Trình tự tổ chức công tác kiểm toán

Chia sẻ: Chau Duong | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:36

0
129
lượt xem
40
download

Trình tự tổ chức công tác kiểm toán

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Để đáp ứng nhu cầu đổi mới cơ chế quản lý kinh tế tàI chính nhằm nâng cao chất lượng quản lý kinh tế trong nền kinh tế quốc dân ,vấn đề kiểm tra kiểm soát chất lượng làm lành mạnh hoá các thông tin tài chính trong nền kinh tế quốc dân là một nhu cầu cấp thiết. Giúp cho nền kinh tế thị trường có thể đứng vững và có thể phát triển toàn diện về mọi mặt.Nó đIũu tiết nền kinh tế đi đúng hướng và hạn chế được những khủng hoảng có thể xảy ra trong...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Trình tự tổ chức công tác kiểm toán

  1. Trình tự tổ chức công tác kiểm toánTrình tự tổ chức công tác kiểm toán
  2. Trình tự tổ chức công tác kiểm toán LỜI MỞ ĐẦU Để đáp ứng nhu cầu đổi mới cơ chế quản lý kinh tế tàI chính nhằm nâng cao chất lượng quản lý kinh tế trong nền kinh tế quốc dân ,vấn đề kiểm tra kiểm soát chất lượng làm lành mạnh hoá các thông tin tàI chính trong nền kinh tế quốc dânlà một nhu cầu cấp thiết. Giúp cho nền kinh tế thị trường có thể đứng vững và có thể phát triển toàn diện về mọi mặt.Nó đIũu tiết nền kinh tế đI đúng hướng và hạn chế được những khủng hoảng có thể xảy ra trong nền kinh tế thị trường.chính vì vậy mà kiểm toán ra đời như một sự tất yếu. Trong điều kiện nền kinh tế thị trường với nhiều thành phần kinh tế đang phát triển, sự ra đời của các doanh nghiệp trẻ và đày triển vọng khiến cho sự canh tranh giữa các doanh nghiệp ngày càng trở nên gay gắt. Các doanh nghiệp cần mở rộng sản xuất kinh doanh, đầu tư mới máy móc, trang thiết bị hiện đại cho sản xuất…do vậy doanh nghiệp cần phải huy động vốn từ các nhà đầu tư bên ngoài. Các nhà đầu tư cần có những tài liệu tin cậy để có sự đầu tư đúng đắn, ngoài ra; các cơ quan Nhà nước cần thông tin trung thực để điều tiết vĩ mô nền kinh tế; người lao động cần thông tin đáng tin cậy về kết quả kinh doanh, thực hiện chính sách tiền lương…; khách hàng, nhà cung cấp cần hiểu rõ thực chất kinh doanh và tình hình tài chính của doanh nghiệp để cung cấp hàng hoá, dịch vụ. Chính vì vậy, kiểm toán nói chung và kiểm toán tài chính ra đời với vai trò, chức năng xác minh và tư ván không chỉ giúp cho sự quản lý vĩ mô của Nhà nước mà còn ý nghĩa cho bản thân doanh nghiệp và các đối tượng quan tâm. Nếu như Báo cáo tài chính chỉ cung cấp và trình bày cho người đọc thực trạng của doanh nghiệp tại một thời gian nhất định thì kiểm toán các Báo cáo tài chính sẽ gây dựng lòng tin cho người sử dụng đối với Báo cáo tài chính đó. Từ đó ta có thể thấy mục tiêu của tổ chức công tác kiểm toán hướng tơí việc tạo ra mối quan hệ khoa học và nghệ thuật các phương pháp kĩ thuật kiểm toán dùng để xác minh và bày tỏ ý kiến về đối tượng kiểm toán.mối liên hệ này xuất phát từ yêu cầu thực hiện chức năng kiểm toántheo từng đối tượng loại hình cụ thể của kiểm toán .Những phương pháp kĩ thuật áp dụng rất đa dạng,sử dụng những phưong pháp luận,những phạm trù chiết học ,kinh tế trính trị vào nghiên cứu.các phương pháp toán học đối chiếu lôgíc,đối chiếu trực tiếp,kiểm kê ,thực nghiệm và đIều tra…các yếu tố này cần được kết hợp theo một trình tự khoa học phù hợp với đối tượng cụ thể ở một khách thể xác định.có nhiều cách kết hợp cụ thể khác nhau và mang lại hiệu quả khác nhau. 1
  3. Trong điều kiện Việt Nam hiện nay, hoạt động kiểm toán nói chung cũng như hoạt động kiểm toán độc lập nói riêng là những hoạt động hết sức mới mẻ. Trong khi đó hành lang pháp lý cho hoạt động kiểm toán chưa đầy đủ, nội dung, quy trình cũng như phương pháp được vận dụng trong các cuộc kiểm toán của Việt Nam mới ở giai đoạn đầu, nguồn tài liệu thiếu cả về số lượng, tính đồng bộ và hạn chế về mặt chất lượng. Do vậy, kế hoạch kiểm toán cần được coi trọng để đảm bảo chất lượng và hiệu quả của cuộc kiểm toán. Thực tiễn hoạt động kiểm toán ở nước ta trong những năm vừa qua cho thấy kế hoạch kiểm toán được lập đầy đủ và chu đáo là một trong những nhân tố hàng đầu đưa đến sự thành công của cuộc kiểm toán cũng như dẫn đến sự thành công của các doanh nghiệp. Đề án môn học”Trình tự tổ chức công tác kiểm toán”được viết trên cơ sở những bài giảng về kiểm toán. Đề án gồm 3 phần: PhầnI: Tổ chức kiểm toán với việc xác định trình tự kiểm toán. PhầnII: Quy trình chung của công tác kiểm toán. Phần III: Vận dụng quy trình kiểm toán vào các loại hình kiểm toán 2
  4. PhầnI: Tổ chức kiểm toán với việc xác định trình tự kiểm toán 1.1Kiểm toán và tổ chức kiểm toán 1.1.1 Tổ chức Là mối liên hệ giữa các yếu tố trong một hệ thống .mức độ liên hệ này được xác định qua biên độ giao động từ không đến một.ở mức độ không,các yếu tố trong cùng một hệ thống không tồn tại bấ kì mối liên hệ nào.khi đó hệ thống rơI vào tình trạng tan rã hay vô tổ chức.ở độ một ,ngược lại ,các yếu tố quan hệ chặt chẽ,khoa học và hệ thống hoạt động ở mức độ tối ưu . 1.1.2 Tổ chức kiểm toán là kháI niệm bao hàm trình tự kiểm toán.một cuộc kiểm toán chỉ có thể thực hiện thành công nếu đối tượng kiểm toán được xác định thống nhất giữa chủ thể và khách thểkiểm toán,trong đó chủ thể kiểm toán được xác định rõ mục tiêu và phạm vi kiểm toán vàkết hợp khéo léo các phương pháp kĩ thuật theo trình tự kiểm toán trong khuôn khổ những cơ sở pháp lý nhất định để thực hiện cuộc kiểm toán,thoả mãn nhu cầu khách thể kiểm toán và các bên quan tâm.theo đó tổ chức kiểm toán là một vấn đề cơ bản,có ý nghĩa quyết định sự thành côngvà tính hiệu quả thực hiện một cuộc kiểm toán. 1.1.3 Trình tự Là thứ tự diễn ra từ đầu đến cuối của một vấn đề đã được xắp xếp dự tính từ trứơc lúc xảy ra hiện tượng đó. 1.1.4 Trình tự kiểm toán Là một quy trình chung với 3 bước cơ bản - Chuẩn bị kiểm toán -Thực hành kiểm toán - Kết thúc kiểm toán PhầnII: Quy trình chung của công tác kiểm toán 2.1. Lập kế hoạch kiểm toán trong quy trình kiểm toán báo cáo tài chính. 2.1.1 Qui trình kiểm toán và vai trò của lập kế hoạch kiểm toán trong quy trình kiểm toán Báo cáo tài chính. Để đảm bảo tính hiệu quả, tính kinh tế và tính hiệu lực của từng cuộc kiểm toán cũng như để thu thập bằng chứng kiểm toán đầy đủ có giá trị làm căn cứ cho kết luận của kiểm toán viên về tính trung thực và hợp lý của số liệu trên Báo cáo 3
  5. tài chính, cuộc kiểm toán thường được tiến hành theo quy trình gồm ba giai đoạn như sau: lập kế hoạch và thiết kế các phương pháp kiểm toán, thực hiện kế hoạch kiểm toán, hoàn thành cuộc kiểm toán và công bố báo cáo kiểm toán. Sơ đồ 1: Ba giai đoạn của một cuộc kiểm toán Báo cáo tài chính Giai đoạn I Lập kế hoạch và thiết kế phương pháp kiểm Giai đoạn II Thực hiện kế hoạch kiểm toán Giai đoạn III Hoàn thành kiểm toán và công bố báo cáo kiểm Trong đó lập kế hoạch kiểm toán là giai đoạn đầu tiên mà các kiểm toán viên cần thực hiện trong mỗi cuộc kiểm toán nhằm tạo ra các điều kiện pháp lý cũng như những điều kiện cần thiết khác cho kiểm toán. Việc lập kế hoạch kiểm toán đã được quy định rõ trong các Chuẩn mực Kiểm toán hiện hành, Chuẩn mực kiểm toán thứ tư trong10 Chuẩn mực Kiểm toán được thừa nhận rộng rãi ( GAAS ) đòi hỏi “ công tác kiểm toán phải được lập kế hoạch đầy đủ và các trợ lý, nếu có, phải được giám sát đúng đắn”. Đoạn hai trong chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 300 cũng nêu rõ kiểm toán viên và Công ty kiểm toán cần lập kế hoạch kiểm toán để có thể đảm bảo được rằng cuộc kiểm toán đã được tiến hành một cách có hiệu quả. Như vậy việc lập kế hoạch kiểm toán không chỉ xuất phát từ yêu cầu chính của cuộc kiểm toán nhằm chuẩn bị những điều kiện cơ bản trong công tác kiểm toán, cho cuộc kiểm toán mà còn là nguyên tắc cơ bản trong công tác kiểm toán đã được quy định thành chuẩn mực và đòi hỏi các kiểm toán viên phải tuân theo đầy đủ nhằm đảm bảo tiến hành công tác kiểm toán có hiệu quả và chất lượng. Lập kế hoạch kiểm toán là giai đoạn đầu tiên của một cuộc kiểm toán có vai trò quan trọng, chi phối tới chất lượng và hiệu quả chung của toàn bộ cuộc kiểm toán. Ý nghĩa của giai đoạn này được thể hiện qua một số điểm sau: • Kế hoạch kiểm toán giúp kiểm toán viên thu thập được các bằng chứng kiểm toán đầy đủ và có giá trị làm cơ sở để đưa ra các ý kiến xác đáng về Báo cáo tài chính, từ đó giúp các kiểm toán viên hạn chế những sai sót, giảm thiểu 4
  6. trách nhiệm pháp lý, nâng cao hiệu quả công việc và giữ vững được uy tín nghề nghiệp đối với khách hàng. • Kế hoạch kiểm toán giúp kiểm toán viên phối hợp hiệu quả với nhau cũng như phối hợp hiệu quả với các bộ phận có liên quan như kiểm toán nội bộ, các chuyên gia bên ngoài… Đồng thời qua sự phối hợp hiệu quả đó, kiểm toán viên có thể tiến hành cuộc kiểm toán theo đúng chương trình đã lập với các chi phí ở mức hợp lý, tăng cường sức mạnh cạnh tranh cho Công ty kiểm toán và giữ uy tín với khách hàng trong mối quan hệ làm ăn lâu dài. • Kế hoạch kiểm toán thích hợp là căn cứ để Công ty kiểm toán tránh xảy ra những bất đồng đối với khách hàng. Trên cơ sở kế hoạch kiểm toán đã lập, kiểm toán viên thống nhất với các khách hàng về nội dung công việc sẽ thực hiện, thời gian tiến hành kiểm toán cũng như là trách nhiệm của mỗi bên… Điều này tránh xảy ra những hiểm lầm đáng tiếc giữa hai bên. • Ngoài ra, căn cứ vào kế hoạch kiểm toán đã được lập, kiểm toán viên có thể kiểm soát và đánh giá chất lượng công việc kiểm toán đã và đang thực hiện, góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả của cuộc kiểm toán, từ đó càng thắt chặt hơn mối quan hệ giữa Công ty kiểm toán với khách hàng. Trong điều kiện Việt Nam hiện nay, hoạt động kiểm toán nói chung cũng như hoạt động kiểm toán độc lập nói riêng là những hoạt động hết sức mới mẻ. Trong khi đó hành lang pháp lý cho hoạt động kiểm toán chưa đầy đủ, nội dung, quy trình cũng như phương pháp được vận dụng trong các cuộc kiểm toán của Việt Nam mới ở giai đoạn đầu, nguồn tài liệu thiếu cả về số lượng, tính đồng bộ và hạn chế về mặt chất lượng. Do vậy, kế hoạch kiểm toán cần được coi trọng để đảm bảo chất lượng và hiệu quả của cuộc kiểm toán. Thực tiễn hoạt động kiểm toán ở nước ta trong những năm vừa qua cho thấy kế hoạch kiểm toán được lập đầy đủ và chu đáo là một trong những nhân tố hàng đầu đưa đến sự thành công của cuộc kiểm toán cũng như dẫn đến sự thành công của các doanh nghiệp. 2.1.2 Trình tự giai đoạn lập kế hoạch và thiết kế các phương pháp kiểm toán Để giúp cho việc lập kế hoạch và thiết kế phương pháp kiểm toán được thực hiện có hiệu quả, các giám đốc kiểm toán và các kiểm toán viên cao cấp thường lập chiến lược kiểm toán. Theo chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 300, Kế hoạch kiểm toán, chiến lược kiểm toán được hiểu là định hướng cơ bản cho một cuộc kiểm toán dựa trên hiểu biết của Công ty kiểm toán về tình hình hoạt động của khách hàng và trọng tâm của cuộc kiểm toán. Lập kế hoạch kiểm toán( bao gồm kế hoạch kiểm toán tổng quát và kế hoạch kiểm toán chi tiết) gồm sáu bước công việc như sau: 5
  7. Sơ đồ 2: Lập kế hoạch và thiết kế phương pháp kiểm toán Chuẩn bị cho kế hoạch kiểm toán Thu thập thông tin cơ sở Thu thập thông tin về nghĩa vụ pháp lý của khách hàng và thực hiện các Đánh giá tính trọng yếu, rủi ro kiểm toán Tìm hiểm hệ thống kiểm soát nội và đánh giá rủi ro kiểm soát Lập kế hoạch kiểm toán toàn diện và soạn thảo chương trình kiểm 2.2 Lập kế hoạch kiểm toán tổng quát Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 300 qui định: “ Kế hoạch kiểm toán phải được lập một cách thích hợp nhằm đảm bảo bao quát hết các khía cạnh trọng yếu của cuộc kiểm toán, đảm bảo phát hiện những vấn đề tiềm ẩn và cuộc kiểm toán được hoàn thành đúng hạn”. Theo đó, việc lập kế hoạch kiểm toán thường được triển khai qua các bước chi tiết sau. 2.2.1 Chuẩn bị cho kế hoạch kiểm toán Quy trình kiểm toán bắt đầu khi kiểm toán viên và Công ty kiểm toán thu nhận một khách hàng. Thu nhận khách hàng là một quá trình gồm 2 bước: thứ nhất, phải có sự liên lạc giữa kiểm toán viên với khách hàng tiềm năng mà khách hàng này yêu được kiểm toán và khi có yêu cầu kiểm toán, kiểm toán viên phải đánh giá liệu có chấp nhận yêu cầu đó hay không. Còn đối với những khách hàng hiện tại, kiểm toán viên phải 6
  8. quyết định liệu có tiếp tục kiểm toán hay không? Trên cơ sở đã xác định được đối tượng khách hàng có thể phục vụ trong tượng lai, Công ty kiểm toán sẽ tiến hành các công việc cần thiết để chuẩn bị lập kế hoạch kiểm toán bao gồm: đánh giá khả năng chấp nhận kiểm toán, nhận diện các lý do kiểm toán, lựa chọn đội ngũ nhân viên kiểm toán và ký hợp đồng kiểm toán. - Đánh giá khả năng chấp nhận kiểm toán thông qua việc xem xét hệ thống kiểm soát và xem xét tính liêm chính của ban giám đốc khách hàng thông qua việc phỏng vấn các kiểm toán viên tiền nhiệm. Từ đó, xác định khả năng có thể kiểm toán được công ty khách hàng. - Nhận diện lý do kiểm toán của công ty khách hàng, để thực hiện việc này kiểm toán viên có thể phỏng vấn trực tiếp ban giám đốc khách hàng hoặc dựa vào kinh nghiệp của những cuộc kiểm toán trước. - Lựa chọn đội ngũ nhân viên kiểm toán: trong quá trình lựa chọn nhân viên kiểm toán phải chú trọng đến 3 vấn đề: + Trong nhóm hay trong đoàn kiểm toán phải có những người có khả năng giám sát cuộc kiểm toán. + Tránh thay đổi kiểm toán viên cho các cuộc kiểm toán đối với một khách hàng trong nhiều năm. + Lựa chọn những kiểm toán viên có kiến thức và kinh nghiệm về nghành nghề kinh doanh của khách hàng. - Lập hợp đồng kiểm toán: khi chấp nhận kiểm toán thì công ty kiểm toán lập một hợp đồng kiểm toán để tránh bất đồng trong hoặc sau cuộc kiểm toán. Hợp đồng kiểm toán là thoả thuận chính thức giữa Công ty kiểm toán và khách hàng về việc kiểm toán và thực hiện các dịch vụ có liên quan khác. Về mặt pháp lý hợp đồng kiểm toán là hợp đồng kinh tế và bao gồm các nội dung chủ yếu sau: + Mục đích và phạm vi kiểm toán. + Trách nhiệm của ban giám đốc công ty khách hàng và công ty kiểm toán. + Hình thức thông báo kết quả kiểm toán. + thời gian tiến hành, kết thúc và phát hành báo cáo kiểm toán. + Căn cứ tính giá phí của cuộc kiểm toán và hình thức thanh toán. + Chỉ rõ trách nhiệm của kiểm toán viên và Công ty kiểm toán không liên quan tới những sai sót do bản chất của hệ thống kế toán và kiểm soát nội bộ của khách hàng. 2.2.2 Thu thập thông tin cơ sở Sau khi ký kết hợp đồng kiểm toán, kiểm toán viên bắt đầu lập kế hoạch kiểm toán tổng quát. Trong giai đoạn này, như đã được xác định trong Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 300, Lập kế hoạch kiểm toán, kiểm toán viên thu thập hiểu biết nghành nghề, 7
  9. công việc kinh doanh của khách hàng, tìm hiểu về hệ thống kế toán, kiểm soát nội bộ và các bên liên quan để đánh giá rủi ro và lên kế hoạch kiểm toán. Trong giai đoạn này kiểm toán viên đánh giá khả năng có những sai sót trọng yếu, đưa ra đánh giá ban đầu về mức trọng yếu và thực hiện các thủ tục phân tích để xác định thời gian cần thiết để thực hiện kiểm toán và việc mở rộng các thủ tục kiểm toán khác. - Tìm hiểu nghành nghề và hoạt động kinh doanh của khách hàng. Cụ thể, mỗi nghành nghề có một hệ thống kế toán riêng và có những nguyên tắc đặc thù. Để tìm hiểm nghành nghề kinh doanh của công ty khách hàng có thể trao đổi với kiểm toán viên tiền nhiệm hoặc trực tiếp trao đổi với nhân viên, ban giám đốc của khách hàng. Ngoài ra kiểm toán viên có thể có được những hiểu biết đó qua việc nghiên cứu các sách báo, tạp chí chuyên nghành, và ở Việt Nam, kiểm toán viên có thể lấy các thông tin từ Niên giám thống kê do Tổng cục Thống kê phát hành hàng năm. - Xem xét lại kết quả của cuộc kiểm toán trước và hồ sơ kiểm toán thường xuyên. Các hồ sơ kiểm toán thường xuyên thường chứa đựng rất nhiều thông tin về khách hàng, về công việc kinh doanh, cơ cấu tổ chức và các đặc điểm hoạt động khác. Ngoài ra đa phần các công ty kiểm toán đều duy trì hồ sơ kiểm toán thường xuyên đối với mỗi khách hàng. Hồ sơ này có các bản sao của các tài liệu như: sơ đồ tổ chức bộ máy, điều lệ công ty, chính sách tài chính, kế toán… Qua đó kiểm toán viên sẽ tìm thấy những thông tin hữu ích về công việc kinh doanh của khách hàng. Việc cập nhật và xem xét các sổ sách của công ty là rất cần thiết vì qua đó kiểm toán viên không chỉ xác định được các quyết định của các nhà quản lý có phù hợp với pháp luật của Nhà nước, với các chính sách hiện hành của công ty hay không mà còn giúp kiểm toán viên hiểu được bản chất của các số liệu cũng như sự biến động của chúng trên các báo cáo tài chính được kiểm toán. - Tham quan nhà xưởng, kho bãi, trụ sở làm việc của công ty khách hàng. Công việc này cung cấp cho kiểm toán viên một bức tranh tổng thể về hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty khách hàng, về sản phẩm tồn kho, dây truyền công nghệ, cách phân công công tác, phong cách quản lý điều hành của ban giám đốc. - Nhận diện các bên hữu quan: phải được thực hiện ngay trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán, thông qua phỏng vấn ban giám đốc, xem sổ theo dõi cổ đông, các bên tham gia góp vốn, hoặc sổ theo dõi khách hàng. Từ đó dự đoán các vấn đề có thể phát sinh để hoạch định một kế hoạch kiểm toán phù hợp hơn. - Dự kiến nhu cầu đối với các chuyên gia bên ngoài: kiểm toán viên phải đánh giá khả năng chuyên môn, mục đích, phạm vi công việc của họ, cũng như việc sử dụng tài liệu của các chuyên gia bên ngoài cho các mục tiêu kiểm toán.Ngoài ra, còn phải 8
  10. xem xét mối quan hệ giữa các chuyên gia bên ngoài với khách hàng hoặc các yếu tố có thể ảnh hưởng tới tính khách quan của chuyên gia đó. 2.2.3 Thu thập thông tin về nghĩa vụ pháp lý của khách hàng Nếu các thông tin cơ sở được thu thập ở trên giúp cho kiểm toán viên hiểu được về các mặt hoạt động kinh doanh của khách hàng thì việc thu thập các thông tin về nghĩa vụ pháp lý của khách hàng giúp cho kiểm toán viên nắm bắt được các quy trình mang tính pháp lý có ảnh hưởng đến các mặt hoạt động kinh doanh này, những thông tin này được thu thập trong quá trình tiếp xúc với Ban giám đốc khách hàng bao gồm các loại sau: - Giấy phép thành lập và điều lệ thành lập của công ty khách hàng. Việc nghiên cứu những giấy tờ này giúp cho kiểm toán viên hiểu được quá trình hình thành, mục tiêu hoạt động và những lĩnh vực kinh doanh hợp pháp của đơn vị. - Các báo cáo tài chính, báo cáo kiểm toán, biên bản thanh tra, kiểm tra của năm hiện hành hoặc một vài năm trước. Các báo cáo trên cung cấp về thực trạng tài chính, kết quả hoạt động kinh doanh và dự kiến về phương án kiểm tra thông qua các biên bản kiểm tra, thanh tra trước. - Biên bản họp của hội đồng cổ đông, hội đồng quản trị và ban giám đốc. Thông qua việc nghiên cứu các biên bản này kiểm toán viên sẽ xác định được những yếu tố ảnh hưởng tới thông tin trên báo cáo tài chính. - Các hợp đồng và cam kết quan trọng: Trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán việc xem xét sơ bộ các hợp đồng đó giúp cho kiểm toán viên hình dung được những khía cạnh pháp lý có ảnh hưởng đến tình hình tài chính và kết quả hoạt động của đơn vị. 2.2.4 Thực hiện các thủ tục phân tích Theo Chuẩn mực Kiểm toán hiện hành các thủ tục phân tích được áp dụng cho tất cả các cuộc kiểm toán và chúng thường được thực hiện trong tất cả các giai đoạn của cuộc kiểm toán. Thủ tục phân tích, theo định nghĩa của Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 520, “là việc phân tích các số liệu, thông tin, các tỷ suất quan trọng, qua đó tìm ra những xu hướng biến động và tìm ra những mối quan hệ có mâu thuẫn với các thông tin liên quan khác hoặc có sự chênh lệch lớn so với giá trị đã dự kiến”. Các thủ tục phân tích được sử dụng trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán hướng tới các mục tiêu sau: 9
  11. - Thu thập hiểu biết về nội dung các báo cáo tài chính và những biến đổi quan trọng trong hoạt động kế toán, sản xuất kinh doanh của khách hàng sau lần kiểm toán trước. - Tăng cường sự hiểu biết của kiểm toán viên về hoạt động kinh doanh của khách hàng và giúp kiểm toán viên xác định các vấn đề nghi vấn đối với khả năng hoạt động kinh doanh liên tục của công ty khách hàng. Nhận xét: qua việc thực hiện các thủ tục phân tích trong quá trình lập kế hoạch kiểm toán giúp cho kiểm toán viên xác định được nội dung cần thiết trong cuộc kiểm toán báo cáo tài chính. Mức độ, phạm vi thực hiện các thủ tục phân tích tại các đơn vị khách hàng khác nhau thay đổi tuỳ thuộc vào quy mô và mức độ phức tạp trong hoạt động kinh doanh của đơn vị khách hàng. Các thủ tục phân tích : - Phân tích ngang: dựa trên cơ sở so sánh trị số của cùng một chỉ tiêu trên báo cáo tài chính giữa các kỳ khác nhau. VD: so sánh số liệu kỳ này với kỳ trước, số liệu thực tế với dự toán hoặc ước đoán của kiểm toán viên, so sánh dữ kiện của công ty khách hàng với dữ kiện của nghành. - Phân tích dọc: là việc phân tích dựa trên cơ sở so sánh các tỷ lệ tương quan của các chỉ tiêu và các khoản mục khác nhau trên báo cáo tài chính. VD: Tỷ xuất thanh toán nhanh, tỷ xuất tự tài trợ… 2.2.5 Đánh giá tính trọng yếu và rủi ro Nếu ở các bước trên, kiểm toán viên mới chỉ thu thập được các thông tin mang tính khách quan về khách hàng thì ở bước này, kiểm toán viên sẽ căn cứ vào các thông tin đã thu thập được để đánh giá, nhận xét nhằm đưa ra một kế hoạch kiểm toán phù hợp. 2.2.6 Đánh giá mức trọng yếu - Khái niệm: trọng yếu là khái niềm dùng để chỉ tầm cỡ và bản chất các sai phạm của các thông tin tài chính, hoặc đơn lẻ hoặc theo nhóm. - Trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán, kiểm toán viên phải đánh giá mức trọng yếu để ước tính mức độ sai sót trên báo cáo tài chính có thể chấp nhận từ đó xác định nội dung và trình tự thực hiện các thử nghiệm kiểm toán. - Trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán, kiểm toán viên phải đưa ra ước tính ban đầu về tính trọng yếu và phân bổ các ước tính ban đầu đó cho các khoản mục. 10
  12. + Ước tính ban đầu về mức trọng yếu: mức ước tính ban đầu về tính trọng yếu là giá trị tối đa mà kiểm toán viên tin rằng tại giá trị tối đa đó các báo cáo tài chính có thể bị sai nhưng không ảnh hưởng đến các quyết định của những người sử dụng thông tin tài chính, hay nói cách khác là mức sai sót có thể chấp nhận được đối với báo cáo tài chính. Ý nghĩa: việc ước lượng ban đầu về tính trọng yếu giúp cho kiểm toán viên lập kế hoạch để thu thập bằng chứng kiểm toán một cách đầy đủ và thích hợp. Cụ thể, nếu kiểm toán viên ước lượng mức trọng yếu càng thấp thì độ chính xác của các số liệu trên các báo cáo tài chính càng cao và do đó số lượng bằng chứng cần thu thập càng nhiều và ngược lại. Mức ước lượng ban đầu về tính trọng yếu là một việc mang tính chất xét đoán nghề nghiệp, nên các mức ước lượng ban đầu về tính trọng yếu là không cố định, mà có thể thay đổi trong quá trình kiểm toán nếu kiểm toán viên nhận thấy rằng mức ước lượng ban đầu là quá cao hoặc quá thấp hoặc chỉ tiêu chọn làm gốc thay đổi trong quá trình kiểm toán. Các yếu tố ảnh hưởng tới việc ước lượng ban đầu về tính trọng yếu: • Tính trọng yếu là một khái niệm tương đối hơn là một khái niệm tuyệt đối, nó được xác định gắn liền với quy mô của công ty khách hàng. Một sai sót với một quy mô nhất định có thể là trọng yếu đối với một công ty nhỏ nhưng lại là không trọng yếu đối với một công ty lớn hơn. Do vậy, việc xác định một giá trị cụ thể ( bằng tiền) trong việc ước lượng ban đầu về tính trọng yếu cho mọi khách hàng là điều không thể có. • Yếu tố định lượng của tính trọng yếu : kiểm toán viên sử dụng các bảng hướng dẫn của công ty kiểm toán trong việc xác định ban đầu về tính trọng yếu. Trong đó, thu nhập thuần trước thuế, tài sản lưu động, tổng tài sản… thường được chọn làm chỉ tiêu làm gốc. • Yếu tố định tính của tính trọng yếu: Trong thực tế để đánh giá một sai sót có phải là trọng yếu hay không thì kiểm toán viên không chỉ đánh giá về mặt giá trị mà còn phải đánh giá về mặt bản chất của sai sót đó, trong đó có một số sai sót luôn được coi là trọng yếu bất kể quy mô lớn hay nhỏ. VD1: Các gian lận thường được xem là hệ trọng hơn các sai sót với cùng một quy mô tiền tệ. VD2: Các sai sót có quy mô nhỏ nhưng lại gây tác động dây chuyền làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến các thông tin trên báo cáo tài chính. Các sai phạm lặp đi lặp lại. VD3: Các sai phạm liên quan đế thu nhập thì luôn được coi là trọng yếu. Tóm lại: mức ước lượng ban đầu về tính trọng yếu là công việc mang tính xét đoán nghề nghiệp dựa trên các hướng dẫn của công ty kiểm toán. Mức độ trọng yếu được 11
  13. xác định ban đầu có ảnh hưởng tới quy mô của cuộc kiểm toán, ảnh hưởng đến việc thiết kế các thủ tục kiểm toán cần thực hiện trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán. + Phân bổ các ước lượng ban đầu về tính trọng yếu cho các khoản mục: • Sau khi kiểm toán viên có được ước lượng ban đầu về tính trọng yếu thì kiểm toán viên cần phân bổ mức trọng yếu này cho từng khoản mục trên báo cáo tài chính, đó chính là sai số có thể chấp nhận được đối với từng khoản mục. Mục đích của việc phân bổ này nhằm giúp kiểm toán viên xác định được số lượng bằng chứng kiểm toán thích hợp phải thu thập đối với từng khoản mục ở mức chi phí thấp nhất, mà vẫn đảm bảo được tổng hợp các sai sót trên báo cáo tài chính không vượt quá ước lượng ban đầu về tính trọng yếu. • Do hầu hết các thủ tục kiểm toán thường tập trung vào các tài khoản trên bảng cân đối kế toán nên việc phân bổ các ước lượng ban đầu về tính trọng yếu thường được tiến hành đối với bảng cân đối kế toán. Việc phân bổ được thực hiện theo cả hai chiều hướng mà các sai phạm có thể xảy ra là khai khống và khai thiếu. • Cơ sở để tiến hành phân bổ: dựa vào bản chất của các khoản mục, đánh giá về rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát, kinh nghiệm của kiểm toán viên và chi phí kiểm toán cho từng khoản mục. Trong thực tế khả năng xảy ra sai sót cũng như chi phí kiểm toán cho từng khoản mục thường khó dự đoán trước, cho nên sự phân bổ ban đầu ước lượng về mức trọng yếu thường mang tính chủ quan đòi xét đoán nghề nghiệp của kiểm toán viên. 2.2.7 Đánh giá rủi ro Trên cơ sở mức trọng yếu và phân bổ mức trọng yếu thì kiểm toán viên cần đánh giá khả năng xảy ra sai sót trọng yếu trên toàn bộ báo cáo tài chính cũng như trên từng khoản mục để phục vụ cho việc thiết kế các thủ tục kiểm toán và xây dựng chương trình kiểm toán phù hợp. Công việc này được gọi là đánh giá rủi ro kiểm toán để lập kế hoạch kiểm toán. Trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán, kiểm toán viên thường phải xác định một mức rủi ro kiểm toán mong muốn, mức rủi ro này được xác định phụ thuộc vào hai yếu tố: - Mức độ mà theo đó người sử dụng thông tin tài chính bên ngoài tin tưởng báo cáo tài chính. Cụ thể, nếu mức độ tin tưởng này càng cao thì kiểm toán viên cho rằng người sử dụng thông tin tài chính bên ngoài đặt nhiều niềm tin vào báo cáo tài chính 12
  14. và theo đó mức độ tác hại trên phạm vi toàn xã hội sẽ càng lớn nếu như có một sai sót không được phát hiện trên báo cáo tài chính, trong trường hợp này kiểm toán viên phải xác định một mức rủi ro mong muốn thấp và qua đó tăng số lượng các bằng chứng kiểm toán phải thu thập, tăng độ chính xác trong các kết luận đưa ra của mình. - Khả năng khách hàng sẽ gặp khó khăn về tài chính sau khi báo cáo kiểm toán được phát hành. Nếu khả năng này càng cao thì kiểm toán viên phải xác định một mức rủi ro mong muốn thấp hơn trường hợp khách hàng không gặp khó khăn về tài chính. Khi đó kiểm toán viên cần xác định rủi ro mong muốn ở mức độ thấp, từ đó tăng số lượng bằng chứng kiểm toán cần thu thập, điều này sẽ làm cho chi phí kiểm toán tăng lên nhưng giảm thiểu được các vụ kiện mà kiểm toán viên và công ty kiểm toán sẽ gặp phải trong tương lai. Đánh giá rủi ro tiềm tàng: được thực hiện dựa vào các yếu tố: - Báo cáo công việc kinh doanh của khách hàng - Tính liêm chính của ban giám đốc - Hợp đồng kiểm toán lần đầu hay hợp đồng kiểm toán đã ra hạn - Các nghiệp vụ kt bất thường - Các ước tính kế toán - Quy mô của các số dư trên các tài khoản Đánh giá rủi ro kiểm soát : liên quan đến sự yếu kém của hệ thống kiểm soát nội bộ, rủi ro kiểm soát được kiểm toán viên đánh giá trên toàn bộ báo cáo tài chính, cũng như đối với các khoản mục trên báo cáo tài chính. Đánh giá rủi ro phát hiện: được xác định từ 3 loại rủi ro trên, xảy ra do các nhân tố : - Kiểm toán viên thực hiện các bước kiểm toán không thích hợp do kế hoạch kiểm toán chi tiết không được chú trọng hoặc do không áp dụng quy trình hợp lý cho từng phần hành. - Kiểm toán viên có phát hiện được các bằng chứng nhưng không nhận thức được các sai sót cũng như ảnh hưởng của nó tới báo cáo tài chính. - Hoàn toàn không phát hiện được sự sai sót do có sự thông đồng. 2.2.8 Nghiên cứu hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng và đánh giá rủi ro kiểm soát. Nghiên cứu hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng và đánh giá rủi ro kiểm soát là một phần việc hết sức quan trọng mà kiểm toán viên phải thực hiện trong một cuộc kiểm toán, vấn đề này được quy định trong nhóm chuẩn mực đối với công việc tại chỗ ở điều thứ 2 trong 10 Chuẩn mực kiểm toán được chấp nhận rộng rãi( GASS): “Kiểm toán 13
  15. viên phải có một sự hiểu biết đầy đủ về hệ thống kiểm soát nội bộ để lập kế hoạch kiểm toán và để xác định bản chất, thời gian và phạm vi của các cuộc khảo sát phải thực hiện” . Và điều này cũng được quy định trong Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 400, Đánh giá rủi ro và kiểm soát nội bộ: “ Kiểm toán viên phải có đủ hiểu biết về hệ thống kế toán và kiểm soát nội bộ của khách hàng để lập kế hoạch kiểm toán và xây dựng cách tiếp cận kiểm toán có hiệu quả”. Trong các bước tiếp theo của giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán, dựa vào các yếu tố xác định trong kế hoạch kiểm toán tổng quát, kiểm toán viên sẽ thiết kế các thủ tục kiểm toán chi tiết và soạn thảo chương trình kiểm toán. 2.2.9 Thiết kế chương trình kiểm toán 2.2.9.1 Chương trình kiểm toán Chương trình kiểm toán là những dự kiến chi tiết về các công việc kiểm toán cần thực hiện, thời gian hoàn thành và sự phân công lao động giữa các kiểm toán viên cũng như dự kiến về những tư liệu, thông tin liên quan cần sử dụng và thu thập. Trọng tâm của chương trình kiểm toán là các thủ tục kiểm toán cần thực hiện đối với từng khoản mục hay bộ phận được kiểm toán. Chương trình kiểm toán được thiết kế phù hợp sẽ đem lại nhiều lợi ích: • Sắp xếp một cách có kế hoạch các công việc và nhân lực, đảm bảo sự phối hợp giữa các kiểm toán viên cũng như hướng dẫn chi tiết cho các kiểm toán viên trong quá trình kiểm toán. • Đây là phương tiện để chủ nhiệm kiểm toán (người phụ trách kiểm toán) quản lý, giám sát cuộc kiểm toán thông qua việc xác định các bước công việc được thực hiện. • Bằng chứng để chứng minh các thủ tục kiểm toán đã thực hiện. Thông thường sau khi hoàn thành một cuộc kiểm toán, kiểm toán viên ký tên hoặc ký tắt lên chương trình kiểm toán liền với thủ tục kiểm toán vừa hoàn thành. 2.2.9.2 Qui trình thiết kế chương trình kiểm toán Chương trình kiểm toán của hầu hết các cuộc kiểm toán được thiết kế thành 3 phần: trắc nghiệm công việc, trắc nghiệm phân tích và trắc nghiệm trực tiếp các số dư. Mỗi phần được chia nhỏ thành các chu kỳ nghiệp vụ và các khoản mục trên Báo các tài chính. 2.2.9.3 Thiết kế các trắc nghiệm công việc: 14
  16. - Các thủ tục kiểm toán: Việc thiết kế các thủ tục kiểm toán của trắc nghiệm công việc thường tuân theo phương pháp luận với 4 bước sau: • Cụ thể hoá các mục tiêu kiểm soát nội bộ cho các khoản mục đang được khảo sát. • Nhận diện các quá trình kiểm soát đặc thù mà có tác dụng làm giảm rủi ro kiểm soát của từng mục tiêu kiểm soát nội bộ. • Thiết kế các thử nghiệm kiểm soát đối với từng quá trình kiểm soát đặc thù nói trên. • Thiết kế các trắc nghiệm công việc theo từng mục tiêu kiểm soát nội bộ có xét đến nhược điểm của hệ thống kiểm soát nội bộ và kết quả ước tính của thử nghiệm kiểm soát. - Quy mô mẫu chọn: Trong trắc nghiệm công việc, để xác minh quy mô mẫu chọn người ta thường dùng phương pháp chọn mẫu thuộc tính được sử dụng để ước tính tỷ lệ của phần tử trong một tổng thể có chứa một đặc điểm hoặc thuộc tính được quan tâm. - Khoản mục được chọn: sau khi xác định quy mô mẫu chọn, kiểm toán viên phải xác định các phần tử cá biệt mang tính đại diện cao cho tổng thể. - Thời gian thực hiện: các trắc nghiệm công việc thường được tiến hành vào thời điểm giữa năm( nếu hợp đồng kiểm toán dài hạn) hoặc vào thời điểm kết thúc năm. 2.2.10 Thiết kế các trắc nghiệm phân tích Các trắc nghiệm phân tích được thiết kế để đánh giá tính hợp lý chung của các số dư tài khoản đang được kiểm toán. Trên cơ sở kết quả của việc thực hiện các trắc nghiệm phân tích đó, kiểm toán viên sẽ quyết định mở rộng hay thu hẹp các trắc nghiệm trực tiếp số dư. Trong giai đoạn thực hiện kế hoạch kiểm toán, qui trình phân tích còn bao hàm những thủ tục phân tích chi tiết đối với số dư các tài khoản và được thực hiện qua các bước sau: • Xác định số dư tài khoản và sai sót tiềm tàng cần được kiểm tra. • Tính toán giá trị ước tính của tài khoản cần được kiểm tra. • Xác định giá trị chênh lệch có thể chấp nhận được. • Kiểm tra số chênh lệch trọng yếu. • Đánh giá kết quả kiểm tra. 2.2.11 Thiết kế các trắc nghiệm trực tiếp số dư Sơ đồ 3: Phương pháp luận thiết kế các khảo sát chi tiết số dư Đánh giá tính trọng yếu, rủi ro đối với khoản mục kiểm toán Đánh giá rủi ro kiểm soát với chu kỳ kiểm toán được thực 15
  17. Chương trình kiểm toán được thiết kế ngay trong giai đoạn đầu của cuộc kiểm toán và có thể cần phải sửa đổi do hoàn cảnh thay đổi. Việc thay đổi chương trình kiểm toán ban đầu không phải là điều bất thường vì việc dự kiến trước tất cả các tình huống xảy ra là rất khó khăn. Theo Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 300, lập kế hoạch kiểm toán, kế hoạch kiểm toán và chương trình kiểm toán sẽ được sửa đổi, bổ xung nếu cần trong quá trình kiểm toán nếu có những thay đổi về tình huống hoặc do những kết quả ngoài dự đoán của các thủ tục kiểm toán. Nguyên nhân dẫn đến việc phải có những sửa đổi đáng kể trong kế hoạch kiểm toán hoặc chương trình kiểm toán cần phải được ghi rõ trong hồ sơ kiểm toán. Trong thực tế, chương trình kiểm toán có thể được soạn thảo trong giai đoạn thực hiện kiểm toán hoặc không cần soạn thảo mà sử dụng chương trình kiểm toán mẫu của công ty kiểm toán phù hợp với điều kiện thực tế. 2.3. Thực hiện kế hoạch kiểm toán 2.3.1 Khái quát quá trình thực hiện kế hoạch kiểm toán Thực hiện kế hoạch kiểm toán là quá trình sử dụng các phương pháp kỹ thuật kiểm toán thích ứng với đối tượng kiểm toán cụ thể để thu thập bằng chứng kiểm toán. Đó là quá trình triển khai một cách chủ động và tích cực các kế hoạch, chương trình kiểm toán nhằm đưa ra những ý kiến xác thực về mức độ trung thực và hợp lý của Báo cáo tài chính trên cơ sở những bằng chứng kiểm toán đầy đủ và tin cậy. Như vậy, thực hiện kế hoạch kiểm không chỉ là quá trình triển khai một cách máy móc kế hoạch đã vạch ra, 16
  18. cũng không phải là quá trình thu thập một cách thụ động các bằng chứng kiểm toán theo định hướng trong kế hoạch kiểm toán hoặc tràn lan theo diễn biến của thực tiễn. Trái lại, đó là một quá trình chủ động thực hiện các kế hoạch và chương trình kiểm toán kết hợp với khả năng của kiểm toán viên để có được những kết luận xác đáng về mức độ trung thực và hợp lý của Báo cáo tài chính. Hơn nữa, để có được những kết luận cùng những bằng chứng này, quá trình xác minh không chỉ dừng ở những thông tin trên Báo cáo tài chính mà quan trọng hơn là cả những thông tin cơ sở đã được tổng hợp vào Báo cáo này thông qua “công nghệ kiểm toán” với những thủ tục kiểm toán cụ thể. Sơ đồ 4: Sự kết hợp các trắc nghiệm trong thủ tục kiểm tra chi tiết Thủ tục kiểm Trắc nghiệm độ Trắc nghiệm tra chi tiết vững chãi trong trực tiếp số dư trắc nghiệm công Để hiểu rõ quá trình thực hiện các trắc nghiệm này chúng ta sẽ lần lượt nghiên cứu việc thực hiện các thủ tục kiểm toán và vận dụng chúng trong các loại nghiệp vụ. 2.3.2 Thực hiện thủ tục kiểm soát Thủ tục kiểm soát chỉ được thực hiện sau khi tìm hiểu hệ thống kiểm soát nội bộ với đánh giá ban đầu là khách thể kiểm toán có hệ thống kiếm soát nội bộ hoạt động có hiệu lực. Khi đó, thủ tục kiểm soát được triển khai nhằm thu thập các bằng chứng kiểm toán về thiết kế và về hoạt động của hệ thống kiểm soát nội bộ. Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 500 quy định: “Thử nghiệm kiểm soát( kiểm tra hệ thống kiểm soát) là việc kiểm tra để thu thập bằng chứng kiểm toán về sự thiết kế phù hợp và sự vận hành hữu hiệu của hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ”. Cụ thể, các bằng chứng kiểm toán phải minh chứng được: - Thiết kế các hoạt động kiểm soát cụ thể của khách thể kiểm toán thích hợp để ngăn ngừa, phát hiện và sửa chữa các sai phạm trọng yếu. - Hoạt động kiểm soát đã được triển khai theo đúng yêu cầu của thiết kế trong thực tế. Bằng chứng về sự vận hành hữu hiệu này liên quan đến cách thức áp dụng các hoạt động kiểm soát về tính nhất quán trong quá trình áp dụng và đối tượng áp dụng những hoạt động đó. Các cách thức hay phương pháp cụ thể được áp dụng trong kiểm tra hệ thống kiểm soát nội bộ bao gồm: - Điều tra: bao gồm quan sát thực địa và xác minh thực tế kể cả chữ ký trên các chứng từ hoặc báo cáo kế toán. 17
  19. - Phỏng vấn: là cách thức đưa ra những câu hỏi và thu thập những câu trả lời của các nhân viên của khách thể kiểm toán để hiểu rõ về những nhân viên này và xác nhận họ đã thực hiện các hoạt động kiểm soát. - Thực hiện lại:được hiểu đơn giản là phép lặp lại hoạt động của một nhân viên đã làm để xác nhận mức độ thực hiện trách nhiệm của họ với công việc được giao. - Kiểm tra từ đầu đến cuối: là sự kết hợp giữa kỹ thuật phỏng vấn, điều tra và quan sát theo trật tự diễn biến qua từng chi tiết của nghiệp vụ cụ thể đã được ghi lại trong sổ cái. - Kiểm tra ngược lại: theo thời gian là biện pháp kiểm tra một nghiệp vụ từ sổ cái ngược lại đến thời điểm phát sinh nghiệp vụ đó. Sau khi thực hiện các biên pháp kỹ thuật chủ yếu, cần lưu hồ sơ và xem xét ảnh hưởng của những phát hiện qua kiểm tra đến lựa chọn các phép thử với mỗi hoạt động kiểm tra, cần lưu trữ vào hồ sơ các tài liệu chủ yếu như: tính chất, thời gian và phạm vi của các biện pháp kiểm soát nội bộ và những phát hiện của kiểm toán viên. Nếu phát hiện qua kiểm tra trùng với đánh giá ban đầu trong kế hoạch kiểm toán thì các thủ tục kiểm toán cơ bản được giữ nguyên theo kế hoạch. Trong trường hợp ngược lại cần thực hiện theo các phương án khác. Chẳng hạn, có thể tiếp tục thảo luận với khách hàng để xác định các hoạt động tương ứng để có thể cung cấp cùng một bảo đảm hoặc có thể áp dụng các thủ tục kiểm toán chi tiết số liệu để thu nhận bằng chứng cho bảo đảm trên. Sau kiểm tra bổ xung trên, nếu bảo đảm này không có cơ sở thì cần thay đổi lại đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ trong kế hoạch và mở rộng phạm vi của các thử nghiệm cơ bản kể cả thủ tục phân tích và kiểm tra chi tiết. 2.3.3 Thực hiện thủ tục phân tích Các giai đoạn chủ yếu thực hiện thủ tục phân tích: - Phát triển một mô hình: kết hợp với các biến tài chính và hoạt động. Khi phát triển một mô hình, chúng ta xác định các biến tài chính hoặc hoạt động và mối quan hệ giữa chúng. chẳng hạn, chi phí về tiền lương có thể là sản phẩm của các biến số như: số lượng nhân viên và mức tiền lương bình quân hoặc số lượng sản phẩm và đơn giá tiền lương hoặc tỷ lệ tiền lương và tổng chi phí hay doanh thu…Khi kết hợp được những biến độc lập có liên quan, mô hình sẽ cho ta nhiều thông tin hơn và vì vậy dự đoán sẽ chính xác hơn. Ngược lại, nếu mô hình và dự đoán đơn giản hoá quá nhiều cũng đồng nghĩa với đơn giản hoá các phép so sánh và mức hạn của bằng chứng kiểm toán. Để có thể tăng tính chính xác cho các dự đoán bằng cách phát triển mô 18
  20. hình theo hướng chi tiết hoá dữ liệu, thậm chí chi tiết hoá thành nhiều mô hình nhỏ hơn. - Xem xét tính độc lập và tin cậy của dữ liệu tài chính và nghiệp vụ: tính độc lập và tin cậy của dữ liệu tài chính và nghiệp vụ sử dụng trong mô hình có ảnh hưởng trực tiếp đến tính chính xác của dự đoán và tới bằng chứng kiểm toán thu được từ thủ tục phân tích. - Ước tính giá trị và so sánh với giá trị ghi sổ: dựa theo mô hình và trên cơ sở dữ liệu độc lập và tin cậy có thể so sánh ước tính này với giá trị ghi sổ. Phép so sánh này cần chú ý tới những xu hướng sau: • Tính thường xuyên của việc đánh giá mối quan hệ đang được nghiên cứu. • Tính biến động tất yếu và biến động bất thường. - Phân tích nguyên nhân chênh lệch: chênh lệch phát sinh có thể do số dư tài khoản hay loại nghiệp vụ được kiểm toán chứa đựng sai sót nhưng có thể chênh lệch được hình thành từ chính ước tính trong phân tích. - Xem xét những phát hiện qua kiểm toán: bằng chứng kiểm toán thu nhận được từ thủ tục phân tích cần được đánh giá do phát hiện qua kiểm toán không chỉ bao gồm những sai sót trong tài khoản mà cả những quan sát hệ thống kiểm soát nội bộ, hệ thống thông tin và những vấn đề khác. 2.3.4 Thực hiện các thủ tục kiểm tra chi tiết Kiểm tra chi tiết là việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật cụ thể của trắc nghiệm tin cậy thuộc trắc nghiêm công việc và trắc nghiệm trực tiếp số dư để kiểm toán từng khoản mục hoặc nghiệp vụ tạo nên số dư trên khoản mục hay loại nghiệp vụ. Quá trình kiểm tra chi tiết bao gồm 4 bước cơ bản: 2.3.5 Lập kế hoạch kiểm tra chi tiết: bước này bao gồm những công việc chủ yếu như: - Xác định mục tiêu của các biện pháp kỹ thuật: mục tiêu này có thể: • Thu thập bằng chứng kiểm toán về sai phạm trọng yếu trong các cơ sở dẫn liệu thuộc các mục tiêu kiểm toán. • Ước tính giá trị chênh lệch kiểm toán đối với những cơ sở dẫn liệu của Báo cáo tài chính đang chứa đựng khả năng có sai phạm trọng yếu. - Lựa chọn các khoản mục trong tổng thể: bao gồm cả xác định số lượng các khoản mục và chọn mẫu khoản mục để kiểm toán. Xác định mẫu chọn cụ thể phải căn cứ vào tình hình thực tế của khách thể kiểm toán và kinh nghiệm của kiểm toán viên. 19

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản