một quá trình biến APEC từ một cơ chế thuần tuý là tư vấn
trở thành một tổ chức quốc tế thực sự". Trong khuôn khổ các Hội nghị Cấp cao, tiến trình
hợp tác APEC được thúc đẩy mạnh mẽ và đạt những kết quả đáng kể. Kết quả đạt được
từ các Hội nghị Cấp cao đã từng bước hoàn thiện những quan điểm chung của APEC, cụ
thể hóa các mục tiêu cũng như thời biểu của APEC tiến đến tự do hóa thương mại và đầu
tư thành Kế hoạch Hành động Tập thể và Kế hoạch Hành động Riêng lẻ của từng nền
kinh tế thành viên.
b. Hội nghị liên Bộ trưởng Ngoại giao - Kinh tế APEC
Hội nghị Bộ trưởng APEC họp lần đầu tiên tại Can-bê-ra, Ôt-xtrây-lia tháng 11 năm
1989 với sự tham gia của các Bộ trưởng Ngoại giao và Bộ trưởng Kinh tế của 12 nền kinh
tế thành viên. Hội nghị Bộ trưởng được tổ chức hàng năm theo nguyên tắc luân phiên giữa
các nước thành viên APEC. Thành viên đăng cai tổ chức Hội nghị Bộ trưởng hàng năm sẽ
giữ ghế Chủ tịch Hội nghị.
Hội nghị Bộ trưởng APEC quyết định phương hướng hoạt động của APEC và ấn
định thời gian thực hiện chương trình hành động cho năm sau. Các quyết định của Hội nghị
được thể hiện trong Tuyên bố chung, bao gồm:

15
Quyết định về các vấn đề tổ chức: xác định mục tiêu, nguyên tắc hoạt động của APEC;
thành lập các uỷ ban, hội đồng...; thành lập quỹ APEC và qui định tỷ lệ đóng góp của các
thành viên; vấn đề kết nạp thành viên mới.
Quyết định nguyên tắc, mục tiêu, nội dung các chương trình hoạt động và đánh giá tiến
trình hợp tác của APEC cũng như công tác của các Uỷ ban, các Nhóm công tác và các Nhóm
đặc trách.
Xem xét , đánh giá việc thực hiện các sáng kiến của Hội nghị Cấp cao Không chính thức.
Thông qua dự thảo chương trình hành động về tự do hóa thương mại và đầu tư, sau đó
đệ trình lên Hội nghị Cấp cao xem xét và quyết định cuối cùng.
Trong khuôn khổ APEC, ngoài Hội nghị liên Bộ trưởng Ngoại giao - Kinh tế APEC
được tổ chức thường niên, các Hội nghị Bộ trưởng khác có tính chất chuyên ngành được
triệu tập khi cần thiết để giải quyết các vấn đề cụ thể, liên quan tới lợi ích chung của các
thành viên.
3.2 Cấp làm việc
a. Hội nghị các Quan chức Cao cấp (SOM)
Hội nghị này được tổ chức thường kỳ giữa hai Hội nghị Bộ trưởng hàng năm nhằm
chuẩn bị và đưa ra các khuyến nghị trình Hội nghị Bộ trưởng về các vấn đề tổ chức,
chương trình hoạt động của APEC, chương trình hành động tiến tới tự do hóa thương mại
và đầu tư, kế hoạch hành động của các nền kinh tế thành viên và các chương trình hợp tác
kinh tế, khoa học - công nghệ của APEC, xem xét và điều phối ngân sách và chương trình
công tác của các Uỷ ban, các Nhóm công tác và Nhóm đặc trách.
Trước Hội nghị Quan chức Cao cấp, sẽ có các cuộc họp của các Nhóm công tác liên
quan gồm đại diện cho các thành viên APEC để chuẩn bị những nội dung cần thiết báo cáo
lên Hội nghị các Quan chức Cao cấp.
Hội nghị các Quan chức Cao cấp có trách nhiệm thúc đẩy tiến trình APEC phù hợp
với các quyết định của Hội nghị các nhà Lãnh đạo Kinh tế, Hội nghị Bộ trưởng và chương
trình hành động thông qua tại hội nghị này.
b. Uỷ ban Thương mại và Đầu tư
Uỷ ban Thương mại và Đầu tư (CTI) được thành lập năm 1993 trên cơ sở Tuyên bố
về "Khuôn khổ hợp tác và đầu tư" của Hội nghị Bộ trưởng. Uỷ ban Thương mại và Đầu
tư có nhiệm vụ thúc đẩy hợp tác về tự do hóa thương mại và tạo môi trường đầu tư cởi
mở hơn giữa các nền kinh tế thành viên. Uỷ ban Thương mại và Đầu tư soạn thảo báo cáo
hàng năm trình Hội nghị Bộ trưởng về các vấn đề liên quan tới thương mại và đầu tư
trong khu vực đồng thời chỉ đạo các Tiểu ban và Nhóm chuyên gia trong việc giải quyết
những vấn đề cụ thể. Uỷ ban Thương mại và Đầu tư là một trong số các cơ quan chủ chốt
của APEC giúp thực hiện Kế hoạch Hành động Ô-xa-ca và Kế hoạch Hành động Manila
(MAPA) trong một số lĩnh vực như Thuế quan và các biện pháp phi quan thuế, Dịch vụ,
Giảm bớt các quy định, Hoà giải tranh chấp, Thực hiện kết quả Vòng đàm phán U-ru-goay,
Đầu tư, Thủ tục Hải quan, Tiêu chuẩn và Hợp chuẩn, Đi lại của Doanh nhân, Sở hữu trí
tuệ, Chính sách Cạnh tranh, Chi tiêu chính phủ, Quy định nguồn gốc xuất xứ. Để có thể
thực hiện tốt vai trò của mình trong 15 lĩnh vực hợp tác quan trọng trên của APEC, mỗi
năm Uỷ ban Thương mại và Đầu tư nhóm họp ba lần và đây đã thực sự trở thành một diễn
16
đàn hiệu quả đối với các nền kinh tế thành viên để trao đổi các vấn đề về thương mại và
chính sách.
c. Uỷ ban SOM về Hợp tác Kinh tế-Kỹ thuật
Tiểu ban SOM về Hợp tác Kinh tế-Kỹ thuật (ESC) được thành lập năm 1998 nhằm
hỗ trợ Hội nghị Quan chức Cao cấp (SOM) trong việc phối hợp và quản lý các hoạt động
hợp tác kinh tế-kỹ thuật (ECOTECH) và triển khai các sáng kiến hợp tác trong lĩnh vực này
của các nền kinh tế thành viên APEC. Mới đầu đây chỉ là Tiểu ban về ECOTECH, năm
2002 đổi tên thành Uỷ ban SOM về Hợp tác Kinh tế-Kỹ thuật (ESC). Bằng việc thúc đẩy
hợp tác và xác định những lĩnh vực ưu tiên trong khuôn khổ hợp tác ECOTECH, Uỷ ban
SOM về Hợp tác Kinh tế-Kỹ thuật cùng với các diễn đàn khác trong APEC giữ vai trò quan
trọng đối với việc thực hiện các mục tiêu tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững của
APEC.
Tại Hội nghị các Quan chức Cao cấp tháng 2 năm 2003, các thành viên APEC đã
nhất trí thông qua bốn lĩnh vực ưu tiên của ECOTECH trong thời gian tới là: Hội nhập vào
nền kinh tế toàn cầu; Xây dựng năng lực chống khủng bố; Đẩy mạnh và phát triển kinh
tế tri thức và Giải quyết những tác động xấu của Toàn cầu hóa.
Muốn thúc đẩy hợp tác trong khuôn khổ ECOTECH cần có sự hỗ trợ đắc lực của
các thể chế tài chính, bởi vậy Uỷ ban SOM về Hợp tác Kinh tế-Kỹ thuật đang tiến hành
nghiên cứu cách thức để APEC có thể tăng cường hợp tác cùng có lợi với các tổ chức tài
chính quốc tế cũng như các tổ chức quốc tế khác trong lĩnh vực Hợp tác Kinh tế-Kỹ thuật,
đặc biệt là hợp tác về chuyên gia kỹ thuật và xây dựng năng lực giữa các thành viên APEC;
đồng thời không ngừng tăng cường phối hợp giữa Uỷ ban SOM về Hợp tác Kinh tế-Kỹ
thuật với các diễn đàn khác của APEC.
d. Uỷ ban Kinh tế
Uỷ ban Kinh tế (EC) được thành lập tại Hội nghị Bộ trưởng APEC lần thứ sáu
tháng 11 năm 1994 để thực hiện việc nghiên cứu các xu hướng và vấn đề kinh tế thông qua
các chỉ số kinh tế cơ bản. Uỷ ban Kinh tế là một diễn đàn thúc đẩy đối thoại giữa các nền
kinh tế thành viên về các vấn đề kinh tế, dự báo, xu hướng kinh tế trong khu vực để tạo ra
một khung cảnh rộng hơn cho sự hợp tác trong APEC. Hoạt động của Uỷ ban đóng vai trò
quan trọng, hỗ trợ cho việc soạn thảo chính sách trong các diễn đàn khác của APEC.
Trước đây khi chưa có Uỷ ban SOM về Hợp tác Kinh tế-Kỹ thuật, Uỷ ban Kinh tế
có nhiệm vụ chuẩn bị Báo cáo về Hợp tác kinh tế và kỹ thuật trong APEC, tập trung vào
những vấn đề năng lượng, môi trường, cơ sở hạ tầng, phát triển nguồn nhân lực, dân số,
phát triển bền vững, thương mại và đầu tư. Trong lĩnh vực tự do hóa thương mại và đầu
tư, các dự án nghiên cứu của Uỷ ban bao gồm: nghiên cứu tác động về mặt kinh tế của quá
trình tự do hóa thương mại, tác động của tự do hóa đầu tư và các nguyên tắc tự do hóa đầu
tư, đầu tư trực tiếp nước ngoài và các chính sách cạnh tranh, chính sách sở hữu trí tuệ, hợp
tác tiểu khu vực và tác động của nó tới APEC. Hiện nay, Uỷ ban Kinh tế đang xúc tiến
nghiên cứu một số vấn đề kinh tế và hợp tác kinh tế, trong đó bao gồm triển vọng kinh tế
khu vực hàng năm và vai trò của các thể chế tài chính; thuận lợi và khó khăn cũng như lợi
ích của việc cơ cấu nền kinh tế; các vấn đề liên quan đến Kinh tế mới và Kinh tế tri thức;
và một số chương trình hỗ trợ quá trình Tự do hoá, Thuận lợi hóa Thương mại và Đầu tư
trong APEC.
17
e. Uỷ ban Ngân sách và Quản lý
Uỷ ban Ngân sách và Quản lý (BMC) được thành lập năm 1993, có chức năng tư
vấn cho các quan chức cao cấp về những vấn đề ngân quỹ, quản lý và điều hành. Uỷ ban
này được trao quyền đánh giá cơ cấu chung của ngân sách hàng năm và xem xét các ngân
sách hoạt động do các Nhóm công tác, các Uỷ ban đưa ra, và ngân sách hành chính do Ban
thư ký đưa ra. Uỷ ban có quyền đánh giá về hoạt động của các Nhóm công tác và khuyến
nghị với các quan chức cao cấp APEC về các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả; xem xét
các khoản chi tiêu của Nhóm công tác và dự án của các Nhóm đặc trách. Uỷ ban Ngân sách
và Quản lý họp mỗi năm hai lần thường vào cuối tháng ba và tháng bảy.
Uỷ ban Ngân sách và Quản lý có chức năng giải quyết các vấn đề liên quan đến
ngân sách chung của APEC hay phí đóng góp của mỗi nền kinh tế thành viên. Hội nghị Bộ
trưởng APEC lần thứ tư năm 1992 quyết định thành lập Ban Thư ký APEC và quỹ tài chính
chung do các thành viên đóng góp. Mức đóng góp căn cứ trên GNP của từng nền kinh tế
thành viên và bình quân GNP/người trong ba năm gần nhất. Hiện trong APEC đang có bốn
mức phí đóng góp: đứng đầu là Mỹ và Nhật Bản, đóng góp tới 18% tổng ngân quỹ; tiếp
đến là Xinh-ga-po, Hồng Công, Niu Di-lân đóng 2,75%; xếp hàng thứ ba là Trung Quốc, Ôt-
xtrây-lia, Ca-na-đa, Mê-hi-cô, Hàn Quốc, Đài Loan, Liên bang Nga; đóng góp mức thấp nhất
là Chi-lê, Ma-lai-xia, Thái Lan, Phi-líp-pin, Bru-nây, In-đô-nê-xia, Pa-pua Niu Ghi-nê, Pê-ru,
Việt Nam, mỗi thành viên đóng góp 1,5% ngân quỹ. Cho đến nay, Quỹ chung của APEC
gồm ba khoản chính: (i) Chi phí hành chính cho hoạt động của APEC, cụ thể là chi phí cho
hoạt động của Ban Thư ký; (ii) Chi phí cho các dự án của APEC; (iii) Quỹ đặc biệt để thúc
đẩy Tự do hóa và Thuận lợi hóa Thương mại và Đầu tư trong APEC, quỹ này do Nhật
Bản đóng góp (năm 1995, Nhật Bản cam kết sẽ đóng góp 10 tỷ yên để hỗ trợ cho việc thúc
đẩy Tự do hóa và Thuận lợi hóa Thương mại và Đầu tư).
f. Các Nhóm công tác
Các Nhóm công tác có chức năng thực hiện nhiệm vụ do các nhà Lãnh đạo, Bộ
trưởng và quan chức cao cấp giao cho. Cho tới nay trong APEC đã lập ra 11 Nhóm công tác
phụ trách các lĩnh vực sau: Hợp tác Kỹ thuật Nông nghiệp, Năng lượng, Nghề cá, Phát
triển Nguồn nhân lực, Khoa học và công nghệ, Bảo vệ tài nguyên biển, Doanh nghiệp vừa
và nhỏ, Thông tin và Viễn thông, Du lịch, Xúc tiến thương mại, Vận tải. Phần lớn hoạt
động của các Nhóm là khảo sát tiềm năng phát triển và thúc đẩy sự tăng trưởng trong các
lĩnh vực do từng Nhóm phụ trách. Thông qua các hoạt động này, các thành viên APEC xây
dựng những mối liên hệ thực sự giữa các đại diện chính giới, giới doanh nghiệp và học
giả.
Hoạt động của các Uỷ ban chuyên đề, các Nhóm đặc trách của SOM và các Nhóm
công tác là nền tảng chủ yếu của diễn đàn APEC. Thực tế, đây là những diễn đàn nhỏ để
các thành viên thảo luận, tư vấn chính sách và hợp tác trên các lĩnh vực cụ thể. Những
nghiên cứu của các Nhóm đặc trách, các chương trình hợp tác do các Nhóm công tác soạn
thảo là cơ sở chủ yếu để Hội nghị Bộ trưởng đưa ra các quyết định liên quan đến phương
hướng hoạt động của APEC.
g. Các Nhóm đặc trách của SOM
Bên cạnh các Nhóm công tác, Hội nghị Quan chức Cao cấp (SOM) đã lập ra ba
Nhóm đặc trách nhằm xác định các vấn đề và đưa ra khuyến nghị về những lĩnh vực quan
18
trọng cần xem xét trong khuôn khổ hợp tác của APEC. Hiện đang có ba Nhóm đặc trách
của SOM là: Nhóm đặc trách về Mạng các điểm liên hệ về giới (Gender Focal-Points
Network), Nhóm chỉ đạo về thương mại điện tử (Electronic Commerce Steering Group) và
Nhóm đặc trách về Chống khủng bố (Counter-Terroism Task Force).
Nhóm đặc trách về Mạng các điểm liên hệ về giới được thành lập từ năm 2003
nhằm tiếp tục các chương trình về hội nhập giới và thúc đẩy sự tham gia của nữ giới vào
các hoạt động thương mại trong khu vực APEC. Tiền thân của nhóm đặc trách này là
Nhóm Tư vấn Ad Hoc của SOM về Hội nhập giới (the SOM Ad Hoc Advisory Group on
Gender Integration - AGGI) tồn tại từ năm 1999 đến năm 2002.
Nhóm đặc trách về thương mại điện tử được thành lập từ tháng 2 năm 1999 với vai
trò phối hợp và thúc đẩy các hoạt động hợp tác thương mại điện tử của APEC thông qua
hệ thống các quy định, luật lệ, chính sách minh bạch và nhất quán. Những nỗ lực của
Nhóm đặc trách về thương mại điện tử trong thời gian vừa qua đã góp phần nâng cao lòng
tin của các nền kinh tế thành viên vào lĩnh vực thương mại điện tử, và qua đó khuyến
khích việc sử dụng công nghệ thông tin và thương mại điện tử như In-tơ-nét để tiến hành
trao đổi thương mại, làm đơn giản hóa cách thức trao đổi giữa các nền kinh tế.
Nhóm đặc trách về Chống khủng bố được thành lập tại Hội nghị các Quan chức
Cao cấp tháng 2 năm 2003, nhằm triển khai Tuyên bố của các nhà Lãnh đạo về Chống
khủng bố và Thúc đẩy tăng trưởng được thông qua tháng 10 năm 2002 tại Mê-hi-cô. Nhóm
đặc trách về Chống khủng bố có chức năng giúp đỡ các nền kinh tế thành viên trong việc
xác định và đánh giá những biện pháp cần thiết để chống khủng bố, phối hợp các chương
trình hỗ trợ về kỹ thuật và năng lực, và thúc đẩy quan hệ hợp tác giữa APEC với các tổ
chức quốc tế và khu vực trong các vấn đề liên quan đến chống khủng bố. Các lĩnh vực ưu
tiên trong chương trình hoạt động của Nhóm đặc trách về Chống khủng bố là: Sáng kiến
về Bảo đảm An ninh Thương mại trong khu vực APEC (the Secure Trade in the APEC
Region - STAR); ngăn cấm việc hỗ trợ tài chính cho các hoạt động khủng bố; tăng cường
an ninh mạng; sáng kiến an ninh năng lượng; và bảo vệ sức khoẻ cộng đồng.
3.3 Ban thư ký APEC
Hội nghị Bộ trưởng APEC lần thứ tư ở Băng Cốc năm 1992 nhận thấy cần phải có
một cơ chế giúp việc hiệu quả để hỗ trợ và phối hợp các hoạt động trong APEC nhằm
tăng cường vai trò và hiệu quả của APEC trong xúc tiến hợp tác kinh tế khu vực, đã nhất
trí thành lập Ban Thư ký APEC, đặt trụ sở tại Xinh-ga-po, và lập một quỹ chung của
APEC.
Ban Thư ký APEC đứng đầu là một Giám đốc Điều hành, do nước giữ ghế Chủ tịch
APEC cử với thời hạn một năm. Một phó giám đốc điều hành do nước sẽ giữ chức Chủ
tịch APEC vào năm tiếp theo cử. Đây là các quan chức của Chính phủ mang hàm Đại sứ.
Ngoài ra, Ban Thư ký APEC hiện có khoảng 20 Giám đốc chương trình do các nền kinh tế
thành viên tiến cử, 25 nhân viên chuyên nghiệp (cũng được biệt phái từ các nước thành
viên) và các nhân viên phục vụ.
Ban Thư ký làm việc dưới sự chỉ đạo của Hội nghị Quan chức cao cấp và có quan
hệ thông tin trực tiếp thường xuyên với các thành viên, các Uỷ ban, các Nhóm công tác và
các Nhóm đặc trách của APEC. Mới đây, Ban Thư ký APEC quyết định nâng cấp trang
19
Mạng (website) của mình nhằm giới thiệu về APEC, giúp cho việc tiếp cận các thông tin
về hoạt động của APEC được dễ dàng hơn.
Ban Thư ký APEC giữ vai trò quan trọng trong tiến trình phát triển của APEC, có
chức năng tư vấn, hỗ trợ kỹ thuật, phối hợp các hoạt động của APEC; điều hành ngân sách
hàng năm của APEC; cũng như quản lý thông tin và các dịch vụ thông tin tuyên truyền. Từ
năm 1993, do vấn đề tài chính và ngân sách trở nên phức tạp, chức năng điều hành tài chính
được chuyển giao cho Uỷ ban Ngân sách và Quản lý.
Ban Thư ký APEC đồng thời là cơ quan chủ chốt trong việc quản lý các dự án của
APEC. Hiện Ban Thư ký APEC đang hỗ trợ các nền kinh tế thành viên và các diễn đàn
trong khuôn khổ APEC quản lý hơn 230 dự án lấy kinh phí từ quỹ của APEC.
CHƯƠNG 4: CÁC SỰ KIỆN VÀ THÀNH TỰU CỦA TỔ CHỨC APEC

4.1 Sơ lược về các kì hội nghị của APEC:
Hội nghị Bộ trưởng ngoại giao không chính thức : 6–7 tháng 11năm 1989 tại,
Canberra (Úc), các Bộ trưởng Ngoại giao và Kinh tế của 12 nước Australia, Nhật Bản,
Malaysia, Hàn Quốc, Thái Lan, Philippines, Singapore, Brunei, New Zealand, Indonesia,
Canada và Mỹ đã họp quyết định chính thức thành lập APEC.(cụ thể như phần trên trình
bày)
Các cuộc họp cấp bộ trưởng: lần lượt diễn ra vào 29–31 tháng 7 năm 1990, tại
Singapore; 12–14 tháng 11 năm 1991 tại Seoul( Hàn Quốc); 10–11 tháng 9 năm 1992 tại
Bangkok ( Thái Lan).Vào tháng 11/1991, APEC kết nạp thêm Trung Quốc, Hồng Công và
Đài Loan.
Hội nghị APEC 1: 19-20 tháng 11 năm 1993 tại đảo Blech thuộc bang Settle (Mỹ)
Lần đầu tiên các nhà lành đạo APEC họp mặt và đề ra viễn cảnh của APEC "Tinh
thần cộng đồng khu vực châu Á - Thái Bình Dương" về một khu vực “ổn định, an ninh và
thịnh vượng cho cho các nền kinh tế thành viên” thông qua hợp tác và quyết định đặt trụ sở
của APEC tại Singapore. Hội nghị kết nạp thêm Mexico, Papua New Guinea, nâng số thành
viên của APEC lên đến 17 thành viên. Hội nghị quyết định từ đây sẽ tổ chức Hội nghị cấp
cao APEC hàng năm theo hình thức luân phiên.
Hội nghị APEC 2 : 15 tháng 11 năm 1994 tại Bogo, Indonesia.
Các nền kinh tế thành viên APEC tại hội nghị APEC lần thứ 2 đề ra "Mục tiêu Bogo"
với nội dung: Mở cửa, tự do hóa thương mại và đầu tư trong khu vực châu Á - Thái Bình
Dương vào năm 2010 đối với các nền kinh tế phát triển và vào năm 2020 đối với các nền
kinh tế đang phát triển. APEC có 18 thành viên sau khi Chile được kết nạp làm thành viên.
Hội nghị APEC 3 : 19 tháng 11 năm 1995 tại Osaka, Nhật Bản.
APEC thông qua kế hoạch hành động Osaka (Osaka Action Agenda – OAA) với ba nội
dung chính: Tự do hóa thương mại và đầu tư, Thuận lợi hóa thương mại, Hợp tác kinh tế
20
kỹ thuật để thực hiện các mục tiêu Bogo;thành lập Hội đồngTư vấn Kinh doanh APEC
(ABAC), trong đó mỗi nền kinh tế thành viên đóng góp ba doanh nhân.
Hội nghị đã xác định 15 lĩnh vực cụ thể liên quan đến việc thực hiện tự do hoá và
thuận lợi hoá thương mại và đầu tư mà các nền kinh tế APEC phải báo cáo trong kế hoạch
hành động riêng (IAP).




Hội nghị APEC 4 : 25 tháng 11 năm 1996 tại Manila, Philippin.
APEC thông qua kế hoạch hành động Manila (Manila Action Plan - MAPA), với các
biện pháp tự do hoá và thuận lợi hoá thương mại và đầu tư nhằm đạt được các mục tiêu
Bogo và kế hoạch hành động cá nhân (IAP) và tập thể (CAP) được tập hợp lại với các
bước đi cụ thể và cách thức các nền kinh tế đạt được các mục tiêu về tự do thương mại
được đề ra tại Hội nghị Bogo.
Hội nghị APEC 5 : 24–25 tháng 11 năm 1997 tại Vancouver, Canada.
APEC xây dựng “Tầm nhìn thế kỉ XXI”, thông qua đề nghị về tự do hoá lĩnh vực tự
nguyện sớm (Early Voluntary Sedtoral Liberalization - EVSL) hơn 2 năm so với mục tiêu
Bogo trong 15 lĩnh vực và quyết định cập nhật hàng năm các Kế hoạch hành động riêng
của từng nền kinh tế thành viên.
Hội nghị APEC 6 : 17–18 tháng 11 năm 1998 tại Kuala Lumpur, Malaixia.
CÁc nền kinh tế APEC chỉ nhất trí được về 9 lĩnh vực đầu tiên trong 15 lĩnh vực của
kế hoạch EVSL và tìm kiếm thoả thuận với các nước không phải thành viên APEC trong
WTO về vấn đề này. Hội nghị kết nạp thêm ba thành viên mới là Peru, Liên bang Nga và
Việt Nam, đồng thời quyết định tạm ngừng thời hạn xem xét kết nạp thành viên mới trong
mười năm.
Hội nghị APEC 7 : 12–13 tháng 9 năm 1999 tại Auckland, New Zealand.
APEC cam kết giảm bớt các thủ tục giấy tờ trong hoạt động thương mại đối với các
nền kinh tế phát triển vào năm 2005 và các nền kinh tế đang phát triển vào năm 2010.
APEC cũng thông qua kế hoạch thẻ thông hành dành cho doanh nhân (Business Travel Card)
và thoả thuận công nhận lẫn nhau về các thiết bị điện tử và Cơ cấu thúc đẩy sự tham gia
của phụ nữ trong APEC. Hội nghị tán thành vòng đàm phán mới của WTO bắt đầu từ năm
2000 và kéo dài 3 năm, ủng hộ các thành viên APEC chưa phải là thành viên của WTO sớm
gia nhập tổ chức này.
Hội nghị APEC 8 : 15–16 tháng 11 năm 2000 tại Bandar Seri Begawan, Brunei.
21
APEC thiết lập kế hoạch hành động điện tử riêng (e-IAP), đưa ra các thông tin về IAPs
trên mạng và cam kết thực hiện kế hoạch hành động xây dựng Nền kinh tế mới với mục
tiêu là tăng đáng kể sự tiếp cận Internet trong các nền kinh tế thành viên APEC vào năm
2005.
Hội nghị APEC 9 : 20–21 tháng 10 năm 2001 tại Thượng Hải, Trung Quốc.
APEC thông qua Thoả thuận Thượng Hải (Shanghai Accord), với trọng tâm là mở rộng
APEC, làm rõ các Lộ trình thực hiện các mục tiêu Bogo và củng cố các cơ chế để thực
hiện ác mục tiêu này. Chiến lược APEC điện tử ( e – APEC) cũng được thông qua và chiến
lược này đã đề ra các chương trình nghị sự để tăng cường các cơ cấu và các thiết chế thị
trường, tạo điều kiện thuận lợi cho việc đầu tư vào cơ sở hạ tầng và công nghệ cho các
giao dịch trên mạng và thúc đẩy tinh thần doanh nghiệp cũng như xây dựng nguồn nhân
lực. Lần đầu tiên, các nhà lãnh đạo kinh tế APEC đã thông qua Tuyên bố chống khủng bố.
Hội nghị APEC 10 : 25–27 tháng 10 năm 2002 tại Los Cabos, Mexico.
APEC thông qua Kế hoạch hành động thuận lợi hoá thương mại (Trade Facili tation
Action Plan), Các danh sách chính về thương mại, nền kinh tế số và các tiêu chuẩn minh
bạch. APEC cũng nêu ra các sáng kiến cụ thể để giảm các chi phí trong giao dịch thương
mại xuống còn khoảng 5% trong khu vực châu Á- Thái Bình Dương vào năm 2006.
Hội nghị cấp cao APEC lần này cũng thông qua Tuyên chống khủng bố lần thứ 2, cùng
với việc thông qua Sáng kiến thương mại an toàn ở khu vực châu Á- Thái Bình Dương
(STAR). Cũng tại hội nghị này, các nhà lãnh đạo kinh tế APEC đã ra 1 tuyên bố về tình
hình trên bán đảo Triều Tiên.
Hội nghị APEC 11 : 20–21 tháng 10 năm 2003 tại Bangkok, Thái Lan.
APEC đã đưa ra biện pháp hành động từ “ở biên giới” (measure at the boder) sang các
biện pháp “phía trong đường biên” (measure behind the boder). Các nhà lãnh đạo kinh tế
APEC cũng khẳng định quyết tâm về việc mỗi nền kinh tế sẽ thực hiện cải cách về cơ
cấu nhất trí thông qua nghị quyết để đạt được tăng trưởng kinh tế trong toàn khu vực
APEC. APEC cũng nhất trí tái khởi động vòng đàm phán Doha của WTO về chương trình
nghị sự về phát triển ( WTO Dohar Development Agenda).
Một mặt APEC thúc đẩy sự thịnh vượng chung trong khu vực, mặt khác APEC cũng
khẳng định sự cần thiết phải cải thiện tình hình an ninh trong khu vực châu Á- Thái Bình
Dương. Các thành viên APEC đã được sự nhất trí cao về các hành động nhằm ngăn chặn
các mối đe doạ khủng bố do hệ thống tên lử vác vai (MANPADS), phối hợp tốt hơn các
hoạt động chống khủng bố và thực hiện Kế hoạch hành động của APEC về chống dịch
SARS và sáng kiến về an ninh y tế.
Hội nghị APEC 12 : 20–21 tháng 11 năm 2004 tại Santiago de Chile, Chile.

22
Các nhà lãnh đạo kinh tế APEC đã thông qua chương trình nghị sự thực hiện các cải
cách mang tính cơ cấu (APEC Leaders’ Agenda to Implement Structural Refom - LAISR),
trong đó nêu ra những ưu tiên mà các nền kinh tế APEC cần đạt được trong việc thúc đẩy
các cải cách cơ cấu trong tương lai. Đồng thời các nhà lãnh đạo kinh tế APEC đã đưa ra
một tuyên bố mạnh mẽ để ủng hộ các tiến bộ đạt được trong Vòng đàm phán Doha của
WTO về Chương trình nghị sự về phát triển và đặt ra thời hạn để đạt được bước đột phá
trong các cuộc thương lượng là Cuộc họp cấp Bộ trưởng lần thứ 6 của WTO tháng 12 năm
2005 tổ chức tại Hongkong.
APEC thông qua các biện pháp tốt nhất để thực hiện các Hiệp định thương mại khu
vực ( RTAs) và các Hiệp định thương mại tự do (FTAs), Sáng kiến Sangtiago về thương
mại mở rộng và Khuôn khổ về bí mật thông tin. APEC cũng nhắc lại quyết tâm của mình
trong việc đối phó với mối đe doạ khủng bố, đồng thời đưa ra cam kết chính trị đẻ chống
tham nhũng và đảm bảo sự minh bạch đồng thời thông qua một loạt các hành động cụ thể
để thực hiện mục tiêu này.
Hội nghị APEC 13 : 18–19 tháng 11 năm 2005 tại Busan, Hàn Quốc.
Chủ đề: "Hướng tới một cộng đồng: đối phó thách thức, tạo ra thay đổi" . APEC thông
qua lộ trình Busan, hoàn thành Bản kiểm điểm giữa kì và thấy rằng APEC vẫn đang tiến
đến việc thực hiện các mục tiêu Bogo, tuy rằng cần phải cập nhật cho phù hợp với tình
hình hiện tại, và Khuôn khổ bí mật thông tin trong APEC. Các nhà lãnh đạo kinh tế APEC
cũng đưa ra tuyên bố độc lập ủng hộ việc kết thúc thành công Hội nghị lần thứ 6 cấp Bộ
trưởng của WTO tại Hongkong và thống nhất với việc đối phó với các mối đe doạ dịch
bệnh và tiếp tục cuộc chiến chống khủng bố vì nguy cơ này có thể gây ra sự bất ổn kinh
tế sâu sắc đối với toàn khu vực.
Hội nghị APEC 14 : 18-19 tháng 11 năm 2006 tại Hà Nội, Việt Nam.
Chủ đề của năm APEC 2006 Việt Nam là “Hướng tới một cộng đồng năng động vì sự
phát triển bền vững và thịnh vượng”. Các thành viên APEC xác định rõ rằng đây là mục
tiêu lâu dài mà APEC cần phải nỗ lực hơn nữa để phấn đấu thực hiện. Việc thực hiện các
mục tiêu Bogo, mà trước mắt là Lộ trình Busan, là ưu tiên hàng đầu và nó sẽ góp phần thực
hiện mục tiêu lớn và lâu dài hơn là xây dựng cộng đồng châu Á- Thái Bình Dương. Tại
diễn đàn này, các nhà lãnh đạo APEC đã thảo luận hai nội dung chính: (1) Đẩy mạnh
thương mại và đầu tư trong một thế giới đang thay đổi.(2) Những nhân tố cơ bản bảo
đảm tính năng động, sự tăng trưởng và phát triển bền vững trong APEC.
Hội nghị APEC 15 : Tháng 11 năm 2007 tại Sydney, Úc.
Chủ đề Hội nghị cấp cao APEC 15 và năm APEC 2007 là “Củng cố cộng đồng của
chúng ta, xây dựng một tương lai bền vững”. Hội nghị sẽ tập trung vào 6 vấn đề quan
trọng:
23
1-Thay đổi khí hậu và phát triển sạch,
2- ủng hộ của APEC đối với Hệ thống thương mại đa biên và WTO,
3- Hội nhập Kinh tế khu vực, trong đó bao gồm nghiên cứu thành lập Khu vực Mậu
dịch tự do châu Á - Thái Bình Dương.
4- An ninh con người,
5- Cải cách APEC,
6- Kết nạp thành viên mới.
Hội nghị đã ra ba tuyên bố quan trọng:
(1) Tuyên bố chung của các nhà lãnh đạo APEC.
(2) Tuyên bố Sydney của các nhà lãnh đạo APEC về biến đổi khí hậu an ninh năng
lượng và phát triển sạch.
(3) Tuyên bố về đàm phán WTO
Hội nghị APEC 16 : 22-23 Tháng 11 năm 2008 tại Lima, Peru.
Hội nghị cấp cao APEC 16- 2008 có chủ đề “Một cam kết mới đối với sự phát triển
của khu vực châu Á-Thái Bình Dương”. Theo đó, các nhà lãnh đạo APEC tập trung thảo
luận 7 vấn đề quan trọng, gồm:
(1) Khủng hoảng tài chính toàn cầu;

(2) Đối phó với việc tăng giá lương thực và hàng hóa;

(3) Vòng đàm phán Doha;

(4) Hội nhập kinh tế khu vực;

(5) Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp;

(6) Biến đổi khí hậu

(7) An ninh con người.

Theo nhận định, đây là kì hội nghị quy mô nhất từ trước đến nay. Trong khuôn khổ Hội
nghị APEC 2008, Hội nghị lần thứ 4 Hội đồng tư vấn doanh nghiệp APEC (ABAC) cũng
diễn ra từ 17-20/11/2008 tại thủ đô Lima, Peru. Các đại biểu ABAC đại diện cho 21 quốc
gia thành viên APEC đưa ra các khuyến nghị cho các nguyên thủ của thành viên APEC
nhằm hướng tới việc đạt được một khu vực tự do thương mại trong khuôn khổ các thành
viên APEC.

Cuộc gặp thượng đỉnh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) của Diễn đàn hợp tác
kinh tế châu Á - Thái Bình Dương diễn ra vào ngày 17/11 nhằm tìm ra các giải pháp để
giúp SME đối phó với cuộc khủng hoảng tài chính quốc tế và toàn cầu. Với chủ đề “Các
cơ hội và thách thức đối với SME trong khuôn khổ APEC”, hội nghị thượng đỉnh SME tập
24
hợp hơn 800 đại diện doanh nghiệp nhỏ và vừa khu vực châu Á - Thái Bình Dương cùng
thảo luận và thiết lập một bước tiến tích cực nhằm giúp SME giải quyết tình hình khó
khăn tài chính hiện nay. Một trong các trọng điểm được quan tâm là giảm chi phí buôn bán
giao dịch cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Bên cạnh đó, Hội nghị SME cũng làm cho lãnh
đạo các doanh nghiệp hiểu rằng thị trường của họ là không biên giới và tầm quan trọng
của việc sử dụng công nghệ tiến hành kinh doanh với các thị trường nước ngoài vì đó là
công cụ thúc đẩy hoạt động kinh doanh. Tại APEC 2008, một số hội nghị quan trọng khác
cũng diễn ra như Hội nghị các tổng giám đốc tập đoàn hàng đầu thế giới, Diễn đàn đầu tư
vào Peru...

Hội nghị APEC 17 : Tháng 11 năm 2009 tại Singapore.
Ngày 14/01/2009, Singapore đã công bố chủ đề của năm APEC 2009 sẽ diễn ra tại
Singapore là “Phát triển bền vững, Liên kết khu vực” (Sustaining Growth, Connecting
Region), nhằm phản ánh các nỗ lực không mệt mỏi của APEC kiến tạo các điều kiện
thuận lợi cho thương mại và đầu tư tại khu vực Châu Á – Thái Bình dương. Mục tiêu của
Hội nghị thượng đỉnh APEC năm 2009 là bàn thảo các biện pháp nhằm hỗ trợ tăng trưởng
kinh tế, đối phó với khủng hoảng tài chính thế giới, đẩy nhanh hội nhập kinh tế khu vực
và ngăn ngừa chủ nghĩa bảo hộ.

Hội nghị APEC 18 : theo dự định sẽ được tổ chức vào tháng 11 năm 2010 tại Nhật
Bản

Một vài hình ảnh về các hội nghị gần đây:




Hội nghị APEC 2003, Bangkok, Thái Lan



25
Hội nghị APEC 2005, Busan, Hàn Quốc




Hội nghị APEC 2006, Hà Nội, Việt Nam




Hội nghị APEC 2007, Sydney, Úc
26
Hội nghị APEC 2008, Lima, Peru
4.2 Thành tựu của các nền kinh tế APEC đạt được:

4.2.1 Lợi ích chung khi tham gia tổ chức APEC:

Tăng cường vị thế chính trị, mở thêm một diễn đàn phục vụ mục đích đối ngoại đa
-
phương hoá, đa dạng hoá quan hệ. Tham gia APEC là tham gia cơ chế tiếp xúc đối
thoại thường xuyên, không chính thức, đặc biệt ở cấp cao với tất cả các nước lớn ở
châu á-Thái Bình Dương, sẽ mở ra nhiều cơ hội trao đổi và giải quyết mọi vấn đề,
cả kinh tế, chính trị và an ninh, để thúc đẩy các quan hệ song phương.
Nắm bắt thông tin, cập nhật đầy đủ chiều hướng phát triển của thế giới để định
-
hướng và điều chỉnh chính sách trong nước.
Tận dụng các chương trình hợp tác kinh tế - kỹ thuật. Các chương trình này tập
-
trung vào một số vấn đề liên quan tới hợp tác trao đổi kinh nghiệm về phát triển
nguồn nhân lực, chuyển giao công nghệ, kinh nghiệm quản lý, phát triển hạ tầng,
tiếp nhận thông tin, phát triển thị trường...
Nâng cao khả năng quản lý kinh doanh, mở rộng quan hệ thương mại và đầu tư,
-
thâm nhập thị trường. Các đối tác kinh tế của ta chủ yếu là trong APEC và là thị
trường còn rất nhiều tiềm năng cần được khai thác hoặc khai thông. Tham gia
APEC tạo thêm điều kiện để ta đấu tranh theo nguyên tắc không phân biệt đối xử
để hưởng Quy chế Tối huệ quốc (MFN) và Đối xử quốc gia (NT) trong quan hệ
kinh tế với các nước.
Trao đổi kinh nghiệm, tạo thêm động lực thúc đẩy phát triển nội lực của các doanh
-
nghiệp và điều chỉnh cơ cấu kinh tế trong nước, tăng tính cạnh tranh trong khu vực.
4.2.2 Thành tựu từng nền kinh tế thành
viên APEC:

1) Australia

Tốc độ tăng GDP nhỉnh hơn một chút so
với Mỹ, Đức, Pháp. Xếp hạng 3 trên thế
27
giới về tốc độ phát triển con người năm 2007, tài khoản hiện tại âm hơn 7% GDP. Phát
triển ở mức trung bình 3.6% mỗi năm cho hơn 15 năm. Trong thập kỷ vừa qua, lạm phát
thông thường là 2-3 %, lãi suất cơ bản là 5-6%.

APEC ủng hộ tích cực cho việc mở cửa thương mại và miễn thuế, đầu tư trong điều kiện
cần thiết cho sự phát triển kinh tế của Australia.

Tổ chức lãnh đạo cấp cao của APEC tập hợp nguồn sức mạnh và là một trong những cuộc
họp quan trọng hàng năm của thế giới, là một phần không thể thiếu bảo đảm cho sự an
ninh và ổn định của khu vực Châu Á – Thái Bình Dương.

2) Brunei

Brunei được đánh giá là một trong những
quốc gia có mức sống cao vào loại nhất
thế giới. Nền kinh tế chủ yếu dựa vào khai
thác nguồn tài nguyên dầu lửa và khí đốt
với chất lượng và trữ lượng vào loại tốt
nhất thế giới.Chính phủ Brunei có thể bao
cấp cho dân về thực phẩm và nhà ở, thực
hiện chế độ giáo dục không mất tiền, cấp
tiền cho sinh viên đi học nước ngoài, dân
không phải đóng thuế thu nhập, việc chữa
bệnh, ma chay do Nhà nước bao cấp. Các
gia đình công chức làm việc cho Chính phủ thường có biệt thự riêng, với 1-2 ô tô trở lên.

3)Canada

Canada có nền kinh tế thị trường tự do
tương đối giống Mỹ. Sau cuộc khủng
hoảng tài chính thế giới, trong thập kỷ
qua, nền kinh tế Canada phục hồi nhanh
với tốc độ tăng trưởng khá ấn tượng là
nhờ cơ sở của nền kinh tế này khá vững
chắc,cắt giảm thuế mạnh và khu vực
kinh doanh có sức cạnh tranh ngày càng
cao.Từ đầu thập niên 90 ( thế kỷ XX)
tới nay, Canada đã tiến hành một loạt
các cải cách cơ cấu nền kinh tế trong
lĩnh vực chi tiêu ngân sách, thuế, lao
động, phúc lợi xã hội, thương mại, tài
chính… nhờ đó, đã tạo ra sự tăng trưởng
ổn định và bền vững như hiện nay.

4)Chile 28
Chile là một trong những nền kinh tế tương đối phát triển ở Châu Mỹ La tinh, tỷ lệ tăng
trưởng ổn định và tương đối cao so với các nền kinh tế khác trong khu vực. Nền kinh tế
Chile đi theo mô hình tự do hóa và thu hút nhiều đầu tư nước ngoài.Trong gần ba thập kỷ
qua, Chile theo đuổi chính sách phát triển kinh tế vững chắc.Chile đang thu hút được nhiều
vốn đầu tư nước ngoài, nhất là trong lĩnh vực khai thác đồng, chế biến hải sản và thực
phẩm.

5)Trung Quốc

Khi “cơn bão” tài chính tiền tệ năm
1997 tác động nặng nề đối với nền
kinh tế của nhiều quốc gia Đông Á,
Trung Quốc đã chấp nhận để mức
thu ngân sách giảm xuống còn 14%
GDP; cam kết không phá giá đồng
NDT, nhờ đó vẫn đảm bảo nhịp tăng
trưởng GDP hàng năm trên 8%. Kết
quả, Trung Quốc đã thành công trong
việc tránh được cuộc khủng hoảng
này.

Năm 2005 là năm kết thúc Kế hoạch
5 năm lần thứ 10 của Trung Quốc.
Kế hoạch 5 năm lần thứ 11 (2006-2010) đề ra những mục tiêu chủ yếu trong việc phát
triển kinh tế và xã hội như sau: tăng trưởng GDP đạt mức 8%; tạo ra 9 triệu việc làm mới
ở thành thị; tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị giữ ở mức 4,6%; chỉ số giá cả không tăng hơn 4%
và giữ cán cân ổn định trong thanh toán quốc tế. Đại hội Đảng Cộng sản Trung Quốc lần
thứ 16 (2002) chỉ rõ: tổng sản phẩm quốc nội đến năm 2020 sẽ tăng gấp ba Lần so với
năm 2000, nâng cao đáng kể vị thế kinh tế và sức cạnh tranh quốc tế của Trung Quốc.

6)Hong Kong

Hong Kong có nền kinh tế quốc tế hóa
cao độ, môi trường kinh doanh thuận
lợi,thể chế pháp luật kiện toàn, thị
trường tự do cạnh tranh, hệ thống
mạng lưới tiền tệ, tài chính,chứng
khoán rộng khắp,cơ sở hạ tầng tốt, hệ
thống giao thông, dịch vụ hoàn chỉnh.
“Báo cáo tình hình đầu tư của thế giới
năm 2004” của Hội nghị Phát triển và



29
Mậu dịch LHQ xem Hong Kong là hệ thống kinh tế tốt nhất thứ hai của Châu Á về thu hút
vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài.




7)Indonesia

Inđônêxia là thành viên của Tổ chức các
nước Xuất khẩu Dầu lửa (OPEC) và
đứng thứ hai trên thế giới về xuất khẩu
khí đốt.

Các điều kiện kinh tế vĩ mô cho đến năm
2009 được các chuyên gia dự đoán là
thuận lợi nhờ chiến lược và các chính
sách phát triển của Chính phủ Indonesia,
cũng như việc cải cách thị trường trong
nước. Trên cơ sở triển vọng kinh tế toàn
cầu và tình hình trong nước, tỷ lệ tăng
trưởng kinh tế Indonesia được kỳ vọng là sẽ tiếp tục ở mức cao, từ 5,5% năm 2005 lên
7,6% năm 2009 (trung bình 6,6% cho cả giai đoạn). Trong cả giai đoạn này, khu vực công
nghiệp dự kiến tăng 8,6% chủ yếu tập trung trong các ngành chế biến thực phẩm, đồ
uống, thuốc lá, giấy và sản phẩm in, phân bón hóa học; khu vực nông nghiệp dự kiến tăng
ở mức 3,5% mỗi năm.

Để đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế bền vững, Chính phủ Indonesia cam kết giữ
vững ổn định kinh tế vĩ mô bằng việc tiến hành một loạt các biện pháp cải cách khu vực
thu chi ngân sách, khu vực tài chính, cải thiện môi trường đầu tư và phát triển cơ sở hạ
tầng.

8)Nhật Bản

Từ 1974 đến nay tốc độ
phát triển tuy chậm lại,
song Nhật Bản tiếp tục là
một nước có nền kinh tế
công nghiệp, tài chính,
thương mại, dịch vụ, khoa 30
học kỹ thuật lớn đứng thứ hai trên thế giới (chỉ sau Mỹ). Nhưng trong những
năm 1997-1998, Nhật Bản lại gặp khó khăn lớn, tập trung vào các bê bối trong
hệ thống ngân hàng và thị trường địa ốc.

Khu vực các doanh nghiệp bị ảnh hưởng nghiêm trọng hơn do tính cứng nhắc trong cơ cấu
công ty và thị trường lao động. Sau đó, Nhật Bản xúc tiến 6 chương trình cải cách lớn;
trong đó có cải cách cơ cấu kinh tế, giảm thâm hụt ngân sách, cải cách khu vực tài chính và
sắp xếp lại cơ cấu Chính phủ... Dù diễn ra chậm, nhưng cải cách đang đi dần vào quỹ
đạo, trở thành xu thế không thể đảo ngược ở Nhật Bản và gần đây đã đem lại kết quả
đáng khích lệ.

Cán cân thương mại dư thừa và dự trữ ngoại tệ hiện đứng hàng đầu thế giới, nên nguồn
vốn đầu tư ra nước ngoài rất nhiều. Nhật Bản là nước có nhiều tập đoàn tài chính, ngân
hàng đứng hàng đầu thế giới. Mặc dù vậy, Nhật Bản có 2 vấn đề dài hạn chính cần được
giải quyết sớm là mật độ dân cư quá cao và xu thế lão hoá của dân cư đang tăng lên.

9) Hàn Quốc

Bắt đầu từ thập niên 60 của thế kỷ XX,
kinh tế Hàn Quốc bắt đầu phát triển với
tốc độ nhanh, đến giữa thập niên 80 đã
trở thành nước công nghiệp phát triển
mới (NICS). Đặc điểm của nền kinh tế
Hàn Quốc là một nền kinh tế thị trường
nhưng sự điều tiết của Nhà nước đóng
vai trò quan trọng.

Tháng 2-2003, Tổng thống Rô Mu Hiên
công bố chính sách và mục tiêu kinh tế
mới: về lâu dài, xây dựng ổn định và
thịnh vượng trên bán đảo Triều Tiên; biến Hàn Quốc thành một trung tâm kinh doanh của
khu vực Đông Bắc Á; đổi mới quản lý chính phủ; tăng quyền lực cho chính quyền địa
phương; cân bằng sự phát triển giữa các khu vực địa lý, xây dựng hệ thống phúc lợi tập
thể với việc giảm bớt khoảng cách giàu nghèo; cải cách chế độ lao động; cải cách khu vực
nông nghiệp - thủy hải sản; lấy khoa học và kỹ thuật là trọng tâm; xây dựng thủ đô hành
chính mới.

10) Malaysia

Sau một thập kỷ tăng
trưởng GDP trung bình
hàng năm 8%, nền kinh tế



31
Malaysia bị tác động nghiêm trọng của khủng hoảng tài chính - tiền tệ khu
vực.

Kinh tế Malaysia đã phục hồi nhanh từ năm 1999 đến nay, với tỷ lệ GDP tăng 5%, xuất
siêu lớn đã giúp quốc gia này xây dựng được lượng dự trữ tài chính.Triển vọng kinh tế
trước mắt của Malaysia là tương đối sáng sủa, nhưng về lâu dài vẫn còn những rào cản do
chưa cải cách hệ thống ngân hàng và các công ty lớn, đặc biệt là những biện pháp giải
quyết cho tính cạnh tranh và nợ nần.

11) Mexico

Theo Ngân hàng Thế giới, Mexico
xếp thứ 12 trên thế giới về GDP và
có thu nhập tính theo đầu người lớn
thứ tư trong khu vực Mỹ La tinh
(sau Achentina, Chilê, Costa Rica).

Số lượng doanh nghiệp quốc doanh
của Mexico giảm từ trên 1.000 năm
1982 xuống còn dưới 200 năm
1999. Tiêu dùng tư nhân trở thành
động lực chính thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế. Mêhicô là nhà sản
xuất dầu lửa lớn thứ tư trên thế
giới. Tỷ lệ dân số Mexico sống dưới mức nghèo khổ giảm từ 24,2% xuống còn 17,6%
trong khoảng thời gian từ năm 2000-2004.

Hiện nay, Mexico vẫn cần tiếp tục giải quyết một số vấn đề về cơ cấu như phấn đấu
hiện đại hóa nền kinh tế và nâng cao mức sống trung bình cho người dân. Những mối quan
ngại về mức lương thực tế thấp, tình trạng thiếu việc làm cho một bộ phận lớn dân
chúng, phân phối thu nhập không bình đẳng (20% dân số có thu nhập cao chiếm 55% tổng
thu nhập), ít cơ hội cho người nghèo thổ dân ở các bang phía Nam cải thiện cuộc sống.
Mexico còn phải tiếp tục đấu tranh với một số vấn đề như kiểm soát và phát triển kinh tế,
đặc biệt là khu vực xăng dầu và phát triển quan hệ thương mại với Mỹ.

12) New Zealand

New Zealand là một nền kinh tế hiện
đại và phát triển. Từ năm 1984, Chính
phủ New Zealand đã thực hiện
chương trình cải cách cơ cấu nền
kinh tế nhằm chuyển sang nền kinh
tế thị trường tự do, tăng cường công
nghiệp hoá, nâng cao khả năng cạnh
tranh. Sự chuyển biến về kinh tế đã
32
nâng thu nhập thực tế, mở rộng và sâu khả năng công nghệ của khu vực công nghiệp và
làm giảm lạm phát. GDP tính theo đầu người cao gần bằng mức các nền kinh tế lớn ở Tây
Âu.




13) Papua New Guinea

Năm 2004, giá trị xuất khẩu đạt 8,889 tỷ
Kina và nhập khẩu là 7,831 tỷ Kina, đạt
mức thặng dư 1,058 tỷ Kina. Mặt hàng xuất
khẩu chủ lực của Papua New Guinea là dầu
lửa chiếm 70% giá trị xuất khẩu và hơn 20%
GDP. Bên cạnh đó, các mặt hàng xuất khẩu
chủ lực tiếp theo là đồng, cà phê, cacao và
cùi dừa. Thị trường xuất khẩu chính là
Australia, Nhật Bản, Đức, Trung Quốc.
Papua New Guinea nhập khẩu chủ yếu là
thiết bị máy móc, thực phẩm, chất đốt, hóa
chất. Thị trường nhập khẩu chính là
Australia, Singapore, Nhật Bản, New Zealand.

Nhìn chung mức tăng trưởng vững và nỗ lực giữ ổn định kinh tế vĩ mô thông qua hoạt
động điều tiết khéo léo chính sách tài chính và tiền tệ đang phần nào giúp củng cố lòng tin
của các nhà đầu tư và người tiêu dùng. Tuy nhiên, mức tăng trưởng kinh tế nói trên vẫn
chưa đủ để đảm bảo một sự tăng trưởng bền vững. Chính phủ Papua New Guinea thừa
nhận động lực tăng trưởng kinh tế là khu vực tư nhân. Song hiện nay khu vực tư nhân đang
gặp phải một số vấn đề cản trở trong kinh doanh như hệ thống đường sá xuống cấp, hệ
thống thông tin liên lạc không hiệu quả, hệ thống dịch vụ cung cấp điện nước kém, giá
vận chuyển cao, và các vấn đề về sở hữu đất và hệ thống thuế còn nhiều bất cập.

14) Peru

Nền kinh tế Peru phát
triển theo hướng kinh
tế thị trường. Việc tư
nhân hoá trong các
ngành công nghiệp
khai khoáng, điện, bưu
chính viễn thông ở
nước này về cơ bản
đã hoàn thành từ năm
1990. Với sự hỗ trợ
33
của IMF và Ngân hàng Thế giới, Chính phủ nước này đã trả hết nợ nước
ngoài vào tháng 3-1993.

Năm 1997, tốc độ phát triển của nước này đạt mức 7,3%, lạm phát giảm tới mức thấp
nhất trong vòng 23 năm qua. Vốn đầu tư tăng cao đến mức kỉ lục vào đầu năm 1997. Tuy
nhiên, sang năm 1998, do ảnh hưởng của El Nino đối với nông nghiệp, cuộc khủng hoảng
tài chính ở khu vực Châu á và tình hình bất ổn ở thị trường Brazil đã gây nhiều khó khăn
cho sự phát triển kinh tế của Peru. Trong những năm gần đây, nền kinh tế Peru đã có
những dấu hiệu phục hồi. Ước tính, năm 2006, tỷ lệ tăng trưởng GDP khoảng 7%.

Chính phủ Peru đã cấp phép cho tổng đầu tư tư nhân (cả trong nước và nước ngoài) là 10
tỷ USD vào khu vực khai khoáng và năng lượng, 15 tỷ USD vào các khu vực khác như công
nghiệp, thương mại, du lịch, hải sản, nông nghiệp nhằm giữ cho nền kinh tế tăng trưởng
ở mức cao hơn 5%/năm.

15) Philippines

Philippines là một
nền kinh tế kết
hợp giữa nông
nghiệp, công
nghiệp nhẹ và dịch
vụ. Từng là quốc
gia giàu có thứ hai
ở Châu Á ( sau
Nhật Bản),
Philippines dần trở
thành một trong
những nước nghèo
nhất trong vùng từ khi giành lại độc lập năm 1946. Quá trình phục hồi kinh tế
của nước này đã diễn ra khá mạnh mẽ, nhưng so với các nước Đông Á khác,
tốc độ này vẫn còn hạn chế.

Trong thời kỳ đỉnh điểm của cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á năm 1998, kinh tế
Philippines đã bị ảnh hưởng rất nhiều. Điều này càng trầm trọng hơn vì giá cả tăng cao,
lạm phát, và thiên tai. Tỷ lệ tăng trưởng kinh tế giảm từ 5% năm 1997 xuống 0,6% năm
1998; sau đó đã hồi phục vào khoảng 3% năm 1999 và 4% năm 2000 và tới năm 2004, tỷ lệ
tăng trưởng kinh tế đạt hơn 6% .

Đồng Peso Philippines được đánh giá là đồng tiền được quản lý tốt nhất năm 2005. Một
luật thuế giá trị gia tăng (E-VAT) mở rộng mới đã được áp dụng từ ngày 1-11-2005, như
một biện pháp nhằm cắt giảm nợ nước ngoài và cải thiện các dịch vụ trong lĩnh vực giáo
dục, sức khoẻ, phúc lợi xã hội, và xây dựng đường sá.


34
16) Russia (LB Nga)

LB Nga có tiềm năng kinh tế rất lớn.
Chiếm 3% dân số thế giới, Nga có nguồn
năng lượng lớn nhất thế giới, chiếm
13% tổng trữ lượng dầu mỏ và 34% trữ
lượng khí đốt của thế giới đã được phát
hiện. Nga đứng đầu thế giới về xuất
khẩu khí đốt và đứng thứ 2 thế giới về
xuất khẩu dầu mỏ.

Sản lượng điện của Nga chiếm 12%
tổng sản lượng điện toàn cầu. Hiện nay
Tổ hợp nhiên liệu - năng lượng Nga là
một trong những tổ hợp quan trọng nhất và phát triển nhanh nhất trong nền kinh tế Nga,
chiếm khoảng 1/4 GDP, 1/3 sản lượng công nghiệp và 1/2 nguồn thu ngoại tệ cho đất
nước.

Ngoài dầu mỏ, khí đốt và vàng, Nga có sản lượng khai thác kim cương đứng đầu thế giới.
Sản lượng kim cương của Nga đạt 33,019 triệu cara, trị giá 1,676 tỷ USD. Đặc biệt, đến
ngày 21-8-2006, Nga đã trả hết 21,3 tỷ USD nợ của 18 nước thành viên Câu lạc bộ Paris.
Nga dự kiến trả hết số nợ thời Liên Xô cũ trong năm 2006.

Bên cạnh đó, nhằm tăng vai trò quản lý của Nhà nước đối với nền kinh tế, Chính phủ
Nga đang thúc đẩy quá trình tái quốc hữu hóa các doanh nghiệp lớn, trước hết thuộc khu
vực năng lượng từng mang lại gần một nửa lợi nhuận về thuế và giá trị xuất khẩu. Quá
trình tái quốc hữu hóa nền kinh tế Nga tuy có gây tâm lý lo ngại cho một số người; nhưng
cho tới nay vẫn không gây ra tác động tiêu cực nào đối với tăng trưởng kinh tế Nga cũng
như việc các nhà đầu tư phương Tây đang quay trở lại đầu tư vào Nga.

Chính phủ LB Nga thông qua Chương trình phát triển kinh tế - xã hội trung hạn 2006-
2008, hướng mạnh vào 4 trọng điểm ưu tiên trong các lĩnh vực y tế, giáo dục, nhà ở và phát
triển nông thôn với tổng số vốn đầu tư của Nhà nước 160 tỷ Rúp, cùng với những giải
pháp tăng thu nhập cho người lao động. Sức mua của người dân tăng, thị trường tiêu dùng
sôi động và các nhà phân tích kinh tế đã nói đến sự bùng nổ tiêu dùng ở Nga.

17) Singapore

Singapore có nền kinh tế thị trường tự
do, Chính phủ nắm vai trò chủ đạo. Là
một trong những nền kinh tế thịnh vượng
nhất thế giới, Xingapo trở thành đầu mối
giao lưu thương mại quốc tế quan trọng
(cảng biển Singapore là một trong những
cảng biển trọng tải lớn tấp nập nhất thế
35
giới). Sau giai đoạn chịu ảnh hưởng nặng nề của suy thoái kinh tế toàn cầu từ năm 2001-
2003, GDP thực tế năm 2004 của Singapore tăng mức kỷ lục 8%. Chính phủ đang cố gắng
hướng đến việc xây dựng một nền kinh tế ít bị tác động bởi những biến động bên ngoài và
trở thành trung tâm tài chính và công nghệ cao của Đông Nam Á.




18) Đài Loan

Đài Loan là một trong
những vùng lãnh thổ có
nền kinh tế mạnh ở
Châu Á, nằm trong 20
nền kinh tế đứng đầu
thế giới có mức tăng
trưởng liên tục trong ba
thập kỷ gần đây và mức
dự trữ ngoại hối hàng
đầu thế giới. Được gọi
là một trong “bốn con hổ
kinh tế Châu á”, Đài
Loan phát triển phồn
vinh về thương mại, tài chính cùng với nền nông nghiệp được cơ giới hóa
cao và những ngành cơ khí lắp ráp có độ kỹ thuật cao.

Năm 2002, Đài Loan đã đưa ra chính sách 'Thách thức 2008', tức là 'Kế hoạch phát triển
kinh tế 6 năm'; năm 2005, tiếp tục đưa ra một chính sách mới là 'Kế hoạch phát triển kinh
tế lần 2 trong thế kỷ mới: Kế hoạch 4 năm từ 2005 đến 2008', với 3 nội dung chính: (1)
Phát huy nội lực kinh tế và nguồn lực nước ngoài, (2) Phát triển kinh tế gắn với bảo vệ
môi trường, (3) Tăng chất lượng cuộc sống và an sinh xã hội. Trong giai đoạn 2005 - 2008,
tốc độ tăng trưởng GDP duy trì ở mức 4,9%. Thu nhập bình quân đầu người đến năm 2008
sẽ đạt ít nhất 18.000 USD.

19) Thái Lan

Thái Lan là một nước nông nghiệp
truyền thống. Bắt đầu từ năm 1960,
Thái Lan thực hiện kế hoạch phát triển
kinh tế - xã hội lần thứ nhất và đến
nay là kế hoạch lần thứ chín. Những
năm 1970, nước này thực hiện chính
36
sách 'hướng xuất khẩu': ASEAN, Mỹ, Nhật, Châu Âu là thị trường xuất khẩu chính của
Thái Lan. Ngành công nghiệp và dịch vụ đã dần dần đóng vai trò quan trọng trong nền kinh
tế và vai trò của nông nghiệp giảm dần.

Từ 1988 đến năm 1995, kinh tế Thái Lan đạt tốc độ tăng trưởng cao từ 8% đến 10%.
Nhưng đến năm 1996 tăng trưởng kinh tế giảm xuống còn 5,9% và sau đó là cuộc khủng
hoảng tài chính tiền tệ tháng 7-1997 làm cho kinh tế Thái Lan rơi vào tình trạng khó khăn
trầm trọng. Kể từ năm 1999, kinh tế Thái Lan bắt đầu có dấu hiệu phục hồi và 5 năm gần
đây (2000-2005), tiếp tục quá trình phục hồi nhằm hướng tới sự phát triển bền vững.



20) United States of America (Hợp chủng quốc Hoa Kỳ)

Nước Mỹ có một nền
kinh tế mạnh, đa
dạng và công nghệ
tiến tiến hàng đầu
thế giới, với GDP
bình quân đầu người
đứng đầu trong các
quốc gia công nghiệp
chủ chốt.

Trong nền kinh tế này, các cá nhân
và doanh nghiệp tư nhân tự quyết
định các hoạt động sản xuất, kinh
doanh và dịch vụ của mình. Chính phủ là người đặt hàng hoặc mua trực tiếp các loại hàng
hoá và dịch vụ cần thiết chủ yếu trên thị trường tư nhân. Các doanh nghiệp Mỹ có tính
thích ứng cao hơn nhiều so với các đối tác của họ ở Tây Âu và Nhật Bản trong việc quyết
định phương án kinh doanh như mở rộng nhà máy, giảm bớt công nhân thừa và triển khai
các sản phẩm mới. Các công ty của Mỹ luôn dẫn đầu trong các lĩnh vực công nghệ thông
tin, y tế, vũ trụ và kỹ thuật quân sự.

Các vấn đề dài hạn cần xử lý của nước Mỹ bao gồm đầu tư chưa thích đáng trong cơ sở
hạ tầng kinh tế, chi phí y tế tăng nhanh do sự lão hoá của dân cư, thâm hụt đáng kể về
thương mại và sự đình trệ của
thu nhập gia đình trong các
nhóm dân cư ở tầng lớp lao
động bậc thấp của nền kinh
tế.

21) Việt Nam


37
Trải qua 20 năm, đến nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng, “công cuộc đối mới đã đạt được
những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử, làm thay đổi rõ rệt bộ mặt của đất nước, cải
thiện đáng kể đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân”.

Việt Nam từng bước làm cho nền kinh tế sống động, sức sản xuất phát triển khá nhanh, cơ
sở vật chất được tăng cường, đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện.

Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đạt 7,5%/năm. Cơ cấu kinh tế ngành, vùng có sự
chuyển dịch tích cực theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Tỷ trọng công nghiệp và
xây dựng trong GDP năm 1998 chiếm 21,6%, đến năm 2005 tăng lên 41%; tỷ trọng nông
nghiệp năm 1998 chiếm 43,6%, đến năm 2005 còn 20,5%; tỷ trọng dịch vụ năm 1998
chiếm 33,1%, đến năm 2005 tăng lên 38,5%. Các thành phần kinh tế cùng phát triển. Hiện
nay, kinh tế Nhà nước đóng góp 8% GDP; kinh tế tư nhân chiếm 37,7% GDP; kinh tế có
vốn đầu tư nước ngoài chiếm 15% GDP. Rất nhiều khu công nghiệp mới, đô thị mới mọc
lên. Hạ tầng cơ sở phát triển mạnh; bộ mặt nông thôn và đô thị thay đổi hàng ngày, hàng
giờ. Hàng hóa phong phú, thị trường nhộn nhịp.




38
PHẦN 2: MỐI QUAN HỆ GIỮA VIỆT NAM VÀ TỔ CHỨC APEC
CHƯƠNG I: VIỆT NAM VÀ TIẾN TRÌNH GIA NHẬP TỔ CHỨC APEC

1.1 Chủ trương, chính sách của Việt Nam khi tham gia APEC
Khi mới được thành lập vào năm cuối cùng của thập niên 80, APEC thực chất chỉ là
một diễn đàn đối thoại khu vực về hợp tác thương mại và đầu tư mà không có vai trò như
một tổ chức hợp tác kinh tế với những cam kết ràng buộc về nghĩa vụ đối với các thành
viên. Các thỏa thuận hợp tác trong khuôn khổ APEC vì vậy không mang tính ràng buộc cao
như trong ASEAN, NAFTA hay WTO. Hợp tác APEC dựa trên các nguyên tắc cơ bản là tự
nguyện, linh hoạt, không ràng buộc và đồng thuận. Là tập hợp của 21 nền kinh tế thành
viên, APEC bao gồm các nền kinh tế năng động thuộc 4 châu lục với 2,6 tỷ dân, chiếm
khoảng 40% dân số thế giới; tổng GDP đạt trên 19 ngàn tỷ USD, xấp xỉ 60% GDP toàn cầu
và tổng giá trị giao dịch thương mại đạt 5,5 ngàn tỷ
USD, chiếm hơn 57% thương mại thế giới [1]. Thành viên của APEC rất đa dạng,
bao gồm các nền kinh tế phát triển nhất thế giới như: Mỹ, Nhật, Úc, Canada cũng như
những nền kinh tế đang phát triển như: Trung Quốc, Nga và Việt Nam... Những số liệu nói
trên cho thấy rằng APEC thực sự là một khu vực kinh tế đóng vai trò đầu tàu trong quá
trình ổn định và phát triển của thương mại quốc tế.

Mục tiêu cơ bản đặt ra của hợp tác APEC là “tiến hành tự do hóa thương mại, đầu
tư vào năm 2010 đối với các thành viên phát triển và năm 2020 đối với các thành viên đang
phát triển”. Để thực hiện đuợc mục tiêu này, các thành viên có thể tùy ý, căn cứ vào thực
tiễn và điều kiện cụ thể của nước mình để đưa ra Kế hoạch hành động quốc gia (IAP)
trong đó vạch rõ lộ trình cắt giảm thuế quan và các biện pháp phi quan thuế khác cũng như
những rào cản đối với đầu tư. Nhận thức được tính linh hoạt, không ràng buộc của hợp tác
APEC như đã phân tích ở trên, đồng thời nhằm tăng cường sự hội nhập của nền kinh tế
Việt Nam vào kinh tế khu vực và thế giới, Việt Nam đã quyết định tham gia APEC với một
số chủ trương cơ bản sau:

Một là, mở rộng thị trường cho các doanh nghiệp Việt Nam mở rộng quan hệ đối
tác kinh doanh, tăng cường xuất khẩu. Như đã phân tích ở trên, APEC là thị truờng của
hơn 2,5 tỷ dân với sức mua lớn như Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc, Australia... APEC cũng có
39
nhiều bạn hàng truyền thống, gần gũi về vị trí địa lý như khối ASEAN, Trung Quốc, Hàn
Quốc, Nhật Bản cũng như các thị trường xa xôi như Chi Lê, Mexicô, Peru và Canađa…
Hơn nữa, do có vị trí địa lý trải trên diện rộng nên thị trường APEC cũng là một thị trường
có nhu cầu các loại hàng hóa vô cùng đa dạng. Với những đặc điểm như trên, APEC thực
sự là một thị truờng có tiềm năng xuất khẩu lớn cho các doanh nghiệp Việt Nam. Theo
thống kê, thị trường các thành viên APEC chiếm hon 70% kim ngạch xuất khẩu của Việt
Nam trong những năm qua. Tham gia APEC, các doanh nghiệp Việt Nam có nhiều điều
kiện và cơ hội tham dự các Hội chợ thương mại, Hội chợ đầu tư cùng hàng loạt hội thảo,
hội nghị khác trong khu vực để có thể nắm bắt tình hình, mở rộng quan hệ kinh doanh với
các đối tác khu vực. Hơn nữa, khi Việt Nam tham gia APEC trên cơ sở tự nguyện và linh
hoạt, các doanh nghiệp cũng sẽ vào sân chơi khu vực với một tâm lý thoải mái hơn so với
các tổ chức hợp tác kinh tế khu vực khác.

Hai là, tham gia APEC để tận dụng sự ủng hộ của các thành viên khu vực trong
quá trình đàm phán gia nhập WTO. Có thể thấy thành viên APEC bao gồm nhiều cường
quốc kinh tế, có tiếng nói quan trọng trong Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) như Mỹ,
Trung Quốc, Nhật Bản, Canada, Australia… Sau khi nộp đơn xin gia nhập WTO 3 năm
(năm 1995), Việt Nam đã chính thức gia nhập APEC cùng với Liên bang Nga và Pê-ru năm
1998, nâng tổng số thành viên chính thức của APEC lên con số 21, trong đó có 2 thành viên
chưa phải thành viên WTO là Liên Bang Nga và Việt Nam. Phương châm của APEC là luôn
ủng hộ các cuộc đàm phán trong WTO bằng những nỗ lực chung của cả khu vực. Chính vì
vậy, APEC luôn lên tiếng ủng hộ sự gia nhập nhanh chóng vào WTO của Nga và Việt Nam
ở cấp Bộ trưởng và Cấp cao để hai thành viên còn lại này có thể cùng APEC đóng góp vào
những nỗ lực chung của khu vực trong quá trình ủng hộ WTO. Thực tế quá trình đàm phán
đã cho thấy quá trình tham gia APEC của Việt Nam đã góp phần đáng kể vào đẩy nhanh
tiến trình đàm phán song phương với các thành viên APEC. Nhiều cuộc đàm phán song
phương của Việt Nam với các đối tác đã được tuyên bố kết thúc bên lề các Hội nghị
APEC, ví dụ: với Chi lê bên lề Hội nghị Bộ trưởng Thương mại APEC 2004, với Hàn
Quốc và Australia bên lề Hội nghị Bộ trưởng Thương mại APEC 2005… Tại các Hội nghị
cấp Bộ trưởng và Cấp cao APEC, Chủ tịch nước, Thủ tướng cũng như các Bộ trưởng ta
đều tích cực vận động các thành viên APEC, đặc biệt là các thành viên quan trọng như Mỹ,
Australia, New Zealand… để đẩy nhanh đàm phán song phương và vận động trong đàm
phán đa phương. Vì vậy, khi gia nhập APEC, Đảng và Nhà nuớc và Chính phủ nước ta đã
xác định đây là cơ hội lớn để Việt Nam hòa nhập hơn nữa với kinh tế khu vực và trên thế
giới. Sự tham gia tích cực của Việt Nam trong APEC sẽ là cơ sở quan trọng trong việc tạo
lập lòng tin cho các bạn bè khu vực và quốc tế, tạo thuận lợi cho quá trình đàm phán gia
nhập WTO của ta.

Ba là tham gia APEC nhằm tạo điều kiện cho các cán bộ làm công tác hoạch định
chính sách và tham gia đàm phán quốc tế cũng như cộng đồng doanh nghiệp của Việt Nam
40
có cơ hội cọ xát, tập duợt trong diễn đàn khu vực truớc khi chính thức bước vào sân chơi
quốc tế với các luật chơi khắt khe hơn rất nhiều như ASEAN và WTO. Có thể nói, APEC là
một trong những diễn đàn khu vực có số lượng lĩnh vực hợp tác vô cùng đa dạng, nếu
không muốn nói là đa dạng nhất trong số các tổ chức kinh tế khu vực và quốc tế mà Việt
Nam đã và đang tham gia. Những lĩnh vực hợp tác của APEC trải rộng từ các lĩnh vực quan
trọng như thuế, phi thuế, dịch vụ, đầu tư, sở hữu trí tuệ đến các lĩnh vực mang tính chuyên
môn ngành như nghề cá, bảo tồn tài nguyên biển, khoa học công nghệ, thương mại điện
tử… Vì thế, khi tham gia APEC, Việt Nam có thể học hỏi đuợc rất nhiều kinh nghiệm quý
báu của các thành viên trong những lĩnh vực trên. Đội ngũ cán bộ tham gia đàm phán có thể
thông qua diễn đàn APEC để tập dượt đàm phán, trau dồi kiến thức và kinh nghiệm đàm
phán nhằm phục vụ cho những cuộc đàm phán quan trọng hơn với những nghĩa vụ ràng
buộc hơn trong ASEAN và WTO.

Bốn là, tham gia APEC để tận dụng các nguồn lực APEC để phục vụ cho công tác
đào tạo và xây dựng năng lực trong nước. Có thể thấy, một trong ba trụ cột hợp tác cơ bản
của APEC là Hợp tác Kinh tế Kỹ thuật (Ecotech), đây là chương trình xây dựng năng lực
chủ yếu có lợi cho các thành viên đang phát triển. Hàng năm, APEC dành gần 7 triệu Đô la
Mỹ để tài trợ cho các dự án xây dựng năng lực trong hầu hết các lĩnh vực hợp tác của
APEC. Đây là một nguồn ngân sách không nhỏ để các thành viên APEC, đặc biệt là các
thành viên đang phát triển có thể khai thác và tận dụng. Việt Nam là một trong những thành
viên non trẻ và kém phát triển nhất trong APEC nên việc đề xuất các dự án của ta luôn
được nhiều thành viên APEC quan tâm và dành những ưu tiên đáng kể. Nếu biết tận dụng
tốt APEC, diễn đàn này sẽ là một nguồn tài chính cũng như kỹ thuật rất lớn để Việt Nam
có thể khai thác, phục vụ mục tiêu phát triển trong nước.

Cuối cùng, tham gia APEC để tăng cường thế và lực của Việt Nam trên trường
quốc tế, đặc biệt là củng cố vị thế và mối quan hệ kinh tế, thương mại giữa Việt Nam và
các nước trong khu vực. Thật vậy, mặc dù APEC tuyên bố thực hiện chủ nghĩa khu vực
mở (open regionalism) song trên thực tế, các thành viên APEC đều nỗ lực hợp tác tạo nên
vị thế cạnh tranh mới của cả một tập thể các nền kinh tế APEC trong mối quan hệ với các
trung tâm kinh tế toàn cầu như EU, Bắc Mỹ, Đông Nam Á… Đây cũng chính là mối quan
tâm của các thành viên khi quyết định tham gia APEC để tạo đuợc cho mình một thế đứng
trong một tập thể lớn, tránh bị cô lập và làm đối trọng với các nuớc khác và chủ trương
tham gia của Việt Nam cũng không nằm ngoài mục tiêu này.

1.2-Sự tham gia của Việt Nam vào hoạt động của APEC

1.2.1 Quá trình tham gia và hoạt động của Việt Nam với APEC

Tháng 6/1996, Việt Nam chính thức nộp đơn xin gia nhập APEC và Hội nghị Thượng đỉnh
thường niên APEC tại Vancuvo, Canada, tháng 11/1997 đã quyết định kết nạp Việt Nam, 41
Nga, Peru là thành viên chính thức của APEC vào tháng 11/1998, nâng tổng số thành viên
lên 21 nước và vùng lãnh thổ. Tại Hội nghị bộ trưởng APEC lần thú 10 tổ chức tại Kuala
Lumpur, ngay 14/11/1999, Việt Nam chính thức trở thành thành viên APEC. Hiện nay APEC
đã ngừng kết nạp thành viên mới để chấn chỉnh tổ chức.

Từ khi là thành viên chính thức của APEC, Việt Nam có đầy đủ quyền và lợi ích cũng như
nghĩa vụ của một thành viên APEC. Trong thời gian qua, sự tham gia của Việt Nam vào
hoạt động APEC như sau:

a. Kế hoạch hành động riêng (IAP)

_Kế hoạch hành động riêng IAP không chỉ là văn bản thể hiện bước đi của Việt
Nam nhằm thực hiện các mục tiêu BoGo về tự do hóa thương mại và đầu tư, mà còn
là công cụ quan trọng để phổ biến các thông tin về chính sách kinh tế-thương mại
của Việt Nam cho các doanh nghiệp thuộc nền kinh tế APEC

_Quá trình thực hiện của Việt Nam

Về triển khai thực hiện kế hoạch hành động riêng IAP, ngay từ tháng 10/1998, Việt
Nam đã nộp bản IAP được đánh giá là nghiêm túc nhất trong số các nền kinh tế mới
gia nhập, với 11/15 lĩnh vực cam kết giữa các bộ, ngành hữu quan. Hằng năm, các
thành viên APEC phải liên tực cập nhật những thay đổi về cơ chế chính sách trong
các lĩnh vực chuyên trách tạo ra những bước tiến mới để hướng tới việc rà soát
tham van IAP của Việt Nam. Thông qua việc xây dựng và đệ trình IAP hằng năm,
Việt Nam đẩy nhanh qua trình minh bạch hóa các chính sách và quy định về kinh tế-
thương mại, cải thiện môi trường kinh doanh cho các doanh nghiệp, đồng thời xúc
tiến quá trình đổi mới các công cụ quản lý kinh tế của đất nước. Ngoài ra, với sự
hỗ trở của các nền kinh tế thành viên APEC, đặc biệt là của Australia, ta đã xây
dựng và áp dụng mẫu IAP mới (e-IAP) từ năm 2001 nhằm làm cho IAP trờ nên rõ
ràng minh bạch hơn với mục tiêu mang lại lợi ích tối đa cho các doanh nghiệp.

b. Kế hoạch hành động tập thể CAP

_Bao hàm nhiều lĩnh vực như thương mại, đầu tư, sự di chuyển của doanh nhân, sở
hữu trí tuệ…Việc tham gia sâu rộng vào các lĩnh vực này đặc biệt khó khăn. Theo sự
chỉ đạo của Chính phủ, những năm vừa qua, đặc biệt là năm 2003, Việt Nam đã tích
cực tham gia mạnh mẽ vào 2 lĩnh vực hợp tác chính là Tiêu chuẩn và Hợp chuẩn
(SCSC) và Thủ tục hải quan (SCCP). Đồng thời, chúng ta tiếp tục đẩy mạnh việc
tham gia một cách có chọn lọc vào các lĩnh vực khác , cụ thể là thúc đẩy chương
trình hợp tác kinh tế-kỹ thuật, du lịch và chương trình thẻ đi lại của doanh nhân
APEC (ABTC).

c. Tranh thủ các chương trình hợp tác kỹ thuật 42
_Việt Nam đã tận dụng cơ chế hợp tác song phương phối hợp với Australia, Nhật
Bản, Mỹ xây dựng hàng loạt các dự án hỗ trợ, nâng cao năng lực, trong đó có những
dự án quan trọng như xây dựng luật cạnh tranh, tổ chức các hoạt động trao đổi
thông tin, đối thoại chính sách, hợp tác nghiên cứu trong APEC; góp phần nâng cao
trình độ và năng lực cán bộ, tăng cường hiểu biết hợp tác APEC nói riêng và hội
nhập kinh tế quốc tế nói chung.

Sau 7 năm hoặt động trong APEC, số lượng dự án hợp tác của Việt Nam trong
khuôn khổ diễn đàn APEC ngày càng tăng, tập trung chủ yếu vào những lĩnh vực
mới như chính sách cạnh tranh , sở hữu trí tuệ, công nghệ sinh học, thương mại
điện tử, công nghệ thông tin. Tính tới nay, Việt Nam đã được thông qua 12 dự án
trong khuôn khổ hợp tác APEC với tổng số tiền khoảng 1,3 triệu USD.

d. Tham gia vào các lĩnh vực khác

Ngoài các chương trình hợp tác về kinh tế, APEC cũng có nhiều hoạt động mang
tính chất xã hội như phụ nữ, thanh niên, người khuyết tật, ..

Theo cam kết của các nhà lãnh đạo APEC thì vấn đề xuyên suốt trong mọi chương
trình hoặt động của APEC. Việt Nam đã tham gia tích cực các hoạt động liên quan
tới vấn đề này thông qua các ví dụ cụ thể như: xây dựng và thực hiện kế hoạc khu
vực về hội nhập của phụ nữ, phổ biến và tuyên truyền về vấn đề giới trong các
cấp, các ngành. Với sự trợ giúp của Canada, Việt Nam đã nâng cao đáng kể trình độ
hiểu biết của người dân về vấn đề này góp phần thực hiện tốt cam kết về giới
trong APEC.

Ngoài ra, Việt Nam cũng tích cực tổ chức đoàn tham gia các diễn đàn thanh niên,
doanh nghiệp trẻ, người tàn tật…

e. Đánh giá về những lợi ích mà Việt Nam có được trong quá trình tham gia
APEC

Khó có thể đo lường những lợi ích cụ thể về thương mại và đầu tư mà Việt Nam
có được trong quá trình tham gia APEC. Nhưng điều đặc biệt quan trọng là thông
qua việc gia nhập và tham gia APEC, Việt Nam tạo ra được một môi trường thuận
lợi hơn để phát triển. thông qua các hoạt động ở một diễn đàn đa phương như
APEC, Việt Nam có cơ hội để thúc đẩy các mối quan hệ song phương với các đối
tác lớn hoặc các đối tác xa cách về địa lý. Gia nhập APEC, khuôn khổ hợp tác có tất
cả các nền kinh tế lớn trong khu vực, Việt Nam có điều kiện thuận lơi thúc đẩy
khuôn khổ quan hệ ổn định và lâu dài với tất cả các nền kinh tế lớn. Tạo dựng
được mối quan hệ “cân bằng” với các nước lớn sẽ giúp Việt Nam có điều kiện

43
thuận lợi để thực hiện mục tiêu cơ bản trở thành là một nước công nghiệp vào năm
2010.

1.2.2.Việt Nam đăng cai tổ chức APEC 2006

Hội nghị cấp cao của APEC mỗi năm diễn ra một lầnvà tổ chức các hội nghị cấp cao là
một trong những hoạt động quan trọng của APEC.Năm 2006 được coi là một trong những
bước tiến quan trọng của Việt Nam,Việt Nam đã đăng cai tổ chức APEC lần thứ 14

1.2.2.1-Chủ đề chính của APEC và 4 tiểu chủ đề

• Chủ đề chính APEC 2006 là “Hướng tới một cộng đồng năng động vì sự phát triển
bền vững và thịnh vượng”.
• 4 tiểu chủ đề

 Tăng cường thương mại và đầu tư thông qua thực hiện lộ trình Busan và thúc
đẩy vòng đàm phán phát triển Doha.

 Tăng cường hợp tác kinh tế-kỹ thuật để thu hẹp khoảng cách và phát triển
bền vững

 Thúc đẩy một môi trường kinh doanh an toàn và thuận lợi

 Tăng cường gắn kết cộng đồng

Cụ thể hóa mục tiêu này được tập trung vào những vấn đề như tăng cường đầu tư
và thương mại theo kế hoạch đã vạch ra ở Busan, và chương trình nghị sự phát
triển Doha. Ngoài ra APEC Viet Nam sẽ tăng cường hợp tác kinh tế, kỹ thuật nhằm
làm giảm khoảng cách và phát triển bền vững, cải thiện môi trường kinh doanh
vững chắc và có thiện chí, thúc đẩy mối liên hệ trong cộng đồng.

Tổ chức APEC 2006 tại Việt Nam là một nhiệm vụ năng nề song cũng là vinh dự to
lới của đất nước. Việc tổ chức APEC 2006 phải đặt yêu cầu về việc để lại dấu ân
về cả nội dung lẫn công tác tổ chức, nâng cao hình ảnh của Việt Nam, một đất
nước cởi mở, năng động, có t ruyền thống văn hóa, an toàn đảm bảo hội nghi được
tiến hành trong không khí hữu nghị, hợp tác, thúc đẩy quan hệ song phương, đẩy
mạnh du lịch, đầu tư vào Việt Nam trong và sau APEC.

1.2.2.2-Công tác chuẩn bị cho APEC

Là thành viên đang phát triển, trình độ phát triển kinh tế vẫn còn mức thấp song
Việt Nam đã được các nền kinh tế thành viên tín nhiệm chọn là chủ nhà của Hội
44
Nghị APEC 2006. Điều này thể hiện sự đánh giá cao của nền kinh tế thành viên đối
với những đóng góp tích chực của Việt Nam trong những năm qua, đồng thời cũng
khẳng định vị thế quốc tế ngày càng cao của Việt Nam trên diễn đàn quốc tế đa
phương. Để đáp lại niềm tin của cộng đồng Quốc tế, Việt Nam làm tốt công tác
chuẩn bị cho sự thành công của APEC 2006 mang đậm bản sắc Việt Nam. Để
chuẩn bị cho hoạt động của APEC 2006, Việt Nam đã có những bước đi rất sớm:

 Tháng 3/2004, Việt Nam đã thành lập Nhóm công tác liên ngành về APEC
2006 nhằm thực hiện các công tác chuẩn bị về thi chọn logo, xác định thời
gian, địa điểm cho tuần lễ cấp cao tổ chức hội nghị quốc tế về chủ đề và các
ưu tiên của APEC 2006.

Với vai trò là chủ nhà khoảng 110 hội nghị các Bộ Trưởng kinh tế APEC, Hội nghị
liên bộ trưởng Ngoại giao-Thương mại APEC, Hội nghị Chủ Tịch/ Tổng giám đốc
các công ty APEC và các sự kiện khác trong tuần lễ cấp cao APEC sẽ được tổ chức
ở Hà nội từ 12/11-19/11. Việt Nam cũng phải xây dựng chủ đề lớn cho hợp tác
APEC trong năm, cụ thể hóa thành các chủ đề nhỏ và triển khai thành các chương
trình hoạt động cụ thể và chủ trì giám sát việc thực hiện.

 Ngày 5/8/2005, Uỷ ban quốc gia về APEC 2006 được thành lập do Phó Thủ
tướng Vũ Khoan làm Chủ tịch. Hai Phó Chủ tịch là Bộ trưởng Bộ Ngoại giao
và Bộ trưởng Bộ Thương mại. Uỷ ban quốc gia về APEC 2006 gồm 5 tiểu
ban: Nội dung, Vật chất - Hậu cần, Anh ninh, Văn hoá Tuyên truyền và Lễ
tân. Ban Thư ký APEC do Thứ trưởng Thường trực Bộ Ngoại giao Lê Công
Phụng (đồng thời là Chủ tịch SOM) làm Trưởng ban. Ban Thư ký có nhiệm
vụ giúp việc cho Uỷ ban quốc gia va điều hành công việc hàng ngày, bao gồm
02 đơn vị trực thuộc là Văn phòng Chủ tịch SOM và Nhóm Task Force.

Ngày 25/1/06 Ủy ban Quốc gia về APEC đã được thành lập và ra mắt tại Hà

Nội khởi động cho những hoạt động chuẩn bị của Việt Nam cho Hội nghi
Cấp cao APEC vào tháng 11/06. Cơ cấu Ủy ban gồm có 5 tiểu ban chuyên
trách về Nội dung, Vật chất-Hậu cần, An ninh, Tuyên truyền-Văn hóa và Lễ
tân . Ban thư ký APEC cũng được thành lập để giúp việc cho Ủy ban Quốc
gia và đã đi vào hoạt động từ tháng 2/06.

->APEC 2006 là sự kiến quốc tế quan trọng, qui mô nhất của mà Việt Nam đứng ra tổ
chức từ trước đến nay. Hội nghị diễn ra trong thời điểm được các nhà ngoại giao mô tả là
rất "thú vị" với Việt Nam do chúng ta vừa trở thành thành viên chính thức của WTO.

1.2.2.3-Các sự kiện quan trọng diễn ra trong kỳ tổ chức APEC


45
Tham dự tuần lễ thượng đỉnh APEC tại Hà Nội có 21 đoàn chính thức với hơn
10.000 người bao gồm hơn 5.000 đại biểu chính thức và tùy tùng, gần 1.000 đại biểu
doanh nghiệp và trên 1.500 phóng viên báo chí…

Theo chương trình, trong tuần lễ cấp cao sẽ có 17 sự kiện chính, trong đó nổi bật là:
Hội nghị các nhà lãnh đạo kinh tế APEC lần thứ 14 (18-19/11), Hội nghị liên bộ trưởng
lần thứ 18, Hội nghị các quan chức cao cấp của APEC tổng kết công việc 2006, Hội nghị
hội đồng tư vấn doanh nhân APEC (14-16/11), Hội nghị thượng đỉnh các Tổng giám đốc
doanh nghiệp (17-19/11).

Một số sự kiện APEC tại Việt Nam

-Hội nghị các nhà lãnh đạo APEC . Địa điểm: Hà Nội, thời gian: 18-19/11. Đây là sự
kiện quan trọng nhất, với sự tham dự của lãnh đạo, nguyên thủ các nền kinh tế APEC.

-Hội nghị liên bộ trưởng ngoại giao-thương mại APEC. Địa diểm: Hà Nội, 15-16/11

-Hội nghị bộ trưởng phụ trách thương mại APEC. Địa điểm:TP.HCM, 1-2/6

-Hội nghị bộ trưởng phụ trách tài chính APEC. Địa điểm:Hà Nội,4-8/9

-Hội nghị bộ trưởng phụ trách doanh nghiệp vừa và nhỏ. Đđ: Hà Nội, 25-29/9

-Hội nghị bộ trưởng phụ trách du lịch. Đđ: Hội An, 12-18/10

-Hội nghị các quan chúc cao cấp SOM I(Hà Nội, 20/2-2/3) SOM II(TPHCM, 20-
30/5),SOM III( miền trung, 3-14/9) SOM kết thúc (Hà Nội, 12/11)

-Hội nghị cấp cao các chủ tịch/tổng giám đốc với sự tham gia của hơn 500 công ty hàng
đầutại khu vực APEC (Đđ: Hà Nội, 17-19/11)

Ngoài ra còn có các hội nghị, hội thảo chuyên ngành của hơn 50 ủy ban, tiểu ban, nhóm
công tác của APEC, trại hè thanh niên APEC 2006, triển lãm hội chợ APEC 2006…


a-Hội nghị các nhà lãnh đạo APEC . Địa điểm: Hà Nội, thời gian: 18-19/11.
Trưa 19-11, Hội nghị Lãnh đạo kinh tế APEC lần thứ 14 (AELM-14) đã kết thúc
thành công, thông qua Tuyên bố Hà Nội và một số văn kiện quan trọng khác, khép lại Tuần
lễ Cấp cao APEC 2006 tại Hà Nội và năm APEC 2006 tại Việt Nam.
Sau hai phiên họp kín ngày 18 và 19-11 tại Trung tâm Hội nghị quốc gia, Hà Nội dưới sự
chủ trì của Chủ tịch Nguyễn Minh Triết, Hội nghị Lãnh đạo Kinh tế APEC lần thứ 14
(AELM-14) đã kết thúc thành công. Trưa 19-11, tại Đại sảnh Trung tâm Hội nghị quốc gia,
Chủ tịch AELM-14 Nguyễn Minh Triết đã đọc tuyên bố Hà Nội, khẳng định sự nhất trí cao
của các nhà lãnh đạo 21 nền kinh tế thành viên APEC về những kết quả của APEC 2006
46
và định hướng phát triển của APEC, khép lại Tuần lễ Cấp cao APEC 2006 (từ ngày 12 đến
19-11) tại Hà Nội và năm APEC Việt Nam 2006.




Chủ tịch Nguyễn Minh Triết đọc Tuyên bố Hà Nội

Trong cuộc họp báo tại Hà Nội chiều 19-11, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết cho
biết với chủ đề “Hướ ng tớ i mộ t c ộ ng đ ồ ng năng đ ộ ng vì phát tri ể n bề n vữ ng
v à thị nh vượ ng” do Việt Nam đề xuất, các nhà Lãnh đạo APEC đã thảo luận hai nội
dung chính là đẩy mạnh thương mại và đầu tư trong một thế giới đang thay đổi và những
nhân tố cơ bản bảo đảm tính năng động, sự tăng trưởng và phát triển bền vững trong
APEC.

• Thứ nhất, các Nhà Lãnh đạo APEC ra một tuyên bố riêng về vòng đàm phán
Doha, khẳng định quyết tâm chính trị mạnh mẽ và đặc biệt nhấn mạnh một số
biện pháp thiết thực nhằm sớm khởi động lại vòng đàm phán. Với tư cách Chủ
tịch Hội nghị Lãnh đạo Kinh tế APEC - 14 và là một thành viên mới của WTO,
Việt Nam đã thể hiện vai trò tích cực trong vấn đề này và coi đây là đóng góp
quan trọng của Việt Nam ngay sau khi trở thành thành viên WTO.
• Thứ hai, các Nhà Lãnh đạo APEC đã phê chuẩn Chương trình Hành động Hà Nội
nhằm thực hiện Lộ trình Busan hướng đến Mục tiêu Bogor. Các Nhà Lãnh đạo
đánh giá cao ý nghĩa và nội dung Bản kế hoạch Hành động, cho rằng đây là cơ
sở mang tính định hướng cho các hoạt động hợp tác kinh tế thương mại của
APEC trong 15 năm tới và góp phần tăng cường và hoàn thiện các cơ chế hợp tác
của APEC. Đây là sáng kiến quan trọng của Việt Nam, để lại dấu ấn của Việt
Nam trong tiến trình phát triển của APEC.
• Thứ ba, các Nhà Lãnh đạo thông qua các khuyến nghị cải cách APEC với nhiều
biện pháp cụ thể nhằm làm cho APEC ngày càng có sức sống mạnh mẽ, năng
động, hiệu quả hơn. Đây là kết quả hết sức có ý nghĩa đối với tương lai phát
triển của APEC.
• Thứ tư, các Nhà Lãnh đạo cam kết cần tiếp tục thúc đẩy các hoạt động hợp tác
nhằm bảo đảm an ninh cho nhân dân trong khu vực. Các Nhà Lãnh đạo cho rằng
chủ nghĩa khủng bố là mối đe dọa nghiêm trọng đến hòa bình, an ninh trên thế
giới và trong khu vực. Theo đó, Hội nghị Lãnh đạo Kinh tế APEC lần thứ 14
hoan nghênh các sáng kiến đã được thông qua về chống khủng bố. Bên cạnh đó,
các Nhà Lãnh đạo cũng nhất trí cần tăng cường và mở rộng hợp tác nhằm ngăn 47
chặn dịch bệnh, thiên tai, những biến động về năng lượng, những nguy cơ có
ảnh hưởng không nhỏ đến sinh mạng và cuộc sống của mọi người dân.
• Thứ năm, các Nhà Lãnh đạo thông qua Tuyên bố của Hội nghị liên Bộ trưởng
Ngoại giao - Kinh tế APEC lần thứ 18 và Tuyên bố của các Hội nghị Bộ trưởng
được tổ chức trong năm 2006 tại Việt Nam gồm Tuyên bố của Hội nghị Bộ
trưởng Thương mại, Hội nghị Bộ trưởng về Cúm gia cầm, Hội nghị Bộ trưởng
Tài chính, Hội nghị Bộ trưởng Doanh nghiệp vừa và nhỏ, Hội nghị Bộ trưởng
Du lịch.

Hội nghị đã thông qua Tuyên bố Hà Nội của Hội nghị Lãnh đạo Kinh tế APEC lần
thứ 14, khẳng định sự nhất trí cao của các Nhà Lãnh đạo về những kết quả của APEC
2006 và định hướng phát triển của APEC.

Chủ tịch Nguyễn Minh Triết cũng thông báo hai hoạt động quan trọng khác của các
Nhà Lãnh đạo APEC bên lề Hội nghị Lãnh đạo Kinh tế APEC lần thứ 14: các Nhà Lãnh
đạo đã có cuộc Đối thoại với Hội đồng Tư vấn Doanh nhân APEC (ABAC); nhiều vị Lãnh
đạo đã tham dự và phát biểu tại Hội nghị thượng đỉnh các Tổng giám đốc Doanh nghiệp
(CEO Summit).




b-Hội nghị liên bộ trưởng ngoại giao-thương mại APEC. Địa diểm: Hà Nội, 15-
16/11




48
(Hội nghị liên bộ trưởng ngoại giao-thương mại APEC. Địa diểm: Hà Nội, 15-
16/11)

Ngày thứ tư của Tuần lễ cấp cao APEC diễn ra với hàng loạt các hoạt động lớn:
Khai mạc Hội nghị liên bộ trưởng Ngoại giao và Thương mại APEC lần thứ 18 (AMM -
18), khai mạc Diễn đàn đầu tư APEC 2006 và tiếp tục Hội nghị Hội đồng tư vấn kinh
doanh lần thứ tư (ABAC-4), cùng hàng loạt các cuộc gặp gỡ song phương, đa phương và
các cuộc họp báo khác.
AMM-18 diễn ra tại Trung tâm hội nghị quốc gia trong thời gian hai ngày với sự tham
dự của các Bộ trưởng đến từ 21 nền kinh tế thành viên. Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Gia
Khiêm và Bộ trưởng Thương mại của Việt Nam Trương Đình Tuyển tham dự hội nghị
này. AMM-18 mở đầu bằng phiên họp kín với những nội dung liên quan đến chính sách
kinh tế trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương. Khai mạc hội nghị, Phó Thủ tướng kiêm
Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Gia Khiêm nhấn mạnh tầm quan trọng của hội nghị đối với
kinh tế toàn cầu và khu vực và coi đây là một trong những sự kiện quan trọng nhất trong
năm APEC 2006. Hội nghị sẽ xem xét những tiến bộ đã đạt được trong năm vừa qua và
thảo luận các hành động và các sáng kiến nhằm thúc đẩy thương mại, đầu tư và xây dựng
một môi trường kinh doanh an toàn, thuận lợi, vì sự phát triển thịnh vượng của khu vực.
Với nhiệm vụ xem xét các nội dung do Hội nghị các quan chức cấp cao phiên tổng
kết (CSOM) đệ trình và để chuẩn bị các báo cáo cuối cùng trình lên Hội nghị các nhà lãnh
đạo kinh tế APEC, sẽ diễn ra trong hai ngày 18 và 19-11 tới, AMM-18 sẽ tập trung vào các
vấn đề: Tăng cường hệ thống thương mại đa phương; Các Thỏa thuận thương mại khu
vực (RTAs) và Hiệp định Thương mại tự do (FTAs); Kế hoạch hành động Hà Nội thực
hiện Lộ trình Bu-xan; Tiến trình hợp tác với Hội đồng tư vấn kinh doanh APEC; Vấn đề
chống khủng bố; Cải cách APEC và tương lai của tiến trình APEC...
Các chủ đề Tăng cường tính minh bạch, chống tham nhũng; An ninh con người; Xây
dựng năng lực và Hợp tác kỹ thuật cũng là những nội dung được các Bộ trưởng chú trọng
trong phiên họp này.
Tại phiên khai mạc, Tổng giám đốc WTO, ông Pa-xcan La-mi cũng đã phát biểu,
thông báo cho các vị bộ trưởng về những diễn biến gần đây nhất xung quanh những cố
gắng khôi phục các vòng đàm phán của WTO.
49
c-Hội nghị các quan chúc cao cấp SOM I(Hà Nội, 20/2-2/3) SOM II(TPHCM, 20-
30/5),SOM III( miền trung, 3-14/9) SOM kết thúc (Hà Nội, 12/11)




(Hội nghị các quan chức cao cấp )

Sáng 12.11, tại Trung tâm Hội nghị quốc gia, phiên không chính thức Hội nghị các
quan chức cấp cao APEC kỳ tổng kết (CSOM) đã khai mạc với sự tham dự của gần 100
đại biểu đến từ 21 nền kinh tế thành viên APEC; đại diện Ban thư ký APEC, Ban thư ký
ASEAN và một số tổ chức quốc tế khác.

CSOM có nhiệm vụ thảo luận, thống nhất những vấn đề đã được bàn thảo tại các cuộc
họp SOM diễn ra trong suốt năm 2006, tập trung vào các nội dung: thúc đẩy tự do thương
mại, phát triển nguồn nhân lực, tăng cường minh bạch hóa, đẩy mạnh hợp tác an ninh, trao
đổi du lịch và văn hóa... Tại CSOM, các đại biểu cũng trao đổi về kế hoạch hành động Hà
Nội để thực hiện lộ trình Busan, biện pháp mẫu về một khu vực mậu dịch tự do và hiệp
định thương mại tự do giữa các thành viên APEC, xem xét đề án về chống vi phạm bản
quyền, chống khủng bố... Liên quan đến vòng đàm phán Doha, có khả năng vào cuối tuần
này, các nhà lãnh đạo các nền kinh tế APEC sẽ đưa ra tuyên bố chung về việc khởi động
lại các cuộc đối thoại, với mục tiêu kết thúc vòng đàm phán Doha vào năm sau.

Một chủ đề khác được bàn luận trong cuộc họp không chính thức là cải cách APEC. Các
đại biểu đã nhất trí thông qua 3 nội dung chính: tăng cường nguồn lực và hiệu quả hoạt
động của Ban thư ký APEC; tăng cường tính liên kết và hiệu quả của các tiến trình APEC;
xây dựng chương trình nghị sự rõ ràng và mang tính trọng tâm. Trong lĩnh vực quyền sở
50
hữu trí tuệ, hội nghị đã nhất trí 2 hướng dẫn mẫu về nâng cao nhận thức công chúng và
đảm bảo loại bỏ hàng giả, hàng vi phạm bản quyền tại nguồn cung.

Các đại biểu cũng nhất trí danh mục những kết quả trong lĩnh vực hợp tác chống khủng bố
của APEC năm 2006, gồm sáng kiến bảo vệ thực phẩm của Mỹ, sáng kiến của Úc về
ngăn chặn tài trợ khủng bố, sáng kiến của Philippines về sổ tay tổng kết công tác chống
khủng bố. Hội nghị cũng nhất trí đưa các đầu mối liên lạc về khôi phục kinh doanh và an
ninh hàng không vào danh bạ các đầu mối liên lạc khẩn cấp về quản lý đại dịch và thảm
họa. Cuối cùng, hội nghị đã nhất trí bầu Đại sứ Park Sang-ki (Hàn Quốc) làm chủ tịch mới
của Nhóm Đặc trách chống khủng bố của APEC (CTTF).

Hôm nay, Hội nghị CSOM họp phiên toàn thể bàn về chương trình tự do hóa và thuận lợi
hóa thương mại và đầu tư, các hoạt động hợp tác kinh tế kỹ thuật, các vấn đề an ninh..

d- Hội nghị hội đồng tư vấn doanh nhân APEC (14-16/11)




(Hội nghị hội đồng tư vấn doanh nhân APEC (14-16/11)

ABAC (APEC Business Advisory Coucil) là Hội đồng tư vấn kinh doanh chính thức
của các nhà lãnh đạo APEC thành lập tháng 11/1995 theo yêu cầu của khu vực kinh tế tư
nhân với mục tiêu tư vấn cho các nhà lãnh đạo về những vấn đề quan trọng hàng đầu liên
quan tới hoạt động kinh doanh trong khu vực. Đại diện cho tiếng nói của doanh nhân trong
khuôn khổ hoạt động của APEC, ABAC là một tổ chức phi chính phủ duy nhất có vai trò
chính thức trong Hội nghị các nhà lãnh đạo kinh tế APEC thông qua một cuộc đối thoại
chính thức…

Trên cơ sở chủ đề chính và lĩnh vực ưu tiên của APEC 2006, ABAC Việt Nam đã cùng các
thành viên ABAC xác định chủ đề vươn tới một cộng đồng APEC thịnh vượng và hài hoà.
51
Trong đó các hoạt động của ABAC sẽ tập trung ưu tiên vào 4 vấn đề là tiến bước trên lộ
trình Busan tiến tới mục tiêu Bogor; cùng xây dựng cộng đồng thịnh vượng, tăng cường
hợp tác kinh tế và kỹ thuật; củng cố môi trường kinh doanh thuận lợi, cải thiện môi
trường kinh doanh và đầu tư; thúc đẩy liên kết, gắn kết cộng đồng APEC…

Các thành viên ABAC đã đưa ra 9 khuyến nghị gửi tới lãnh đạo APEC:
 Kêu gọi nối lại đàm phán Doha
 Giải quyết vấn đề năng lượng
 Thúc đẩy các thoả thuận mậu dịch tiểu khu vực và song phương đồng nhất có chất
lượng cao
 Thúc đẩy thuận lợi hoá thương mại
 Phát triển khu vực tư nhân
 Củng cố hệ thống tài chính
 Thúc đẩy sáng tạo công nghệ
 Quan hệ hợp tác với APEC
 Các vấn đề khác: hợp tác phòng chống dịch bệnh, thiên tai môi trường.
Việc Việt Nam đảm nhiệm chức Chủ tịch ABAC là cơ hội tốt để các doanh nghiệp Việt
Nam đẩy mạnh mở rộng hợp tác và hội nhập quốc tế. Tham gia ABAC, doanh nghiệp Việt
Nam có cơ hội góp tiếng nói chung cùng cộng đồng doanh nghiệp APEC tư vấn cho các
nhà lãnh đạo kinh tế APEC quá trình hoạch định chính sách hợp tác kinh tế chung và xây
dựng các chương trình, dự án và sáng kiến hỗ trợ doanh nghiệp nhằm tạo điều kiện hoàn
thiện và thuận lợi hoá môi trường kinh doanh. Đây cũng là cơ hội để doanh nghiệp Việt
Nam nắm bắt xu hướng phát triển kinh tế thế giới, chủ động tích cực tham gia hội nhập
kinh tế quốc tế.

Tại Hội nghị lần này, các thành viên ABAC Việt Nam đã kiến nghị các nhà lãnh đạo kinh
tế APEC cần sớm thống nhất để có thể nhanh chóng hình thành thị trường mậu dịch tự do
trong khu vực APEC.

ABAC Việt Nam cũng đã chủ động đề xuất một số dự án và ý tưởng hợp tác nhằm hỗ trợ
doanh nghiệp Việt Nam trong quá trình hội nhập như: một chính sách phát triển cho doanh
nghiệp vừa và nhỏ, đặc biệt là các chính sách về vốn; hỗ trợ đào tạo, giảm thiểu thủ tục
hành chính; nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp bằng cách giảm thiểu chi phí
đầu vào (điện, viễn thông, vận tải...).

Ông Hoàng Văn Dũng, Chủ tịch ABAC 2006 cho rằng, đây là cơ hội "vàng" để các doanh
nghiệp Việt Nam quảng bá về mình cũng như học hỏi kinh nghiệm của các doanh nghiệp
đến từ nền kinh tế thành viên. (theo Việt Nameconomy 15/11).


52
e-Hội nghị thượng đỉnh các Tổng giám đốc doanh nghiệp (17-19/11).




(Hội nghị thượng đỉnh các Tổng giám đốc doanh nghiệp (17-19/11))

Chủ đề chính của Hội nghị năm nay sẽ là: “Hướng tới một cộng đồng: Tạo những
cơ hội mới để cùng phát triển”. Hội nghị thượng đỉnh các Tổng Giám đốc doanh nghiệp
APEC là một sự kiện thường niên được tổ chức lần đầu tiên vào năm 1996. Hội nghị
thượng đỉnh các Tổng Giám đốc doanh nghiệp APEC đã trở thành một diễn đàn quan trọng
để các nhà lãnh đạo, các doanh nhân, nhà hoạch định chính sách, nhà nghiên cứu chia sẻ
những kinh nghiệm, kiến nghị và đưa ra những giải pháp nhằm tăng cường hợp tác kinh tế
giữa các doanh nghiệp trung khu vực và giữa khu vực APEC với toàn thế giới. Hội nghị
APEC là một Diễn đàn hợp tác kinh tế khu vực quan trọng, với 21 nền kinh tế thành viên
APEC chiếm 40% dân số, 52% diện tích lãnh thổ, 70% nguồn tài nguyên thiên nhiên và
đóng góp khoảng 56% GDP, 48% thương mại thế giới. Đối với Việt Nam, APEC hiện
chiếm 80% thương mại, 75% vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và hơn 50% vốn ODA của
Việt Nam.
Tới dự hội nghị sẽ có hơn 800 lãnh đạo các tập đoàn đa quốc gia, doanh nghiệp trong khu
vực Châu Á - Thái Bình Dương tham dự Hội nghị. Chương trình của Hội nghị gồm 15
phiên thảo luận về các vấn đề về hợp tác kinh tế, đầu tư, xây dựng môi trường kinh
doanh, về sáng tạo, các khó khăn, thách thức đối với các nền kinh tế đang phát triển.
Diễn đàn xúc tiến thương mại đầu tư với Việt Nam năm 2006 với chủ đề:
“Những cơ hội kinh doanh mới khi Việt Nam trở thành thành viên của tổ chức thương mại
thế giới WTO” dự kiến sẽ được tổ chức vào ngày 16-11tới tại Trung tâm Hội nghị quốc
gia. Tới tham dự diễn đàn sẽ có khoảng trên 800 doanh nghiệp hàng đầu khu vực và Việt
Nam. Với những nội dung thảo luận, diễn đàn sẽ thúc đẩy mạnh mẽ tình hình thương mại
đầu tư giữa các nền kinh tế trong khu vực. Diễn đàn được tổ chức nhằm tăng cường hợp
tác kinh doanh và đầu tư giữa Việt Nam với các nền kinh tế.


53
2.2.4 Ý nghĩa Việt Nam đăng cai tổ chức năm APEC 2006



Đối với Việt Nam, Hội nghị cấp cao APEC Việt Nam năm 2006 không chỉ là một hội nghị
cấp cao bình thường mà là một sự kiện mang tầm vóc quốc gia và quốc tế, một sự kiện có
ý nghĩa kinh tế và chính trị hết sức to lớn đối với toàn bộ tiến trình xây dựng, bảo vệ đất
nước của nhân dân và dân tộc Việt Nam.

● Thứ 1, sự kiện đánh dấu bước trưởng thành phát triển nhanh chóng của Việt Nam sau
20 năm thực hiện Đổi mới và hội nhập với khu vực và quốc tế, được đánh dấu qua các
mốc lớn như tham gia ASEAN năm 1995, tham gia thỏa thuận thiết lập Khu vực thương
mại tự do ASEAN (AFTA) năm 1996, tham gia APEC năm 1998, ký Hiệp định Thương mại
song phương với Hoa Kỳ năm 2000. Những thành tựu nổi bật về mọi mặt của Việt Nam
được cộng đồng quốc tế công nhận và đánh giá cao

●Thứ 2, sự kiện Hội nghị cấp cao AELM 2006, cùng với hàng loạt sự kiện lớn liên tiếp
diễn ra trong năm 2006, như Việt Nam chính thức trở thành thanh viển của WTO, Mỹ trao
Quy chế thương mại bình thường vĩnh viễn (PNTR) cho Việt Nam, các quốc gia châu Á
thành viên Liên hiệp quốc nhất trí đề cử Việt Nam là ứng cử viên cho chiếc ghế thành viên
không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc…đã chứng tỏ sự thừa nhận của quốc
tế đối vời thành công, cũng như tiến trình hội nhập hoàn toàn và đầy đủ của Việt Nam. Sự
kiện này giúp Việt Nam có những thuận lợi mới trong tiến trình mở rộng và làm sâu sắc
thêm quan hệ mọi mặt với các đối tác, đẩy nhanh tiến trình hội nhập, nâng cao mức sông
người dân, giữ vững ổn định chính trị.

●Thứ 3, việc tổ chứ thành công Hội nghị cấp cao AELM tại Hà Nội giúp các nhà lãnh
đạo của APEC, đặc biệt là các nhà lãnh đạo của nền kinh tế lớn trong khu vực thấy được
rõ hơn những thay đổi to lớn, thấy được quyết tâm của chúng ta theo đuổi tiến trình hội
nhập khu vực và quốc tế. điều này góp phần làm nổi bật vị thế của Việt Nam trên bản đồ
chính trị khu vực va thế giới cũng như quảng bá hình hảnh Việt Nam ra thế giới.

●Thứ 4, bên lề hội nghị cấp cao AELM và Hội nghị cấp cao các tổng giám đốc APEC
(APEC CEO Summit 2006) còn có diễn đàn đầu tu phát triển APEC 2006. Diễn đàn này là
nơi trao đổi kinh nghiệm về thu hút và sử dụng đầu tư có hiệu quả nguồn vốn nước ngoài,
khả năng, phương hướng và biện pháp tháo gỡ các rào cản, thúc đẩy hơn nữa luồng chu
chuyển đầu tư trong các nền kinh tế APEC, là nơi thảo luận về cơ hội đầu tư kinh doanh,
quảng bá hình ảnh về môi trường chính sách, tiềm năng và cơ hội đầu tư của các thành
54
viên APEC. Qua việc tiếp xúc với các nền kinh tế đi trước, các cơ quan hoạch định chính
sách của ta đã học hỏi được nhiều kinh nghiệm và rút ra bài học để triển khai trong điều
kiện thực tế ở Việt Nam. Tại hội nghị APEC lần này, Việt Nam đã đưa ra sáng kiến tổ
chứ Diễn đàn xúc tiến thương mại và đầu tư tại Việt Nam và nhận được sự phản hồi khá
tích cực từ các nhà kinh doanh, đầu tư từ nền kinh tế thanh viên APEC. Việc có tới 80%
đại biểu tham dự Diễn đàn đầu tư APEC 2006 đăng ký tham dự Diễn đàn Xúc tiến thương
mại và đầu tư với Việt Nam cho thấy họ đến Việt Nam không chỉ để tham gia các hoạt
động của APEC, mà còn tích cực tìm kiếm các cơ hội làm ăn và đầu tư ở Việt Nam có thể
thấy qua số lượng các hợp đồng đầu tư, buôn bán được ký kết giữa các doanh nghiệp Việt
Nam với các doanh nghiệp tham dự Diễn đàn này lên đến gần 2 tỷ USD. Doanh nghiệp
tháp tùng thủ tướng Nhật Bản để ký kết và dự kiến sẽ triển khai các dự án đầu tư tại Việt
Nam tổng giá trị lên trên 85 tỷ yên ( và con số này còn có thể theo chiều hướng tăng lên )
trong năm 2007.

APEC 2006 ,Việt Nam đã thành công trong việc quảng bá về một đất nước thân thiện
,đầy tiềm năng.Nhận xét về Việt Nam các nhà lãnh đạo cấp cao của các nước nói:


Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc Hồ Cẩm Đào: "Chúng tôi đánh giá rất cao nỗ
lực của Việt Nam trong việc chuẩn bị sự kiện APEC và tin rằng Việt Nam sẽ thu hút được
sự chú ý của thế giới trong vai trò nước chủ nhà".

Tổng thống Mỹ Bush: Laura và tôi có ấn tượng rất tốt đẹp về người dân Việt Nam. Trên
đường từ sân bay về, chúng tôi đã chứng kiến hàng ngàn người đứng chào đón chúng tôi
với nụ cười tươi đẹp trên gương mặt. Chúng tôi rất cảm kích điều đó. Tình hữu nghị của
người dân Việt Nam là một đức tính tuyệt vời. Có thể nói, đó là điều sống còn trong quan
hệ hai nước.Tôi cũng đã đọc nhiều tài liệu về Việt Nam và thấy rằng Việt Nam là một đất
nước rất sôi động, giống như một con hổ còn trẻ".

Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe: "Đây không phải là lần đầu tiên tôi sang thăm Việt
Nam và tôi thực sự ấn tượng với một Việt Nam "phong cảnh hữu tình". Việt Nam là đất
nước rất hấp dẫn với các nhà đầu tư Nhật Bản và sắp tới, số các doanh nghiệp của chúng
tôi tham gia làm ăn tại đây sẽ càng gia tăng. Điều này thể hiện sự đánh giá rất cao của
chúng tôi đối với các bạn. Việc Việt Nam đăng cai tổ chức APEC 2006 chứng tỏ vị thế
quan trọng của mình trong khu vực châu Á và cộng đồng quốc tế".

Thủ tướng Singapore Lý Hiển Long: "APEC Vietnam 2006 có chủ đề là "hướng tới một
cộng đồng năng động vì sự bền vững và thịnh vượng" đã phản ánh cam kết của Diễn đàn
này trong việc thúc đẩy sự phát triển và thịnh vượng của các nước thành viên.Việt Nam
đang là một trong những mối quan tâm lớn nhất đối với các nhà đầu tư Singapore, nhiều
dự án kinh tế quy mô đã được triển khai từ lâu nay giữa doanh nghiệp hai nước. Quan hệ
giữa chính phủ hai nước cũng hết sức gắn bó và thân thiện".

55
Một biên tập viên của tờ Ngôi sao, tờ báo tiếng Anh của Maylaysia ra mỗi ngày
300.000 bản, lần đầu đến Việt Nam, tỏ rõ sự hài lòng: “Năm 1998 khi APEC kết nạp Việt
Nam làm thành viên, tôi đang thường trú tại Bangkok, không được chứng kiến sự kiện
trọng đại đó. Bù lại bây giờ tôi may mắn được “nhìn” Việt Nam trong vai trò chủ nhà. Mới
ở Hà Nội vài ngày nhưng thật nhiều ấn tượng. Chúng tôi chẳng có điều gì để chê trách.

Trưởng phân xã Tân Hoa xã tại Hà Nội Hoàng Hải Mẫn cho rằng, Hội nghị APEC
2006 ghi dấu ấn nhiều cái nhất của Việt Nam, đó là quy mô tổ chức lớn nhất; chuẩn bị chu
đáo, an toàn nhất; điều kiện trang, thiết bị thông tin liên lạc hiện đại nhất… “Tôi đã tham
dự các sự kiện quốc tế lớn do Việt Nam đăng cai tổ chức như Hội nghị Cấp cao ASEAN,
Hội nghị các nước có sử dụng tiếng Pháp, Hội nghị cấp cao ASEM. Nhưng phải nói rằng
Hội nghị APEC 2006 ghi dấu ấn nhiều cái nhất của Việt Nam, đó là tổ chức, quy mô lớn
nhất, sự chuẩn bị chu đáo, an toàn nhất, mọi điều kiện trang, thiết bị thông tin liên lạc hiện
đại nhất. Chúng tôi rất hài lòng vì công việc chạy và hiệu quả” - Hoàng Hải Mẫn nói.

Tờ Nhân dân Nhật báo (Trung Quốc) viết: "Với tư cách là nước chủ nhà của một sự
kiện quốc tế lớn chưa từng có, Việt Nam đã tiến hành các bước chuẩn bị cần thiết cho các
cuộc họp quan trọng của Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á Thái Bình Dương (APEC)". Tờ
báo khẳng định: an ninh là vấn đề được chú trọng đặc biệt của nước chủ nhà. Ngay từ đầu
năm, Việt Nam đã chuẩn bị nhiều chương trình cụ thể từ phương tiện hậu cần đến những
thiết bị cần thiết nhất để đảm bảo an toàn tuyệt đối cho APEC...




56
CHƯƠNG II : VIỆT NAM – APEC CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI CỘNG
ĐỒNG DOANH NGHIỆP

2.1-Nhận định chung:

Khi mới được thành lập vào năm cuối cùng của thập niên 80, APEC thực chất chỉ là
một diễn đàn đối thoại khu vực về hợp tác thương mại và đầu tư mà không có vai trò như
một tổ chức hợp tác kinh tế với những cam kết ràng buộc về nghĩa vụ đối với các thành
viên. Các thỏa thuận hợp tác trong khuôn khổ APEC vì vậy không mang tính ràng buộc cao
như trong ASEAN, NAFTA hay WTO. Hợp tác APEC dựa trên các nguyên tắc cơ bản là tự
nguyện, linh hoạt, không ràng buộc và đồng thuận. Là tập hợp của 21 nền kinh tế thành
viên, APEC bao gồm các nền kinh tế năng động thuộc 4 châu lục với 2,6 tỷ dân, chiếm
khoảng 40% dân số thế giới; tổng GDP đạt trên 19 ngàn tỷ USD, xấp xỉ 60% GDP toàn cầu
và tổng giá trị giao dịch thương mại đạt 5,5 ngàn tỷ USD, chiếm hơn 57% thương mại thế
giới. Thành viên của APEC rất đa dạng, bao gồm các nền kinh tế phát triển nhất thế giới
như: Mỹ, Nhật, Úc, Canada cũng như những nền kinh tế đang phát triển như: Trung Quốc,
Nga và Việt Nam... Những số liệu nói trên cho thấy rằng APEC thực sự là một khu vực
kinh tế đóng vai trò đầu tàu trong quá trình ổn định và phát triển của thương mại quốc tế.

Xét về mặt thương mại, thị trường APEC có tiềm năng rất lớn đối với các doanh
nghiệp của ta. Thống kê những năm gần đây cho thấy kim ngạch xuất khẩu sang thị
trường 2,6 tỷ dân này chiếm khoảng 70% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam.
Những mặt hàng ta có thế mạnh xuất khẩu đều có đối tác ở các thành viên APEC và nhiều
mặt hàng mang tính chiến lược đều đã và đang được xuất khẩu rất mạnh sang khu vực
này. Trong APEC, Việt Nam có nhiều đối tác quan trọng như các nước ASEAN, Nhật Bản,
Trung Quốc, Mỹ, Australia. Ngoài ra, 75% đầu tư trực tiếp nước ngoài và hơn 50% viện
trợ phát triển chính thức (ODA) vào Việt Nam hiện nay cũng đến từ các thành viên APEC.
Từ đó, có thể khẳng định sự ổn định và phát triển của các thành viên APEC có ảnh hưởng
đáng kể đến sự tăng trưởng kinh tế liên tục của Việt Nam trong những năm qua cũng như
trong thời gian tới.

57
Để thúc đẩy tiến trình hội nhập của nền kinh tế Việt Nam vào kinh tế khu vực và
thế giới, Việt Nam đã chính thức gia nhập APEC vào ngày 14/11/1998 cùng với Nga và
Peru. Trong 11 năm qua, tuy là thành viên mới của APEC nhưng Việt Nam đã tích cực, chủ
động tham gia ngày càng sâu rộng vào hầu hết các chương trình hợp tác của APEC về tự
do hoá và thuận lợi hóa thương mại, đầu tư, hợp tác kinh tế kỹ thuật và tạo thuận lợi cho
cộng đồng doanh nghiệp... khẳng định quyết tâm của Việt Nam tiếp tục một cách kiên
định đường lối và chính sách đổi mới kinh tế, hội nhập sâu rộng hơn vào kinh tế khu vực
và thế giới. Hơn thế, tự tin vào khả năng của mình, Việt Nam đã tuyên bố đăng cai năm
APEC 2006 tại Hội nghị Cấp cao APEC 10, Los Cabos, Mê-xi-cô, cuối năm 2002. Điều này
cho thấy sự trưởng thành nhanh chóng của Việt Nam, một thành viên non trẻ nhất trong
APEC, về cả hợp tác chuyên môn lẫn khả năng tổ chức những Hội nghị lớn mang tầm khu
vực và quốc tế. Việc tổ chức một cách thành công cả về nội dung lẫn hậu cần cho Hội
nghị các Quan chức Cao cấp APEC lần thứ nhất cùng hàng chục Hội nghị liên quan tại Hà
Nội cuối tháng 2/2006 vừa qua đã được bạn bè quốc tế đánh giá rất cao và là sự khởi đầu
tốt đẹp cho cả năm APEC 2006 tại Việt Nam.

Chìa khóa cho sự thành công của APEC là duy trì được mối quan hệ đối tác bền
vững giữa Chính phủ với cộng đồng doanh nghiệp. Kinh doanh luôn là động lực cho phát
triển kinh tế và APEC ghi nhận rằng việc tạo dựng một môi trường, trong đó kinh doanh
được chú trọng phát triển, sẽ là yếu tố sống còn để đem lại việc làm và nâng cao mức
sống. Do vậy, APEC đã đặt mục tiêu xây dựng và phát triển một môi trường kinh doanh an
toàn, minh bạch, công bằng và ổn định thông qua các biện pháp như cắt giảm thuế và các
rào cản phi thuế đối với thương mại, tăng cường tiếp cận thị trường, đẩy mạnh xuất
khẩu, tạo thuận lợi cho thương mại thông qua việc giảm các chi phí giao dịch và khuyến
khích sự đi lại của doanh nhân, hài hòa hóa các thủ tục hải quan, các loại tiêu chuẩn và quy
trình đánh giá hợp chuẩn nhằm xây dựng các nền kinh tế có sự phát triển toàn diện. APEC
đã và đang phấn đấu tạo dựng một môi trường thuận lợi cho việc lưu chuyển một cách an
toàn và hiệu quả các loại hàng hoá, dịch vụ cũng như con người giữa các thành viên thông
qua quá trình phối hợp chính sách và hợp tác kinh tế, kỹ thuật.

Thực tế cho thấy, hợp tác APEC đã mang lại không ít cơ hội thuận lợi cho các
doanh nghiệp trong việc mở rộng sản xuất, tăng cường quan hệ đối tác kinh doanh và tiếp
cận thị trường. Tuy nhiên, nó cũng tạo ra một số thách thức đối với các doanh nghiệp, đặc
biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Dù vậy, bản chất hợp tác của APEC là dựa trên
nguyên tắc tự nguyện, linh hoạt và không ràng buộc nên xét trong ngắn hạn, mức độ tác
động của các biện pháp và chương trình hợp tác đã và đang được thực thi không bộc lộ
một cách trực tiếp, mạnh mẽ như các biện pháp và cam kết đưa ra trong WTO và ASEAN
hay trong các Thỏa thuận thương mại tự do… Xét về dài hạn, hợp tác APEC là thực sự có
ích đối với tổng thể nền kinh tế Việt Nam nói chung cũng như cộng đồng doanh nghiệp
trong nước nói riêng bởi các tác động chính sách của APEC thường mang tính định hướng 58
lâu dài với mục tiêu khuyến khích quá trình kinh doanh của cộng đồng doanh nghiệp và khu
vực tư nhân, là cầu nối cho các doanh nghiệp khu vực và cũng là nơi tập dượt của các
doanh nghiệp trong nước trước khi bước vào sân chơi với những cam kết ràng buộc và khó
khăn hơn của ASEAN, WTO hay trong các thỏa thuận thương mại tự do khu vực và song
phương mà Việt Nam đã và sẽ tham gia như với Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn
Độ...



2.2-Cơ hội và thách thức:

2.2.1-Cơ hội:

Thời gian qua, APEC đã và đang đẩy mạnh việc thực hiện mục tiêu tạo thuận lợi
một cách tối đa cho cộng đồng doanh nghiệp. Trên thực tế, khó có thể lượng hóa được
những gì mà doanh nghiệp khu vực đã được hưởng từ tiến trình tự do hoá và thuận lợi hoá
thương mại APEC vì một số lợi ích là hữu hình, một số là vô hình, một số có tính dài hạn,
số khác lại là ngắn hạn. Qua phân tích dưới đây, doanh nghiệp có thể hình dung một bức
tranh tổng thể về những cơ hội và lợi ích mà APEC đã và sẽ tiếp tục mang lại để xác định
đường hướng cho riêng mình trong quá trình tham gia vào các hoạt động của APEC trong
thời gian tới.

Trước hết, tự do hoá thương mại và đầu tư trong APEC tập trung vào việc tăng
cường tiếp cận và mở cửa thị trường, cắt giảm và dần dần tiến tới loại bỏ hoàn toàn các
rào cản thuế quan và phi quan thuế đối với thương mại và đầu tư trong khu vực. Các biện
pháp tự do hoá đã dẫn tới việc cắt giảm khá lớn các loại thuế suất trong nhiều ngành hàng.

Có thể thấy trong thập kỷ đầu tiên kể từ khi thành lập, các nền kinh tế thành viên
APEC đã tạo ra xấp xỉ 70% tăng trưởng kinh tế toàn cầu. Khu vực APEC đã liên tục có sự
phát triển kinh tế vượt trội so với các khu vực khác trên thế giới, ngay cả trong thời gian
diễn ra khủng hoảng tài chính Châu Á. Các thành viên hợp tác nhằm thúc đẩy tăng trưởng
kinh tế thông qua các cam kết cải cách kinh tế và tiến tới thương mại, đầu tư an toàn, tự
do và thông thoáng hơn. Qua nhiều chương trình, các thành viên đã liên tục giảm thuế và xử
lý các rào cản thương mại sau biên giới (behind the border issues), đáp ứng ngày càng tốt
hơn các nhu cầu của doanh nghiệp trong khu vực và tạo điều kiện cho việc kinh doanh dễ
dàng với chi phí rẻ hơn. Thông qua các chương trình về hài hoà tiêu chuẩn, APEC đã xây
dựng những thoả thuận thừa nhận lẫn nhau trong nhiều lĩnh vực như thiết bị viễn thông,
thiết bị điện và điện tử, thực phẩm và đồ chơi. Những thỏa thuận này đã giúp giảm 15%
chi phí dành cho việc đầu tư các thiết bị kiểm tra và chứng nhận cũng như nhân lực cho
việc tiến hành kiểm tra chất lượng sản phẩm.
59
Bên cạnh đó, chương trình Thẻ đi lại của doanh nhân là một bước tiến lớn trong
việc tạo thuận lợi cho việc đi lại của các doanh nhân khu vực. Với thẻ này, các doanh nhân
có thể tiết kiệm khá nhiều thời gian, công sức do không còn phải xin thị thực nhập cảnh
vào các thành viên APEC đồng thời được hưởng một lối nhập cảnh đặc biệt dành riêng
cho doanh nhân APEC tại các cảng hàng không quốc tế lớn. Ngoài ra, nhằm tạo thuận lợi
cho kinh doanh qua mạng trong thời đại kỹ thuật số, APEC cũng đang xúc tiến các hoạt
động phát triển thương mại điện tử, hỗ trợ năng lực ứng dụng thương mại điện tử cho các
doanh nghiệp APEC, cải thiện môi trường kinh doanh cho thương mại điện tử.

Để tiện cho việc tìm kiếm, cập nhật thông tin của các doanh nghiệp, APEC đã xây
dựng trang web riêng tại http://www.APEC.org trong đó bao gồm nhiều thông tin về hệ
thống chính sách kinh tế - thương mại của các thành viên, các biểu thuế áp dụng, hướng
dẫn về quy chế điều hành thương mại và đầu tư... Thêm vào đó, APEC còn xuất bản
nhiều ấn phẩm khác cung cấp thông tin một cách đầy đủ, ngắn gọn và dễ sử dụng, ví dụ
Bản Hướng dẫn về Đầu tư APEC cung cấp thông tin về khuôn khổ chính sách và thuận lợi
hoá đầu tư, bảo hộ đầu tư, khuyến khích đầu tư, tóm lược các hiệp định/luật đầu tư quốc
tế mà các thành viên APEC tham gia, đánh giá xu hướng đầu tư nước ngoài... Trong cuốn
sổ tay Hải quan và Thuận lợi hoá thương mại APEC, ngoài các thông tin về quy định và
thủ tục hải quan còn cung cấp danh mục các điều khoản doanh nghiệp cần biết khi tiến
hành kinh doanh với từng thành viên APEC cụ thể. Những thông tin như vậy thực sự rất
hữu ích cho doanh nghiệp trong quá trình tìm hiểu cơ chế, chính sách của các thành viên
APEC để có định hướng kinh doanh và đầu tư đúng đắn. Thời gian tới, APEC vẫn tiếp tục
đặt doanh nghiệp làm trọng tâm trong chương trình nghị sự, chú trọng khảo sát nhu cầu
của doanh nghiệp để thiết kế các chương trình hỗ trợ phục vụ sâu sát nhu cầu thực tế của
doanh nghiệp.

Những thành quả nổi bật thời gian qua APEC đã mang lại cho các nền kinh tế
thành viên và cộng đồng doanh nghiệp khu vực có thể tóm lược như sau:

- Thuế quan bình quân trong khu vực APEC đã giảm từ 16,6% vào năm 1988 xuống
còn khoảng 8% hiện nay;

- Hầu hết các rào cản phi quan thuế đã được chuyển thành thuế nhập khẩu;

- Các rào cản đầu tư đã được cắt giảm một cách đáng kể, thực hiện cơ chế đầu tư
một cửa, giảm thiểu các rào cản sau biên giới đối với đầu tư;

- APEC hiện chiếm tới 51% tổng GDP và 71% tổng thương mại toàn cầu. Trong số
14 nền kinh tế lớn nhất thế giới với GDP lớn hơn 500 tỷ USD, thì có 7 nền kinh tế là thành
viên của APEC, trong đó có 2 nền kinh tế lớn nhất thế giới là Mỹ và Nhật Bản.
60
- Lưu chuyển vốn toàn cầu giữa APEC với khu vực bên ngoài tăng gần 8 lần, đạt
1,4 nghìn tỉ USD trong vòng 20 năm qua. Các thành viên APEC đóng góp tới 80% kim ngạch
xuất khẩu và 75% nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam.

- Tổng sản phẩm quốc nội của APEC tính trên đầu người đã tăng 26% trong
khoảng thời gian từ năm 1989 đến năm 2004;

- Các nền kinh tế có thu nhập thấp trong APEC đã tăng trưởng một cách khá mạnh
mẽ trong thời gian qua.

Tham gia APEC, Việt Nam có thêm điều kiện tiếp cận thị trường rộng lớn và tiềm
năng của khu vực châu Á - Thái Bình Dương, khu vực đầy năng động và theo nhiều nhận
định là trung tâm của thế giới. Việc Việt Nam tham gia APEC đã đem lại lợi ích "vô hình"
nhưng cực kỳ quan trọng; đó là môi trường quốc tế thuận lợi , vị thế quốc tế được nâng
cao,có uy tín lớn hơn và tiếng nói có trọng lượng hơn, từ đó có điều kiện mở rộng và đa
dạng hóa thị trường, tranh thủ thêm vốn và công nghệ để phát triển.
Tham gia APEC Việt Nam co cơ hội tham gia các Hội nghị bộ trưởng thương mại và
ngoại giao hàng năm, và đặc biệt là Hội nghị Cấp cao của các nền kinh tế (từ năm 1993)
đây là cơ hội quý báu để thực hiện các cuộc gặp song phương cấp cao và để tham gia vào
việc quyết định các vấn đề quan trọng trong khu vực

Sự hợp tác trong khuôn khổ APEC giúp Việt Nam đổi mới một số cơ chế chính sách
thương mại cho phù hợp luật lệ chung, tranh thủ được sự trợ giúp trong việc đào tạo nhân
lực, thí dụ vừa qua đã tổ chức được các lớp tập huấn về khuôn khổ pháp lý cho thương
mại điện tử.
Về kinh tế, Việt Nam tiếp cận tốt hơn với nhiều nguồn vốn hơn, với công nghệ hiện
đại và kiến thức quản lý thông qua các hoạt động thương mại và đầu tư chặt chẽ hơn với
các thành viên APEC khác, trong đó có cả những nền kinh tế lớn nhất thế giới (như Hoa
Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc, Ca-na-đa). Các sự kiện hàng năm của APEC như Hội nghị
Thượng đỉnh CEO APEC, Hội chợ Cơ hội Đầu tư, Đối thoại giữa các nhà lãnh đạo với
Hội đồng tư vấn doanh nhân APEC (ABAC) đang kết nối một cách có hiệu quả các doanh
nghiệp Việt Nam với cộng đồng doanh nghiệp khu vực để làm ăn cùng có lợi.

Vào thời điểm tháng 12 năm 2004, 65,6% tổng đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt
Nam là từ các nền kinh tế thành viên APEC, đồng thời các nền kinh tế thành viên APEC
chiếm 60% tổng giá trị xuất khẩu của Việt Nam và 80% tổng giá trị nhập khẩu của Việt
Nam

Đến tháng 11 năm 2008, vốn FDI đổ vào Việt Nam đạt 61 tỷ USD, trong đó khoảng
75% đến từ các nền kinh tế thành viên APEC. Đối với hoạt động xuất khẩu, khu vực châu
61
Á - Thái Bình Dương đã và đang đóng vai trò quan trọng đối với tiềm năng xuất khẩu của
Việt Nam. Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam năm nay sang thị trường khu vực này đạt
khoảng 33,5 tỷ USD, chiếm quá nửa tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam.

2.2.2-Thách thức:

Tham gia APEC, Chính phủ và cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam có thể nắm bắt
được nhiều vận hội và lợi ích thiết thực như đã nêu ở trên. Tuy nhiên, song song với cơ
hội và lợi ích, bao giờ cũng tồn tại các trở ngại và thách thức. Nhận biết đầy đủ các thách
thức này sẽ giúp ta chuẩn bị tốt hơn để vừa đối phó, vừa xoay chuyển phù hợp để tối đa
hóa lợi ích cho mình. Dưới đây là một số thách thức cơ bản đối với Chính phủ và các
doanh nghiệp khi tham gia APEC:

 Thách thức đối với Chính phủ.

Thứ nhất, nhận thức về APEC trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của phần
lớn đội ngũ cán bộ, giới học giả, cộng đồng doanh nghiệp cũng như quần chúng nhân dân
còn nhiều hạn chế. Khi tham gia APEC nhiều người vẫn chỉ nghĩ một cách đơn thuần đây
là một trong số những tổ chức mà Việt Nam tham gia, người ta chưa thật sự hiểu được
những lợi ích mà Việt Nam có được khi tham gia vào APEC.Vấn đề này một phần do công
tác, tuyên truyền, phổ biến về APEC mới chỉ được thực hiện ở mức độ nhất định cả về
nội dung, hình thức và đối tượng. Hơn nữa, như đã đề cập ở trên, tác động của tiến trình
APEC đến các nền kinh tế không mang tính trực tiếp, trong ngắn hạn và bản chất của hợp
tác APEC là tự nguyện và không ràng buộc nên nhiều khi APEC vẫn chưa được chú trọng
đúng mức.

Thứ hai, hệ thống pháp luật về thương mại, đầu tư của Việt Nam còn nhiều bất
cập, chưa thực sự phù hợp với thông lệ quốc tế và còn phải mất khá nhiều thời gian, công
sức để hoàn thiện.Ngay như Luật đầu tư từ khi gia nhập APEC đến nay cũng đã qua 2 lần
sửa đổi(năm 1990 và năm 2005) nhưng khi đưa vào thực thi vẫn còn nhiều sai sót,cần phải
hoàn thiện hơn. Cho tới nay, hệ thống chính sách thương mại và các chính sách vĩ mô có
liên quan của Việt Nam vẫn còn nhiều chồng chéo, chưa đồng bộ, chưa thực sự khuyến
khích quá trình mở rộng quan hệ buôn bán, đầu tư, hợp tác kinh tế kỹ thuật của Việt Nam
trong APEC. Một số biện pháp chính sách tạo lợi thế cho kinh tế thương mại được các tổ
chức quốc tế thừa nhận thì ta lại chưa có hoặc đang trong quá trình xây dựng.

Thứ ba, hạn chế về nguồn nhân lực. Hiện nay, chúng ta đang thiếu đội ngũ cán bộ
giỏi, có chuyên môn cao và bề dày kinh nghiệm trong hợp tác kinh tế quốc tế. Trình độ cán
bộ tham gia trực tiếp vào công tác hội nhập cũng như thực hiện các cam kết quốc tế còn
thấp so với mặt bằng chung của khu vực. Giả như đội ngũ cán bộ về quản lý nguồn nhân
62
lực, quản lý chung, một năm nước ta có rất nhiều người ra trường với các nghành nghề
trên nhưng thực sự giỏi, quản lý tốt thì sự thực là không có được là bao nhiêu,ta vẫn cần
các chuyên gia nước ngoài,cần một lực lượng có trình độ chuyên môn cao hơn,kinh nghiệm
tốt hơn.Một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến tình trạng này là từ trước tới nay
Việt Nam chưa có một chính sách quy hoạch đồng bộ và ưu tiên thích đáng. Vấn đề thực
thi chính sách còn nhiều bất cập cũng có một phần nguyên nhân ở sự hạn chế về trình độ
chuyên môn và năng lực thực thi pháp luật. Cụ thể hơn, sự hiểu biết hạn chế về cơ chế thị
trường và sự vận hành của nó cũng như những quy định của thương mại quốc tế đang gây
cản trở cho việc tham gia một cách xây dựng và chủ động trong hợp tác APEC.

Thứ tư, khó khăn mang tính khách quan trong hợp tác APEC là tính bị động của các
nền kinh tế nhỏ và đang phát triển. Những nền kinh tế này, chủ yếu do hạn chế về tiềm
lực kinh tế, có lợi ích hạn chế hơn và có xu hướng bị phụ thuộc vào các nền kinh tế lớn
hơn. Vấn đề chính ở đây là trong bối cảnh nền kinh tế thế giới có nhiều biến động thì
tiềm lực kinh tế thấp sẽ hạn chế rất nhiều cơ hội và lợi ích của các nước đang phát triển
như Việt Nam.Như cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 vừa qua,bắt đầu từ sự sụp đổ
của hệ thống tài chính kéo theo hệ quả là cuộc khủng hoảng về kinh tế,biểu hiện là hàng
ngàn người mất việc,tỷ lệ lạm phát tăng cao,đời sống người dân gặp nhiều khó khăn,mức
sống bị giảm sút,ban đầu là từ Mỹ rồi lan truyền ra khắp thế giới,không một nước nào có
thể tránh khỏi.Mặc dù khi tham gia vào nền kinh tế thế giới,hội nhập nền kinh tế mở cửa
thì bị ảnh hưởng là một điều rất khó tránh khỏi,nhưng điều đáng nói ở đây là việc một
nước nhỏ như Việt Nam khi bị ảnh hưởng thì ảnh hưởng rất lớn nhưng việc khôi phục lại
nền kinh tế,đưa nó vào quỹ đạo phát triển như bình thường là một điều hết sức khó
khăn,ta còn phải chịu nhiều sự chi phối từ các nước khác,như Mỹ_ta đang mong chờ sự đi
lên của một nền kinh tế lớn để có cơ hội thúc đẩy nền kinh tế nước nhà.một giả thiết
được đặt ra là nếu như cuộc khủng hoảng kinh tế vừa qua không phải từ Mỹ mà từ một
nước nhỏ (như Việt Nam chẳng hạn) thì liệu cuộc khủng hoảng có xảy ra trên phạm vi
toàn cầu không?Các nước có bị ảnh hưởng không?Có thể là có nhưng chắc chỉ là một vài
nước hay chỉ bị ảnh hưởng một ít thôi.Từ đó cho ta thấy được sự phụ thuộc của Việt Nam
vào nền kinh tế lớn hơn.

 Thách thức đối với cộng đồng doanh nghiệp

Cũng như Chính phủ, các doanh nghiệp khi tham gia APEC cũng sẽ gặp một số khó
khăn nhất định, cụ thể là:

Thứ nhất, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam nhìn chung còn yếu,
năng lực sản xuất, năng lực công nghệ, năng lực vốn và kinh nghiệm quản lý đều kém sức
cạnh tranh hơn so với mặt bằng chung của doanh nghiệp khu vực. Do vậy, khả năng cạnh
tranh cũng theo đó chưa thể so sánh được với các doanh nghiệp cùng ngành nghề trong
63
APEC.   Theo số liệu năm 2003 ta có về khả năng cạnh tranh trong xuất khẩu và du lịch
(bao gồm kim ngạch xuất khẩu; kim ngạch xuất khẩu tính theo đầu người; tăng trưởng
kim ngạch xuất khẩu tính theo đầu người, thu nhập từ du lịch tính theo đầu người; tổng
kim ngạch dịch vụ xuất khẩu): Tính đến giữa năm 2003, Việt Nam có kim ngạch xuất
khẩu chỉ ở mức trung bình yếu trong khu vực châu Á, với tỷ lệ khoảng 45% GDP. Trong
khi đó, tỷ lệ này của Singapore là 152% và Trung Quốc là 22%. Năm 2001, Việt Nam nhập
siêu 1,2 tỷ USD, bằng 8% xuất khẩu, năm 2002 là 3 tỷ USD, bằng 18% xuất khẩu; năm
2003 lên tới 4,5 tỷ USD (về số tuyệt đối là năm cao nhất từ trước đến nay), bằng 23%
xuất khẩu và 11% GDP.Hàng hóa của ta nhập nhiều hơn xuất từ đó cũng đã thấy được
hàng hóa của các nước khác có khả năng cạnh tranh cao hơn,được người tiêu dùng tín
nhiệm hơn.Một thực trạng dễ thấy là ngay như người Việt Nam cũng thích sử dụng hàng
ngoại hơn(ví dụ như tivi sử dụng tivi tosiba của Nhật,sasung của hàn Quốc…),bởi lẽ hàng
các nước khác làm có chất lượng cao hơn,mẫu mã đẹp hơn…vậy nên dù trong nước cũng
có sản xuất các mặt hàng tương tự,gía cả thấp hơn nhưng vẫn ít người tiêu dùng hơn..

Thứ hai, đại đa số các doanh nghiệp Việt Nam chưa có nhận thức sâu về các
chương trình hợp tác APEC. Nhiều doanh nghiệp vẫn tỏ ra thờ ơ, không quan tâm tới vai
trò và lợi ích mà APEC mang lại cho bản thân doanh nghiệp. Về phía Chính phủ, Việt Nam
cũng chưa khai thác triệt để các cơ hội trong APEC để phục vụ cho các doanh nghiệp.
Những nỗ lực ban đầu là đáng kể nhưng là chưa đủ so với tiềm năng tạo nên cơ hội lớn
cho quá trình hợp tác APEC.

Thứ ba, quan hệ của bản thân các doanh nghiệp Việt Nam với cộng đồng doanh
nghiệp trong khu vực cũng còn nhiều hạn chế. Cho tới nay, Việt Nam thực hiện chính sách
đổi mới đã tròn 20 năm nhưng các doanh nghiệp vẫn chưa tạo lập được những mối quan
hệ mang tính bền vững với các doanh nghiệp trong và ngoài khu vực. Cách thức kinh doanh
vẫn mang tính nhỏ lẻ, rời rạc. Việc tham dự các Hội chợ thương mại, đầu tư trong khu
vực Châu Á - Thái Bình Dương cũng chưa được tổ chức một cách bài bản, hệ thống và liên
tục.

Thứ tư, sự yếu kém trong liên kết giữa các doanh nghiệp trong nước, bản thân các
doanh nghiệp nội địa vẫn chưa thực sự chủ động kết hợp lẫn nhau nhằm chia sẻ kinh
nghiệm quản lý, kinh nghiệm kinh doanh thông qua tổ chức diễn đàn/hội nghị, hội thảo
trao đổi kinh nghiệm, cập nhật thông tin về các đối tác cạnh tranh trong khu vực và trên thế
giới để có phương án và cách tiếp cận hợp lý trong quá trình nâng cao tính cạnh tranh của
Hiệp hội các doanh nghiệp trong nước trong các ngành Kinh doanh hàng hóa và dịch vụ.
Như trong lĩnh vực du lịch,những năm qua, chúng ta vẫn đang đi tìm những mô hình du lịch
nhằm hấp dẫn du khách tới Việt Nam. Tuy nhiên, có thể thấy đến nay, chúng ta vẫn chỉ có
một ngành du lịch còn rời rạc, các doanh nghiệp du lịch, các vùng du lịch chưa có sự liên
64
kết chặt chẽ với nhau. Lấy gì, làm gì để thu hút khách du lịch tới Việt Nam vẫn là câu hỏi
mà nhiều doanh nghiệp đang tìm câu trả lời.

Như vậy, việc biết tận dụng một cách hiệu quả những cơ hội thuận lợi và giảm
thiểu những thách thức tiềm năng chính là chìa khóa cơ bản cho Việt Nam nói chung và
cộng đồng doanh nghiệp nói riêng đạt được những thành công nhất định trong quá trình
tham gia APEC. Tuy nhiên, cơ hội lúc nào cũng có nhưng việc hiểu, tận dụng và nắm bắt
các cơ hội đó như thế nào mới là điều quan trọng và điều này lại phụ thuộc chủ yếu vào ý
thức và sự vận động nội tại của bản thân các doanh nghiệp với sự hỗ trợ về mặt cơ chế
và chính sách từ phía Chính phủ.



CHƯƠNG III NHỮNG THÀNH TỰU VIỆT NAM ĐẠT ĐƯỢC KHI GIA NHẬP APEC

3.1 Nhận xét quá trình Việt Nam tham gia APEC

Nhìn chung, kết quả tham gia APEC trong những năm qua là rất đáng khích lệ

Thứ 1, chúng ta có thêm một diễn đàn phục vụ mục đích đối ngoại đa phương hóa, đa
dạng háo quan hệ, nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.

Việc tham gia diễn đàn APEC không chỉ giúp chúng ta tăng cường quan hệ với các nền
kinh tế thành viên trong APEC, mà còn giúp chúng ta củng cố quan hệ song phương với các
đối tác lớn và quan trọng ở khu vực cũng như trên thế giới, như Mỹ, Nhật Bản, Trung
Quốc, Nga, Australia..APEC còn được xem là kênh quan trọng giúp ta tháo gỡ các vấn đề
tồn tại hoặc thúc đẩy các vấn đề chúng ta đang quan tâm. Như việc vận động một số đối
tác trong APEC kết thúc đàm phán song phương về việc Việt Nam gia nhập WTO ( ký với
Newzealand nhân dịp họp SOM I của APEC 2006, ký với Mỹ nhân dịp họp SOM II). Không
hoàn toàn ngẫu nhiên khi Đại hội đồng WTO tổ chức phiên họp bất thường, để kết nạp
Việt Nam vào WTO vào ngày 7/11/06, tức chỉ ít ngày trước khi chúng ta tổ chức hội nghị
AELM. Điều này chắc chắn diễn ra dưới tác động của những phát triển mới trong APEC
mà Việt Nam là nước chủ nhà và việc cải thiện quan hệ của ta với một số đối tác chủ
chốt trong APEC.

Thứ 2, chúng ta có điều kiện để nắm bắt thông tin, cập nhật đầy đủ chiều hướng phát
triển của thế giới để định hướng và điều chỉnh chính sách trong nước. Đồng thời, APEC
là kênh quan trọng giúp chúng ta tham gia và hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế toàn cầu.

Thứ ba, ta đã tận dụng các chương trình hợp tác kinh tế-kỹ thuật của APEC trong
ECOTECH để tạo cơ sở tốt cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế, kỹ thuật trong nước.
65
Thứ tư, nâng cao khả năng quản lý, kinh doanh, mở rộng quan hệ thương mại, đầu tư
và thâm nhập thị trường. Qua việc làm ăn với các nhà đầu tư trong APEC, các doanh
nghiệp của ta có điều kiện trao đổi kinh nghiệm làm ăn, phát triển nội lực, đồng thời đứng
ở tầm vĩ mô, chính phủ có điều kiện điều chỉnh cơ cấu t rong nước, nâng cao tính hiệu quả
trong sản xuất, kinh doanh, tính cạnh trang của doanh nghiệp cũng như của cả nền kinh tế
nói chung.

Thứ năm, cơ chế hợp tác tự nguyện trong APEC là tiền đề tốt chuẩn bị cho việc hội
nhập sau hơn, rông hơn vào nền kinh tế khu vực và quốc tế , bước chuẩn bị gia nhập WTO.
Hợp tác trong APEC có vai trò quan trọng trong bối cảnh Việt Nam thực hiện cam kết quốc
tế của mình trong khuôn khổ ASEAN và tới đây là WTO.

Tuy nhiên ta cũng không thể phủ nhận được những thử thách, khó khăn mà Việt Nam
gặp phải khi khi gia nhập APEC.Vì thế ta cần tích cực hơn nữa những giải pháp nhằm
khai thác cao nhất lợi ích từ APEC.



3.2. Những thành tựu Việt Nam đạt được sau hơn 10 năm gia nhập APEC

3.2.1 Việt Nam khẳng định vị thế của mình qua 10 năm gia nhập APEC (1998 – 2008)
Vị thế của Việt Nam không ngừng được củng cố và nâng cao, có nhiều đóng góp
chung cho sự phát triển thịnh vượng của toàn khu vực. Sự kiện vào tháng 11/1998, Việt
Nam trở thành thành viên chính thức của Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình
Dương (APEC), đánh dấu bước đi quan trọng trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của
Việt Nam.

3.1.2.1 Thành tựu trong kinh tế:

Sau 20 năm đổi mới, trong đó có 10 năm trở lại đây là thành viên APEC, Việt Nam
đã đạt được tốc độ phát triển kinh tế cao, trung bình 7% mỗi năm và riêng 2 năm 2005-
2006 đạt trên 8%. Quan hệ đối ngoại và hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam ngày càng
được mở rộng và nâng cao. Trong đó APEC đóng một vai trò quan trọng trong phát triển
kinh tế ở Việt Nam, trong đó chiếm 84% xuất khẩu của Việt Nam và 76% đầu tư trực tiếp
nước ngoài vào Việt Nam. Đây là một trong những thành tích cao nhất trong số 21 nền kinh
tế thành viên. Đầu tư trực tiếp nước ngoài từ các nước APEC vào Việt Nam cũng chiếm
một tỷ trọng rất lớn. Các thành viên của APEC chiếm 75% vốn FDI, 50% nguồn viện trợ
phát triển (ODA), 73% xuất khẩu và 79% nhập khẩu của Việt Nam. . Về mặt này, Việt
Nam là một bên tham gia quan trọng của hệ thống đa phương của APEC, 10 năm là thành
viên của APEC đã mang lại cho Việt Nam rất nhiều lợi ích để phát triển bền vững và tăng
trưởng kinh tế.
66
Là thành viên của APEC, Việt Nam có thể tiếp cận tốt hơn với nhiều nguồn vốn
hơn, với công nghệ hiện đại và kiến thức quản lý thông qua các hoạt động thương mại và
đầu tư chặt chẽ hơn với các thành viên APEC khác, trong đó có cả những nền kinh tế lớn
nhất thế giới (như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc, Ca-na-đa). Các sự kiện hàng năm của
APEC như Hội nghị Thượng đỉnh CEO APEC, Hội chợ Cơ hội Đầu tư, Đối thoại giữa các
nhà lãnh đạo với Hội đồng tư vấn doanh nhân APEC (ABAC) đang kết nối một cách có
hiệu quả các doanh nghiệp Việt Nam với cộng đồng doanh nghiệp khu vực để làm ăn cùng
có lợi. Vào ngày 15/11/2006 khai mạc diễn đàn đầu tư APEC thông qua hội thảo này, các
nền kinh tế thành viên APEC sẽ giới thiệu về môi trường, tiềm năng và cơ hội đầu tư của
mình. Qua đó, Doanh nghiệp của các nền kinh tế thành viên APEC sẽ có cơ hội để tiếp
xúc, tìm kiếm những khả năng hợp tác cụ thể về đầu tư, kinh doanh.

Sau khi gia nhập APEC Việt Nam đã giới thiệu về các chính sách mới như luật đầu
tư, luật danh nghiệp… định hướng thu hút đầu tư trong thời gian tới để tăng cường nguồn
vốn đầu tư bên ngoài vào, trong đó APEC APEC là một đối tác đầu tư có nhiều tiềm năng
to lớn. Trong số 3 trung tâm kinh tế lớn của thế giới là Mỹ, Nhật Bản, EU thì có 2 trung
tâm thuộc APEC. Các nền kinh tế khác như Đài Loan, Singapore, Hàn Quốc, Trung Quốc
đang tiềm ẩn những nguồn lực đầu tư dồi dào. Vì thế, các nhà đầu tư APEC có mặt trong
hầu hết các ngành kinh tế của Việt Nam; trong đó tập trung nhiều nhất trong lĩnh vực công
nghiệp và xây dựng với 3.956 dự án, tổng vốn đầu tư 25,7 tỷ USD. Riêng trong lĩnh vực
công nghiệp, đầu tư của APEC tập trung nhiều nhất vào lĩnh vực công nghiệp nặng với
1.735 dự án, tổng vốn đầu tư gần 11,3 tỷ USD. Trong lĩnh vực dịch vụ, APEC có 1.018 dự
án với tổng vốn đầu tư 13,2 tỷ USD. Các dự án của APEC đầu tư tại Việt Nam hiện đang
thu hút một số lượng lớn lao động trẻ Việt Nam; trong đó chủ yếu là lao động có trình độ
về công nghệ và tay nghề. Điển hình như: Dự án Cty xi măng Nghi Sơn của đối tác Nhật
Bản với tổng vốn đầu tư trên 600 triệu USD; Cty Intel Products của đối tác Hoa Kỳ; các dự
án đầu tư của Nhật Bản trong lĩnh vực điện tử, công nghệ cao (Fuitsu, Canon, Matsushita);
Cty Vedan Việt Nam của Singapore với tổng vốn đầu tư trên 400 triệu USD… Những dự
án này đã và đang sử dụng một nguồn nhân lực rất lớn, trong đó chủ yếu là lao động trẻ tốt
nghiệp từ các trường đại học, cao đẳng kỹ thuật, trung học nghề...Tới đây, nhiều dự án
lớn đầu tư vào Việt Nam từ Mỹ, Nhật, Singapore được cấp phép sẽ tạo ra cơ hội việc làm
rất lớn cho lao động trẻ Việt Nam. Tính tới thời điểm này, đã có 16/21 nền kinh tế thành
viên APEC đầu tư vào Việt Nam với 5.681 dự án còn hiệu lực; tổng vốn đầu tư đăng ký
trên 41,7 tỷ USD; vốn thực hiện đạt trên 20 tỷ USD (chiếm 69,2% vốn thực hiện của đầu
tư nước ngoài tại Việt Nam). Các nền kinh tế thành viên APEC cũng có lượng vốn ODA
vào Việt Nam lớn nhất.

Những điều trên cho ta thấy việc đầu tư của APEC vào Việt Nam rất lớn, rất có
tiềm năng phát triển trong thời gian tới chính vì vậy chính phủ Việt Nam có rất nhiều chính
sách ưu đãi để thu hút ngày càng nhiều vốn đầu tư từ APEC vào trong nước. Nhờ những
chính sách đó mà các nhà đầu tư coi Việt Nam là điểm đến lý tưởng, có thể chỉ ra 1 vài ví
dụ là: Bắt đầu hoạt động tại Việt Nam từ năm 2002, đến nay Canon Việt Nam đã có 3 nhà
máy tại Hà Nội và Bắc Ninh với tổng vốn 306 triệu USD, thu hút 10.000 lao động. Ông
67
Sachio Kageyama, Tổng Giám đốc Canon Việt Nam, khẳng định, với các nhà đầu tư, Việt
Nam là mảnh đất có tiềm năng lớn chưa được khai thác hết. Sự kiện Intel, hãng sản xuất
chip và linh kiện điện tử hàng đầu thế giới của Mỹ, nâng tổng vốn đầu tư vào nhà máy tại
TP HCM lên 1 tỷ USD…

3.2.1.2 Thành tựu trong lĩnh vực dịch vụ

Có 1.018 dự án với tổng vốn 13,2 tỷ USD đã đăng ký, lĩnh vực nông lâm nghiệp là 707 dự
án với tổng vốn 2,7 tỷ USD.

Các dự án của APEC tại Việt Nam tập trung nhiều nhất theo hình thức 100%

vốn nước ngoài với 4.376 dự án tổng vốn 23,7 tỷ USD, chiếm 77% tổng số dự
án và 56,9% tổng vốn đầu tư.
Hình thức liên doanh có 1.130 dự án với tổng vốn đầu tư 15,9 tỷ USD chiếm

19,9% tổng số dự án và 36,1% tổng vốn đầu tư, hình thức hợp đồng hợp tác
kinh doanh có 164 dự án với 1,5 tỷ USD.
Hình thức BOT, BT, BTO có 3 dự án vơi 295,1 triệu USD, hình thức công ty cổ

phần có 8 dự án với vốnđầu tư 241,2 triệu USD. Thành phố Hồ Chí Minh, Hà
Nội, Đồng Nai, Bình Dương là các địa phương thu hút được nhiều dự án đầu
tư từ các thành viên của APEC nhất.

3.2.1.3 Vị thế của Việt Nam trong tổ chức APEC:

Việt Nam đã và đang khẳng định được vai trò của mình trong quá trình hợp tác với
các thành viên APEC thông qua việc đưa ra các sáng kiến mới thuộc ba trụ cột chính của
APEC về tự do hoá thương mại, đầu tư; thuận lợi hoá thương mại và hợp tác kinh tế kỹ
thuật. Hơn nữa, Việt Nam cũng đã và đang cùng APEC thảo luận, hợp tác nhằm tìm ra
những phương hướng giải quyết một cách tối ưu các vấn đề về kinh tế, chính trị nổi cộm
của khu vực và thế giới như: đẩy mạnh vòng đàm phán Doha; giải quyết khủng hoảng tài
chính khu vực; đối phó với sự leo thang của giá lương thực; chống khủng bố…

Nhìn lại 10 năm qua, chúng ta thấy quyết định tham gia APEC là sáng suốt, thể hiện
tầm nhìn chiến lược của Đảng và Nhà nước ta. APEC đã trở thành diễn đàn góp phần quan
trọng vào việc nâng cao vị thế của ta trên trường quốc tế. Việc tổ chức thành công APEC
năm 2006 là đỉnh cao, làm cho Việt Nam được nhìn nhận không chỉ ở tầm khu vực, mà đã
chủ trì những sự kiện, giải quyết những vấn đề ở tầm liên khu vực với quy mô và tính
chất phức tạp hơn nhiều. Cùng với việc trở thành thành viên của WTO, được bầu làm Uỷ
viên không thường trực của Hội đồng Bảo an LHQ, vị thế và tiếng nói của Việt Nam trong
khu vực và trên trường quốc tế được đẩy lên tầm cao mới. APEC cũng là nơi để ta đạt
được nhiều thoả thuận quan trọng trong quan hệ song phương, đặc biệt với các cường
quốc thế giới như Trung Quốc, Nga, Mỹ, Nhật.


68
Hiện tại, Việt Nam đã tham gia khoảng 70 thể chế đa phương ở các cấp độ khác
nhau, từ toàn cầu, liên khu vực đến khu vực và tiểu khu vực. Trong số các thể chế đa
phương liên khu vực, APEC cần được xác định là diễn đàn quan trọng, là nơi Việt Nam có
thể phát huy vai trò, từ đó nâng cao vị thế và uy tín, đồng thời thúc đẩy quan hệ song
phương với các đối tác lớn

3.2.2) Giải pháp để khai thác lợi ích từ việc tham gia APEC của Việt Nam

Với mục tiêu đặt ra ban đầu khi tham gia APEC là tập trung vào việc mở rộng thị
trường xuất khẩu, thu hút đầu tư trong và ngoài nước, nâng cao sức cạnh tranh của hàng
hóa và dịch vụ Việt Nam, phát triển nền kinh tế tăng trưởng cao và bền vững. Việt Nam
cần phải có những hướng đi thích hợp tham gia vào các hoạt động của APEC theo các định
hướng lớn như:
- Tập trung vào công tác thuận lợi hóa thương mại và đầu tư.
- Xây dựng và ngày càng hoàn thiện kế hoạch nâng cao năng lực cạnh tranh xuất
khẩu.
- Tăng cường đối thoại đa phương và song phương, vận động sự ủng hộ trong khuôn
khổ APEC.
Trên cơ sở các định hướng lớn nêu trên Việt Nam cần có những biện pháp cụ thể như
sau
Thứ nhất, tăng cường các hoạt động hợp tác hỗ trợ kỹ thuật, nâng cao năng lực thể
chế và con người, đặc biệt là các chương trình trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực
APEC nhằm nâng cao khả năng thích ứng của Việt Nam trong quá trình hội nhập, hoàn
thiện hệ thống chính sách, pháp luật kinh tế thương mại theo hướng phù hợp với các
chuẩn mực quốc tế, nâng cao trình độ cán bộ làm công tác hội nhập kinh tế quốc tế sao
cho có đủ kiến thức và trình độ theo chuẩn quốc tế.
Thứ hai, tiến hành minh bạch hóa cơ chế chính sách thương mại đầu tư của Việt Nam
và sử dụng APEC như là cơ sở để xúc tiến thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam. Trong
đó, phải chuản bị sẵn sàng tham gia cơ chế tham vấn rà soát Kế hoạch Hành động Quốc
gia (IAP) nhằm làm minh bạch chính sách thương mại và đầutư của Việt Nam.
Thứ ba, tiếp tục tập trung vào các chương trình thuận lợi hóa thương mại bên cạnh
việc phát huy các kết quả đạt được trong các vấn đề về tiêu chuẩn chất lượng, thừa nhận
lẫn nhau trong lĩnh vực viễn thông, thủ tục hải quan, thương mại điện tử.
Thứ tư, thu hút trợ giúp của APEC trong lĩnh vực tập hợp và xử lý các số liệu thống kê
góp phần phục vụ việc xây dựng chính sách phát triển kinh tế của đất nước.
Có thể thấy tất cả những giải pháp trên bao hàm nội dung của những vấn đề thuộc về cải
cách cơ cấu. Một cách khác, cải cách cơ cấu sẽ phải ngày càng được quan tâm khi các hàng
rào thuế quan được dỡ bỏ và tự do hóa thương mại được thực hiện ở mức ngày càng cao.
Điều này là đặc biệt quan trọng với các nước đang phát triển ở trình độ thấp như Việt
Nam. Như đã đề cập, cải cách cơ cấu, một cách ngắn gọn có thể được triển khai đồng
thời trên nhiều lĩnh vực như cải cách pháp luật, giảm bớt các rào cản phi quan thuế, tư
nhân hóa các công ty độc quyền nhà nước (điều này đặc biệt quan trọng với Việt Nam), tự
do hóa thị trường ( đặc biệt là các thị trường trong dịch vụ viễn thông, dịch vụ công cộng,
hàng không, dịch vụ tài chính), và tăng cường tính linh hoạt của thị trường lao động. Mối
69
quan hệ giữa doanh nghiệp và quá trình cải cách cơ cấu là rõ ràng. Việc giảm chi phí tăng
tính hiệu quả của kinh tế trong nước, cải cách cơ cấu sẽ thúc đẩy khả năng cạnh tranh
kinh tế quốc tế của Việt Nam.
Các giải pháp nhằm cải cách cơ cấu thông qua việc cải thiện chức năng của thị
trường, tận dụng tối đa và có hiệu quả các nguồn lực, giúp cho Việt Nam đạt được các
mục tiêu kinh tế xã hội trên diện rộng. Quá trình cải cách với những khung pháp lý minh
bạch và công bằng sẽ nâng cao lòng tin của các nhà đầu tư và doanh giới nhất là trong môi
trường đầy biến động của nền kinh tế khu vực và toàn cầu. Thêm vào đó việc phối hợp
với các tổ chức trong nước xúc tiến ngoại thương, hỗ trợ các doanh nghiệp tiếp cận thị
trường quốc tế, duy trì tỷ giá hối đoái ổn định để tăng cường tích lũy và chuyển thành vốn
sản xuất, cung cấp vốn ban đầu cho doanh nghiệp vừa và nhỏ với doanh nghiệp lớn trong
nước cũng là những giải pháp mà Việt Nam cần phải tính đến.
Thực hiện đồng thời các giải pháp sẽ góp phần thúc đẩy hơn nữa quá trình tự do
hóa thương mại và đầu tư, và hướng tới một mục tiêu về một khu vực thương mại tự do
châu Á- Thái Bình Dương mà trong đó Việt Nam là một thành viên.
Nhìn chung, những thách thức đặt ra khi tham gia APEC đòi hỏi Việt Nam phải có
những giải pháp thích hợp nhanh chóng đồng bộ ở cả cấp vĩ mô và vi mô nhằm đẩy nhanh
quá trình hội nhập và tận dụng triệt để lợi thế đem lại cho đất nước. Điều quan trọng
trước tiên là cần xây dựng một nhận thức đúng đắn nhất và thống nhất trong nội bộ vấn
đề hội nhập và có quyết tâm chính trị của tất cả các cấp các ngành trong tiến trình hội
nhập vào khu vực và thế giới. Thế giới đã khẳng định, hội nhập hiện đã trở thành một xu
thế tất yếu mà bất kỳ một nền kinh tế nào không muốn tụt hậu thì không thể đứng ngoài.
Đồng thời, cũng phải làm sao để giới kinh doanh nhận thức và ủng hộ sự nghiệp hội nhập,
đây chính là một trong những điều kiện quan trọng trong thực hiện và quyết định sự thành
bại của hội nhập.




70
Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản