Tranh Dân gian Đông Hồ

Chia sẻ: Nguyenhoang Phuonguyen | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:6

0
311
lượt xem
96
download

Tranh Dân gian Đông Hồ

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Làng Đông Hồ nằm ven sông Đuống, cách Hà Nội chừng 40 km về phía đông, xưa gọi là Đông Mại (hay Mái) thuộc tổng Hồ, huyện Siêu Loại, trấn Kinh Bắc (nay là làng Song Hồ, huyện Thuận Thành, Hà Bắc). Đông Hồ có truyền thống nghệ thuật lâu đời. Thuộc đất cũ làng ven sông nay còn lại vài tấm bia đá trên nền chùa cổ. Bịa dựng từ thời nhà Mạc (thế kỷ 16), cho ta ước đoán tuổi làng. Trên trán tấm bia "Đô Hồ Tự Bi", khắc năm 1680, có chạm trong hình mặt...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tranh Dân gian Đông Hồ

  1. Tranh Dân gian Đông Hồ
  2. Làng Đông Hồ nằm ven sông Đuống, cách Hà Nội chừng 40 km về phía đông, xưa gọi là Đông Mại (hay Mái) thuộc tổng Hồ, huyện Siêu Loại, trấn Kinh Bắc (nay là làng Song Hồ, huyện Thuận Thành, Hà Bắc). Đông Hồ có truyền thống nghệ thuật lâu đời. Thuộc đất cũ làng ven sông nay còn lại vài tấm bia đá trên nền chùa cổ. Bịa dựng từ thời nhà Mạc (thế kỷ 16), cho ta ước đoán tuổi làng. Trên trán tấm bia "Đô Hồ Tự Bi", khắc năm 1680, có chạm trong hình mặt nguyệt một đôi chuột đang giã gạo. Vì chuột cũng là đề tài quen thuộc trong nghệ thuật dân gian, ta có ít nhiều căn cứ để suy rằng Đông Hồ đã từng có nghề vẽ tranh dân gian, và tranh có liên hệ tới ngôi chùa. Ngày nay, nghề in tranh khắc gỗ ở Đông Hồ không còn nhộn nhịp như xưa, tuy vây, nhiều gia đình ở đây vẫn còn giữ được hàng trăm ván khắc cổ, coi là của gia bảo, và hàng năm vẫn đem ra in lại thành những tranh mới, khi có khách đặt hàng. Tranh Đông Hồ in bằng tay trên bản gỗ khắc nổi. mỗi màu in có ván khắc riêng (ngoại lệ, cũng có tranh tô màu phẩm bằng tay). Giấy in là giấy dó, thường phủ một lớp phấn điệp hơi óng ánh, rất độc đáo. Màu mực in chế từ những nguyên liệu cây cỏ đất đá dễ kiếm quanh vùng, đen chế từ than lá tre khô, màu vàng từ hoa hoè hay quả dành dành, xanh lam chiết từ lá chàm, đỏ tươi là bột son, còn trắng thì dùng vỏ trai sò nghiền mịn. Tranh Đông Hồ chỉ bán trong dịp Tết Nguyên Đán, cho nên cả hình thức (nét vẽ, màu sắc) lẫn nội dung đều hợp tiết xuân, và phản ảnh khát vọng dân gian
  3. được sống phong lưu sung túc. Đây là một loại hình nghệ thuật mang bản sắc dân tộc đâm đà, có truyền thống sản xuất và thưởng thức hàng mấy trăm năm. Đi tìm vị thế mới cho tranh Đông Hồ Sẽ có một ngày tranh Đông Hồ lại rực rỡ trên tường nhà mọi gia đình đón Tết, trong tay các em bé như một món quà thông dụng... và tôi có thể ngồi vẽ những bức tranh Đông Hồ hiện đại...". Đó là mơ ước của họa sĩ Nguyễn Đăng Khoa, "hậu duệ" của một dòng họ nổi tiếng trong dòng tranh Đông Hồ Trong thời kỳ cực thịnh của mình, những năm đầu thế kỷ trước đến 1930, tranh Đông Hồ đủ sức mang lại gia thế cho cả một dòng họ. Cùng với cảnh "đổ tranh" tấp nập trên bến dưới thuyền xuôi đi khắp ngả từ 20 tháng Chạp hàng năm, tranh Đông Hồ gây dựng cơ ngơi và tên tuổi lâu đời cho họ Nguyễn Đăng, một trong những dòng họ làm tranh chủ soái của làng Hồ. Nghệ nhân Nguyễn Đăng Khiêm, người đầu tiên đứng ra nhận việc đưa tranh vào bảo tàng cho Nhà nước, nhớ lại: "Sinh thời, thân phụ tôi từng chứa đầy tận nóc hai gian nhà vài ngàn bản khắc in nét và mầu, tức là đủ cho khoảng ngàn tranh mẫu hoàn chỉnh. Đặc biệt, tranh Đông Hồ thiện về trực giác, và có phần cảm tính. Mỗi họ làm tranh lại có cách pha mầu, tạo nét, tiết chế khác nhau, làm nên phong cách riêng". Cháu ba đời cụ Khiêm, cử nhân mỹ thuật Nguyễn Đăng Khoa tiếp tục câu chuyện của dòng họ một cách kịch tính hơn. Năm 2000, mới tốt nghiệp khoa sơn mài trường Đại học Mỹ thuật công nghiệp, Khoa đã lang thang nhiều nơi: Bát
  4. Tràng, Phù Lãng, những ngôi chùa nghìn tuổi ở Hà Tây, Bắc Ninh... trong vài năm để săn tìm bóng dáng hay một gợi ý của thành công. Chính Khoa cũng không nhận ra lối đi ngay dưới chân: "Một đêm trăng trong chùa Bút Tháp sau vài tuần rượu suông, tôi bị họa sĩ Phan Cẩm Thượng "mắng" khá phũ, nhưng chân tình: Thế mà không nghĩ ra? Còn phải tìm đường ở đâu ngoài tự đứng vững trên chính truyền thống gia đình mình?". Khoa đã phải mất hai năm ròng, vừa dè dặt nghe ngóng vừa âm thầm khởi động tài lực rồi mới dám quyết tâm chơi tới cùng với nghiệp: "Kể từ đó tôi vẫn mơ thấy những bức tranh "gà lợn"của dòng họ Nguyễn Đăng. Không phải thứ in lưới và dùng bột mầu lem nhem vẫn bán đầy ở các khu du lịch. Mầu đỏ cam của son, vàng chói của hoa hòe, xanh óng lá mạ non... lên hết sắc độ tự nhiên, tươi rói trên nền điệp trong veo trắng óng, với nét đen vừa mềm mại vừa chắc khỏe của than lá tre bồi hồ. Một tinh thần hết sức hồn nhiên, khỏe khoắn, biểu cảm một cách giản dị, không thiếu tính hài hòa bay bổng. Bức tranh như vậy "trẻ" mãi tới năm chục năm sau không suy suyển. Tôi mơ phục hưng dòng tranh của họ Nguyễn Đăng rực rỡ như tinh thần của người xưa...". "Đi cày" nuôi tranh Cứ kiếm được bao nhiêu tiền ở Hà Nội, Khoa lại đem lên Thuận Thành lo chi phí cho việc khắc ván, làm mầu. Thứ than lá tre hiện nay chỉ còn duy nhất cụ Phiến, nghệ nhân làng Hồ đốt được. Pha chế ra sao cho nhuyễn, trong bất kỳ thời tiết hanh hay nồm cũng không bị chua, bị vón, thì chỉ có Khoa nắm được bí quyết,
  5. thay mặt cho dòng họ và những người có kinh nghiệm lâu đời nay đã thành người thiên cổ.. Hiện nay, hơn 70 đầu tranh Đông Hồ của họ Nguyễn Đăng đã được "phục sinh" rực rỡ từ bản mẫu gốc, vốn được cụ Khiêm "lo xa", mỗi lần đưa vào bảo tàng đều giữ lại cho gia đình một bản. Tổng cộng hơn 200 tranh gốc loại này đang ở trong tay Khoa. Tranh của Khoa và gia đình hiện đang gửi bán tại một số Gallery để giữ những khách mua khó tính. Hằng năm, gia đình thường phải bù lỗ cho việc làm tranh, một khoản không quá lớn đối với thu nhập mức ngang viên chức nhà nước, đủ để không khiến họ phải nản lòng. Khoa tâm sự: Việc đầu tiên tôi phải vào núi Thiên Thai, ngọn núi nổi tiếng trong thơ Hoàng Cầm mua gỗ thị làm ván khắc. Ba cây thị cổ thụ vừa người ôm, bạt thân vỏ, còn lại chừng khối rưỡi gỗ, đủ cho nghìn bản khắc đủ kích cỡ. Loại bản khắc này để tới trăm năm không mối mọt. Ngoài ra, gia đình tôi thừa hưởng từ đời các cụ khoảng vài trăm bản khắc như thế, đến nay vẫn còn nguyên vẹn có thể khai thác ngon lành. Mục tiêu là gìn giữ nguyên vẹn "gia tài" cho đời sau. Có những ván đã khắc xong phải nghiến răng chẻ làm củi vì chưa lên được tinh thần của người xưa". Tình trạng "đi cày nuôi tranh" theo Khoa chỉ có thể kéo dài nhiều nhất dăm năm. Sau đó, tranh Đông Hồ họ Nguyễn Đăng phải trở thành một thương hiệu thực sự bằng sự phục sinh mà ngoại trừ một vài gia đình nghệ nhân làng Hồ có thể
  6. "ra tay" tương tự, không một thương nhân giàu tưởng tượng hay họa sĩ biết kinh doanh nào làm nổi. Khoa nói: Chẳng có gì ngăn cản tôi nghĩ tới một ngày... Ngày đó tranh Đông Hồ lại rực rỡ trên những bức tường sơn của mọi gia đình đón Tết, trong tay các em bé, như một món quà thông dụng và rẻ tiền bằng chính sức thu hút của mình, vẻ đẹp chất phác, tươi nguyên, huy hoàng của truyền thống. Biết đâu lúc đó tôi lại có thể ngồi vẽ những bức tranh Đông Hồ hiện đại với đủ mầu vẻ của cuộc sống này như ông tôi hay cụ Chế, cụ Sần xưa, từng vẽ cảnh cầm cờ đỏ sao vàng đi cướp chính quyền những năm đầu cách mạng? Còn hiện tại, chỉ dốc sức vào khôi phục hoàn hảo bộ tranh gốc của gia đình, đưa nó vào vị trí không thay thế nổi của thị trường cũng đủ là một sự nghiệp".
Đồng bộ tài khoản