Tri thức nhân loại

Chia sẻ: Nguyen Hong Thao | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:280

0
76
lượt xem
18
download

Tri thức nhân loại

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Đảo Sip thuộc châu Á hay châu Âu? - Thuộc châu Á. Hòn đảo ở Địa Trung Hải này bị Thổ Nhĩ Kỳ và Hy lạp chiếm đóng mỗi bên một nửa (9250 km2 , 735000 dân) · Lục địa nào

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tri thức nhân loại

  1. Kiến thức phổ thông Đảo Sip thuộc châu Á hay châu Âu? - Thuộc châu Á. Hòn đảo ở Địa Trung Hải này bị Thổ Nhĩ Kỳ và Hy lạp chiếm đóng mỗi bên một nửa (9250 km2 , 735000 dân) · Lục địa nào được phát hiện gần đây nhất? - Châu Úc. Người Anh đã tìm ra châu lục này thế kỷ thứ 17. Người Úc chủ yếu gốc Anh, họ sống ở những vùng ven biển trù phú còn sâu trong đất liền phần lớn là sa mạc. · Quốc gia nào nhỏ nhất thế giới về diện tích? - Toà thánh Vatican được thành lập năm 1929 chỉ rộng 0,44 km2 và có khoảng 1000 dân, nằm giữa thủ đô Roma của Italia. · Thành phố châu Âu nào được gọi là thành phố vĩnh cửu? - Thành phố Roma, thủ đô Italia, được xây dựng từ 750 tr. CN (còn gọi là La mã). Từ một thành phố nhỏ bé nó đã trở thành một vương quốc La mã khổng lồ chiểm miền bắc Phi, xung quanh Địa Trung Hải, và Nam Âu làm thuộc địa. · Vĩ tuyến 38 chia bán đảo nào làm đôi và cho biết tên của hai quốc gia hình thành? - Nó chia bán đảo Triều tiên năm 1945 thành Bắc Triều tiên và Hàn quốc. · Đảo Korsika (Cooc) thuộc nước nào? - Thuộc Pháp, đây là quê hương của Napoleon, người hùng ngự trị châu Âu thế kỷ 18. · Cảng nào lớn nhất Đông Á? - Cảng Thượng hải của Trung quốc. · Hồ nội địa nào sâu nhất thế giới? - Hồ Bai can, hồ nước ngọt của Nga gần biên giới Mông cổ, sâu 1700 m. · Bạn hãy cho biết tên của ba đại dương! Thái bình dương (180 triệu km2, Đại tây dương (106 triệu km2) Ấn độ dương (75 triệu km2) · Đảo St. Helena nằm ở đâu? - Nằm giữa Đại tây dương , khoảng 3000 km cách bờ biển phía tây của Angola. Napoleon bị đầy và chết ở đây. · Người ta gọi vùng rừng vành đai Siberi là gì? ` Rừng Taiga. Thực vật ở đây chủ yếu là cây lá kim. Rừng này có kích thước rất lớn 4800km X 1000 km. · Thành phố Venedig của Ý gồm bao nhiêu đảo? - 118 đảo. Đó là một thành phố đặc biệt vì đường phố là kênh rạch sông ngòi , phương tiện giao thông là tàu thuyền chứ không phải ô tô. · Năm 79 tr. CN thảm hoạ núi lửa và động đất đã phá huỷ hoàn toàn hai thành phố La mã. Tên hai thành phố ấy là gì? ```- Pompeji và Herculaneum. `· Tại sao người ta gọi dân da đỏ là Indianer? - Columbus dẫn chiến thuyền đến Ấn độ để tìm châu báu, nhưng ông đã tìm ra một châu lục khác mà không biết. Ông vẫn đinh ninh đó là Ấn độ nên ông gọi thổ dân ở đó là Indianer (người Ấn). · Tên của thành phố Köln thời La mã là gì? - Colonia Agippina. Hồi đó Köln và Bonn bây giờ là thuộc địa của La mã. Năm 9 sau CN người Germanen đại thắng quân La mã và Köln được giải phóng từ đấy. · Hãy kể tên 4 nước lớn nhất về diện tích! - Liên bang Nga, Trung quốc, Canada, Brazil. Babylon nằm ở đâu? Bên bờ sông Euphrat phía nam thành phố Bat đa (Irak). Babylon có một thời văn minh vào loại bậc nhất thế giới , song song với các nền văn minh Ai cập cổ đại. · Chim cánh cụt (Pinguin) sống ở đâu? - Ở châu Nam cực, còn ở Bắc cực có gấu trắng. · Brazil nói tiếng gì? - Họ nói tiếng Bồ đào nha. Phần lớn các nước khác ở Nam Mỹ nói tiếng Tây ban nha. · Nước nào nằm giữa Pháp và Tây ban nha? - Nước Andora (DT: 453 km2, 65000 dân) · Sông nào dài nhất châu Âu?
  2. - Sông Volga của Nga, dài 3700 km, đổ ra biển Kaspie. · Thành phố Istabul trước kia có tên là gì? - Konstantinopel và Byzanz thời còn là thuộc địa của La mã. Thành phố này cũng là thủ đô của vương quốc Đông La mã. La mã hồi đó quá rộng lớn nên phải chi thành đông và tây La mã để chiến đấu chống quân Nguyên từ Mông cổ sang và quân Germanen từ phương bắc xuống. · Khi mới thành lập, thành phố New York của Mỹ có tên là gì? - New Amsterdam. Lúc đầu người Hà lan chiếm và đặt tên theo thủ đô của mẫu quốc. Sau này bị quân Anh chiếm lại và đổi thành New York. · Đỉnh núi cao nhất dãy An pơ tên là gì? - Đó là đỉnh Mont Blanc, cao 4007 m , nằm giữa biên giới Pháp và Ý. · Đỉnh núi cao nhất thế giới tên là gì? - Everest (Nepal) cao 8840 m trên dãy Himalaya. Người ta gọi vùng này là nóc nhà thế giới. · Kinh tuyến gốc (kinh tuyến số 0) đi qua Greenwich. Địa danh này nằm ở đâu? `- Nó là một quận của thủ đô Luân đôn. · Nước nào có nhiều núi lửa nhất thế giới? - Nước Ai xơ len (Island) giữa Đại tây dương. Phần lớn những ngọn núi là núi lửa. Ngoài ra ở đây còn có những mạch nước nóng phun lên từ lòng đất (Geysir). Người ta tận dụng nguồn nhiệt tự nhiên này để trông rau và sưởi ấm. · Trước năm 1868, thủ đô Nhật tên là gì? - Kyoto, từ 1868 chuyển về Tokyo. · Biển nào mặn nhất thế giới? - Biển Hồng hải (Rotes Meer) với hàm lượng muối 4%. Đặc biệt biển chết (Totes Meer) mặn gấp 10 lần nước ở Địa Trung Hải nên không sinh vật nào sống nổi (biển chết). Người không biết bơi vẫn nổi trên mặt nước. Người ta dùng bùn ướp muối hàng tỷ năm về trước để đắp lên cơ thể, chữa được một số bệnh. · Châu lục nào nhỏ nhất thế giới? - Châu Úc (9 triệu km2), châu Âu nhỏ thứ hai (10 triệu km2) · Tỷ lệ đất liền chiếm bao nhiêu phần trăm bề mặt trái đất? - Đất 30%, biển 70% · Tên của con sông dài nhất thế giới là gì? - Sông Nil ở châu Phi, dài 6600 km, bắt nguồn từ Trung phi và đổ ra Địa trung hải. Con sống này là món quà của thiên nhiên tặng cho Ai cập. · Cho biết tên sa mạc lớn nhất thế giới! `- Sa mạc Sahara ở miền bắc châu Phi (chiếm 174 diện tích châu Phi). Cứ khoảng 50 năm, sa mạc này lại tiến chừng 200 km xuống phía nam. · Bán đảo nào lớn nhất thế giới? - Bán đảo A rập. Trên bán đảo này có các nước A rập xê út, Jemen, Oman, CH A rập thống nhất, Cô oét) · Đường xích đạo dài bao nhiêu? - Đường xích đạo dài khoảng 40.000 km chia trái đất thành bắc bán cầu và nam bán cầu. · Băng đảo có diện tích bao nhiêu? - 2175600 km2. Đảo này thuộc Đan mạch, quanh năm tuyết phủ. Nơi đây xuất hiện núi băng, trượt xuống biển gây nguy hiểm cho tàu thuyền (Titanic là một ví dụ) · Thành phố nào nằm giữa hai lục địa? - Thành phố Istanbul của Thổ nhĩ kỳ nằm giữa châu Á và châu Âu. Hai lục địa được nối với nhau bằng những chiếc cầu qua eo biển chỉ rộng khoảng 150m. · Sông nào có lượng nước nhiều nhất thế giới? - Sông Amazonas ở Nam Mỹ, nó cũng là con sông rộng nhất thế giới, có những chỗ đến 300 km. · Sri Lanka trước kia có tên là gì? - Ceylon. Đó là một đảo ở vịnh Băng ga len (Ấn độ dương). · Mũi cực nam của Argentina tên là gì? - Đất lửa. Người ta gọi nơi này là tận cùng của thế giới. Phía đông là quần đảo Falkland (Anh) nơi xảy ra chiến sự tranh chấp 1982 giữa Anh và Argentina. Trên đảo có 2000 dân, bà Thủ tướng Anh Thatcher đã gửi 5000 thuỷ quân lục chiến để lấy lại đảo. · Sa mạc Victoria nằm ở đâu? - Nằm ở miền nam nước Úc. · Washington nằm bên bở sông nào?
  3. `- Sông Potomac · Quảng trường Wenzel nằm ở thành phố nào? `- Thành phố Praha của Tiệp khắc. Đây là quảng trường biểu tượng của thủ đô. · Thành phố nào có Cung điện mùa đông? - Thành phố St. Petersburg ( Leningrad xưa kia). Tên St. Petersburg được công nhận sau khi Liên xô sụp đổ. `· Capitol có ở thành phố nào? - Ở Roma (Italia) và Washington (Mỹ) · Thành phố nào lớn nhất nước Úc? - Sydney, thành phố tuyệt đẹp bên bờ biển. · Sông Themse đổ ra biển nào? `- Biển bắc (Nordsee), sông này chảy qua Luân đôn. · Diện tích bề mặt trái đất bao nhiêu? - 510 triệu km2 · Hồ nước ngọt lớn nhất thế giới có tên là gì? - Lake Superior ở bắc Mỹ (biên giới Canada và Mỹ) · Tên của rặng núi cao nhất Nam Mỹ là gì? `- Rặng Anden chạy dọc bở biển Thái bình dương từ Trung Mỹ đến Đất lửa. · Hãy cho biết tên con sông dài nhất châu Á! - Sông Trường giang ở Trung quốc. · Hãy cho biết tên con sông dài nhất bắc Mỹ! `- Sông Mississippi ở Mỹ. · Tên của sa mạc lớn nhất châu Á là gì? `- Sa mạc Go bi ở Mông cổ. · Tên của đỉnh núi nổi tiếng ở Hy lạp là gì? - Đỉnh Olymp, Người Hy lạp cổ đại coi đây là chỗ ở của các vị thần. Tại sao trên lá cờ Olympic lại có năm vòng tròn? Đại hội thể dục thể thao long trọng và có quy mô lớn nhất trên thế giới là Thế vận hội Olympic. Mỗi khi khai mạc Thế vận hội Olympic, trên hội trường bao giờ cũng phải kéo lên lá cờ Thế vận hội. Vì trên lá cờ này có in năm cái vòng, cho nên nó cũng được gọi là cờ “năm vòng tròn”. Lá cờ năm vòng tròn đã được thiết kế năm 1913, theo ý kiến của Chủ tịch Uỷ ban Olympic Quốc tế, ông Cubectanh. Năm 1914, nó đã được sử dụng lần đầu tiên tại Đại hội Đại biểu Olympic cử hành ở Paris, n ước Pháp. Lá cờ Olympic làm bằng vải màu trắng không viền, thêu năm vòng tròn với ba vòng bên trên màu xanh, đen, đỏ, còn hai vòng bên dưới màu vàng và màu lục, lần lượt xếp từ trái sang phải. Ông Cubectanh đã ch ọn năm màu này vì đây là màu quốc kỳ của các nước tham gia cuộc vận động Olympic th ời b ấy gi ờ. Về sau ngời ta lại có một cách giải thích khác về màu sắc của năm cái vòng, cho rằng năm cái vòng này t ượng trưng cho năm lục địa trên thế giới: màu xanh tượng trưng cho châu Âu, màu vàng t ượng trưng cho châu Á, màu đen tượng trưng cho châu Phi, màu lục tượng trưng cho châu Đại Dương, còn màu đỏ tượng trưng cho châu Mỹ. Vì tính rằng người ta có thể có những cách giải thích khác nhau về lá cờ năm cái vòng, cho nên năm 1979 t ờ t ạp chí Olympic, Uỷ ban Olympic Quốc tế đã chính thức nêu rõ rằng dựa theo hiến ch ương Olympic, ý nghĩa c ủa năm cái vòng này là tượng trưng cho sự đoàn kết giữa năm lục địa, đồng thời t ượng trưng cho tinh th ần thi đua công bằng thẳng thắn và hữu nghị giữa các vận động viên toàn thể thế giới đến tập trung t ại Thế vận h ội Olympic. Bắt đầu Thế vận hội Olympic lần thứ 7, khi khai mạc Thế vận hội Olympic, bao giờ cũng cử hành nghi th ức đại biểu thành phố chủ nhà của Thế vận hội lần này đem lá cờ Olympic trao cho thị trưởng thành ph ố t ổ ch ức Thế vận hội Olympic lần sau. Tiếp đó thành phố này sẽ giữ lá cờ tại phòng chính của toà thị chính, rồi b ốn năm sau sẽ lại cử hành một nghi thức như thế.
  4. Vạn Lý Trường Thành có đúng là một vạn dặm hay không? Trường Thành là một trong những công trình vĩ đại nhất trong lịch sử thế giới và cũng là niềm t ự hào của nhân dân Trung Quốc. Trường Thành gọi đầy đủ là Vạn Lý Trường Thành. Vậy có thật nó dài m ột v ạn s ặm không? Thật ra Vạn Lý Trường Thành gồm nhiều đoạn Trường Thành nối liền với nhau do các nước chư h ầu đã xây dựng hơn hai ngàn năm trước đây. Trong hai thời Chiến Quốc và Xuân Thu, chiến tranh luôn luôn n ổ ra, các n ước ch ư h ầu mu ốn ch ống l ại l ẫn nhau đã xây dựng những đoạn Trường Thành tại các nơi có hình thế hiểm yếu nhằm phòng vệ cũng nh ư ngăn chặn sức tấn công từ các nước khác. Đến năm 251 trước Công nguyên, Tần Thuỷ Hoàng thống nhất toàn cõi Trung Quốc, m ột m ặt ông ra lệnh phá bỏ các bức tường thành trước kia dựng lên giữa các nước; mặt khác, nhằm ngăn ch ặn k ỵ binh Hung Nô ở mi ền Bắc xâm lược xuống miền Nam, ông ra lệnh nối liền các đoạn Trường Thành ở phương Bắc của ba n ước Tần, Triệu, Yên. Ngoài ra còn củng cố và kéo dài để hoàn thành bức Trường Thành của nhà T ần, b ắt đ ầu t ừ phía Tây từ Lâm Thao (nay là huyện Mân ở tỉnh Cam Túc), phía Đông kéo dài t ới Liêu Đông, v ới chi ều dài h ơn m ột v ạn dặm Trung Quốc, về sau được gọi là Vạn Lý Trường Thành. Công trình này đã được tiến hành v ới quy mô c ực kỳ lớn. Thời bấy giờ đã điều động tới hơn năm mươi vạn dân công và phải mất hơn mười năm m ới hoàn thành, rất nhiều nhân công đã chỉ có đi mà không có về. Truyền thuyết về nàng Mạch Khương khóc đổ Trường Thành chính là đã nảy sinh trong thời kỳ này. Về sau nhiều triều đại đã tu sửa và xây dựng thêm Trường Thanh, trong đó hai triều đại Hán và Minh ti ến hành v ới quy mô lớn nhất. Trường Thành mà ngày nay chúng ta trông thấy là Trường Thành xây dựng vào đ ời Minh, nó b ắt đầu từ Sơn Hải Quan thuộc tỉnh Hà Bắc, chạy ngang qua Hà Bắc, Bắc Kinh, Sơn Tây, N ội Mông, Thiểm Tây, Ninh Hạ, Cam Túc, tổng cộng bảy tỉnh, khu tự trị và thành phố trực thuộc, kéo dài sáu ngàn b ảy trăm km t ức là hơn mười ba ngàn dặm Trung Quốc Chỉ số Đao Giônx do đâu mà có? Những người quan tâm đến thị trường cổ phiếu đều biết tới chỉ số Đao Giônx, gọi một cách đầy đủ là chỉ số bình quân cổ phiếu công nghiệp Đao Giônx. Nội dung được công bố là chỉ số bình quân hơn 30 cổ phiếu công nghiệp của thị trường cổ phiếu New York. Vì các cổ phiếu này là những cổ phiếu nóng được mua bán sôi nổi nhất trong thị trường cổ phiếu, phản ảnh được xu thế hiện hành trên thị trường cổ phiếu của nước Mỹ, cho nên chỉ số Đao Giônx đã trở thành tin tức thị trường mà người ta không thể nào không quan tâm. Chỉ số Đao Giônx là do Công ty Đao Giônx nhà xuất bản báo chí tài chính của nước Mỹ, hàng ngày tính toán ra và công bố trên tờ Nhật báo phố Wall. Đao Giônx là hai họ của hai người Mỹ gộp lại Một người là Tracđơ Đao, sinh năm 1851, đã từng là phóng viên biên t ập của tờ Nhật báo Ph ố Wall, ông này v ốn có hứng thú đối với các tin tức kinh tế và tài chính. Trên cơ sở chuyên tâm nghiên cứu, ông dã phát bi ểu r ất nhiều bài về vấn đề này và trở thành một phóng viên nổi tiếng của ngành tài chính. Về sau ông ta làm quen với một người cũng làm về báo là Etuốt Giônx, rồi sau đó hai ng ười rất ý h ợp tâm đ ầu. Năm 1882, hai người hợp tác thành lập công ty chuyên công bố các tin tức kinh tế, tức là công ty Đao Giônx, chuyên môn sưu tầm các tin tức về mặt tài chính và mậu dịch để công bố định kỳ. Tracdơ Đao về sau trở thành tổng biên tập và người phát hành của t ờ Nhật báo Ph ố Wall. Ông đã nghiên c ứu và dự toán các tin tức kinh tế một cách sâu sắc, trở thành người đầu tiên dùng các con s ố th ống kê để d ự đoán v ề thị trường cổ phiếu New York.
  5. Năm 1897, công ty Đao Giônx lựa chọn 30 công ty công nghiệp có tính chất đại biểu ở cơ s ở giao d ịch cổ phiếu New York, tính toán chỉ số bình quân trị giá của các cổ phiếu ấy và đem công bố trên t ờ Nhật báo ph ố Wall. Đó tức là nguồn gốc chỉ số Đao Giônx, cho đến nay đã tồn tại được hơn 100 năm rồi. Thế giới có bao nhiêu dân tộc? Trung Quốc có 56 dân tộc. Có người cho rằng Trung Quốc có thể là quốc gia có nhiều dân t ộc nh ất thế giới, kỳ thực không phải như thế. Ở châu Á, nếu tính các quốc gia có hơn 50 dân tộc thì còn có Ấn Độ, Philippin, Indonesia. Nghe nói Indonesia có 150 dân tộc. Quốc gia có nhiều dân t ộc nh ất thế giới là Nijenia, có t ới 250 dân tộc lớn nhỏ với hơn 80 triệu người, chiếm 1/8 tổng số dân tộc trên thế giới. Nói tóm lại trên thế giới có bao nhiêu dân tộc? Theo những thống kê chưa đầy đủ, con s ố ch ừng 2000. Số lượng nhân khẩu của các dân tộc trên thế giới khác nhau rất xa. Dân t ộc lớn nh ất lên t ới nghìn tri ệu, dân t ộc nhỏ nhất chỉ có vài chục người. Bảy dân tộc có tổng số nhân khẩu lên t ới quá 100 triệu ng ười là ng ười Hán, người Inđuxtan, người Mỹ người Bănggan, người Nga, người Nhật, người Braxin, 60 dân tộc có nhân kh ẩu t ừ 10 triệu, 92 dân tộc có nhân khẩu từ mười vạn đến một triệu. Nhân khẩu các dân t ộc khác không có đ ủ m ười vạn. Tổng số các dân tộc ở châu Á là trên một nghìn, đại khái chiếm n ửa t ổng dân s ố trên th ế gi ới, châu Á là đ ại l ục có nhiều dân tộc nhất trên thế giới, châu Âu ước tính có 170 dân tộc, khoảng 20 quốc gia cơ bản chỉ có m ột dân tộc. Hội chữ thập đỏ là một tổ chức như thế nào? Hội chữ thập đỏ là tổ chức cứu trợ tình nguyện quốc tế. Người sáng lập của nó là ông Henri Dunant người Thuỵ Sỹ trong thời kỳ chiến tranh thế giới II. Năm 1859, Italia và Pháp liên kết phát động chiến tranh chống Áo. Quân ba n ước chiến đ ấu hết sức ác li ệt ở vùng Xonphenrino. Trận đấu chỉ kéo dài 15 giờ, nhưng số người chết và bị thương lên tới hai mươi tư vạn người. Ông Henri Dunant nhìn nhiều người chết không được chôn cất, người bị thương không được cứu giúp rất đau lòng. Vì thế ông đã bàn với Giáo hội tổ chức một đội tình nguyện nhận trách nhiệm chăm nom nh ững người bị thương. Sau khi chiến tranh kết thúc, tại Giơnevơ, ông Henri Dunant đã kêu g ọi các n ước trên th ế gi ới thành lập một đội cứu trợ tình nguyện. Lời kêu gọi đó được nguyên thủ các nước lớn ủng hộ nhiệt tình. Ngày 22 tháng 8 năm 1864, tại Giơnevơ, đã triệu tập một hội nghị quốc tế, chính thức ký k ết công ước v ề H ội chữ thập đỏ quốc tế. Ngày đó trở thành ngày khai sinh Hội chữ thập đỏ quốc tế. Để t ỏ lòng tôn trọng đ ối v ới nước chủ nhà Thuỵ Sỹ và cá nhân ông Henri Dunant, đại biểu hội nghị đã nhất trí lấy qu ốc kỳ Thu ỵ S ỹ làm biểu tượng của hội, đổi màu nền thành trắng, ở giữa có một chữ thập đỏ. Màu đỏ biểu thị việc phục vụ các nạn nhân bị đổ máu, còn màu trắng biểu thị sự bình an. Hội chữ thập đỏ quốc tế do ông Dunant sáng lập đến nay đã có hơn 130 năm lịch s ử. Nhiệm v ụ của h ội đã t ừ công tác ban đầu là cứu giúp trong thời chiến tranh, phát triển lên và gồm cả việc cứu tế thiên tai trong th ời bình, cứu tế xã hội, phúc lợi xã hội, truyền máu cấp cứu và hộ lý. Hiện nay trên thế giới đã có h ơn 120 qu ốc gia thành lập Hội chữ thập đỏ quốc tế. Riêng các nước theo đạo Hồi lấy vầng trăng lưỡi liềm màu đ ỏ thay cho ch ữ th ập đỏ. “Chiến tranh lạnh” là gì?
  6. Sau khi Chiến tranh thế giới II kết thúc, trong tình hình chính trị thế giới đã xảy ra m ột sự thay đ ổi rất lớn: phe tư bản chủ nghĩa phương Tây do các nước Mỹ, Anh, Pháp đứng đầu và phe xã hội chủ nghĩa ph ương Đông do Liên Xô cũ đứng đầu, vì có niềm tin chính trị khác nhau, cho nên có thái độ thù đ ịch v ới nhau. Nhưng s ức m ạnh quân sự của cả hai bên đều hết sức to lớn. Với vài triệu quân và vài ngàn đầu đ ạn h ạt nhân, n ếu đem s ức m ạnh quân sự này ra sử dụng thì bên nào cũng có thể tiêu diệt được đối phương đến vài lần, vì thế ch ẳng có ai dám sử dụng sức mạnh quân sự để phát động chiến tranh. Tuy nhiên bên nào cũng muốn làm cho đ ối ph ương bị suy yếu, đi tới tan vỡ, cho nên tất cả các thủ đoạn bên ngoài phạm vi quân sự đều được sử dụng. Các thủ đoạn này bao gồm: phong toả kinh tế, không để cho các tài liệu kinh tế quan trọng lọt vào tay đ ối phương, cản trở sự phát triển kinh tế của đối phương; tấn công về chính trị, vận dụng mọi công cụ để tuyên truyền để tấn công vào các điểm yếu của đối phương, đánh vào lòng dân của đối phương; phá ho ại, lật đ ổ, đào tạo gián điệp tiến hành các hoạt động phá hoại; chạy đua trang bị quân sự, không ngừng tăng cường các ho ạt động quân sự, ra sức phát triển các vũ khí mũi nhọn, luôn luôn muốn làm cho sức m ạnh quân s ự của mình h ơn được đối phương. Tuy cả hai phe đều chưa trực tiếp nổ súng, nhưng thật ra cả hai phe đều đang n ằm trong m ột tr ạng thái chi ến tranh, chiến tranh có thể nổ ra bất cứ lúc nào. Thượng nghị sỹ Mỹ Becna Baluc đã mệnh danh trạng thái này là chiến tranh lạnh, để phân biệt với chiến tranh nóng trong đó có dùng pháo thật và đạn th ật. Đầu những năm 90 của thế kỷ XX, Liên Xô cũ tan rã, do đó các n ước Đông Âu trải qua nh ững bi ến đ ộng to l ớn, cái gọi là phe phương Đông không còn tồn tại nữa. Từ đấy trở đi chiến tranh lạnh cũng đã k ết thúc. Tại sao vĩ tuyến 38 trở thành đường phân giới giữa Bắc Triều Tiên và Hàn Quốc? Cuối thế kỷ XIX, Nhật Bản đem quân xâm lược chiếm Triều Tiên. Năm 1910, Nh ật Bản cưỡng b ức Tri ều Tiên ký “Điều ước Hàn - Nhật”, quy định toàn bộ chủ quyền của Triều Tiên vĩnh viễn bị chuyển nhượng cho Nh ật Bản. Từ đấy Triều Tiên biến thành thuộc địa của Nhật Bản. Sau khi chiến tranh thế giới II bùng nổ, Nhật Bản ký kết liên minh với phát xít Đức và Italia, đ ồng th ời gây ra cuộc chiến tranh ở châu Á và Thái Bình Dương tháng 11 năm 1943, những người đứng đầu các n ước Trung Quốc, Mỹ, Anh tuyên bố Cairô rằng sẽ đuổi Nhật Bản ra khỏi tất cả các vùng đát mà n ước này xâm chi ếm, trong đó có việc làm cho Triều Tiên được độc lập tự do. Do sự cố gắng chung của các lực lượng chống phát xít ở tất cả các n ước, tháng 8 năm 1945, Nh ật B ản tuyên b ố đầu hàng vô điều kiện. Căn cứ vào hiệp định đã ký kết, quân đội Mỹ và quân đội Liên Xô cũ cùng tiếp thu sự đầu hàng của quân đội Nhật Bản ở Triều Tiên. Còn về khu vực tiếp thu sự đầu hàng thì h ồi b ấy giờ đã quyết định lấy vĩ tuyến 38 độ Bắc làm đường phân giới: quân đội Nhật Bản ở phía Nam vĩ tuyến này s ẽ đ ầu hàng quân đội Mỹ, còn quân đội Nhật Bản ở phía Bắc thì sẽ đầu hàng quân đội của Liên Xô cũ. Hồi bấy giờ việc xác định vĩ tuyến 38 độ Bắc làm đường phân giới không có ý nghĩa chính trị hay quân sự gì c ả, chẳng qua chỉ vì vĩ tuyến này nằm ở trung bộ nước Triều Tiên, làm cho hai khu v ực tiếp thu l ại đ ầu hàng c ủa quân đội Nhật Bản đại khái bằng nhau mà thôi. Ngoài ra căn cứ vào hiệp ngh ị thì sau khi ti ếp thu đ ầu hàng, M ỹ và Liên Xô phải tổ chức một Uỷ ban Liên hợp giúp cho Triều Tiên thành lập m ột chính ph ủ lâm th ời, nh ưng vì giữa hai nước Mỹ và Liên Xô vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề quan trọng chưa nhất trí, cho nên đến năm 1948 v ẫn chưa thành lập được chính phủ lâm thời của Triều Tiên. Tháng 8 năm 1948, tại miền Nam Triều Tiên thành lập n ước Dân quốc Đại Hàn. Tháng 9 năm ấy, ở mi ền B ắc Triều Tiên thành lập nước Cộng hoà dân chủ Nhân dân Triều Tiên. Vì đây là hai chính ph ủ có tính ch ất không giống nhau cho nên khó cử hành được cuộc phổ thông đầu phiếu toàn dân tộc. Tháng 6 năm 1950, cuộc nội chiến ở Triều Tiên bùng nổ, quân Liên hiệp quốc do Mỹ đứng đầu, đem ngọn chiến tranh đốt lên bờ sông áp Lục. Quân Chí nguyện nhân dân Trung Quốc và Quân đ ội nhân dân Tri ều Tiên cùng đánh cho bè lũ xâm lược phải lui về vĩ tuyến 38.
  7. Đến năm 1953, trên vĩ tuyền 38 đã ký kết hiệp định đình chiến và ở hai bên vĩ tuyến 38 lập nên khu phi quân s ự rộng 2 km. Thật không ai có thể ngờ rằng đường phân giới tiếp thu sự đầu hàng năm đó của quân đ ội Nh ật B ản lại có thể trở thành giới tuyến chia cắt lâu dài Bắc Triều Tiên và Nam Triều Tiên. Người Ixraen có phải là người Do Thái không? Nhắc đến Ixraen, người ta thường nghĩ đến người Do Thái hoặc các mâu thu ẫn và xung đ ột gi ữa ng ười Do Thái và người Ả Rập. Xu thế chung thường thống nhất với người Ixraen với người Do Thái. Điều này hoàn toàn không đúng. Ixraen vốn là một nước Tây Á. Cũng như tất cả các quốc gia khác trên thế giới, những ng ười đến tụ t ập sinh sống trên lãnh thổ Ixraen không thuộc về một dân tộc hay chủng tộc nào đó. Ixraen có kho ảng 80% ng ười Do Thái và chừng 20% người Ả Rập. Có lẽ bạn sẽ hỏi tại sao người Ixraen và người Ả Rập thường đánh nhau mà n ước Ixraen lại có những người quốc dân là người Ả Rập? Sở dĩ như vậy là vì Ixraen nằm trên vùng đất Palextin thuộc bán đảo Ả Rập. Trước công nguyên n ơi này đã t ừng là vương quốc của người Do Thái, nhưng bắt đầu từ thế kỷ XVII sau Công nguyên, lại trở thành m ột b ộ ph ận của đế quốc Ả Rập. Người Ả Rập tràn sang và đã đời đời kiếp kiếp sống trên vùng đất này. Tháng năm năm 1948, người Do Thái quay về và thành lập nhà nước Ixraen. Người Do Thái đã thành l ập qu ốc gia trên vùng đ ất cư trú của người Ả Rập, vì thế không thể không giữ lại một bộ phận người Ả Rập. Lịch sử đã dạy cho chúng ta biết rằng các cuộc chiến tranh từ xưa đến nay đều là thủ đo ạn tranh quyền đo ạt v ị giữa các tập đoàn thống trị, vì thế hoàn toàn không thể nói rằng người Do Thái và ng ười Ả Rập không thể tiếp cận được với nhau. Tại sao bọn Quốc xã muốn tiêu diệt dân tộc Do Thái? Trong cuộc chiến tranh thế giới II, Đức Quốc xã âm mưu thống trị toàn thế giới, m ột m ặt sử d ụng vũ l ực, m ột mặt tuyên truyền chủ nghĩa chủng tộc, tức là học thuyết về dân tộc siêu đẳng. Chúng cho rằng dân t ộc German dòng dõi chính thống của người Arian thượng đẳng, còn người Do Thái là chủng tộc hạ đẳng nhất. Do đó Đức Quốc xã coi việc tiêu diệt người Do Thái là một mục tiêu chủ yếu. Tại sao người Do Thái lại bị coi là chủng tộc hạ đẳng nhất? Trên phương diện lịch s ử ng ười Do Thái cũng nh ư tất cả các dân tộc khác, có nền văn hoá rực rỡ và lâu đời. Những năm 63 trước Công nguyên, người Do Thái xâm lược. Từ đó phần lớn người Do Thái bị xua đuổi, phải sống lưu lạc khắp nơi trên thế giới. Người Do Thái có mặt đông nhất ở châu Âu. Nơi đây họ bị coi là những kẻ vô gia cư, lang bạt và b ị khinh rẻ. Khi sống lang bạt khắp nơi như vậy, người Do Thái phần nhiều vẫn giữ được bản sắc dân t ộc cả về tín ngưỡng tôn giáo lẫn ngôn ngữ và phong tục tập quán. Giai đoạn Trung thế kỷ, người Do Thái sống tại các quốc gia Thiên Chúa giáo bị coi là dân d ị giáo, ph ải ch ịu nhiều sự bức hại rất tàn khốc Sang thời kỳ cận đại, cùng với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật và sự phát triển của chủ nghĩa Tư b ản, trong dân tộc Do Thái đã xuất hiện những nhân vật kiệt xuất, đặc biệt là trong lĩnh vực tài chính, công thương và văn hoá. Vì thế nên mức độ nhất định, họ đã cải thiện được hoàn cảnh sống của mình. Với bọn Qu ốc xã theo thuyết chủng tộc thượng đẳng thì điều này là không thể chấp nhận được. Theo chúng, dân t ộc Do Thái vĩnh viễn là lũ người hạ đẳng. Những năm 30 của thế kỷ XX, cùng với sự bành trướng của chủ nghĩa đế quốc, việc ng ười Do Thái bị bức hại đã đạt tới mức khủng khiếp. Thật ra cách nói của bọn Quốc xã về cái g ọi là dân t ộc th ượng đẳng chỉ là cái cớ hết sức hoang đường nặn ra để nhằm tiêu diệt người Do Thái mà thôi.
  8. Người ta đã bắt đầu dùng vết ngón tay để phá án từ bao giờ? Mùa hè năm 1892, tại một thị trấn nhỏ tên là Naykhơchia ở Ackhanghen đã xảy ra m ột vụ giết người cực kỳ tàn ác. Một người đàn bà không có chồng tên là Phranxixca đến báo cảnh sát rằng hai đ ứa con c ủa ch ị ta, đ ứa trai sáu tuổi và đứa gái bốn tuổi, đã bị kẻ nào đó dùng đá đập vỡ đầu chết trong nhà. Theo lời khai của Phranxixca, có một người đàn ông trong thị trấn tên là Velaxke có lần đã h ỏi c ưới ch ị nh ưng b ị chị cự tuyệt. Người đàn ông này đã doạ giết hai đứa con của chị. Vào hôm xảy ra án m ạng, khi đi về nhà Phranxixca thấy Velaxke đang vội vã đi từ trong nhà mình ra. Velaxke lập tức bị cảnh sát bắt giữ. Nhưng anh ta dứt khoát không thừa nh ận đã ph ạm t ội và còn có b ằng ch ứng đáng tin cậy xác nhận rằng lúc sự việc xảy ra đã không có mặt ở hiện trường. Viên cảnh sát trưởng đồn Lapulatha tên là Acphalayx cùng m ột cảnh sát viên khác tên là Aochitixi xem xét l ại hiện trường. Họ kiểm tra căn phòng xảy ra án mạng, nhưng không tìm thấy một đầu mối nào cả. Chính lúc hai người thất vọng định ra về thì cảnh sát trưởng nhìn trong dải ánh nắng chiếu trên khung cửa phòng có v ết máu màu nâu in hình một ngón tay. Khi đó Acphalayx và Aochitixi đang cùng tìm hiểu sự khác nhau của các vết ngón tay của ng ười. Họ cưa l ấy miếng gỗ in dấu ngón tay bằng máu mang về. Qua nghiên cứu, họ phát hiện thấy đây là m ột vết ngón tay của con người. Cảnh sát trưởng đã lấy vết ngón tay của nghi phạm là Velaxke để so sánh, nhưng không đúng. Sau đó, ông ta lại gọi Phranxixca để kiểm tra, thì xảy ra một điều hết sức không ngờ là vết ngón tay của Phranxixca lại hoàn toàn khớp với vết ngón tay tìm thấy ở vết máu đọng trên khung cửa. Phranxixca hết sức hoảng sợ đành thừa nhận do muốn kết hôn với người tình, mà người tình lại th ấy hai đ ứa trẻ này đáng ghét, nên đã xảy ra ác tâm tự tay giết hai đứa con chính mình đẻ ra. Vụ án này đã cổ vũ Aochitixi, ông đã đem các kết quả nghiên cứu của mình viết luôn thành m ột cu ốn sách “Môn học nghiên cứu các vết ngón tay” để xuất bản. Còn cảnh sát Ackhanghen cũng bắt đầu chính th ức dùng vết ngón tay để giám định và phân biệt nhân thân nhằm mục đích phá các vụ án. Về sau những phương pháp này được cảnh sát khắp nơi trên thế giới áp dụng một cách phổ biến đ ể phá các v ụ án. Ngành nghiên cứu dấu vân tay phát triển hơn, người ta nhận thấy dấu vân tay của m ọi ng ười không giống nhau. Hiện nay cảnh sát nhiều quốc gia đã lưu trữ vân tay của một số t ội phạm trong m ạng điện tử. Khi đi ều tra phá án, chỉ cần đem những vết ngón tay lấy được trên hiện trường so sánh với các v ết ngón tay l ưu tr ữ t ừ tr ước, thì có thể xác định được có phải là kẻ có tội nào đã tái phạm hay không? Tại sao các quan chức ngoại giao phạm pháp ở nước ngoài có thể khôn =g bị xử tội? Trong thế kỷ XVI, nước Anh nhờ có chủ nghĩa tư bản phát triển đã bắt đầu m ở rộng thêm ra n ước ngoài. H ọ t ổ chức nhiều chiếc tàu cướp biển, thường xuyên tập kích vào các đội tàu của Tây Ban Nha là cường qu ốc v ề hàng hải thời bấy giờ, chiếm đoạt tài sản và hàng hoá, đồng thời xâm chiếm nhiều thuộc địa của Tây Ban Nha, làm cho mâu thuẫn giữa hai nước Tây Ban Nha và Anh trở nên sâu sắc. Năm 1584, ở nước Anh xảy ra vụ âm mưu phế truất của nữ hoàng Anh Elizabet Đệ Nhất. Đại sứ Mandacha của Tây Ban Nha tại Anh cũng tham gia vụ việc này. Sau khi âm m ưu bị đập tan, những người Anh có liên quan đ ều bị trừng trị nghiêm khắc, song đại sứ Mandacha không bị xét xử mà chỉ bị trục xuất khỏi nước Anh. Đây là m ột ví dụ trong lịch sử cho thấy các quan chức ngoại giao ở nước ngoài phạm pháp mà không b ị trị t ội. Phạm pháp ở nước ngoài không bị xử tội là một trong các nội dung đặc quyền dành cho các quan ch ức ngo ại giao, vì họ là đại biểu của quốc gia hay của người đứng đầu quốc gia ấy.
  9. Căn cứ vào nguyên tắc bình đẳng giữa các quốc gia thì quốc gia bản địa không có quyền qu ản lý ng ười đ ại di ện hay sứ giả của quốc gia khác, vì thế không thể xử tội các nhân vật này được. Hơn nữa quan ch ức ngo ại giao ch ỉ có thể giải quyết tốt các công việc ngoại giao khi nào không chịu sự can thiệp và áp lực của n ước mình đến cư trú. Các lý lẽ trên đây đã được các nước trên thế giới công nhận, vì thế các quan ch ức ngo ại giao có th ể đ ược hưởng đặc quyền ngoại giao và quyền miễn bị xử tội, nhưng điều này không có nghĩa là họ có thể không tôn trọng pháp luật của nước khác. Nếu như quan chức ngoại giao phạm tội thì họ có thể bị đuổi ra khỏi nước cư trú. Dù cho viên chức ngoại giao ấy không bị nước cư trú đem ra xét xử, nhưng bản thân việc phạm tội sẽ có ảnh hưởng tới quan hệ ngoại giao giữa hai nước, và do đó vẫn là một sự kiện hết sức nghiêm trọng. Nữ hoàng nước Anh có quyền quyết định chính sách hay không? Elizabet Đệ Nhị là quốc vương của nước Anh, cũng là nguyên thủ tối cao của nước Anh. Vì là nguyên thủ t ối cao của quốc gia nên bà phải tham dự các hoạt động quốc vụ trong nước, nhưng sự thật cu ộc đ ời bà rất thanh thản, tựa hồ như mọi sự vụ chính trị của quốc gia đều chẳng có gì liên quan đến bà. Vậy thì suy đến cùng ph ải chăng là bà không có quyền quyết định chính sách. Trên thế giới, nước Anh là nơi cách mạng tư sản nổ ra đầu tiên. Trong cuộc cách m ạng năm 1460, l ần đ ầu tiên quyền lực quân chủ tối cao tồn tại hàng hàng năm đã thật sự phải chịu m ột đòn xung kích dữ d ội của nhân dân. Sự kiện này được các nhà sử học coi là mở đầu cho giai đoạn lịch sử C ận đại. Sau cuộc cách mạng này, chế độ chuyên chế phong kiến do quốc vương nước Anh đứng đầu được thay thế bằng chế độ quân chủ lập hiến. Cái gọi là chế độ quân chủ lập hiến có nghĩa là quốc vương hay hoàng đế là nguyên thủ quốc gia, nhưng quyền lực lại phải chịu sự quy định của hiến pháp và bị hạn chế ở những m ức độ khác nhau. Quyền lực của quốc vương nước Anh bao gồm các mặt vê hành chính, t ư pháp, tự ngo ại, quân sự… Trong những năm sau cách mạng, quyền lực này dần dần bị thu hẹp bởi Quốc h ội do giai cấp t ư s ản hay t ầng l ớp quý tộc mới đứng đầu. Chẳng hạn vào tháng mười năm 1689, Quốc hội chính thức thông qua Tuyên ngôn pháp quyền quy định rằng nếu chưa được Quốc hội đồng ý, quốc vương không được cản trở hiệu lực của m ột điều luật nào cả. Năm 1701, Quốc hội lại ban bố Luật kế vị quy định mọi quyền quyết định của quốc vương đều phải có chữ ký phê chuẩn của Hội đồng cơ mật. Vì thế vị quân chủ chuyên chế tưởng chừng cao nhất thiên hạ đã trở thành một công dân đặc biệt, chịu sự chế ước của pháp luật và có địa vị quyền hạn đặt bên dưới lợi ích qu ốc gia. Elizabet Đệ Nhị lên ngôi vào năm 1952, bà không trực tiếp quản lý chính quyền quốc gia, mà ch ỉ là nhân v ật tượng trưng cho nước Anh mà thôi Tại sao Australia có tám thủ tướng? Australia nằm ở nam bán cầu, là một lục địa rộng lớn giữa Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. Mãi đến th ế k ỷ XVIII, nơi này mới được các nhà thám hiểm châu Âu phát hiện, vì thế cho nên đã có nhiều dân di c ư t ừ các nước châu Âu liên tục kéo đến lục địa này. Vì lục điạ này có diện tích hết sức rộng lớn, dân di cư đã tập trung vào m ột s ố điạ phương đ ể khai phá. H ọ phát triển nông nghiệp, mở hầm mỏ, mở mang buôn bán, rồi dần dần hình thành các khu vực hành chính g ọi là bang. Lúc đầu các bang tồn tại độc lập, không có liên quan với nhau và đều có chính phủ riêng. Nh ưng v ề sau, th ực dân Anh tuyên bố nắm chủ quyền Australia, đưa quân đội đến cai trị s ở t ại, bắt n ộp thuế và giở đủ trò áp bức.
  10. Một thời gian dài dân chúng không còn chịu đựng được nữa, vì thế các bang quyết đ ịnh liên h ợp l ại đ ể đ ối phó với thực dân Anh và đi đến thành lập một chính phủ trung ương thống nhất. Nhưng người Australia lo ngại rằng chính phủ liên hiệp trung ương này có quyền lực quá lớn, có th ể h ạn ch ế quyền độc lập của các bang, gây tổn hại cho lợi ích của họ. Vì thế họ lại đặt ra m ột s ố quy định rằng chính phủ trung ương thống nhất chỉ quản những việc lớn của toàn cõi Australia, chẳng hạn như tổ ch ức quân đ ội chống ngoại xâm, xây dựng đường sắt và với các công việc ngoại giao… còn chính ph ủ bang v ẫn t ồn t ại đ ộc lập, sản xuất nông nghiệp và buôn bán hàng hoá, mở trường quản lý giáo dục và quản lý y tế t ại địa ph ương. Chính phủ bang được dân trong bang bầu qua tuyển cử. Việc xây dựng chính quyền trung ương phải thông qua ý kiến của chính phủ và dân các bang. Do vậy, Australia có bảy bang, mỗi bang có một chính phủ và thủ tướng riêng của mình, cộng thêm m ột th ủ tướng trung ương nên toàn quốc có tám thủ tướng. Đó gọi là thể chế liên bang. Trên thế giới hiện nay có nhiều quốc gia theo thể chế liên bang như Mỹ, Brazil, New Zealand, Canada… Tổng thống Mỹ có phải do nhân dân Mỹ trực tiếp bầu ra hay không? Chúng ta đọc báo thấy cứ bốn năm một lần, mỗi khi có đợt bầu cử Tổng thống thì những ứng cử viên thu ộc Đảng Dân chủ và Đản Cộng hoà đều phải tới các bang trong toàn quốc để phát biểu vận động tranh cử, và cu ối cùng còn phải có một cuộc bỏ phiếu tuyển cử trong toàn quốc. Vì thế người ta cho rằng Tổng th ống Mỹ là nhân dân Mỹ trực tiếp bầu ra. Thực ra tình hình lại không phải như thế. Theo một luật tuyển cử, cử tri Mỹ chỉ trực tiếp bầu ra hai loại người. Một là nghị viện Quốc hội và hai là những người được gọi là người tuyển cử. Nhân dân Mỹ bỏ phiếu trực tiếp bầu ra các nghị viên Quốc hội, t ức là những ng ười t ổ ch ức hình thành Qu ốc hội, Quốc hội này là một cơ cấu hoạt động thường trực. Điều này có điểm giống như Đại hội Đại biểu Nhân dân của Trung Quốc, nhưng giữa hai bên có một sự khác nhau về bản chất. Vì Qu ốc h ội và Tổng th ống M ỹ có một mối quan hệ quyền lực song song, chế ước lẫn nhau, còn Đại hội Đại biểu Nhân dân của Trung Qu ốc là c ơ quan quyền lực tối cao của nhân dân toàn quốc, chủ tịch quốc gia là do Đại hội Đại biểu Nhân dân c ủa Trung Quốc bầu ra, hai bên có mối quan hệ cấp trên cấp dưới. Vì giữa Quốc hội và Tổng thống Mỹ có mối quan hệ đặc thù như vậy, cho nên đã có m ột bi ện pháp khác đ ể tuyển cử Tổng thống, đó tức là chế độ những người tuyển cử. Sau khi ứng cử viên hai đảng đã tranh cử xong, các bang dựa theo tỷ lệ nhân khẩu, t ổ ch ức các c ử tri b ỏ phi ếu bầu ra một số người tuyển cử. Sau đó, những người tuyển cử này (trong toàn quốc có khoảng hơn bốn trăm người) tổ chức một đoàn tuyển cử tập trung tới Thủ đô Washington để bỏ phiếu Tổng thống. Tuy nhiên, những người tuyển cử cũng không bỏ phiếu tuỳ theo ý nguyện bản thân mình, họ phải dựa theo ý nguyện của cử tri trong bang của mình, trước hết phải trình bày với cử tri là sẽ bỏ phiếu cho ai, sau đó m ới đi Washington. Nếu như người tuyển cử không muốn dựa theo ý muốn của cử tri để bầu phiếu thì họ sẽ bị bãi miễn, vì th ế phương pháp tuyển cử gián tiếp này mang tính sâu sát rất cao, cho nên nó cũng g ần như là tuyển c ử tr ực ti ếp. Dù là những đại biểu được dân trực tiếp bầu ra, song những người tuyển cử sau khi lựa ch ọn xong Tổng th ống sẽ hết quyền lực và kết thúc sứ mệnh của họ Tại sao trong quân đội Mỹ không có quân hàm nguyên soái? Dapan Trong quân đội Mỹ, quân hàm cao nhất là đại tướng năm sao chứ không có quân hàm nguyên soái. Trong cu ộc Chiến tranh Thế giới II, một số tướng lĩnh có chiến công cao nhất như Marshal Aixenhao… đến sau chi ến tranh cũng chỉ được đại tướng năm sao. Tại sao vậy?
  11. Vốn là sau khi Chiến tranh Thế giới II kết thúc, ở nước Mỹ người ta cùng đã từng dự tính phong cho m ột s ố tướng lĩnh cao cấp nổi tiếng nhất quân hàm nguyên soái lục quân, thế nhưng các cơ quan h ữu quan l ại phát hi ện thấy rằng danh từ nguyên soái (Marshal) lại hoàn toàn giống như tên h ọ của tham m ưu tr ưởng l ục quân M ỹ Marshal. Nếu được phong hàm nguyên soái thì nguyên soái Marshal gọi theo tiếng Anh s ẽ là Marshal Marshal nghe quá lạ tai. Các cơ quan hữu quan cảm thấy vấn đề này rất khó khăn để giải quyết, cho nên sau khi th ảo lu ận nhiều l ần đã trình bày với Tổng thống Rudơven. Cuối cùng người ta thấy tốt nhất là không đặt hàm nguyên soái n ữa. Do đó cấp tướng năm sao đã trở thành quân hàm cao nhất trong quân đội Mỹ. Và nh ững ng ười nh ư Marshal cũng ch ỉ được phong quân hàm tướng năm sao. Trong lịch sử nước Mỹ, đã nhiều người được phong hàm nguyên soái lục quân, đó là Tổng th ống đ ầu tiên Washington và Phanxing. Sau khi Phanxing qua đời thì quân hàm nguyên soái không bao giờ được s ử d ụng n ữa. Tại sao Hitler sử dụng hình chữ “Vạn” làm biểu tượng cho đảng Quốc Xã? Trong thời kỳ nước Đức chịu quyền thống trị của Hitler, hình chữ “Vạn” ở đâu cũng có, nó không nh ững t ượng trưng cho nền thống trị chuyên chế phát xít của nước Đức theo đảng Quốc Xã, mà còn t ạo ra những n ỗi đau khổ vô tận cho nhân dân Do Thái, cũng như nhân dân tất cả các nước bị n ước Đức Quốc Xã xâm l ược. Chữ “Vạn” còn được gọi là chữ thập ngoặc. Nó đã có lịch sử rất xa xưa. Ngay từ h ơn b ốn ngàn năm tr ước Công nguyên, hình chữ “Vạn” đã xuất hiện. Ở nước Ấn Độ thời cổ đại, nó biểu hiện hạnh phúc t ối cao. Ở Trung Quốc nó đã được lưu hành hồi Võ Tắc Thiên năm chính quyền, bà đã định âm chữ này là “Vạn”. Tr ước th ời Hitler, một số người Đức đã từng sử dụng hình tượng trưng cho chữ “Vạn” này rồi. Mùa hè năm 1920, Hitler cảm thấy rằng Đảng Quốc Xã cần một biểu tượng tượng trưng có thể thu phục đ ược lòng người. Sau nhiều suy nghĩ, hắn thiết kế một lá cờ với một vòng tròn trắng, ở giữa vẽ chữ “Vạn” màu đen và hắn đã cảm thấy hết sức đắc ý về lá cờ này. Theo cách giải thích của hắn thì m ầu đen t ượng trưng cho ý nghĩa xã hội trong cuộc vận động của bọn hắn, mầu trắng tượng trưng cho tư tưởng dân t ộc ch ủ nghĩa, còn ch ữ Vạn thì tượng trưng cho sứ mệnh chiến thắng của giống người Arian. Thực ra thì Hitler tuyên truyền cho ch ủ nghĩa chủng tộc cực đoan, coi người Arian là chủng tộc cao quý nhất. Về sau d ưới là cờ ch ữ “V ạn”, đ ảng Qu ốc Xã đã không ngừng khuếch trương thế lực. Đến năm 1933, đảng Quốc Xã lên chấp chính, chữ “Vạn” lại trở thành hình t ượng trưng cho nước Đức Qu ốc Xã, nhưng dưới con mắt của nhân dân thế giới, nó chỉ tượng trưng cho tội ác mà thôi. Tại sao các hoàng đế của nước Nga được gọi là Sa hoàng? Về vấn đề này, đầu tiên phải nói tới nhà độc tài của thành La Mã thời cổ đại Cesar. Năm 45 tr ước Công nguyên, Viện Nguyên Lão La Mã đã dựa vào chiến công của Cesar cũng như quyền th ế và tài s ản cực l ớn c ủa ông ta đ ể tuyên bố Cesar là nhà độc tài trọn đời. Tuy rằng hồi bấy giờ, La Mã theo th ể ch ế cộng hoà c ổ đ ại, nh ưng quy ền lực cá nhân của Cesar đã lên tới đỉnh cao. Sau khi ông chết đi, tên của ông đã trở thành từ tượng trưng cho kẻ độc tài, cho kẻ quân chủ chuyên ch ế, vì th ế nhiều tay quân chủ chuyên chế ở các nước phương Tây đã dùng Cesar làm danh hi ệu của mình, đ ể nói lên quyền thế và uy lực tối cao của mình. Ngày 16 tháng giêng năm 1547, hoàng đế Ivan Đệ Tứ của n ước Nga (cũng gọi là Ivan Hung B ạo) lên n ắm quyền. Tước hàm chính thức của ông là Đại công tước Moxcva và toàn cõi Nga. Ivan Đệ Tứ đã không tho ả mãn với cái tước hiệu Đại công tước, vì thế lúc đội mũ miện, ông tự xưng là Sa hoàng. Chữ Sa là chuyển âm của t ừ La tinh Cesar, tức là ông ta tự coi mình là Cesar và t ỏ ý rằng mình s ẽ trở thành đ ộc tài c ủa toàn cõi Nga, xây dựng lại một đế quốc cường thịnh như La Mã xưa. Từ đó Sa hoàng trở thành danh hiện của các quân v ương ở Nga. Còn nước Nga trở thành “Nước Nga của Sa hoàng”.
  12. Năm 1721, Pitotr Đại Đế đổi danh hiệu là Hoàng đế, nhưng nói chung người ta vẫn gọi ông là Sa hoàng và có khi dùng cả Sa hoàng lẫn Hoàng đế. Tại sao coi chim bồ câu là biểu tượng của hoà bình? Trong Kinh Thánh có đoạn như thế này: “Thượng đế Jehova tạo ra người nam là Adam, rồi lại l ấy m ột cái xương sườn của Adam tạo ra con người nữ Eva, nhờ đó con cháu của họ sinh sôi nảy nở và làm ăn sinh s ống rất hưng thịnh. Nhưng trong nhân loại lại sản sinh ra những kẻ tham đồ hưởng lạc, không nghĩ t ới chuyện cần cù lao đ ộng, vì thế mới nảy sinh những tội lừa bịp, hủ hoá và bạo lực, phong khí đạo đức của nhân loại bắt đ ầu hủ ho ại. Thượng đế nổi giận, quyết định dùng nạn hồng thuỷ để huỷ diệt thế giới này Nhưng cháu đời thứ chín của Adam là Noe, tộc trưởng của tộc Hebrơ là m ột người hết s ức trung thành v ới Thượng Đế. Ông chủ trương giữ trọn chính nghĩa, căm ghét sâu sắc các điều ác trong loài người. Một hôm Thượng Đế bảo Noe rằng mặt đất sắp bị hồng thuỷ nhấn chìm. Noe phải lập tức làm m ột con thuyền hình vuông có ba tầng để tránh nạn. Noe tuân theo lời căn dặn của Thượng Đế, làm xong chiếc thuyền hình vuông, đưa tất cả mọi người trong gia đình cùng với gia súc, gia cầm trong nhà đưa lên thuyền Hồng thuỷ kéo dài 150 ngày, ngập chìm tất cả núi cao và nhà cửa, làm chết vô s ố ng ời, ch ỉ riêng có gia đình Noe được an toàn vô sự. Đến khi nước sắp sửa rút, Noe quyết định thả con chim bồ câu cho nó đi thám thính, nh ưng con chim chỉ lượn hết một vòng rồi bay về. Noe biết rằng khắp các nơi vẫn còn là n ước, cho nên con chim không có chỗ nào để đậu. Vài ngày sau, Noe lại thả chim bồ câu. Lúc con bồ câu trở v ề, trên m ỏ nó ng ậm nhánh trám mầu lục, Noe nhìn thấy thế hết sức sung sướng, và điều này chứng tỏ n ước lụt đã rút để lộ ra những nhánh cây non nhô lên khỏi mặt nước, thế là ông đưa tất cả gia đình trở về lục địa, b ắt đ ầu xây d ựng m ột cu ộc sống mới”. Chuyện con chim bồ câu và nhánh trám báo trước cuộc sống hoà bình và an ninh đã theo Kinh Thánh mà đ ược phổ biến ra toàn thế giới. Đến những năm 30 thế kỷ XVII, ở châu Âu nổ ra một cuộc chiến tranh kéo dài h ơn 30 năm trời, làm cho châu Âu, đặc biệt là nhân dân Đức chìm trong đau thương trầm trọng. Th ời b ấy gi ờ, t ại m ột số thành thị ở nước Đức, lưu hành một thứ khăn kỷ niệm, trên vẽ hình con chim bồ câu ngậm m ột nhành trám, phản ánh nguyện vọng mong chờ hoà bình của nhân dân, vì thế con chim bồ câu và nhánh trám đã t ượng trưng cho hoà bình. Sau cuộc Chiến tranh thế giới II, nhà hoạ sỹ lớn Picasso đã vẽ một con chim bồ câu trắng đang bay, gửi t ặng Đại hội Hoà bình toàn thế giới, người ta gọi con chim bồ câu này là Chim bồ câu hoà bình. Tại sao trận Oateclo trở thành điều tượng trưng cho thất bại trong cuộc đời con ng ười? Ngày 20 tháng sáu năm 1815 tại ngoại ô Thành phố Oateclo cách thủ đo Brucxen n ước B ỉ 23 km về phía nam, liên quân chống Pháp đã phát động một cuộc tiến công mãnh liệt vào quân đội Pháp do Napoleon ch ỉ huy. Thật là một trận chiến long trời lở đất, trước sự tấn công ồ ạt của liên quân, quân đội Pháp đã tan v ỡ không còn một mảnh giáp, thống soái Napoleon chỉ còn cách giẫm chân thở dài rồi bỏ quân đội mà ch ạy th ục m ạng. Napoleon xuất thân từ một gia đình quý tộc đã sa sút trên đảo Coóc. Năm 1793, ông 24 tu ổi, b ắt đ ầu xu ất đ ầu l ộ diện. Trong hơn mười năm trời, ông đánh Đông dẹp Bắc, không trận nào là không chiến thắng, không nh ững ch ỉ xưng hùng trên đại lục châu Âu mà còn chinh phục được Ai Cập cùng nhiều vùng đất ở Địa Trung Hải, làm cho vô số vương công phải cúi đầu xưng thần, và nhiều quốc gia nhỏ biến thành phiên thuộc của n ước Pháp. Dù cho các nước mạnh ở châu Âu không can tâm chịu thất bại, liên tục tổ chức nhiều nhóm đồng minh ch ống Pháp, nhưng trước một tay thiện chiến như Napoleon, họ hầu như không tìm ra được m ột đòn nào đáng k ể.
  13. Năm 1804, Napoleon xưng làm hoàng đế, đội vương miện do chính tay giáo hoàng đặt lên đầu. Có th ể nói rằng mọi thứ vinh quang trong cuộc đời một con người Napoleon đều đã được tận hưởng. Người ta t ừng gọi Napoleon là đứa con yêu của Thượng đế, vị Thần Chiến tranh. Nhưng từ năm 1808 về sau, cuộc đời Napoleon bắt đầu xuống dốc. Trên chiến trường ông bị thất bại nhiều lần. Dù cho năm 1814, liên quân chống Pháp đã xông vào Paris, bắt Napoleon phải thoái vị, nhưng ông v ẫn còn sáng tạo được một kỳ tích của kẻ thất bại. Ông bỏ chạy khỏi nơi đi đày là đảo Enbơ và lại đội vương miện. Song xu thế thất bại đã không có cách nào xoay chuyển được nữa rồi, cuối cùng ông đã đ ặt cược t ất cả vào tr ận Oateclo. Đối với Napoleon mà nói thì chiến dịch này có tính chất quyết đ ịnh. Sau đó ông ta không còn có c ơ h ội chỉnh đồn binh mã để có thể lại tiếp tục làm mưa làm gió, vì thế chiến dịch Oateclo th ường đ ược dùng đ ể tượng trưng cho thất bại trong cuộc đời con người. Trên thế giới có bao nhiêu thứ tiếng? Hiện nay trên thế giới có khoảng sáu tỉ con người, chia nhau sống trên năm lục địa và phân ra kho ảng hai trăm quốc gia. Phần lớn các con người không chỉ khác nhau về phong tục tập quán mà còn dùng những ngôn ng ữ khác nhau. Theo bản điều tra báo cáo của UNESCO Liên Hiệp Quốc thì trên th ế giới có hai nghìn b ảy trăm năm m ươi th ứ tiếng. Nhưng một số nhà xã hội học ở Nga và Đức lại nói rằng trên thế giới có năm nghìn sáu trăm năm m ươi mốt thứ tiếng. Nói chung trên thế giới có hai nghìn đến ba nghìn thứ tiếng. Nhưng trong các thứ tiếng phong phú này, thì có trên một nghìn bốn trăm thứ tiếng ho ặc không đ ược công nh ận là thứ tiếng độc lập, hoặc sắp bị tiêu vong. Có khoảng hai mươi thứ tiếng hầu như ngày nay không còn ai biết nói nữa, ba phần tư các thứ tiếng trên thế giới còn chưa có chữ viết. Chỉ có kho ảng 500 th ứ tiếng đã đ ược người ta nghiên cứu tương đối đầy đủ. Trên thế giới có khoảng mười ba thứ tiếng mà số người sử dụng lên tới trên năm mươi triệu. Trong s ố đó tiếng Hàn, tiếng Anh, tiếng Tây Ban Nha, tiếng Nga đều có trên một trăm triệu người trên thế gi ới sử d ụng. Ti ếng Pháp tuy có số người sử dụng không tới một trăm triệu nhưng lại có đến 26 quốc gia lấy tiếng Pháp làm ngôn ngữ chính thức. Camơrun là một nước nhỏ ở miền Tây châu Phi, nghe nói n ước này có trên m ột nghìn th ứ ti ếng. Trên thế giới thứ tiếng có số người sử dụng ít nhất là Oat, chỉ có 50 người nói. Lại có một thứ tiếng nhân tạo đó là Quốc tế ngữ. Quốc tế ngữ là một thứ tiếng bổ trợ trên thế giới. Các n ước trên thế giới đều có người biết sử dụng. Thế giới có bảy kỳ quan nào? Hai thế kỷ trước Công nguyên, thành La Mã có một tác giả lữ hành gia tên là Ant ơbat. Sau khi đi chu du ở các nước trên thế giới, ông đã nêu lên bảy nơi danh thắng lớn phản ảnh được trình độ khoa h ọc và văn hoá c ủa toàn thể các vùng chung quanh biển Địa Trung Hải. Ngày nay người ta gọi bảy nơi danh th ắng này là “B ảy kỳ quan thế giới”. “Bảy kỳ quan thế giới” gồm có: 1. Kim tự tháp cổ Ai Cập: Đó là công trình kiến trúc cổ xưa nhất trong lịch sử của bảy kỳ quan, đã được ng ười đời xưa xây dựng trước đây khoảng 4.600 năm, cho tới nay vẫn còn gìn giữ hoàn hảo. 2. Vườn treo ở Babilon: Là một đài đắp bằng đất có bốn tầng, cao 25 mét, trên m ỗi t ầng có trồng nh ững hoa c ỏ kỳ lạ, nhìn từ xa thì nom cứ như là một vườn hoa đẹp treo trên cao. Tương truyền vườn hoa này là do Qu ốc vương Babilon đã cho xây dựng để an ủi bà Vương phi sống xa cố hương. 3. Đền thờ nữ thần Artemix ở Ephdo: Đền thời này cao 120 mét, rộng 65 mét, xung quanh có 127 cột tr ụ b ằng đá. Trên các cột đá này mang những hình điêu khắc thể hiện các chuyện th ần tho ại
  14. 4. Tượng Thần Dớt ở Olympia đặt trong đền thờ Thần Dớt trên núi Olympia ở miền Nam Hy Lạp: Tượng cao 15 mét, thân bằng gỗ đen, trang sức bằng vàng, ngà voi và đá quý. Tay ph ải của Th ần gi ơ ra bức t ượng n ữ th ần Chiến thắng, còn tay trái nắm chiếc gậy tượng trưng cho quyền uy của mình, thần thái rất là trang nghiêm. Ti ếc rằng trong thế bức tượng này đã bị huỷ hoại. 5. Lăng mộ Halicacnax ở Thổ Nhĩ Kỳ: Thế kỷ IV trước Công nguyên, quốc vương Calia ở tiểu Asia đã xây d ựng khu lăng mộ này cho vương hậu. Lăng mộ được dựng lên bằng đá hoa hình chữ nhật, phía trên có 24 hình kim t ự tháp. Trên đỉnh có tạc tượng vua Halicacnax ngồi cùng với vương hậu trên chiến xa. Đến th ế k ỷ XV, lăng m ộ này đã bị huỷ hoại. 6. Tượng thần Mặt trời trên đảo Rôt ở Địa Trung Hải: Bức tượng này đã được sáng tác đ ể k ỷ ni ệm s ự ki ện đ ảo Rôt thoát khỏi cuộc vây hãm kéo dài. Tượng được đúc bằng đồng thau, cao t ới 39 mét, đ ặt ở cửa h ải cảng c ủa đảo này. Năm 224 trước Công nguyên bức tượng đã bị phá huỷ trong một trận động đ ất. 7. Cây đèn biển ở Alecxandria làm trên đảo Phalax bên ngoài cửa hải cảng Alecxandria n ước Ai C ập: cao 122 mét. Trên đỉnh tháp có bức tượng thần Apolon lớn. Đến đêm trên đỉnh tháp đốt m ột ng ọn n ến rất ta, ch ỉ d ẫn cho tàu bè đi lại. Tương truyền kể lại rằng các tàu bè ở cách xa 40 km cũng có thể trông th ấy ánh đèn trên đ ỉnh tháp. Ngọn đèn biển này còn được giữ cho tới thế kỷ XII sau Công nguyên. Tại sao Beethoven được tôn vinh là “Nhạc Thánh”? Dapan Trên thế giới có một số nhạc sỹ đạt tới thành tựu cao đều có thêm một danh hiệu tôn xưng đ ặt trước tên mình. Trong số đo riêng một mình nhà soạn nhạc Áo nổi tiếng Beethoven có được cái danh hiệu “Nh ạc Thánh” Beethoven từ nhỏ đã sống trong cảnh bần cùng, ông phải vừa làm việc kiếm tiền v ừa h ọc t ập và nh ờ đó m ới có được tri thức mới và tư tưởng mới. Cuộc sống gian khổ đã mài giũa ý chỉ của ông. Vì thế trong các tác ph ẩm của ông luôn luôn thấy nổi lên chủ đề đấu tranh chống lại số phận. Beethoven không bao giờ chiều theo thói đời, không bao giờ a dua với thời thế. Nhờ tài năng xu ất chúng và v ới phẩm cách bất khuất của mình, ông đã được tất cả các đồng nghiệp tôn kính, được người đời khâm phục. Năm 1815, ông 45 tuổi, hai tai bỗng nhiên đều bị điếc, nhưng ông dựa vào những cố gắng kiên cường, dù cho tai điếc vẫn soạn ra được những tác phẩm kiệt xuất, trong số đó có bản “Giao hưởng hợp x ướng” (cũng g ọi là b ản Giao hưởng số 9). Nếu nh các “thánh nhân” thường có trí tuệ và phẩm cách siêu phàm, thoát tục, thì trong cái danh hi ệu “Nh ạc Thánh” của Beethoven không những chỉ bao hàm nội dung nói trên, mà lại còn hàm ý cả phong cách t ư t ưởng và thể nghiệm độc đáo. Chúng ta có thể tìm trong bản Giao hưởng Định mệnh (cũng gọi là bản Giao hưởng s ố 5) mà nghe th ấy cái tâm thanh như một triết nhân muốn tìm hiểu ý nghĩa chân chính của đời sống con người, cũng có thể dựa vào b ản Giao hưởng Anh hùng (cũng có tên là bản Giao hưởng số 3) để nghe thấy những gì Beethoven ca ng ợi và t ỏ lòng tôn kính các anh hùng, càng có thể dựa vào bản Giao hưởng Điền viên (cũng còn đ ược g ọi là b ản Giao h ưởng s ố 6) để nghe thấy những lời âu yếm hướng vọng tới thiên nhiên của ông. Trong các tác phẩm của Beethoven đã đúc hợp các khổ n ạn của ông, dũng khí của ông, ni ềm hoan l ạc c ủa ông và cả nỗi bi ai của ông. Lãnh vực nghệ thuật và lãnh vực tư tưởng mà ông đạt tới thì cả thời bấy giờ lẫn cho t ới ngày nay chưa có một người nào khác vươn tới được. Có thể nói Beethoven không hổ thẹn với danh hiệu “Nh ạc Thánh” mà người ta tặng cho ông. Tại sao nói nước Pháp là quê hương của nghệ thuật điện ảnh?
  15. Nước Pháp là quê hương của ngành điện ảnh. Trong hơn một trăm năm từ ngày ngành điện ảnh ra đ ời cho đ ến nay, nhiều tác phẩm điện ảnh ưu tú đã ra đời ở nước Pháp. Điện ảnh của n ước Pháp chiếm m ột vị trí quan trọng trong lịch sử điện ảnh thế giới. Năm 1893, người Mỹ Êđixơn đặt một cây đèn sau mảnh phim nhựa đã chụp, phóng chiếu hình ảnh có trên m ảnh phim nhựa lên một tấm màn vải và trên màn vải hiện ra hình ảnh đã có trên m ảnh phim nhựa. Nh ưng đó ch ỉ là những hình tĩnh. Về sau máy quay phim ra đời. Chỉ trong một phút máy quay này có th ể ch ụp vài tr ục khung hình và như thế đã có thể ghi lại quá trình biến động của nhân vật và sự kiện. Cùng với sự xuất hiện của máy chi ếu phim, quá trình biến động này đã được phóng chiếu một cách linh hoạt trên màn v ải. Tháng 3 năm 1895 hai anh em nhà Luymie đã quay được một bộ phim điện ảnh đầu tiên trong lịch sử ở thành phố Lyon. Ngày 28 tháng 12 cùng năm ấy rạp chiếu bóng đầu tiên trên thế giới ra đời. Hôm ấy ng ười ta đã cử hành một lễ khai trương long trọng để chúc mừng ngày sinh nhật của rạp chiếu bóng đầu tiên này. Hai anh em nhà Luymie đem bộ phim đầu tiên mà họ quay được chiếu lên cho m ọi người xem. Khi các khách xem thấy xuất hiện trên màn bạc hình ảnh những nhân vật đang hoạt động thì mọi người vui sướng như điên và chạy đi báo tin cho người khác biết. Hôm ấy anh em nhà Luymie đã có được bản quyền phát minh đi ện ảnh. Vì thế ngày 28 tháng 12 năm 1895 đã trở thành ngày sinh của ngành điện ảnh. Năm sau, nhà kỹ thuật của nước Pháp Mariai quay một bộ phim nhan đề là “Bà quý t ộc m ất tích”, th ời gian chiếu phim dài tới 15 phút, lại còn vận dụng một số kỹ xảo hình ảnh đặc biệt nâng cao được trình đ ộ ngh ệ thuật của bộ phim. Từ đấy về sau, điện ảnh ở nước Pháp có một tốc độ phát triển như bay, hình thành được cả một hệ thống sản xuất điện ảnh. Vì thế nếu nói rằng nước Pháp là quê hương của điện ảnh thì điểu đó hoàn toàn đúng. Tại sao nhà điêu khắc Rôđanh tạc bức tượng Banzac không có tay? Dapan Nhà điêu khắc người Pháp nổi tiếng toàn thế giới là Rôđanh trong suốt cuộc đời của ông, đã có được kiệt tác điêu khắc quả thật là huy hoàng. Ông đã có những cống hiến tuyệt vời cho kho tàng nghệ thuật của nhân lo ại. Thủ pháp sáng tác của Rôđanh hết sức phong phú, đa dạng và có tính nghệ thuật độc đáo. Ông đã t ạc b ức t ượng Banzac nổi tiếng sinh động như người sống, tác động mạnh tới người xem đúng là một bảo vật điêu khắc. Nhưng bức tượng của bậc thầy văn học này lại không có tay, đó là vì sao vậy? Hôm tạc xong lần đầu, Rôđanh hết sức phấn khởi, gọi ngay vài môn đệ của mình t ới, cho h ọ chiêm ng ưỡng b ức tượng kỷ niệm Banzac mà mình vừa hoàn chỉnh. Lúc Rôđanh kéo tấm vải phủ lên bức tượng ra thì các môn đệ của ông đều kêu lên vì kinh ng ạc. Trước m ắt h ọ hiện ra một Banzac trong chiếc áo ngủ thùng thình, hai tay bắt chéo trước ngực, m ắt nhìn th ẳng về phía trước nom có vẻ như vừa qua một đêm cày bừa vất vả trên mặt giấy. Trong giờ khắc này ông đang đ ưa m ắt nhìn c ảnh trời bình minh bên ngoài cửa sổ và đang suy nghĩ ấp ủ một tác phẩm kiệt xuất m ới. Mấy người môn sinh của Rôđanh đều bị chấn động trước kiệt tác của ông thầy, nhưng trong đó có người chỉ cái tay trên bức t ượng và xúc động nói: - Thưa thầy! Thầy tạc cái tay này truyền đạt tinh thần rất giống, nom cứ nh ư th ật v ậy. Xong lời khen này chẳng hề làm cho Rôđanh cảm thấy vừa ý, trái lại ông nhún vai, trên m ặt l ộ rõ v ẻ th ất v ọng sâu sắc. Rồi đột nhiên, Rôđanh cầm lấy con dao điêu khắc nhằm thẳng vào cánh tay của Banzac đã chém xu ống hai nhát. Động tác này quả thật đã làm cho mấy môn sinh có m ặt đờ đ ẫn cả người. Rôđanh nói: - Hai cánh tay này tuy là hoàn mỹ như thế nào, nhưng lại không nằm trong cái th ể hoàn ch ỉnh của b ức t ượng điêu khắc này. Thôi hãy để cho nó tự ra đi. Mọi người cần phải nhớ lấy rằng trên m ột tác ph ẩm nghệ thu ật chân chính thì không thể có một bộ phận nào quan trọng hơn cái thế hoàn chỉnh của nó đ ược.
  16. Cách nhìn sâu sắc này của Rôđanh đã làm cho các môn sinh của ông hiểu rõ thêm d ụng tâm của ông th ầy. Từ đấy về sau bức tượng Banzac của Rôđanh được lưu giữ mãi mãi trong khu rừng nghệ thuật của th ế giới, bên cạnh các tác phẩm khác của Rôđanh như: Nhà tư tưởng, Thời kỳ đồng thau… Tại sao tượng thần Vệ Nữ cụt tay trở thành bảo vật hiếm có trên thế giới? Dapan Tháng hai năm 1820, trên đảo Milo của nước Hy Lạp, một nông dân tên là Ooccax đang cày ru ộng thì đào đ ược dưới đất lên một bức tượng tạc hình một người phụ nữ bị cụt tay. Qua sự giám định của các chuyên gia v ề khảo cổ, hiện vật văn hoá này là một tác phẩm nghệ thuật thuộc thời kỳ cổ Hy Lạp, đã có t ừ thế k ỷ II tr ước Công nguyên. Đó là tượng của nữ thần tình yêu Vệ Nữ. Về sau bức tượng thần Vệ Nữ này được một người Pháp mua và mang đi về Paris. Người mua b ức tượng này đã đem nó hiến cho vua nước Pháp là Lui XVIII. Hồi bấy giờ quốc vương Lui XVIII nhìn b ức t ượng m ất m ột cánh tay này, cảm thấy rằng nó chưa đủ hoàn mỹ, cho nên quyết định m ời các nhà điêu kh ắc t ới đ ể làm th ế nào cho thần ái tình Vệ Nữ có đủ cả hai tay. Tuy nhiên bất kỳ nhà điêu khắc nào, dù suy nghĩ nát óc đến thế nào, thiết k ế ra nh ững cánh tay có đ ủ t ư th ế nh ư thế nào, nhưng vừa lắp hai cái tay tạc thêm vào bức tượng thì cuối cùng vẫn không thể nào làm cho ng ười ta vừa ý. Trái lại cứ tạo ra cảm tưởng như vẽ thêm chân, gây tổn hại cho mỹ cảm nghệ thuật của tác ph ẩm điêu khắc. Sau khi bức tượng thần Vệ Nữ cụt tay được triển làm công khai ở Paris, ấn tượng thật là chấn động, m ọi người đều kinh ngạc, ca ngợi từng đường nét tinh xảo và vẻ đẹp tuyệt trần của toàn bức tượng. Ngày nay bức tượng điêu khắc này được coi là vật báu vô giá hiểm có trên đ ời, và đ ược để trong vi ện b ảo tàng Luvrơ tại thủ đô Paris của nước Pháp. Các phiên bản của bức tượng thần Vệ Nữ cũng được phổ biến trên khắp thế giới, thâm nhập vào hàng vạn gia đình và được coi như vật tượng trưng cho cái đẹp. Ở Trung Quốc cũng có một tác phẩm nghệ thuật tương tự như bức tượng nói trên của Thần ái tình Vệ N ữ. Trong viện bảo tàng tỉnh Thiểm Tây có 1 bức tượng Bồ Tát. Khi khai quật dưới đất lên thì đầu, tay, chân đ ều đã gẫy đứt, xong dải lụa rủ từ trên vai xuống và các nếp lục của chiếc váy tuôn ch ảy nom cứ nh ư n ước mùa xuân. Các nếp da thịt, các đường nét của toàn thân đẹp đến nỗi người ta nghĩ rằng bức t ượng đ ứng của v ị B ồ Tát này tràn trề cả một sức sống thanh xuân. “Vẻ đẹp tàn khuyết” trên bức tượng điêu khắc cổ đại này, dù không có hai tay, song v ẫn làm cho người ta có thể thông qua các phần còn lại của cơ thể tưởng tượng được vẻ đẹp tuyệt vời của toàn thân nhân vật được điêu khắc. Bức tượng “thần Vệ Nữ” Trung Quốc này hoàn toàn có thể so sánh v ới b ảo v ật điêu kh ắc t ại Vi ện bảo tàng Luvrơ ở thủ đô Paris của nước Pháp. Tại sao con đường thông thương cổ đại được gọi là “Con đường tơ lụa”? Dưới triều nhà Hán, Trung Quốc đã mở được một con đường thông thương buôn bán có khởi điểm là Thủ đô Trường An thời bấy giờ (nay là Tây An) và vắt ngang qua đại lục châu Á, chạy thẳng t ới Địa Trung H ải r ồi vượt biển, đạt tới điểm cuối cùng là thành La Mã. Thông qua con đường thông thương kéo dài h ơn b ảy ngàn kilômet, liên kết ba lục địa châu Á, châu Phi và châu Âu, dân t ộc Hán đã chuyển t ới toàn th ế gi ới n ền k ỹ thu ật nông nghiệp, thủ công nghiệp tiên tiến, bao gồm cả bốn phát minh lớn của Trung Quốc. Ngược lại nhiều s ản vật và văn hoá độc đáo của phương Tây như sư tử, lạc đà, nho, dưa chuột, cả đến Phật giáo của Ấn Đ ộ, h ội hoạ của Hy Lạp cũng được truyền nhập vào Trung Quốc. Nền kinh tế và văn hoá của hai miền Đông Tây, nh ờ có Con đường thông thương này đã được giao lưu, đem lại ảnh hưởng rất lớn cho sự phát triển của n ền văn minh thế giới.
  17. Trên con đường buôn bán này, hối bấy giờ thứ hàng được trở đi nhiều nhất là t ơ lụa, m ột đặc s ản của Trung Quốc. Vì thế con đường này đã được gọi là “Con đường tơ lụa”. Nghe nói khi m ột vị hoàng đế La Mã lần đ ầu tiên mặc bộ quần áo bằng tơ lụa do Trung Quốc sản xuất để đi xem hát đã gây ch ấn đ ộng cả kinh thành La Mã. Năm 139 trước Công nguyên, Trương Khiên xuất phát đi Tây Vực, nhưng chẳng bao lâu ông b ị quân Hung Nô bắt. Sau 11 năm bị giam giữ, ông trốn thoát và đến năm 126 trước Công nguyên thì trở về đ ược Trường An. Dưới sự chỉ đạo của quân Hung Nô, khống chế được khu vực Hà Tây thông tới Tây Vực. Năm 119 trước Công nguyên, một lần nữa Hán Vũ Đế lại sai Trương Khiên đi sứ Tây Vực. Ông tới trước Ô Tôn (Nay thu ộc vùng sông Y Lê và hồ Y Tắc Ư lại sai phó sứ đến các nước Đại Nguyệt Thị, An Tức (nay là Iran), Quyên Đ ộc ( Ấn Độ thời cổ). Sau đó đến năm 115 trước Công nguyên thì trở về Trường An. Do những hạn chế của điều kiện lịch sử, sứ thần Hán chưa thể theo Con đường thông thương này mà t ới đ ược đế quốc La Mã của phương Tây. Nếu không, theo lời các sử gia, lịch sử của thế giới sẽ phải viết lại. Tại sao Vạn Lý Trường Thành không được đưa vào “Bảy kỳ quan thế giới”? Vạn Lý Trường Thành là một công trình kiến trúc vĩ đại cổ xưa nhất trên thế giới. Nom nó nh ư m ột con r ồng khổng lồ uốn khúc từ trên xuống, kéo dài liên miên tới 6.700 km. Cùng với kim tự tháp Ai C ập, V ạn Lý Tr ường Thành được coi là hai kỳ tích có tính chất tiêu biểu nhất trên Trái đ ất này. Tuy nhiên tên c ủa kim t ự tháp Ai C ập thì được đặt lên hàng đầu của “Bảy kỳ quan thế giới”, còn Vạn Lý Trường Thành ở Trung Quốc lại bị g ạt ra ngoài bảy kỳ quan ấy. Đó là sao vậy? “Bảy kỳ quan thế giới” gồm có: Kim tự tháp của Ai Cập, vườn treo Babilon, lăng m ộ Halicanax ở Th ổ Nhĩ Kỳ, tượng Thần Dơt trên núi Olympia ở Hy Lạp, đền thờ thần Artêmix ở Ephedow, ngọn đèn thần Phalax ở Ai C ập, bức tượng tạc hình thần Apolon ở đảo Rôt. “Bảy kỳ quan thế giới” này đã được nhà thơ Antơbat nêu lên trong thế kỷ II trước Công nguyên. H ồi ấy nhà th ơ này sống tại thành Xidon ở Phenixi trên bờ biển phía Đông của Địa Trung Hải, mà trong thời kỳ ấy thì còn ch ưa khai thông con đường tơ lụa từ Trung Quốc sang tới bờ biển phía Đông Địa Trung Hải. Vì thế nhà th ơ nói trên còn chưa được biết rằng ở phương Đông có một toà Trường Thành hùng vĩ. Bởi vậy ông đã không đưa toà Trường Thành ấy vào một trong “Bảy kỳ quan thế giới” và đó là điều có thể hiểu được. Cho tới thời kỳ cận đại, cách nói về “Bảy kỳ quan thế giới” lại có những nội dung khác. Hiện nay, “B ảy kỳ quan thế giới” mà người ta nói chỉ có: Đấu trường cổ hình tròn ở thành La Mã nước Italia, đèn biển Phalax ở Alecxandria nước Ai Cập, Vạn Lý Trường Thành ở Trung Quốc, các công trình kiến trúc b ằng đá x ếp hình vòng tròn trên biển Xư Khân ở nước Anh, ngọn tháp nghiêng Pixa ở Italia, Tháp Lưu Ly ở Nam Kinh Trung Qu ốc, Nhà thờ Xôphi ở Ixtambun Thổ Nhĩ Kỳ. Tại sao trong tiếng Nhật lại có nhiều chữ Hán đến như thế? Nhật Bản là một nước láng giềng của Trung Quốc, trong thời cổ đại nước này đã có nhiều m ối quan hệ trao đổi với Trung Quốc. Dưới triều nhà Tùy và nhà Đường, nền kinh tế của Trung Quốc phồn vinh, văn hoá phát triển hưng th ịnh. Nh ật Bản trước sau đã cử đi mười ba nhóm “Khiển Đường Sứ” (sứ giả phái đến nhà Đường) tới triều đình nhà Đường để học tập, nhóm đông nhất lên tới hơn sáu trăm người. Một số k ẻ đọc sách và hoà thượng Nh ật B ản ùn ùn kéo đến thủ đô nhà Đường và Trường An để học tập các loại kiến thức văn hoá cùng các sách kinh điển của đạo Phật. Sau khi học tập thành công, một số người còn ở lại Triều đình nhà Đường để làm quan, nhưng phần lớn đã về nước rồi tích cực truyền bá văn hoá của triều đại nhà Đường. Cả đến Thiên hoàng của nước Nhật thời bấy giờ cũng mời những danh sư sang bên ấy để có thể học t ập văn hoá của nhà Đường, đồng thời Thiên hoàng cũng bổ nhiệm một số lưu học sinh từ triều nhà Đường trở về trao
  18. cho họ trách nhiệm mô phỏng theo các chế độ chính trị, kinh tế, văn hoá của nhà Đường để tiến hành cải cách trong nước. Chuyện này được lịch sử ghi lại với cái tên là “Đại hoá cách tân”. Những người có học của Nhật Bản tới lưu học tại triều đình nhà Đường đã tinh thông văn hoá Trung Qu ốc, h ọ sử dụng thể chữ thảo và những bộ của chữ Hán nhằm sáng tạo ra một thứ văn t ự để viết tiếng Nh ật g ọi là “binh giả danh” (Katakana) và “phiến giả danh” (Hiragana). Trong s ố các ch ữ này có nh ững ch ữ Hán đ ược hoàn toàn để nguyên, chỉ có cách đọc bị đổi khác mà thôi. Trong thời kỳ cận đại, Nhật Bản tiếp thu kinh nghiệm tiên tiến của các quốc gia phát tri ển ở ph ương Tây đ ể tiến hành cải cách, nhờ đó họ phát triển rất nhanh về văn hoá và đã vượt Trung Quốc. Từ cuối thế kỷ XIX, một số phần tử trí thức ở Trung Quốc lại kéo nhau sang Nhật để h ọc t ập kinh t ế, và văn hoá của Nhật Bản. Vì trong ngôn ngữ Nhật Bản có nhiều chữ Hán, cho nên khi xuất dương những ng ười này không phải học ngữ văn tự mà vẫn nhanh chóng thích nghi được. Chẳng hạn như Khang Hữu Vi, Lương Kh ải Siêu, hai vị này vừa tới đất Nhật đã có thể đối thoại giao lưu ngay với những người có học ở Nh ật B ản, t ất c ả đều dựa vào ảnh hưởng của truyền thống văn hoá Trung Quốc với Nhật Bản. Tại sao một số kỷ lục cao nhất trên thế giới được gọi là “Kỷ lục th ế gi ới Guiness”? Guiness vốn là tên một xưởng làm rượu. Xưởng này đã có tới hơn 200 năm lịch sử. Nó vốn s ản xu ất m ột th ứ rượu gọi là rượu Guiness. “Làm rượu” và “nhất thế giới” tất nhiên là hai chuyện hoàn toàn khác nhau, nhưng đã có một cơ hội ngẫu nhiên làm cho hai điều này có thể gắn bó với nhau. Năm 1951 viên quản lý xưởng này tên là Piphây, trong khi đi săn bỗng nhiên n ảy ra m ột ý nghĩ m ới lạ: con chim có màu lông óng vàng phải chăng là loài chim bay nhanh nhất châu Âu? Ông ta bèn tìm h ỏi t ất c ả các c ơ quan t ư vấn, lục lọi rất nhiều tư liệu sách vở, nhưng cuối cùng cũng chẳng có ai trả lời đ ược cho ông ta câu h ỏi này. Vì thế ông ta mới bắt đầu biên soạn một cuốn sách chuyên môn trả lời những câu h ỏi đ ại lo ại nh ư th ế c ủa t ất cả mọi người. Piphây thu thập các tư liệu về vấn đề này, đồng thời cùng với một người anh em là Maiaot h ợp tác thành lập một cơ quan chuyên môn thu thập tài liệu về những gì “nhất trên th ế giới”. Năm 1955 đã xuất bản cuốn sách lớn về các kỷ lục thế giới Guiness. Chỉ trong ba tháng, sách đã bán h ết không còn cuốn nào và trở thành một trong các cuốn sách được khách hàng tranh cướp. Về sau ban biên tập của cuốn sách này năm nào cũng phải bỏ rất nhiều th ời gian đ ể th ẩm tra, phân tích, s ửa chữa các tài liệu có liên quan để xuất bản một cuốn sách mới. Đến đầu những năm 90 th ế k ỷ XX, cu ốn sách v ề kỷ lục thế giới Guiness đã được dịch thành hàng chục thứ tiếng. Tổng số lượng phát hành lên t ới vài ch ục tri ệu bản. Tất cả những cái gì “nhất thế giới” đều được ghi lại trong bộ sách về k ỷ lục thế giới Guiness, bao quát đủ các mặt trong thế giới tự nhiên và thế giới con người, lớn thì đến vũ trụ và các thiên thể, nhỏ thì cho đ ến các loài côn trùng, cỏ hoa, tảo, nấm… Nhờ có những chủ trương là “thú vị” và “m ới lạ”, nó đ ược đ ộc gi ả ở t ất cả các nước hết sức hoan nghênh, và được coi là “thư viện những cái nhất thế giới”. Vì th ế t ất cả các k ỷ l ục nh ất th ế giới được thu thập vào trong sách này đều được người ta gọi là “kỷ lục Guiness”. Thư viện thế giới lớn nhất thế giới ở đâu? Thư viện Quốc hội Mỹ là thư viện lớn nhất thế giới. Nó được xây dựng ở thủ đô Washington t ại m ột n ơi tao nhã, phong cảnh rất đẹp. Thư viện này được sáng lập năm 1800. Sau đó nó hai lần bị đốt cháy trong chi ến tranh rồi đến 1888 lại được xây dựng lại và chín năm sau công trình mới được hoàn thành. Thư viện Quốc hội Mỹ là một công trình kiến trúc cao năm tầng ở trên m ột hình vuông diện tích t ới 3 v ạn m2. Trung tâm của hình vuông ấy là một phòng đọc cực to hình bát giác, đủ chỗ cho 250 người đọc, b ốn chung
  19. quanh chia làm phòng đọc cho nghị viện, phòng đọc báo, phòng hội hoạ và phòng đọc cho người mù. Tổng s ố chỗ ngồi là 1500 chỗ. Đến năm 1939 ở phía Đông thư viện chính lại xây dựng một thư viện phụ sáu tầng. Ngoài kho sách có thể tàng trữ 10 triệu cuốn, còn có phòng đọc, phòng mục lục… Số sách mà Thư viện Quốc hội Mỹ lưu trữ thì hết sức phong phú, số lượng có trên tám mươi triệu sách, hình vẽ và các thứ tư liệu, hơn 33 triệu bản thảo của danh nhân. Tại đây có cả bài diễn văn nh ận th ức c ủa Washington, vị Tổng thống thứ nhất của nước Mỹ và những bài diễn thuyết khi tranh cử của Tổng thống Mỹ qua các khoá. Có những cuốn sách cổ xuất bản trước thế kỷ XVI. Lại có những tư liệu hội hoạ hiện đại đầy đủ nhất của nước Mỹ, những cuộn băng thu gọn những tư liệu ghi âm, những bản nhạc, những phim điện ảnh và những sách in cho người mù, cũng như những sách có âm thanh. Nếu như đem các giá sách trong thư viện xếp liên tiếp với nhau thì sẽ có chiều dài h ơn 500 km. Th ư vi ện Qu ốc hội Mỹ dùng phương pháp quản lý hiện đại. Giữa thư viện chính, thư viện phụ và toà nhà lớn của Qu ốc h ội đều có những phương tiện cơ giới để đưa sách đi, chỉ cần 45 giây là sách có thể được đưa t ới tay đ ộc giả. Tính trung bình cứ 10 giây lại có một cuốn sách hay một bản tư liệu được đưa t ới toà nhà lớn của th ư viên và c ứ khoảng hai giây lại có một cuốn sách được nhập vào kho của thư viện từ trên thế giới. Tại sao giải thưởng Nobel trở thành giải thưởng cao quý nhất trên thế giới? Giải thưởng Nobel đã được đặt ra theo di chúc và với di sản của nhà hoá học người Thuỵ Điển tên là Nobel. Từ khi giải này được trao vào đầu năm 1901, bao giờ nó cũng được coi là giải thưởng đem lại vinh dự cao nhất cho các nhà khoa học trên thế giới. Giải Nobel có thể trở thành giải thưởng đem lại vinh d ự cao nh ất trên th ế gi ới chủ yếu là do mấy nguyên nhân chính sau đây: - Đầu tiên là món tiền của giải thưởng này nằm ở mức cao nhất được cấp định kỳ, tính trong s ố các gi ải thưởng về học thuật và hoà bình. Các món tiền thưởng này được lấy ra trong một phần di s ản của Nobel. Di s ản này gồm khoảng chín triệu hai trăm nghìn đô la. Mỗi năm lấy ra khoảng hai mươi vạn đô la tiền lãi đ ể dùng làm phần lớn. - Hai là các giải Nobel được chia ra làm năm hạng mục vật lý, hoá học, sinh h ọc hay y h ọc, văn h ọc và s ự nghiệp hoà bình, đều dùng để thưởng cho các nhân vật có cống hiến cao nhất trong năm ấy về các lĩnh v ực nói trên. Danh sách các nhân vật được thưởng phải thông qua các chuyên gia về các b ộ môn thu ộc vi ện khoa h ọc Hoàng gia Thuỵ Điển. Viện nghiên cứu Calalinxca Thuỵ Điển, Viện Văn học Thuỵ Điển và Quốc hội Na Uy xác định, sau khi sưu tầm rất nhiều tư liệu và cân nhắc nhiều lần. Trong gần một trăm năm nay, sau khi gi ải Nobel đã được đặt ra, một số được giải thực đã có những cống hiến vĩ đại và độc đáo đối với nhan lo ại trong lĩnh v ực của mình. Chẳng hạn, năm 1901, Rơnghen là người đầu tiên được giải về vật lý đã phát hiện quang tuyến X là nh ững tia giúp cho có thể nhìn xuyên các vật và cho đến nay vẫn còn được ứng dụng rộng rãi trong cả y h ọc và khoa h ọc. Lại như bà Quyri được giải hoà bình năm 1911 đã phát hiện nguyên tố hoá học có tính phóng x ạ Rađiom Lại như giải thưởng văn học năm 1964 được dành cho tác giả người Pháp Sactrơ. Các sáng tác c ủa ông có t ư tưởng phong phú tràn ngập tinh thần tự do và đi tìm chân lý, có ảnh hưởng rất sâu xa đến thời đại của chúng ta. Người trên thế giới ngày càng thừa nhận uy tín, tính khoa học và nghiêm túc của giải Nobel. Vì th ế gi ải Nobel đã trở thành điều tượng trưng cho vinh dự tối cao và cũng là điều khích lẹ t ối cao đối v ới người thành công.
  20. Tại sao lại nảy sinh cuộc khủng hoảng tên lửa ở Cu-ba? Cu-ba là một đảo quốc nằm trên vịnh Ca-ri-bê, n ằm vào khoảng giữa Bắc Mỹ và Nam Mỹ, cách bang Flo-ri-da của Mỹ chỉ vài chục hải lý. Nơi đây rừng và tài nguyên khoáng sản rất phong phú, n ổi tiếng nhất là ngành mía đường. Năm 1959 sau khi cách mạng Cu-ba thành công, Ca-xtơ-rô tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã h ội, giao đ ất cho nông dân, quốc hữu hoá các xí nghiệp mà vốn dĩ trước đây là của các nhà t ư b ản Mỹ. Trước s ự đe do ạ tr ả đũa về kinh tế của Mỹ, Mỹ tuyên bố cấm nhập đường của Cu-ba. Cu-ba đã tìm đến s ự giúp đỡ về viện trợ kinh t ế của Liên Xô. Sau thắng lợi của Cu-ba ở vịnh Con Lợn. Cu-ba lo ngại Mỹ sẽ có hành động với quy mô lớn hơn nên đã đ ề nghị Liên Xô hỗ trợ và giúp đỡ về quân sự. Liên Xô đồng ý giúp đỡ và bí mật dùng hai t ầu v ận t ải đ ưa tên l ửa chi ến lược sang Cu-ba. Ngày 14 tháng 10 năm 1962, máy bay trinh sát U2 của Mỹ đã chụp được hình ảnh các căn cứ tên l ửa chi ến l ược của Liên Xô tại Cu-ba. Nhà trắng nhận định: tên lửa của Liên Xô đặt t ại Cu-ba có thể phóng cùng m ột lúc 40 đầu đạn hạt nhân. Chỉ cần sau 2 – 3 phút, nhiều mục tiêu trên n ước Mỹ sẽ bị t ấn công. Sau nhiều lần đ ắn đo cân nhắc tìm đối sách tốt nhất, cuối cùng Ken-n ơ-đi đã xác đ ịnh ph ương án kh ả thi. Chiều ngày 22 tháng 10, Ken-nơ-đi tuyên bố trên truyền hình n ước Mỹ rằng: “Mỹ tiến hành phong to ả Cu-ba bằng đường biển. Bất cứ tàu thuyền nào đi qua vòng phong toả đều bị tiêu diệt”. Đồng thời Mỹ cử 180 chiến hạm bao vây chặt Cu-ba, ngoài ra còn có 250.000 bộ binh, 95.000 quân lính thu ỷ đánh b ộ và lính dù s ẵn sàng t ấn công Cu-ba. Liên Xô tuyên bố sẵn sàng chiến đấu và sẽ bắn chìm bất cứ chiếc tàu nào của Mỹ mu ốn ngăn c ản tàu c ủa Liên Xô, tiếp theo là 25 chiếc tầu buôn hành quân đi về hướng Cu-ba. Khoảng trưa ngày 24, đội tàu buôn của Liên Xô đi tới tuyến phong toả của Mỹ. Nguy cơ bùng nổ chiến tranh có thể xảy ra. Thời gian trôi đi từng phút, từng phút một. 10 giờ sáng đúng, các tàu chiến hạm và tàu ngầm của Mỹ s ẵn sàng nhả đạn. Đến 10 giờ 32 phút, một bộ phận tàu buôn của Liên Xô chững lại không đi tiếp và quay đ ầu tr ở l ại, còn mấy chiếc sau khi quân Mỹ lên kiểm tra xác nhận không chở vũ khí tấn công, cho phép qua tuyến phong toả. Ngày hôm sau Khơ-rut-xôp gửi cho Ken-nơ-đi một bức thư đề nghị: “Chỉ cần Mỹ đ ảm b ảo không t ấn công Cu-ba, Liên Xô sẽ rút hết tên lửa ra khỏi lãnh thổ Cu-ba. Đồng thời yêu cầu Mỹ rút h ết tên l ửa đ ặt t ại Th ổ Nhĩ Kỳ”. Sau 13 ngày khủng hoàng tên lửa ở Cu-ba, cuối cùng Liên Xô cũng đồng ý rút h ết tên lửa khỏi Cu-ba. Liên Xô đã đưa tàu vào rút hết tên lửa đi dưới sự giám sát của quân Mỹ. Ngày 20 tháng 11, Mỹ tuyên b ố giải to ả Cu-ba. Tại sao lại diễn ra cuộc chiến tranh Nga - Thổ? Nước Nga là một nước Đại lục, đến thế kỷ XVII, mặt phía Tây và phía Nam m ới có đường ra biển. Sa hoàng nước Nga muốn chiếm được lối ra biển để giành quyền kiểm soát trên biển. Họ định kế hoạch: m ột là Tây tiến, giành lối ra biển Fa-rô, thông biển nước Nga với Đại Tây Dương; hai là xuống phía Nam, chi ếm l ấy l ối ra Hắc Hải, kiểm soát eo biển Hắc Hải để Hạm đội Nga có thể đi về phí Tây vào Địa Trung H ải. Để chiếm lối ra Hắc Hải, nước Nga đã tuyên chiến với Thổ Ôt-tô-man nhiều lần. Năm 1735 – 1739, n ước Nga đánh chiếm A-xut hai bên liên tiếp đánh nhau, quân Thổ bị thua liền nhiều trận phải ký v ới Nga các hoà ước chịu để cho Nga chiếm cửa sông Đông và các vùng Cap-ca-dơ ven biển Hắc Hải.
Đồng bộ tài khoản