TRIỆU CHỨNG HỌC

Chia sẻ: My My | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:126

0
230
lượt xem
160
download

TRIỆU CHỨNG HỌC

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Táo bón là tình trạng giảm tần số đi cầu. Ở một số người, táo bón còn có nghĩa là khó đi cầu. Phân của người bị táo bón cứng do nó có chứa ít nước hơn Dưới đây là những nguyên nhân gây táo bón thường gặp nhất: • Tình trạng dinh dưỡng: ăn nhiều thức ăn có chất béo động vật (thịt, trứng) hoặc đường tinh chế và ăn ít chất xơ (trái cây, rau củ) có thể gây táo bón. • Thói quen ít đi cầu: bỏ qua khi có ý muốn đi cầu có thể khởi động chu trình táo...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: TRIỆU CHỨNG HỌC

  1. TRIỆU CHỨNG HỌC ********** TÁO BÓN ……….., tháng … năm …….
  2. TRIỆU CHỨNG HỌC ********** TÁO BÓN Táo bón là tình trạng giảm tần số đi cầu. Ở một số người, táo bón còn có nghĩa là khó đi cầu. Phân của người bị táo bón cứng do nó có chứa ít nước hơn bình thường. Táo bón là một triệu chứng, không phải là một bệnh. Thông thường rất khó định nghĩa táo bón một cách rõ ràng do nó là một triệu chứng có tính chất thay đổi khác nhau ở những người khác nhau. • Tần số đi cầu ở mỗi người có một sự khác nhau rất lớn, từ 3 lần mỗi ngày đến 3 lần mỗi tuần. Thông thường, nếu bạn không đi cầu được trong 3 ngày liên tiếp, phân sẽ cứng lại và bạn sẽ cảm thấy khó khăn, thậm chí đau đớn khi đi cầu. • Có một quan niệm sai lầm thường gặp về táo bón cho rằng những chất thải chứa trong cơ thể bạn sẽ bị hấp thu ngược trở lại và gây nguy hiểm cho sức khỏe của bạn, có thể làm tuổi thọ của bạn ngắn đi. Một số người có một nỗi ám ảnh rằng họ sẽ bị nhiễm độc bởi những chất thải từ chính cơ thể của mình (phân) nếu họ giữ chúng lại lâu quá một khoảng thời gian nhất định nào đó. Cả hai quan niệm trên đều không đúng. • Những người lớn tuổi có nguy cơ bị táo bón cao gấp 5 lần những người trẻ. Nhưng những chuyên gia lại cho rằng do những người lớn tuổi trở nên quá quan tâm đến tình trạng đi cầu mỗi ngày của
  3. mình và tình trạng táo bón ở lứa tuổi này được đánh giá cao hơn mức bình thường. NGUYÊN NHÂN Táo bón có thể là kết quả của tình trạng dinh dưỡng không đúng, thói quen ít đi cầu, hoặc có vấn đề trong việc đào thải phân do những nguyên nhân của cơ thể, chức năng hoặc tự ý. Dưới đây là những nguyên nhân gây táo bón thường gặp nhất: • Tình trạng dinh dưỡng: ăn nhiều thức ăn có chất béo động vật (thịt, trứng) hoặc đường tinh chế và ăn ít chất xơ (trái cây, rau củ) có thể gây táo bón. • Thói quen ít đi cầu: bỏ qua khi có ý muốn đi cầu có thể khởi động chu trình táo bón o Sau một khoảng thời gian, bạn sẽ không còn cảm giác muốn đi cầu nữa. o Điều này có thể dẫn đến táo bón tiến triển. Chẳng hạn như một số người tránh không dùng các nhà vệ sinh công cộng hoặc không đi cầu do đang bận một công việc nào đó. • Thuốc: có nhiều loại thuốc có thể gây ra táo bón o Thuốc kháng acid - những loại cho chứa aluminum hydroxide và calcium carbonate. o Thuốc chống co thắt. o Thuốc chống trầm cảm. o Thuốc sắt o Thuốc chống co giật • Những loại thuốc giảm đau chẳng hạn như những thuốc có chứa chất á phiện có thể ngăn cản chức năng của ruột. • Đi du lịch: thay đổi cách sống, uống ít nước, và ăn những thức ăn nhanh có thể gây táo bón. • Hội chứng ruột kích thích: đây là một trong những nguyên nhân gây táo bón thường gặp nhất. Nếu bạn bị bệnh này thì do sự thay đổi về chức năng ruột, bạn có thể sẽ bị đau bụng quặn, trướng hơi, phù nề, và táo bón. • Lạm dụng thuốc nhuận trường: sử dụng thuốc nhuận trường theo thói quen sẽ dần dần trở nên phụ thuộc chúng. o Cuối cùng bạn có thể sẽ cần phải gia tăng lượng thuốc đưa vào cơ thể mới có thể đi cầu được.
  4. o Trong một số trường hợp, ruột sẽ trở nên không còn nhạy cảm với thuốc nữa và không thể đi cầu được. • Mang thai: táo bón xuất hiện trong thai kỳ có thể do một số nguyên nhân. Mỗi một tình trạng được kể ra ở phía sau có thể gây đau khi đi cầu có thể dẫn đến sự co thắt phản ứng của cơ vòng hậu môn. Sự co thắt này làm chậm nhu động ruột và giảm sự thôi thúc muốn đi cầu để tránh cho hậu môn không bị đau. o Thai nhi nặng đè vào ruột tạo ra áp lực. o Những thay đổi hormon trong thai kỳ. o Những thay đổi về thức ăn và thức uống của thai phụ. o Nứt hậu môn o Trĩ o Hẹp hậu môn • Tắc ruột: sự đè nén cơ học làm ngăn cản các chức năng bình thường của ruột có thể xảy ra theo những cách sau: o Sự viêm dính của các mô. o Khối u ruột hoặc dị vật o Sỏi mật bị chèn bất động vào trong ruột. o Sự xoắn của ruột vào chính nó. o Lồng ruột: một phần của ruột bị trượt hoặc bị kéo vào một phần khác ngay phía dưới nó (xảy ra chủ yếu ở trẻ em) o Thoát vị: các vòng ruột bị tắt nghẽn. o Tổn thương các dây thần kinh bên trong ruột: u tủy sống, đa xơ cứng hoặc tổn thương tủy sống có thể gây táo bón do ngăn cản chức năng của các dây thần kinh điều khiển ruột. o Bệnh mô liên kết - chẳng hạn như các bệnh xơ cứng bì và lupus. o Chức năng tuyến giáp kém - giảm sản xuất thyroxin, là một loại hormon của tuyến giáp còn được gọi là suy giáp, cũng có thể gây táo bón. o Ngộ độc chì và những rối loạn chuyển hóa khác. • Tuổi tác: những người lớn tuổi thường bị táo bón nhiều hơn do những nguyên nhân sau: o Dinh dưỡng kém và không uống đủ nước. o Không tập luyện thể dục. o Những tác dụng phụ của các loại thuốc được kê toa để điều trị những bệnh khác. o Thói quen đi cầu kém. o Nằm trên giường lâu, chẳng hạn như sau một tai nạn hoặc sau khi bị bệnh.
  5. o Có thói quen sử dụng thuốc thụt tháo và thuốc nhuận trường. TRIỆU CHỨNG Bạn có thể gặp nhiều loại triệu chứng của táo bón tùy thuộc vào thói quen đi cầu bình thường của bạn, chế độ ăn và tuổi tác. Những vấn đề thường gặp nếu bạn bị táo bón bao gồm: • Gặp khó khăn trong việc bắt đầu và kết thúc đi cầu. • Đi cầu khó và không đều. • Đi ra phân cứng sau một thời gian gắng sức dài trong toilet. • Nếu bạn bị hội chứng ruột kích thích, bạn sẽ gặp các triệu chứng đau quặn bụng, đầy hơn, cảm giác đầy bụng, và thay đổi thói quen đi cầu. • Nếu bạn bị tắc ruột, bạn sẽ cảm thấy buồn nôn, nôn, không đi cầu được, và không trung tiện (đánh rắm) được. • Sưng căng bụng, nhức đầu, và ăn mất ngon. • Lưỡi đóng màng, hơi thở hôi và có vị khó chịu trong miệng. KHI NÀO CẦN ĐI KHÁM BỆNH Hãy đi khám bệnh nếu như bạn gặp những vấn đề sau: • Các triệu chứng trở nên nặng nề và kéo dài hơn 3 tuần. • Xuất hiện những thay đổi rõ rệt và gần đây trong tình trạng đi cầu, chẳng hạn như chuyển từ táo bón thành tiêu chảy. • Đau ở hậu môn khi đi cầu. • Triệu chứng của các bệnh khác kèm theo táo bón (VD như mệt mỏi, kém đáp ứng với trời lạnh có thể là dấu hiệu gợi ý cần phải kiểm tra chức năng tuyến giáp xem có bị suy giáp không). • Táo bón trong vòng 2 tuần hoặc lâu hơn kèm theo đau bụng có thể là dấu hiệu của ngộ độc chì. Tình trạng cấp cứu: mặc dù táo bón có thể rất khó chịu nhưng nó thường không nghiêm trọng. Tuy nhiên nó có thể là dấu hiệu của những rối loạn nghiêm trọng hơn ẩn phía sau, chẳng hạn như ung thư ruột. Do táo bón có thể dẫn đến một số biến chứng nên bạn cần phải đến phòng cấp cứu ngay khi gặp những tình huống sau:
  6. • Chảy máu trực tràng • Đau hậu môn và trĩ • Nứt hậu môn hoặc đường nứt xuất hiện ở lớp niêm mạc (đau nặng nề khi đi cầu ở vùng hậu môn) • Phân đóng chặt ở những trẻ nhỏ và người già. • Sa trực tràng (đôi khi gắng sức có thể gây một lượng nhỏ niêm mạc ruột đi ra ngoài lỗ hậu môn có thể chế tiết chất nhầy làm dơ quần lót). • Nôn ói nhiều lần kèm theo táo bón và đau bụng (có thể là dấu hiệu gợi ý tắc nghẽn ở ruột và cần phải được điều trị khẩn cấp). KHÁM VÀ XÉT NGHIỆM Bác sĩ có thể sẽ hỏi bạn một số câu hỏi, khám cho bạn, và thực hiện một số xét nghiệm để tìm ra những nguyên nhân khả dĩ có thể gây ra táo bón cho bạn. • Những câu trả lời của bạn cho các câu hỏi sau có thể sẽ giúp bác sĩ tiếp cận được tình trạng của bạn tốt hơn và lên kế hoạch điều trị o Thói quen đi cầu bình thường của bạn như thế nào? o Bạn cảm thấy khó khăn khi tống phân ra ngoài từ bao lâu rồi? o Lần cuối cùng bạn đi cầu là vào lúc nào? o Bạn có thể trung tiện được không? o Bạn có thấy những cơn đau xuất hiện ở bụng hay ở hậu môn hay không? o Bạn có thể dùng ngón tay để chỉ vị trí đau được không? o Bạn có thể mô tả cơn đau bụng của bạn được không? o Bạn có chú ý thấy những thay đổi về nhiệt độ cơ thể của mình không? o Bạn đã thử những loại thuốc nào? Nó có tác dụng không? o Bạn có thường phải dùng thuốc nhuận trường hay thụt rửa? Nếu có thì bạn thường dùng loại nào và bao nhiêu viên mỗi ngày? o Bạn có cảm thấy luôn phải cần dùng đến thuốc nhuận trường để có thể đi cầu được? o Bạn có những triệu chứng nào khác không? o Bạn có cảm thấy ăn mất ngon không? o Bạn có bị thay đổi cân nặng không?
  7. o Bạn có cảm thấy dễ chịu hơn sau khi đi cầu không? o Bạn có cảm thấy bệnh? Buồn nôn hay không? o Bạn có từng phải nhập viện hoặc phải đi khám bệnh do tình trạng tương tự bao giờ chưa? o Bạn có mang thai không? o Bạn có hút thuốc không? Bạn bắt đầu hút thuốc khi nào? Bạn hút bao nhiêu điếu một ngày? o Bạn có uống rượu, trà, cafe hay không? o Bạn có dùng thuốc gây nghiện hoặc những loại thuốc điều trị khác không? o Bạn có từng phải trải qua phẫu thuật không? Phẫu thuật gì? Khi nào? o Bạn có bị đau khớp, bệnh về mắt, đau lưng và cổ, hoặc những thay đổi về da hay không? o Bạn có thường cảm thấy thích khí hậu ấm hơn không? o Bạn có thường cảm thấy mệt mỏi không? o Có người thân nào của bạn bị táo bón hoặc ung thư ruột không? • Bác sĩ sẽ khám bụng, hậu môn, và những hệ cơ quan khác của cơ thể bao gồm hệ thần kinh, tuyến giáp (tìm bướu cổ), và hệ cơ xương. Bác sĩ sẽ khám những phần nào là tùy thuộc vào những câu trả lời của bạn ở phía trên và những tiền sử có thể gợi ý ra một số bệnh. • Bác sĩ sẽ quyết định xem cần phải thực hiện loại xét nghiệm nào dựa trên các triệu chứng, bệnh sử, và kết quả khám. Những xét nghiệm sẽ giúp bác sĩ tìm ra được nguyên nhân thật sự của vấn đề. Những xét nghiệm thường được dùng nhất có thể bao gồm: o Trong phòng thí nghiệm:  Khám nghiệm phân dưới kính hiển vi.  Công thức máu toàn bộ và phết máu.  Xét nghiệm chức năng tuyến giáp nếu như nghi ngờ suy giáp. o Hình ảnh:  Chụp phim X quang ngực và bụng thẳng có thể cho thấy khí tự do đi qua từ lỗ thủng ở ruột hoặc những dấu hiệu tắc nghẽn ở ruột.  Thụt tháo bằng barit: có thể cho thấy kích thước bình thường của ruột già.  Quan sát sự di chuyển của thức ăn - có thể chỉ ra được khoảng thời gian chuyển tiếp bị kéo dài hoặc chậm trễ.
  8. o Thủ thuật:  Soi trực tràng xích ma: có thể giúp phát hiện những bệnh trong trực tràng và phần thấp của đại tràng. Bác sĩ sẽ đưa một ống dẻo có gắn đèn vào hậu môn của bạn để quan sát trực tràng và phần thấp của ruột.  Soi đại tràng: bằng cách khám trong, bác sĩ có thể xác định được chẩn đoán bệnh nhân có bị hội chứng ruột kích thích hay không bằng cách loại trừ những tình trạng bệnh nguy hiểm hơn. Bác sĩ cũng sẽ lấy ra một mẫu mô để làm sinh thiết nhằm khảo sát sâu hơn để xác định những nguyên nhân ẩn phía sau triệu chứng của bạn. ĐIỀU TRỊ Nếu bạn không bị tắc ruột, bác sĩ có thể đặt ra những mục tiêu thực tế để điều trị: • Tất cả những trường hợp đều cần phải những lời hướng dẫn về chế độ ăn kiêng. Điều trị có thể khó khăn, đặc biệt ở những bệnh nhân bị táo bón mạn tính. Bác sĩ có thể kê toa những loại thuốc tạo khối phân để thêm vào những thay đổi về chế độ ăn của bệnh nhân. • Gia tăng hoạt đọng ở những người già và tập luyện thể dục thường xuyên ở những người trẻ có thể giúp cải thiện tình hình tốt hơn. Chăm sóc tại nhà • Bổ sung thêm chất xơ cho bữa ăn. • Tập thể dục thường xuyên là một phần quan trọng trong chăm sóc sức khỏe của ruột. • Uống nhiều nước, đặc biệt là nước lọc và nước trái cây. Uống 6-8 ly nước mỗi ngày ngoài những lần uống trong bữa ăn. • Đi cầu vào cùng một thời điểm mỗi ngày - có thể là sau bữa ăn - và lưu lại đó đủ thời gian. • Dùng những loại đường không dễ tiêu (lactulose) hoặc những dung dịch có công thức đặc biệt. • Tránh dùng những loại thuốc nhuận trường bán tự do ngoài hiệu thuốc. Tránh dùng những thuốc nhuận trường có chứa senna (Senokot) hoặc buckthorn (Rhamnus purshiana) do sử dụng chúng
  9. kéo dài có thể gây tổn thương lớp niêm mạc ruột và những đầu tận của các dây thần kinh đi đến ruột. • Cố gắng tập thể dục mỗi ngày chẳng hạn như tập tư thế gập gối. Những tư thế này có thể gây kích thích nhu động ruột. Giữ tư thế đó trong vòng từ 10 - 15 phút. Thở vào và ra sâu. Tư thế gập gối Thuốc Nếu những biện pháp ban đầu phía trên thất bại, bác sĩ có thể cho bạn thử dùng những loại thuốc nhuận trường có thời gian tác dụng ngắn. Bạn cần phải hỏi ý kiến bác sĩ trước khi sử dụng một trong những loại thuốc sau, đặc biệt là nếu sử dụng trong thời gian dài. • Dầu khoáng. • Natri docusate hoặc Canxi docusate sẽ có ích nếu như bạn không thể rặn được, chẳng hạn như trong trường hợp bạn bị bệnh tim mạch, có thai, hoặc sau phẫu thuật đường tiêu hóa. • Thuốc nhuận trường là nước muối, chẳng hạn như hydroxide magne (Phillips Milk của Magnesia) hoặc Natri phosphate ((Phospho-Soda, Fleet enema) không được khuyến khích sử dụng nếu như bạn bị suy thận (thận không có khả năng hoặc giảm khả năng loại bỏ chất thải). Những loại thuốc nhuận trường này có thể gây ra những tác dụng phụ nặng nề nếu sử dụng trong thời gian dài.
  10. • Polyethylene glycol 3350 (Miralax) là một loại thuốc nhuận trường thẩm thấu không được dạ dày hấp thu. Nó giữ nước lại bên trong ruột làm cho phân mềm ra và có tác dụng nhuận trường. Nó có thể được sử dụng trong một thời gian ngắn để điều trị táo bón (trong vòng 2 tuần). Miralax là một loại thức uống được pha chế bằng cách hòa lẫn bột với 240mL nước. • Đường không hấp thu chẳng hạn như lactulose và sorbitol cũng có thể có tác dụng. Hơn nữa, chúng thường có thể sử dụng được trong một thời gian dài. Tuy nhiên chúng thường gây ra đau quặn bụng, tiêu chảy và mất cân bằng điện giải. • Cisapride (Propulsid) có thể có tác dụng đối với những bệnh nhân bị táo bón do di chuyển phân chậm. Tuy nhiên, nó đã bị rút ra khỏi thị trường Hoa Kỳ do nó có thể gây ra những tình trạng loạn nhịp tim chết người. Bác sĩ sẽ điều trị những bệnh nền của bạn (tắc ruột, nứt hậu môn, trĩ, và ung thư ruột). • Nếu bạn bị hội chứng ruột kích thích, bạn nên ngừng hút thuốc và tránh uống cafe và những thức ăn có sữa. Theo dõi những thức ăn hằng ngày có thể giúp bạn xác định xem loại thức ăn nào có thể làm cho những triệu chứng của bạn nặng thêm. • Bạn cũng có thể được cho uống thyroxin nếu bác sĩ xác định bạn bị suy giáp dựa vào những khám xét trên lâm sàng và những xét nghiệm trong phòng thí nghiệm. Những cách điều trị khác Nếu bạn chọn dùng những cách điều trị như vi lượng đồng căn, các loại thảo dược, những loại bổ sung dinh dưỡng và thực phẩm chức năng, giác hơi, xoa bóp dầu, và những phương pháp điều trị thay thế và bổ sung khác, bạn cần được biết rằng những sản phẩm và phương pháp trên thường không được chứng minh một cách khoa học rằng chúng có thể chẩn đoán, điều trị, phòng ngừa hoặc trị khỏi bất kỳ bệnh nào. Những tương tác nặng nề của chúng với những loại thuốc được kê toa khác luôn có khả năng xảy ra. Hãy thông báo với bác sĩ tất cả những loại thuốc và những chất giống như thuốc mà bạn sử dụng và hãy tìm đến bác sĩ khi bị bệnh trước khi tự ý dùng những loại thuốc hoặc cách điều trị nào đó để tự chữa.
  11. NHỮNG BƯỚC TIẾP THEO Theo dõi • Nếu bạn đã có những rối loạn đặc hiệu như suy giáp, xơ cứng bì, và lupus, bạn nên được theo dõi thường xuyên bởi bác sĩ. • Những bệnh nhân già đã từng bị nghẹt phân và bị són phân nên được theo dõi thường xuyên để bảo đảm họ không bị những đợt tiếp theo. • Những người trẻ tuổi bị chứng biếng ăn thần kinh cần phải có một đội ngũ chuyên gia để tiếp cận và theo dõi những bệnh ẩn bên trong, cũng như hỗ trợ và giáo dục. Phòng ngừa • Tập thói quen đi cầu thường xuyên. Dành một khoảng thời gian sau khi ăn sáng để đi cầu. • Không bỏ qua khi cơ thể có nhu cầu muốn đi cầu. Hãy đáp ứng lại tiếng gọi của cơ thể để làm trống ruột càng sớm càng tốt. • Ăn một bữa ăn cân bằng dinh dưỡng bao gồm ngũ cốc, trái cây tươi, rau quả. Có những nghiên cứu gần đây cho thấy việc gia tăng chất xơ trong bữa ăn có thể có ích cho một số người bị phân cứng nhưng không nhất thiết phải có ích cho tất cả những người bị táo bón. • Uống nhiều nước và nước trái cây. • Tập thể dục thường xuyên. Đi bộ đóng một vai trò đặc biệt quan trọng. • Tránh dùng những loại thuốc có thể gây táo bón. Bác sĩ sẽ giúp bạn trong vấn đề này. • Dùng thuốc nhuận trường có thể làm trong tình trạng táo bón xấu đi về lâu dài do đó cần phải tránh. • Nếu bạn có những bệnh đặc biệt như suy giáp, xơ cứng bì, và lupus, bạn có thể cần phải được tái khám thường xuyên. Tiên lượng Phần lớn những người bị táo bón không có bệnh thực thể của hệ tiêu hóa từ trước và cũng không có những bệnh toàn thân nào có liên quan đến táo
  12. bón. Hầu hết táo bón là do thói quen ăn uống không cân bằng, uống ít nước và ít vận động. • Đối với những người bị táo bón do bệnh, sự phục hồi sẽ giúp xác định mức độ bệnh của bạn. • Bạn thường sẽ phục hồi tốt nếu tình trạng táo bón của bạn được gây ra bởi trĩ hoặc nứt hậu môn. Theo Emedicinehealth - Y học NET dịch HO Ho là hành động của cơ thể tống xuất những chất gây kích thích đường thở ra ngoài. Đường thở là đường dẫn không khí mà bạn hít thở đi từ mũi và miệng xuống đến phổi. Triệu chứng ho xảy ra khi một số tế bào đặc biệt nằm dọc theo đường thở bị kích thích và khởi động một chuỗi các sự kiện xảy ra và kết quả là không khí bên trong phổi được tống ra ngoài với một áp lực lớn. Bạn có thể tự ho (ho có chủ ý) hoặc cơ thể tự gây ra cơn ho (không có chủ ý). NGUYÊN NHÂN Danh sách những nguyên nhân có khả năng gây ho rất dài và rất thay đổi. Các bác sĩ chia triệu chứng ho ra thành 2 loại: cấp tính và mạn tính. Nhiều bác sĩ định nghĩa ho cấp tính là ho kéo dài ít hơn 3 tuần. Ho mạn tính là ho kéo dài nhiều hơn 3 tuần.
  13. • Ho cấp tính có thể chia ra làm các loại ho do nhiễm trùng và các loại ho không do nhiễm trùng. o Ho cấp tính do nhiễm trùng thường có nguyên nhân là nhiễm virus đường hô hấp trên (cúm), viêm xoang, viêm phổi, và ho gà. o Ho không do nhiễm trùng thường có nguyên nhân là do những đợt bùng phát của các bệnh mạn tính sau: viêm phế quản mạn, khí phế thũng, hen, và dị ứng với môi trường. • Cách dễ nhất để đơn giản hóa các nguyên nhân gây ho mạn tính là chia chúng theo vị trí tương quan với phổi. Chúng được chia ra thành các loại: những chất kích ứng từ một trường, những bệnh của phổi, những bệnh dọc theo đường dẫn khi từ phổi đến môi trường, những bệnh bên trong lồng ngực nhưng nằm bên ngoài phổi và những bệnh tiêu hóa. o Bất kỳ chất nào từ môi trường có khả năng gây kích thích đường dẫn khí hoặc phổi đều có thể gây ho mạn tính nếu bệnh nhân phải tiếp tục tiếp xúc với chúng. Khói thuốc lá là nguyên ngân gây ho mạn tính thường gặp nhất. Những chất kích thích gây ho khác bao gồm: bụi, phấn hoa, các vảy từ da hoặc lông vật nuôi trong nhà, những chất đặc hiệu, các hóa chất và chất gây ô nhiễm công nghiệp, khói thuốc từ xì gà và tẩu thuốc và độ ẩm của môi trường thấp. o Bên trong phổi cũng có những nguyên nhân ít gặp và thường gặp gây ho mạn tính. Những nguyên nhân thường gặp bao gồm hen phế quản, khí phế thũng, và viêm phế quản mạn tính. Những nguyên nhân ít gặp hơn gây ho mạn tính của phổi là ung thư, sarcoidosis, những bệnh của nhu mô phổi, và suy tim sung huyết kèm tích tụ dịch mạn tính trong phổi. o Đường nối phổi với môi trường bên ngoài được gọi là đường hô hấp trên. Viêm xoang mạn tính, chảy nước mũi sau mạn tính, những bệnh của ống tai ngoài, nhiễm trùng họng, và sử dụng thuốc ức chế men chuyển để điều trị tăng huyết áp đều có thể liên quan đến tình trạng ho mạn tính. o Ngoài những bệnh diễn tiến trong phổi và các đường dẫn khí, những bệnh nằm ở các nơi khác trong lồng ngực cũng có thể gây ho mạn tính. Những bệnh bên trong ngực được xác định là nguyên nhân gây ho mạn tính bao gồm: ung thư, sự phát triển bất thường của các hạch lympho, sự lớn bất thường của động mạch chủ, là mạch máu chính xuất phát từ tim.
  14. o Một nguyên nhân hay bị bỏ qua là bệnh trào ngược dạ dày thực quản (GERD). GERD xảy ra khi acid từ dạ dày đi lên thực quản gây kích thích thực quản và thanh quản gây phản ứng ho. TRIỆU CHỨNG Tuy rằng chính bản thân ho đã là một triệu chứng, nhưng bệnh nhân còn có những triệu chứng khác đi kèm giúp phân biệt nguyên nhân gây ho. Một yếu tố quan trọng khác giúp xác định nguyên nhân gây ho là tính chất cấp tính hay mạn tính của nó. • Ho cấp tính được chia làm ho do nhiễm trùng và ho không do nhiễm trùng o Các dấu hiệu và triệu chứng giúp nghĩ đến nguyên nhân nhiễm trùng bao gồm sốt, ớn lạnh, đau nhức mình mẩy, đau họng, buồn nôn, nôn, nhức đầu, tăng áp lực ở các xoang (gây cảm giác nặng đầu), chảy nước mũi, vã mồ hôi đêm, và chảy nước mũi sau. Khạc đàm đôi khi có thể là triệu chứng báo hiệu có nhiễm trùng, nhưng nó cũng có thể xuất hiện ở các nguyên nhân không do nhiễm trùng. o Các dấu hiệu và triệu chứng giúp nghĩ đến nguyên nhân không do nhiễm trùng bao gồm ho khi tiếp xúc với một số chất hóa học hoặc chất gây kích ứng trong môi trường, ho kèm thèm hắt xì, ho thường xuyên nặng hơn khi đến một số khu vực nhất định hoặc làm một số việc nhất định, hoặc đỡ ho hơn khi sử dụng các loại thuốc xịt hoặc thuốc dị ứng. • Những dấu hiệu và triệu chứng của ho mạn tính có thể khó chẩn đoán do có nhiều nguyên nhân gây ho mạn tính có những dấu hiệu và triệu chứng chồng chéo lên nhau. o Nếu triệu chứng ho của bạn liên quan đến những tác nhân kích thích của môi trường, nó sẽ nặng hơn khi tiếp xúc với những tác nhân đó. Nếu bạn bị dị ứng với môi trường, bạn có thể sẽ đỡ ho hơn khi dùng các loại thuốc dị ứng. Nếu bạn ho do khói thuốc, triệu chững ho sẽ giảm đi nếu bạn ngừng hút thuốc và tăng lên khi đang hút. o Nếu bạn bị những bệnh phổi mạn tính như hen phế quản, khí phế thũng, hoặc viêm phế quản mạn, bạn có thể sẽ bị ho dai dẳng hoặc cơn ho nặng hơn khi đến một nơi chốn hoặc làm một việc nhất định nào đó. Bạn có thể có hoặc không có
  15. khạc đàm cùng lúc với ho và thường đỡ ho hơn khi dùng các thuốc corticoid đường xịt hoặc đường uống hoặc những thuốc dạng xịt khác. o Nếu cơn ho gây ra bởi viêm xoang mạn tính, chảy nước mũi mạn tính, hoặc chảy nước mũi sau mạn tính, bạn thường sẽ có những dấu hiệu và triệu chứng đi chung với những bệnh trên. Bạn cũng có thể nhận thấy cơn ho của mình nặng nề hơn khi bệnh nặng hơn và cơn ho thường đỡ hơn khi những bệnh trên được điều trị. o Nếu triệu chứng ho gây ra bởi thuốc, chẳng hạn như thuốc ức chế men chuyển, bạn có thể sẽ bắt đầu ho sau khi bắt đầu sử dụng những loại thuốc nghi ngờ. Thường là ho khan và đỡ hơn khi ngừng thuốc. o Ho do bệnh trào ngược dạ dày thực quản thường đi kèm với cảm giác nóng rát dọc theo ngực. Loại ho này nặng hơn trong ngày hoặc khi bạn đang nằm ngửa trên mặt phẳng. Ngoài ra, một số ít người bị ho do GERD sẽ không cảm thấy có những triệu chứng của trào ngược, nhưng hầu hết bệnh nhân đều đỡ ho hơn khi triệu chứng trào ngược được điều trị hợp lý. o Nếu triệu chứng ho là dấu hiệu báo động của ung thư, bạn có thể gặp một nhóm các triệu chứng. Nếu là ung thư phổi hoặc ung thư đường dẫn khí, bạn có thể bị ho ra máu. Những dấu hiệu và triệu chứng khác có thể là báo động của ung thư bao gồm mệt mỏi ngày càng nặng hơn, ăn mất ngon, sụt cân không rõ nguyên nhân, hoặc giảm khả năng nuốt những thức ăn cứng hoặc lỏng. KHI NÀO CẦN ĐI KHÁM BỆNH Biết được lúc nào nên đi khám bệnh do triệu chứng ho có thể là một quyết định khó khăn. • Thông thường, bạn nên gặp bác sĩ nếu gặp những triệu chứng sau: o Ho kèm theo sốt và khạc đàm. o Ho không giảm sau khi những triệu chứng khác biến mất hoặc đỡ hơn. o Thay đổi tính chất ho. o Những cách điều trị thử nghiệm không cho thấy có dấu hiệu thuyên giảm. o Bắt đầu ho ra máu
  16. o Triệu chứng ho gây cản trở những sinh hoạt hằng ngày hoặc cản trở giấc ngủ. • Hãy gọi cho bác sĩ ngay lập tức nếu như bạn cảm thấy mình bị khó thở. Đa số các cơn ho không làm cho bệnh nhân đến phòng cấp cứu. Tuy nhiên trong một số trường hợp cần phải được đánh giá tại phòng cấp cứu. • Nếu bạn bị ho do những bệnh mạn tính, hãy trao đổi với bác sĩ để biết khi gặp những dấu hiệu và triệu chứng nào thì bạn nên đến phòng cấp cứu. • Nếu bạn bị khó thở nặng cùng với ho, bạn có thể bị một số bệnh nghiêm trọng cần phải được can thiệp khẩn cấp. • Những người lớn tuổi hoặc những người có hệ mễn dịch bị suy yếu bị ho và sốt cao nên được đưa đến phòng cấp cứu nếu không thể gặp bác sĩ. • Nếu bạn đang bị những bệnh về phổi đã được các bác sĩ chẩn đoán và cơn ho diễn ra nặng hơn một cách cấp tính và không đáp ứng với các cách điều trị tại nhà, bạn nên đến phòng cấp cứu. KHÁM VÀ XÉT NGHIỆM Quá trình chẩn đoán ho dựa phần lớn vào những thông tin mà bạn cung cấp. Những thông tin cần thiết để giúp chẩn đoán chính xác bao gồm: độ dài của cơn, những dấu hiệu và triệu chứng kèm theo, những hoạt động hoặc địa điểm làm cho cơn ho nặng hơn hoặc đỡ hơn, mối liên hệ giữa cơn ho và những thời điểm trong ngày, những bệnh đã bị trước đây, và bất kỳ cách điều trị nào tại nhà mà bạn đã thử. • Trong trường hợp ho cấp tính, các bác sĩ có thể chẩn đoán đơn giản bằng cách hỏi bệnh và thực hiện các thao tác khám. Nếu bạn bị ho cấp tính, thường bạn sẽ được chụp X quang để giúp bác sĩ chẩn đoán bệnh. Những người lớn tuổi, những người có hệ miễn dịch bị suy yếu (thường là do ung thư, đái tháo đường, hoặc AIDS), và những người được các bác sĩ phát hiện ra âm thanh bất thường trong phổi khi khám có thể cần phải chụp X quang để kiểm tra xem có bị viêm phổi hay không. • Trong trường hợp ho mạn tính, các bác sĩ thường dựa trên những thông tin thu được trong quá trình hỏi bệnh và khám để đưa ra các khảo sát cận lâm sàng phù hợp để giúp chẩn đoán bệnh. Nhiều
  17. bệnh nhân sẽ được chụp X quang ngực để tìm nguyên nhân. Ngoài ra, một số khảo sát khác có thể được thực hiện theo phán đoán của bác sĩ và dựa trên quá trình hỏi bệnh và khám. • Điều quan trọng là bạn nên đóng vai trò chủ động trong nhiệm vụ tự chăm sóc mình và trao đổi với bác sĩ mục đích của những xét nghiệm được thực hiện và ý nghĩa những kết quả của chúng. ĐIỀU TRỊ Tại nhà Điều trị ho tại nhà thường nhắm trực tiếp đến điều trị những nguyên nhân gây ra. • Nếu bạn bị ho cấp tính và không phải đến bác sĩ, bạn có thể thử dùng các loại thuốc cảm bán không cần toa để làm giảm triệu chứng. Nếu nghi ngờ bị cảm cúm, những loại thuốc này có thể làm triệu chứng thuyên giảm cho đến khi tình trạng nhiễm trùng tự hồi phục. Những cơn ho cấp tính có nguyên nhân dị ứng thường khỏi với những thuốc chống dị ứng, và ho do những chất kích ứng từ môi trường sẽ đỡ hơn khi giảm tiếp xúc với chúng. • Điều trị tại nhà đối với tình trạng ho mạn tính với nguyên nhân đã được biết trước nhắm trực tiếp đến nguyên nhân gây ho. Quá trình này nên được thực hiện dưới sự tư vấn chặt chẽ của bác sĩ. Mặc dù không phải tất cả các cơn ho mạn tính đều có thể được giới hạn, nhưng nhiều bệnh nhân có thể thấy giảm ho bằng cách theo sát những hướng dẫn của bác sĩ. Tại bệnh viện Điều trị ho tùy thuộc phần lớn vào độ nặng của nó và những nguyên nhân gây ra. • Điều trị ho cấp tính chủ yếu nhắm trực tiếp vào mục tiêu giảm ho thêm vào đó là điều trị những triệu chứng ẩn phía sau. o Triệu chứng ho có thể được làm giảm bằng những thuốc ho bán không cần toa và những thuốc phải kê toa. o Ho nặng hoặc ho gây cản trở giấc ngủ có thể cần những loại thuốc bao gồm cả các thuốc gây nghiện. Nếu được kê toa những loại thuốc này, cố gắng tránh uống rượu, lái xe, phẫu thuật và điều khiển máy móc nặng.
  18. o Nếu nghi ngờ bệnh nhân bị nhiễm trùng, bác sĩ thường kê toa các loại thuốc kháng sinh. Kháng sinh không có tác dụng đối với những bệnh nhân nghi ngờ bị nhiễm virus, những người này sẽ chỉ cần điều trị trực tiếp triệu chứng ho. o Những người lớn tuổi, những người bị nhiễm trùng hoặc nhiễm virus nặng, và những người có hệ miễn dịch bị suy yếu có thể cần phải nhập viện để được theo dõi bệnh. • Điều trị ho mạn tính cũng có thể nhắm trực tiếp đến bệnh gây ra nó. Điều quan trọng cần phải biết là quá trình điều trị có thể sẽ khó khăn, cần phải áp dụng nhiều cách tiếp cận khác nhau, và cũng có thể không làm hết ho hoàn toàn. o Nếu bạn bị ho do thuốc lá, dị ứng, hoặc những chất kích thích từ môi trường, bạn có thể cảm thấy đỡ hơn nếu hạn chế tiếp xúc với những chất đó. Có thể phải mất vài tuần bác sĩ mới biết được đáp ứng của cách điều trị này do cần phải có đủ thời gian cho các tổn thương ở phổi và đường dẫn khí hồi phục. o Nếu bạn bị bệnh phổi, bạn thường cần phải được điều trị kéo dài những bệnh này. Những phương pháp được sử dụng để điều trị tùy thuộc phần lớn vào loại bệnh mà bạn mắc phải. Thường cần phải dùng nhiều phương pháp trị liệu cùng một lúc để giúp làm giảm các triệu chứng của bệnh nhân. Theo sát cách điều trị được lựa chọn là điều kiện cần thiết để làm chậm diễn tiến của bất kỳ loại bệnh nào và làm giảm triệu chứng. Trong trường hợp điều trị tại nhà không hiệu quả và các triệu chứng ngày càng nặng hơn, bạn có thể cần phải nhập viện để được điều trị tăng cường và tích cực hơn. o Nếu triệu chứng ho của bạn được cho là do thuốc gây ra, bạn sẽ cho thấy có sự cải thiện khi ngừng sử dụng loại thuốc đang bị nghi ngờ. Khi đó, triệu chứng ho thường mất vài tuần để khỏi hoàn toàn. Bạn cần phải dùng một loại thuốc khác để thay thế loại thuốc mà bạn đã ngừng. o Nếu nghi ngờ bạn bị ho do GERD, hướng điều trị của bạn có thể sẽ nhắm trực tiếp vào giảm lượng acid trào ngược từ dạ dày. Điều này thông thường được thực hiện bằng cách thay đổi chế độ ăn và thuốc. Để điều trị thành công có thể cần nhiều thời gian và phối hợp nhiều cách điều trị. CÁC BƯỚC TIẾP THEO
  19. Theo dõi Những trường hợp ho cấp tính thường tự khỏi và không cần phải theo dõi. Nhiều trường hợp ho mạn tính phải mất vài tuần đến vài tháng để thuyên giảm mặc dù đã theo sát các phương pháp điều trị, do đó cần phải sắp xếp lịch theo dõi trong khoảng thời gian này. Đối với những cơn ho không thuyên giảm khi điều trị bằng những phương pháp chuẩn, có thể bệnh nhân sẽ được chuyển đến các bác sĩ chuyên khoa để tìm ra nguyên nhân và cách điều trị tốt nhất. Phòng ngừa Phòng ngừa ho bằng cách tránh bị những loại bệnh gây ho. Hướng phòng ngừa quan trọng nhất là ngừng hút thuốc và tránh hút thuốc thụ động, đặc biệt là ở những bệnh nhân bị hen phế quản, bệnh phổi mạn tính, và dị ứng với môi trường. Đối với những bệnh nhân bị GERD, cách phòng ngừa hướng đến việc thay đổi chế độ ăn, ngủ để đầu cao, và uống tất cả những loại thuốc được kê toa. Đối với những người đang được điều trị bệnh phổi mạn tính, cách phòng ngừa tốt nhất là theo sát những cách điều trị của bác sĩ. Tiên lượng Tiên lượng tùy thuộc rất nhiều vào nguyên nhân gây ho. Sau khi đã xác định được nguyên nhân, hầu hết các trường hợp ho cấp tính sẽ thuyên giảm trong vòng 2-3 tuần. Những người hút thuốc khi bị ho có thể phải mất một khoảng thời gian lâu hơn. Những trường hợp bị ho mạn tính cho nhiều kết quả khác nhau, và những người bị bệnh phổi mạn tính thường có những giai đoạn thuyên giảm thêm vào những giai đoạn ho nặng hơn. Một lần nữa, hút thuốc có thể làm cho tình trạng ho mạn tính kéo dài lâu hơn và nên tránh. Theo Emedicinehealth - Y học NET dịch MẤT NGỦ
  20. Mất ngủ được định nghĩa là tình trạng gặp khó khăn khi khởi đầu hoặc duy trì giấc ngủ, hoặc cả hai mặc dù đã có đủ cơ hội và thời gian để ngủ dẫn đến giảm hiệu quả các hoạt động ban ngày. Mất ngủ có thể do giảm chất lượng hoặc số lượng giấc ngủ. Mất ngủ rất thường gặp và xảy ra trong khoảng từ 30% đến 50% dân số chung. Xấp xỉ 10% dân số bị mất ngủ mạn tính (kéo dài). Mất ngủ xảy ra ở mọi độ tuổi kể cả trẻ em, tuy nhiên nó thường gặp ở người lớn hơn và tần xuất của nó tăng lên theo tuổi. Thông thường, phụ nữ bị mất ngủ thường xuyên hơn nam giới. Mất ngủ được chia ra làm 3 nhóm dựa trên độ kéo dài của triệu chứng: • Mất ngủ kéo dài 1 tuần trở xuống được gọi là mất ngủ thoáng qua. • Mất ngủ ngắn hạn là mất ngủ kéo dài hơn 1 tuần nhưng khỏi trước 3 tuần. • Mất ngủ dài hạn hoặc mất ngủ mạn tính là mất ngủ kéo dài hơn 3 tuần. Mất ngủ cũng có thể được phân loại dựa vào nguyên nhân gây mất ngủ chẳng hạn như vệ sinh giấc ngủ, bệnh tật, rối loạn giấc ngủ, áp lực v.v... Ngoài ra cũng cần phân biệt giữa mất ngủ và một số tình trạng tương tự: ngủ ít và thiếu ngủ. • Ngủ ít có thể là tình trạng bình thường ở một số người chỉ cần ngủ trong một thời gian ngắn hơn người khác nhưng không cảm thấy mệt mỏi vào ban ngày (là triệu chứng chủ yếu trong định nghĩa mất ngủ). • Những người mất ngủ là những người có đủ thời gian và cơ hội để ngủ còn những người thiếu ngủ là những người không ngủ được do
Đồng bộ tài khoản