Triệu chứng cơ năng tiêu hóa

Chia sẻ: Nguyen Ngoc Son | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:25

0
240
lượt xem
115
download

Triệu chứng cơ năng tiêu hóa

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tiếp cận lâm sang một bệnh nhân tiêu hoá cần điều tra các triệu chứng cơ năng của bệnh nhân và khám thực thể. Trong một số trường hợp, việc hỏi bệnh sử kỹ lưỡng có thể giúp chẩn đoán được bệnh một cách rõ rang và chính xác mà không cần nhờ đến những xét nghiệm cận lâm sàng.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Triệu chứng cơ năng tiêu hóa

  1. TRIỆU CHỨNG CƠ NĂNG TIÊU HOÁ Mục tiêu: 1. Phân biệt đau bụng cấp, đau bụng mạn. 2. Trình bày các nguyên nhân gây buồn nôn và nôn. 3. Trình bày các nguyên nhân gây nuốt khó. 4. Phân biệt táo bón cấp, táo bón mạn. Dàn bài: I. ĐAU BỤNG II. BUỒN NÔN VÀ NÔN III. Ợ NÓNG IV. NUỐT KHÓ V. XUẤT HUYẾT TIÊU HOÁ VI. THAY ĐỔI THÓI QUEN ĐI TIÊU: TIÊU CHẢY, TÁO BÓN Tiếp cận lâm sang một bệnh nhân tiêu hoá cần điều tra các triệu chứng cơ năng của  bệnh nhân và khám thực thể. Trong một số trường hợp, việc hỏi bệnh sử kỹ lưỡng có thể  giúp chẩn đoán được bệnh một cách rõ rang và chính xác mà không cần nhờ đến những  xét nghiệm cận lâm sàng. ĐAU BỤNG (ABDOMINAL PAIN) Đau bụng là triệu chứng cơ năng thường gặp nhất ở các bệnh nhân rối loạn dạ dày ruột.  Phản ứng đau của từng người thay đổi rất khác nhau. Các kiểu đau (?) đau do tạng, đau do thành bụng, đau do liên quan. Đau do tạng được cảm nhận tại nơi bị kích thích đầu tiên. Đau thường mơ hồ, định vị  không rõ ràng và thường khó khăn để mô tả. Có thể kèm hoặc không kèm đau do liên  quan.
  2. Đau do thành bụng là đau somatic, sâu do tình trạng kích thích hoặc hiện tượng viêm của  phúc mạc thành hoặc của mạc treo. Đau thường dể xác định hơn và dễ dàng mô tả hơn  đau do tạng. Đau do liên quan là đau được cảm nhận tại vị trí khác nơi bị kích thích nhưng trong cùng  một vùng được chi phối bởi cùng một dây thần kinh hoặc kế cận. Mức độ đau bụng giúp tiếp cận lâm sàng liên quan đến các hội chứng quan trọng. Nhưng  cần lưu ý một điều, cảm giác đau là cảm giác chủ quan của mỗi người. Mỗi người có một  ngưỡng chịu đau khác nhau, thậm chí đối với cùng một người, một bệnh lý có thể gây ra  các cơn đau có mức độ khác nhau, thường thì đối với những người đã có cơn đau tương  tự trước đó, ngưỡng chịu đựng của họ sẽ cao hơn, tức là họ sẽ thấy bớt đau hơn. Do đó,  trong tiêu hoá cũng như của tất cả các chuyên khoa khác, cường độ đau luôn phải được  mô tả nhưng ít khi được sử dụng để tìm nguyên nhân gây đau. Đau bụng cấp Đau bụng cấp có thể do rất nhiều bệnh lý, một số bệnh không cần phải điều trị bằng  phẫu thuật cũng có thể gây đau bụng cấp. Những nguyên nhân thường gặp nhất của đau  bụng cấp là viêm dạ dày ruột cấp, các bệnh do viêm (viêm ruột thừa, viêm túi mật, viêm  túi thừa, viêm tuỵ cấp, viêm vòi trứng, cơn đau quặn mật và cơn đau quặn thận, tắc ruột  và thủng tạng rỗng). Tiếp cận chẩn đoán: trước một bệnh nhân đau bụng cấp nặng, đối với người thầy thuốc,  vấn đề quan trọng nhất là phải xác định xem bệnh nhân “có chỉ định phẫu thuật ngay lập  tức không?”. Hỏi bệnh sử và khám thực thể kỹ có giá trị hơn là các thử nghiệm cận lâm  sàng và xét nghiệm quang tuyến. Không nên sử dụng các thuốc giảm đau cho đến khi có  một kế hoạch rõ rang, vì những thuốc này có thể ảnh hưởng đến triệu chứng đau, khiến  việc thăm khám thực thể không chính xác. (xem thêm bài Đau bụng cấp).
  3. Bệnh sử: 1. Trong khi hỏi bệnh sử, điều quan trọng là xác định đặc điểm, độ nặng, vị trí, hướng lan,  thời gian, tần suất, số lấn xảy ra, và các yếu tố làm giảm hoặc làm cơn đau nặng thêm.  Các tính chất của một cơn đau trong tiêu hoá cần khai thác: Vị trí, hướng lan, thời gian,  cường độ, kiểu đau (có 6 kiểu đau trong tiêu hoá – xem trong bài đau bụng cấp), hoàn  cảnh khởi phát, triệu chứng đi kèm, yếu tố tăng giảm. 2. Những thông tin về các triệu chứng kết hợp, các triệu chứng của dạ dày và ruột và triệu  chứng toàn than có thể giúp ích trong việc làm sáng tỏ nguyên nhân đau bụng. 3. Hỏi bệnh sử kỹ lưỡng, có hoặc không có các rối loạn khác, các rối loạn này có thể gây  ra đau do liên quan (như viêm phổi, viêm màng ngoài tim, nhồi máu cơ tim, viêm đốt  sống). 4. Hỏi các triệu chứng liên quan với các nguyên nhân gây đau nội sinh và ngoại sinh cũng  như các nguyên nhân có nguồn gốc thần kinh. 5. Kiểm tra tiến sử kinh nguyệt. Vỡ nang trứng giữa kỳ kinh là nguyên nhân gây đau bụng  lành tính thường gặp. Một bệnh sử trễ kinh xảy ra cùng lúc với đau bụng gợi ý thai ngoài  tử cung. 6. Tiền sử gia đình có thể giúp phát hiện nguyên nhân đau bụng. Những rối loạn có tính  chất gia đình như tăng lipid máu, sốt Địa Trung Hải giađình, thalassemia, thiếu máu hồng  cầu liềm, porphyria từng cơn gián đoạn thường đi kèm với đau bụng. 7. Các thuốc kháng đông có thể gây xuất huyết trong ổ bụng hoặc sau phúc mạc, gây  đau bụng cấp. 8. Tiền sử giang mai hoặc lậu có thể giúp ích để làm sáng tỏ nguyên nhân đau bụng. Lưu ý:
  4. • Các xét nghiệm cận lâm sàng, mạc dù quan trọng nhưng hiếm khi xác minh chẩn đoán. • Một số trường hợp không thể xác minh chẩn đoán ngay lần đầu tiên khám bệnh. • Nếu bệnh nhân đau bụng cấp cần hội chẩn ngoại khoa. • Nếu vẫn còn nghi ngờ, theo dõi cẩn thận, hỏi bệnh lại và khám lại sẽ cho biết diễn tiến  đúng của bệnh. Đau bụng mạn Đau bụng mạn, đau bụng kéo dài nhiều tuần hoặc nhiều tháng, chẩn đoán có thể tiến  hành từ từ và có kế hoạch. Bệnh nhân phải được điều tra cẩn thận về vị trí, cường độ, đặc  điểm, thời gian mạn tính và khởi phát đau những yếu tố làm nặng thêm hoặc làm giảm  đau và những triệu chứng, dấu hiệu đi kèm. Nói chung các mối liên quan với đau là quan  trọng. Mỗi cơ quan có kiểu đau “thường gặp”: 1. Bệnh dạ dày tá tràng: đau thượng vị được mô tả như cảm giác nóng, cồn cào, cảm  giác đói hoặc đau, thường xảy ra 1 đến 3 giờ sau bữa ăn; khoảng 1/3 bệnh nhân bị thức  giấc ban đêm vì đau. Hầu hết bệnh nhân tường thấy giảm đau nhánh sau ăn hoặc uống  antacide, nên kiểu đau này còn được gọi là kiểu đau giảm do ăn. Một số bệnh nhân loét  dạ dày, đau tăng sau ăn. Phần lớn đau có tính chất từng cơn, kéo dài nhiều giờ đến nhiều  tuần và tiếp theo sau đó là thời kỳ giảm đau kéo dài nhiều tháng. 2. Bệnh đường mật: những triệu chứng chủ yếu gồm buồn nôn, nôn và đau thượng vị  hoặc đau hạ sườn phải thường đau liên tục. Đầy bụng sau ăn, ợ hơi, chướng hơi, và khó  dung nạp với các thức ăn có mỡ là những triệu chứng không đặu hiệu thường đi kềm với  các rối loạn về tiêu hoá khác. 3. Bệnh tụy: Đau khu trú đặc biệt ở vùng thượng vị và có khuynh hướng lan ra sau lưng.  Buồn nôn và nôn là những triệu chứng đi kèm. Đau hằng định, kéo dài nhiều ngày và  hiếm khi đau quặn từng cơn. Giảm một phần khi bệnh nhân ở tư thế bào thai. Tiền sử vừa  mới uống rượu, sau một bữa tiệc thịnh soạn hoặc bệnh đường mật gợi ý nhiều đến đau do 
  5. tụy. 4. Bệnh ruột non: định vị đặc trưng là ở quanh rốn, đau quặn và có thể đi kèm với ói  mửa và thay đổi thói quen đi tiêu. Trường hợp tắc ruột cơ học cao, ói thường xảy ra sớm  trong trong quá trình bệnh; trường hợp tắc nghẽn ở đoạn xa: bí trung đại tiện. 5. Hội chứng đại tràng kích thích: đau bụng hiện diện một thời gian dài trong hầu hết  các trường hợp. Nói chung, đau khu trú ở hạ vị và hố chậu trái, rất hiếm khi ở vùng quanh  rốn. Không giống như các kiểu đau khác, đau trong hội chứng đại tràng kích thích hiếm  khi xảy ra ban đêm khiến bệnh nhân phải thức giấc vì đau. Đau có thể tăng khi ăn và  thường bón hoặc tiêu chảy và táo bón xen kẽ. 6. Ung thư đại tràng: đau bụng là triệu chứng thường gặp của bưới đại tràng từ đại tràng  lên đến đại tràng sigma. Đau thường ít gặp trong bướu tân sinh của trực tràng và những  sang thương của phần xa đại tràng sigma. Đau có thể đi kèm với thay đổi thói quen đi tiêu  mới xảy ra. Chảy máu trực tràng thường gặp. Thiếu máu nhẹ thường gặp. 7. Các nguyên nhân khác: • Viêm túi thừa mạn • Bán tắc ruột • Viêm phúc mạc do lao. • Bệnh toàn than và ngộ độc (bệnh mô liên kết, ngộ độc chì, tiểu đường, porphyria, bệnh  Tabes lưng…) • Ung thư tụy tạng. BUỒN NÔN VÀ NÔN (NAUSEA AND VOMITING) Mặc dù buồn nôn và nôn có thể xảy ra độc lập, nhưng chúng có mối liên hệ chặt chẽ với  nhau và thường xảy ra cùng lúc.
  6. Buồn nôn được xem như sự thôi thúc nôn. Nôn hay là sự tống xuất nhanh các chất chứa  trong dạ dày. Tuy nhiên, buồn nôn là triệu chứng báo trước nôn sẽ xảy ra. Ợ hơi liên quan  đến hoạt động co thắt đường hô hấp trước nôn. Ợ hơi không theo sau bởi sự tống xuất  một lượng chất ói đáng kể, thường được gọi là oẹ. Nôn khác với ụa (ợ), ụa liên quan đến  sự phun ngược những lượng nhỏ thức ăn của thực quản dạ dày hoặc tá tràng không đi  trước buồn nôn và không có sự tham gia hoạt động của cơ bụng. Căn nguyên Buồn nôn và nôn thường là biểu hiện của các cơn rối loạn chức năng và thực thể. Buồn  nôn không kèm nôn có thể gặp trong hội chứng ure huyết, trị liệu quang tuyến, nghiện  rượu, bệnh gan, tăng calci máu, có thai, tác dụng phụ của thuốc (digital, thuốc phiện,  kháng sinh, ngừa thai uống…).Buồn nôn dai dẳng ở người khoẻ mạnh thường có căn  nguyên tâm thần. Nôn có thể do bệnh cấp hoặc mạn tính, hoặc do rối loạn thần kinh hoặc chức năng. Nôn  có thể là dấu hiệu đầu tiên của cơn đau bụng cấp hoặc một bệnh toàn thân nặng. Trong thực hành lâm sàng hàng ngày, những nguyên nhân thường gặp nhất của buồn  nôn và nôn là viêm dạ dày ruột cấp, bệnh toàn thân có sốt, tác dụng của thuốc và bệnh  dạ dày ruột. Đặc điểm lâm sàng 1. Buồn nôn và nôn hiếm khi là một triệu chứng riêng lẻ. Chúng thường đi kèm với các  triệu chứng và các dấu hiệu khác. 2. Nhức đầu Migraine thường xảy ra trước hoặc kèm vơi buồn nôn và nôn. 3. Nhức đầu trong bệnh nội sọ, nhất là tăng áp lực nội sọ, thỉnh thoảng đi kèm với nôn  vọt.
  7. 4. Bệnh mũi hầu được biểu hiện đặc trưng với chóng mặt, buồn nôn và nôn. 5. Nôn buổi sáng sớm trước khi ăn gặp trong có thai, nghiện rượu hội chứng urê huyết,  bệnh tắc nghễn đường thở của những người nghiện thuốc nặng và đôi khi do thần kinh,  tâm thần. 6. Nôn do tâm thần đặc trưng bởi một hoặc nhiều đặc điểm sau: a. Bệnh sử nôn kéo dài. b. Dinh dưỡng đầy đủ cân bằng mặc dù nôn (ngoại trừ biếng ăn do thần kinh) c. Nôn trong hoặc ngay sau khi ăn d. Nôn lén lút, thường tự mình gây ra e. Bằng chứng của rối loạn tâm thần (biếng ăn, trầm cảm) 7. Nôn kéo dài và tái phát sau khi ăn 1 giờ hoặc hơn, dịch nôn có các chất trong dạ dày  gồm những tiểu thể thức ăn, thường do ứ đọng trong dạ dày. 8. Nghẽn tắc thực quản: thường gặp ụa nhiều hơn nôn. 9. Đặc điểm của chất nôn có thể cung cấp những đàu mối để chẩn đoán căn nguyên a. Mùi: chất nôn có mùi chua gợi ý chất tiết của HCl, có thể xác định qua thử nghiệm. Mùi  phân là đặc điểm đặc trưng của tắc ruột hoặc dò dạ dày ruột, một số trường hợp có thể  do liệt ruột. Mùi thối rữa là dấu hiệu của sự phát triển vi khuẩn từ các chất chứa bên trong  dạ dày hoặc hoại tử của ung thư dạ dày do nấm. b. Các chất nôn: chất nôn bã café hoặc có máu chắc chắn là nguyên nhân từ đường tiêu  hoá trên. Mật thường xuất hiện trong chất nôn khi có nôn tái phát nhiều lần. Sự hiện diện  của mật ám chỉ tình trạng mở của dạ dày. Nôn mật thường gặp ở bệnh nhân sau phẫu  thuật dạ dày.
  8. 10. Nôn kéo dài có thể gây ra những hậu quả nghiêm trọng (như viêm phổi hít, mất nước,  rối loạn cân bằng nước và điện giải, xuất huyêt tiêu hoá do rách niêm mạc vùng nối thực  quản dạ dày ­ $ Mallory Weiss). Nguyên nhân buồn nôn và nôn A. Thần kinh 1. Migraine 2. Rối loạn mũi hầu 3. Các sang thương ở não B. Tâm thần 1. Chấn thương tâm lý 2. Nôn lén lút 3. Nôn chu kỳ (ở trẻ em và trẻ nhỏ) C. Chuyển hóa và nội tiết 1. Suy thận 2. Toan chuyển hóa 3. thuốc và hóa chất 4. Rối loạn điện giải (giảm Na máu, tăng Ca máu, tăng K máu) 5. Suy gan 6. Nhược giáp 7. Thiểu năng thượng thận 8. Thai 9. Dị ứng thức ăn 10. Tiểu đường. D. Tiêu hóa 1. Dạ dày tá tràng: ­ Loét dạ dày tá tràng
  9. ­ Hẹp môn vị ­ Mất trương lực dạ dày ­ Sau phẫu thuật dạ dày 2. Dạ dày ruột ­ Viêm dạ dày ruột, kể cả ngộ độc thức ăn. ­ Viêm ruột thừa ­ Tắc ruột ­ Liệt ruột 3. Gan mật ­ Viêm túi mật và sỏi mật ­ Viêm gan cấp ­ Xơ gan 4. Tụy  ­ Viêm tụy cấp ­ Viêm gan cấp ­ Xơ gan 5. Phúc mạc ­ Viêm phúc mạc ­ Ung thư màng bụng E. Các nguyên nhân khác 1. Bệnh gây sốt cấp tính 2. Nhồi máu cơ tim 3. Suy tim sung huyết 4. COPD 5. Phản xạ (thận, ruột, vòi trứng)
  10. Ợ NÓNG (HEARTBURN – PYROSIS) Ợ nóng là cảm giác nóng hoặc đau sau khu trú sau xương ức hoặc mũi kiếm, có thể lan  ra trước ngực và sang hai bên, lên hàm và cánh tay. Ợ nóng thường nặng hơn sau bữa  ănvà nặng hơn ở tư thế nghiêng hoặc cúi người về phía trước.Ợ nóng thường giảm trong  vòng 15 phút sau khi dùng antacid Cơ chế Ợ nóng xuất phát do những thay đổi ở biểu mô thực quản do trào ngược axit và pepsin,  hoặc mật và dịch tụy, hoặc cả hai từ dạ dày vào thực quản. Những bất thường vận động  của thực quản có thể góp phần gây ra những triệu chứng ợ nóng. Tuy nhiên, ợ nóng có  thể xảy ra khi vận động thực quản bình thường, những kích thích hoá học từ dạ dày trào  ngược vào thực quản là yếu tố quan trọng trong cơ chế sinh bệnh. Trào ngược dạ dày thực quản Yếu tố quyết định chủ yếu của trào ngược dạ dày thực quản là trương lực của cơ vòng  thực quản dưới. Về giải phẫu học không thể nhận biết cơ vòng thực quản dưới, tuy nhiên  có thể chứng minh sự hiện diện của nó bằng các phương pháp cơ học như đo áp lực thực  quản. Thoát vị hoành ảnh hưởng không đáng kể đến áp lực cư vòng thực quản dưới. Một  số biến chứng của trào ngược dạ dày thực quản: 1. Viêm thực quản (thay đổi mô học của niêm mạc thực quản: Xuất huyết, loét, chít hẹp) 2. Hít vào khí quản gây xơ hóa, viêm phổi và ho mạn tính. Căn nguyên 1. Trào ngược dạ dày thực quản do cơ vòng mất khả năng, có hoặc không có thoát vị  hoành
  11. 2. Thuốc 3. Xơ cứng bì làm ảnh hưởng đến cơ vòng thực quản dưới 4. Hội chứng Barret (thực quản dưới được thay bằng biểu mô trụ và loét tạoi vùng chuyển  tiếp) 5. Bướu, bằng cách ảnh hưởng chức năng cơ vòng hoặc thay đổi vận động NUỐT KHÓ (DYSPHASIA) Nuốt khó là cảm giác khó khăn trong khi nuốt, không bị đau. Đây là một cảm giác chủ  quan xảy ra trong khi nuốt. Thường có cảm giác vướng sau xương ức. Trong đa số các  trường hợp, nuốt khó ở cùng vị trí tổn thương hoặc ở phía trên tổn thương, không bao giờ  nuốt khó ở dưới tổn thương. Nuốt đau là thuật ngữ chỉ cảm giác đau xảy ra khi nuốt. Căn nguyên Nuốt khó do hầu họng 1. Mất chức năng của lưỡi (bệnh nhược cơ, loạn trương lực cơ) 2. Rối loạn chức năng hầu (bệnh nhược cơ, bệnh cuống não do mạch máu, viêm đa cơ,  cường giáp) 3. Tắc nghẽn cơ học ­ Túi thừa Zenker ­ Bướu ­ Chít hẹp do viêm Nuốt khó do thực quản 1. Tắc nghẽn trong lòng thực quản: ­ Thực quản màng
  12. ­ Vòng thực quản dưới (vòng Schatzki) ­ Bướu ­ Co thắt cơ vòng thực quản dưới ­ Chít hẹp do viêm ­ Chít hẹp do chất ăn mòn ­ Vật lạ 2. Tắc nghẽn do chèn ép bên ngoài ­ Chèn ép do bướu, hạch to hoặc tuyến giáp sau xương ức ­ Những bất thường về mạch máu (phình động mạch chủ, động mạch dưới đòn phải bất  thường, cung động mạch chủ bên phải) 3. Rối loạn vận động ­ Achalasia ­ Xơ cứng bì ­ Bệnh thần kinh tiểu đường ­ Co thắt thực quản lan tỏa ­ Amyloidosis ­ Nhiễm ký sinh trùng (bệnh Chagas) 4. Các nguyên nhân khác ­ Nhiễm trùng (nấm) ­ Bệnh Crohn Triệu chứng 1. Một bệnh sử chi tiết có thể cung cấp đầu mối có ý nghĩa về căn nguyên nuốt khó và từ  đó giúp đánh giá bệnh. 2. Nuốt khó do bệnh hầu họng được đặc trưng bởi cảm giác khó đây thức ăn từ miệng  xuống hầu. Ợ thức ăn có thể xảy ra ngay lập tức khi qua chỗ hẹp, ngạt thở và nuốt lặp đi 
  13. lặp lại, nhất là trong những trường hợp rối loạn thần kinh cơ. 3. Nuốt khó do thực quản thường được mô tả là nuốt vướng. Nuốt khó có thể xảy ra từng  đợt trong trường hợp co thắt cơ vòng thực quản dưới hoặc nuốt khó tiến triển dần trong  trường hợp bướu. Ợ những thức ăn chưa tiêu hóa có thể xảy ra vài phút đến vài giớ sau  ăn. Bệnh nhân nhận thấy rằng họ phải nhai kỹ thức ăn và đôi khi cần uống nước để cuốn  thức ăn xuống. Thời gian ăn thường kéo dài. 4. Sự hiện diện của sụt cân gợi ý tắc nghẽn rõ do bệnh lành tính hoặc ác tính. 5. Những triệu chứng về hô hấp, thường ban đêm, có thể xảy ra do việc hít những chất  trong thực quản và khí quản. Phải chú ý tìm bệnh thực quản là nguyên nhân có thể gặp  trong trường hợp viêm phổi tái phát hoặc không giải thích được. 6. Ợ nóng gợi ý chít hẹp do viêm hoặc bệnh ảnh hưởng đến cơ vòng thực quản dưới. 7. Hiện tượng Raynaud gợi ý bệnh mô liên kết là nguyên nhân của nuốt khó, do rối loạn  vận động. 8. Hơi thở hôi và cảm giác đầy nghẽn vùng cổ sau bữa ăn gợi ý sự hiện diện của túi thừa  Zenker. XUẤT HUYẾT TIÊU HÓA (GASTROINTESTINAL BLEEDING) Xuất huyết tiêu hóa là tình trạng máu thoát khỏi lòng mạch, chảy vào ống tiêu hóa và  được thải ra ngoài bằng việc ói ra máu và/hoặc tiêu phân đen, tiêu máu đỏ. Ói máu  (hematemesis) là ói máu hoặc bã café. Tiêu phân đen (melena) là đi tiêu phân đen sệt  dính. Tiêu máu đỏ là tình trạng tiêu ra máu đỏ tươi có thể có phân hoặc không có phân  kèm theo. Xuất huyết tiêu hóa trên được định nghĩa là xuất huyết do những tổn thương  nằm bên trên dây chằng Treitz, xuất huyết tiêu hóa dưới là xuất huyết do những tồn 
  14. thương nằm từ đây trở xuống. Bệnh sử Một bệnh sử kỹ lưỡng giúp chẩn đoán xác định vị trí và nguyên nhân xuất huyết. 1. Ói máu đỏ hoặc bã café giúp khu trú nguồn gốc gây chảy máu từ đường tiêu hóa trên. 2. Tiền sử chảy máu cam hoặc ho ra máu có thể là nguồn gốc khác ngoài đường tiêu hóa  gây chả máu ở bệnh nhân ói ra máu. 3. Ở những bệnh nhân tiêu phân đen hoặc tiêu máu đỏ, chất ói không có máu đại thể  hoặc bã café không loại trừ nguồn gốc gây xuất huyết từ đường tiêu hóa trên, vì chảy  máu có thể ngừng trước khi ói xảy ra hoặc vì chảy máu vào trong tá tràng không thể trào  ngược vào dạ dày. Tuy nhiên, sự hiện diện của mật trong dịch dạ dày chứng tỏ hiện  tượng trào ngược có xảy ra. 4. Xuất huyết tiêu hóa dưới cũng có thể gây tiêu phân đen; nếu có, vị trí chảy máu thường  từ sau góc Treitz đến gần giữa đại tràng ngang. 5. Máu đại thể từ trực tràng thường có nghĩa là nguồn gây chảy máu xa hơn thuộc về đại  tràng. Tuy nhiên, các nguyên nhân gây xuất huyết tiêu hóa trên có thể gây tiêu phân máu  đại thể nếu xuất huyết lượng lớn và thời gian máu chảy qua ruột nhanh. Trong những  trường hợp này, dấu hiệu sinh tồn xấu đi một cách nhanh chóng. 6. Mặc dù có tiền sử loét trong phần lớn bệnh nhân có loét xuất huyết, chảy máu có thể là  biểu hiện đầu tiên trong 10% trường hợp bệnh loét.bệnh nhân loét thấy hết đau, là triệu  chứng báo trước một đợt chảy máu. 7. Tiền sử do sử dụng các thuốc đặc biệt gây viêm dạ dày hoặc loét dạ dày tá tràng, xuất  huyết do Salicylates đã được công nhận. Những thuốc khác như phenylbutazone, 
  15. NSAIDs, Steroids cũng có thể gây xuât huyết 8. Tiền sử xơ gan làm tăng khả năng chẩn đoán chảy máu từ các tĩnh mạch thực quản  dãn bị vỡ. Tuy nhiên trong nhiều nghiên cứu, 50% trường hợp xuất huyết tiêu hóa ở bệnh  nhân xơ gan là do các tổn thương khác. 9. Phân có thể đỏ ở một số bệnh nhân sau khi ăn củ cải đường. Phân đen có thể do uống  sắt, thuốc có bisthmus (như Pepto­Bismol), hoặc than hoạt. 10. Nguồn gốc mất máu thường không tìm thấy trong những bệnh nhân chảy máu mà  đang điều trị bằng thuốc kháng đông. Cần nghĩ đến chẩn đoán, nhất là ở những bệnh  nhân chảy máu trong khi điều trị thuốc kháng đông. THAY ĐỔI THÓI QUEN ĐI TIÊU Thay đổi thói quen đi tiêu do rối loạn vận động ruột hoặc do bệnh lý thực thể. Đánh giá  toàn thể tiến triển của các thay đổi này cũng như bản chất của các thay đổi này cùng với  các triệu chứng khác về thể chất như sụt cân, sốt, biếng ăn là điều quan trọng. Một sự  thay đổi tạm thời thói quen đi tiêu kèm với chấn thương tâm lý trong cuộc sống và không  có các triệu chứng toàn thân khác gợi ý bệnh lý thường gặp là hội chứng đại tràng kích  thích, nhất là khi những thay đổi này diễn biến từ đại tràng đến táo bón. Bệnh nhân  thường mô tả phân gồm nhưng viên nhỏ. Những triệu chứng khác đi kèm về khó tiêu (đầy  bụng, buồn nôn, có hơi) cũng thường gặp. Chẩn đoán bệnh lý này thường được thực hiện  dựa vào việc hỏi bệnh sử đầy đủ và khám thực thể kỹ lưỡng; các thử nghiệm cận lâm  sàng rất hạn chế nhằm mục đích loại trừ các bệnh lý thực thể. Ngược lại, một đợt táo bón  ngày càng xấu hơn ở người lớn có thói quen đi tiêu đều đặn trước đó nhất là khi đi kèm  với các triệu chứng toàn thân như sụt cân gợi ý sự hiện diện của bệnh lý gây tắc nghẽn,  nhất là bệnh lý ác tính. TIÊU CHẢY Tiêu chảy được định nghĩa là sự gia tăng về lượng dịch trong phân, hoặc số lần đi tiêu 
  16. hoặc cả hai. Bình thường khối lượng phân trong 24 giờ ít hơn 300g và có chứa khoảng  150 ml nước. Khi lượng phân hàng ngày hơn 300g (khoảng 250 ml nước): Tiêu chảy. Dù  là cấp hay mạn, tiêu chảy gây rối loạn nước và điện giải. Triệu chứng Các triệu chứng của tiêu chảy thường gặp là đau quặn bụng, cảm giác mắc đi tiêu, buồn  nôn và nôn, tiêu phân nhiều nước, có hoặc không có nhầy. Có thể có các triệu chứng  toàn thân như sốt và đau cơ. Dấu hiệu Các dấu hiệu lâm sàng thay đổi tùy theo nguyên nhân và độ nặng của bệnh nhưng  thường bệnh nhân thấy đau bụng lan tỏa và nhu động ruột tăng. Thân nhiệt có thể tăng.  Nếu có tiêu chảy, nên xác định lượng phân trung bình, độ đặc của phân, kiểu phân, và có  hoặc không có máu (các tính chất của phân cần khai thác là nhầy, màu, máu, mùi, lượng  và lần). Mặc dù nhu động ruột tăng, nhưng thường gặp là bệnh phân lỏng hoặc phân  nước. Xảy ra về đêm hoặc tiêu chảy máu thực sự hầu hết phản ánh bệnh thực thể hơn là  bệnh lý đại tràng chức năng. Mùi phân hăng hoặc có phân sống gợi ý thiểu năng tuyến  tụy. TÁO BÓN Táo bón được định nghĩa là tiêu phân quá khô, rất khó thải phân, phân ít (dưới 50g mỗi  ngày), hoặc ít đi tiêu. Khi 1 bệnh nhân than phiền táo bón, cần hỏi kỹ vì có thể bệnh nhân  tưởng tượng ra triệu chứng này Căn nguyên Táo bón xảy ra khi hư hỏng sự làm đầy hoặc làm trống trực tràng. Hư hỏng sự làm đầy có  thể là hậu quả của nhiều tình trạng khác như bệnh của ruột, bệnh toàn thân, rối loạn  chức năng của ruột, tác dụng của thuốc, và bất thường thần kinh. Việc làm trống trực  tràng tùy thuộc vào tình trạng toàn vẹn của phản xạ đi tiêu, phản xạ này có thể bị rối loạn 
  17. do bệnh của hậu môn trực tràng, thói quen đi cầu kém, nghiện thuốc nhuận tràng, bệnh  thần kinh, bất hoạt do nguyên nhân thực thể, tuổi già và những tình trạng khác. Đặc điểm lâm sàng Táo bón mạn 1. Bón thành thói quen mạn tính kèm đi tiêu phân cứng hoặc bón không thường xuyên  thường xảy ra do thói quen ăn uống không đúng, thói quen đi tiêu kém, uống ít nước,  thiếu luyện tập, sử dụng thuốc hoặc do sự phối hợp của những yếu tố trên. Táo bón cũng  có thể xảy ra ở bệnh nhân bị hội chứng đại tràng kích thích, những người nàu thường than  phiền tiêu chảy xen kẽ táo bón, khó chịu ở bụng và đi tiêu phân dạng hòn có hoặc không  có nhầy. Táo bón đôi khi là biểu hiện của thần kinh lo lắng hoặc trầm cảm. Trong tất cả  các tình trạng đã đề cập, không có các dấu hiệu về tiêu hóa. Chẩn đoán được thực hiện  bởi loại trừ 2. Bón mạn tính có thể do tình trạng không nhạy cảm của trực tràng, trong nhiều trường  hợp do hậu quả của sự nín đi tiêu kéo dài hoặc nghiện thuốc nhuận trường. Trong những  bệnh nhân như thế thường không có nhu động ruột, thậm chí ngay cả khi trực tràng đầy  phân. 3. Bón mạn tính có thể đi kèm với bệnh hậu môn trực tràng, như dò, loét hoặc trĩ. Chẩn  đoán thường được sáng tỏ nờ hỏi bệnh sử, khám thực thể và nội soi đại tràng sigma. 4. Bón suốt đời (bón nặng bất hồi phục) đôi khi gặp phải do phình đại tràng. 5. Bón mạn tính cũng có thể do tính đa dạng của các rối loạn dạ dày ruột hoặc bệnh toàn  thân. Táo bón cấp 1. Bón mới xảy ra ở người trước đây khỏe mạnh nhất là nếu bón tiến triển, có thể là dấu  hiệu của rối loạn trầm trọng.
  18. 2. Nguyên nhân gây bón cấp tính, nhất là ở những người lớn tuổi là do phân đóng chặt.  Bón cấp cũng có thể xảy ra trong bệnh cảnh lâm sàng của một người yếu đuối, ốm yếu  hoặc suy nhược, nằm tại giường và sử dụng thuốc an thần hoặc thuốc phiện thường  xuyên. Bón cũng có thể xảy ra sau chụp đường tiêu hóa cản quang. Đi tiêu không tự chủ  có những chất bẩn giống như đất quanh phân đóng chặt có thể được giải thích sai là tiêu  chảy. Cảm giác khó chịu ở trực tràng có thể trầm trọng. Chẩn đoán được thực hiện bởi  khảo sát trực tràng. 3. Bướu tân sinh của trực tràng và đại tràng, nghẽn mạch mạc treo, những sang thương  gây đau ở hậu môn trực tràng, rối loạn thần kinh và bệnh toàn thân. CÁCH KHÁM MỘT NGƯỜI BỆNH NỘI TIẾT. I. ĐẠI CƯƠNG. Trong những năm gần đây, sự hiểu biết về các bệnh nội tiết ngày một sâu rộng hơn nhờ việc thăm khám lâm sàng tỷ mỉ kỹ càng, nhưng nhất là nhờ vào phương pháp thăm dò hiện đại về Xquang, phóng xạ, sinh hoá và miễn dịch. Tuyến nội tiết là những tuyến tiết ra Hocmon không ống dẫn, các chất này đổ vào các mạch máu đi của tuyến. Chính ngay cả ở tế bào của tuyến, các tĩnh mạch nằm trong tuyến, ở các tân mạch từ tuyến đi ra, người ta cũng thấy có những chất mang tính chất hoá học của một chất nội tiết đặc hiệu tiết ra từ các tuyến nội tiết. Mỗi tuyến nội tiết ra một số hocmon đặc hiệu mang tính chất hoá học và có một chức năng đặc hiệu riêng cho tuyến đó. Bệnh nội tiết có thể do rối loạn của một hay nhiều tuyến. Về lâm sàng ngoài sự thay đổi ngay ở trên tuyến (thay đổi về hình thể, kích thước, mật độ…), bao giờ hocmon cũng có ảnh hừởng đến toàn thể trạng người bệnh. Bệnh nội tiết là bệnh toàn thân. Các tuyến nội tiết hầu hết rất nhỏ, nằm sâu trong cơ thể ( trừ tuyến sinh dục và giáp trạng) do đó rất khó khám trực tiếp. Vả lại các biến đổi ban đầu của các tuyến nội tiết phần lớn lại từ biến đổi về thể dịch và sinh hoá.
  19. Có thể nói,bệnh nội tiết là một bệnh về sinh hoá. Do đó thăm khám tuyến “ nội tiết” đòi hỏi phải tỷ mỉ, toàn diện, kết hợp lâm sàng và các phương pháp thăm dò tuyến. Sau đó phải tổng hợp để xem các rối loạn ấy thuộc hội chứng suy hay cường của tuyến nào? I. KHÁM LÂM SÀNG. 1. Quan sát hình dạng người bệnh. Hầu hết các bệnh nội tiết đều có ảnh hưởng đến hình dáng chung của người bệnh. Cần chú ý những điểm sau: 1.1. Nhìn chung để biết. - Tư thế lúc nghỉ ngơi, lúc đi lại. - Hình dạng mặt, thân, các chi. - Màu sắc, tính chất của da. Nhiều khi nhìn đã giúp ta nghĩ tới bệnh nào đó của tuyến nội tiết, như: thay đổi mặt, các đầu chi trong bệnh to đầu chi; bướu giáp trạng có lồi mắt trong bệnh Basedow…. 1.2. Chiều cao. Dùng thước đo chiều cao của người bệnh, đánh giá chiều cao so với tuổi tương ứng để biết cao quá hay lùn quá so với bình thường, nhất là đối với trẻ em và những người trẻ tuổi. Đồng thời phải đo các xương dài (cẳng tay, cánh tay, cẳng chân, đùi), đo vòng đầu xem có hiện tượng ứ nước não hay đầu quá nhỏ, đo vòng ngực… để đánh giá sự cân đối giữa các bộ phận. Việc cân đo này rất cần thiết, nhất là đối với những người bệnh chưa đến tuổi trưởng thành. 1.3. Cân nặng. Theo dõi cân nặng người bệnh, hỏi kỹ xem sự thay đổi cân nặng qua các giai đoạn của bệnh, thời gian xuất hiện và các điều kiện xuất hiện của gầy hoặc béo. 1.3.1. Gày: có thể gầy tự nhiên, ở đây lớp cơ phát triển cân đối, nhưng lớp mỡ dưới da thì không có. Trái với gầy bệnh lý, lớp cơ và mỡ đều rất kém phát triển. Trong bệnh Simmonds, người bệnh gầy hoàn toàn. 1.3.2. Béo: có thể béo toàn thân hay khu trú một số bộ phận mà đặc biệt là mông, đùi, mặt, bụng và ngực. Như béo mặt, thân trong bệnh phì sinh dục.
  20. 1.4. Da, lông, tóc, móng. 1.4.1. Da: - Xem thay đổi về màu sắc, sự xuất hiện các mảng sắc tố… chú ý khám những chổ da đặc biệt như cùi tay, các nếp cổ, bàn tay, bẹn. - Nhiệt độ của da như lạnh, ra mồ hôi nhiều, trong bệnh bệnh suy giáp trạng và ngược lại trong Basedow. 1.4.2. Lông tóc mỏng: - Tóc, lông mi, lông mày khô và dễ gãy trong bệnh phù niêm (myxoedeme), thưa thớt trong suy sinh dục, rụng trong bệnh Simmonda. - Râu, mọc râu ở nữ trong bệnh Cushing, - nam không có râu trong bệnh suy sinh dục. - Móng dễ gãy trong bệnh phù niêm. - Răng mọc kém, sâu trong suy cân giáp trạng. Dễ gãy, có mủ lợi, dễ rụng trong đái tháo đường. Răng mọc thưa trong bệnh to đầu chi. Dựa vào hình dáng chung, vào hình thức tóc mọc ở vùng gáy và trán ta đánh giá những biểu hiện nam tính và nữ tính. Việc thăm khám hình dáng quan trọng đến nỗi có tác giả đã cho bệnh nội tiết là bệnh về hình dạng. Ngoài thay đổi về hình dạng còn có ảnh hưởng đến các bộ phận. 2. Khám các bộ phận. [B]2.1. Bộ máy sinh dục.[/B] 2.1.1. Về chức năng, phải hỏi kỹ về kinh nguyệt. - Ngày bắt đầu có kinh. - Số ngày của vòng kinh. - Ngày thất kinh, tình trạng kinh ra sao? Đồng thời phải hỏi kỹ về sinh đẻ, số lần sẩy. 2.1.2. Thăm khám bộ phận sinh dục.
Đồng bộ tài khoản