Truyền thống 80 năm công tác dân vận của đảng cộng sản việt nam ( 15/10/1930- 15/10/2010)

Chia sẻ: lien_123456789

Từ ngày 3 đến ngày 7-2-1930, tại Hương Cảng ( Trung Quốc) dưới sự chủ trì của lãnh đạo Nguyễn Ái Quốc, Hội nghị hợp nhất thành lập Đảng cộng sản Việt Nam đã thành công tốt đẹp. Hội nghị thông qua Chính cương, sách lược, Điều lệ vắn tắt của Đảng, thông qua các điều lệ tóm tắt của Công hội, Nông hội, Đoàn thanh niên Cộng sản, Hội phụ nữ giải phóng, Hội cứu tế đỏ, Hội phản đế

Bạn đang xem 7 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: Truyền thống 80 năm công tác dân vận của đảng cộng sản việt nam ( 15/10/1930- 15/10/2010)

TRUYỀN THÓNG 80 NĂM CÔNG TÁC DÂN VẬN
CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM ( 15/10/1930- 15/10/2010)
-------------------------------

CÔNG TÁC DÂN VẬN THỜI KỲ ĐẤU TRANH
 GIÀNH CHÍNH QUYỀN ( 1930­1945)

I. CÔNG TÁC DÂN VẬN NHỮNG NĂM ĐẦU THÀNH LẬP ĐẢNG ( 1930 -1931)
Từ ngày 3 đến ngày 7-2-1930, tại Hương Cảng ( Trung Quốc) dưới sự
chủ trì của lãnh đạo Nguyễn Ái Quốc, Hội nghị hợp nhất thành lập Đảng cộng
sản Việt Nam đã thành công tốt đẹp. Hội nghị thông qua Chính cương, sách
lược, Điều lệ vắn tắt của Đảng, thông qua các điều lệ tóm tắt của Công hội,
Nông hội, Đoàn thanh niên Cộng sản, Hội phụ nữ giải phóng, Hội cứu tế đỏ,
Hội phản đế ( Mặt trận dân tộc thống nhất chống đế quốc). Đảng cộng sản
Việt Nam ra đời là sự kiện có ý nghĩa quyết định đối với toàn bộ quá trình phát
triển cách mạng.
Hội nghị thống nhất đề ra chương trình tóm tắt của Đảng bao gồm 5 nội
dung trong đó nhấn mạnh việc: “ Tập hợp đa số quần chúng nông dân chuẩn bị
cách mạng thổ địa”. Đảng phổ biến khẩu hiệu “ Việt Nam tự do” để tập hợp
nhân dân đi theo ngọn cờ đấu tranh của Đảng.
Từ ngày 14 đến ngày 31-10-1930, Hội nghị Trung ương lần thứ nhất được
tiến hành tại Hương Cảng ( Trung Quốc) do đồng chí Trần Phú chủ trì. Hội nghị
đã thông qua Luận cương chính trị, Điều lệ Đảng, Án nghị quyết về tình hình
Đông Dương và nhiệm vụ cần kíp của Đảng, các nghị quyết về Công nhân vận
động, Nông dân vận động, Phản đế đồng minh, Cộng sản thanh niên vận động,
Phụ nữ vận động, Quân đội vận, vấn đề cứu tế.
Nghị quyết ghi rõ: Trong các Đảng bộ ( từ Thành và Tỉnh ủy trở lên) phải
tổ chức ra các ban chuyên môn về các giới vận động: Công nhân vận động, Nông
dân vận động, Quân sự vận động, Phụ nữ vận động….
Tháng 10 năm 1930, hệ thống Ban chuyên môn về các giới vận của Đảng
được xác định bao gồm: Công vận, Nông vận, Phụ vận, Quân đội vận, Mặt trận
phản đế. Lịch sử công tác công tác dân vận của Đảng từ đây đóng một dấu son
chói lọi, ghi dấu ngày ra đời và chặng đường phát triển vẻ vang.
Ngày 26-3-1931, Hội nghị Trung ương lần thứ hai đã tập trung bàn về
nhiệm vụ cần kíp trong thời gian tới, trong đó quyết định: “ Cần tổ chức ra Cộng
sản thanh niên Đoàn”. Đoàn thanh niên Cộng sản là tổ chức chính trị của lứa tuổi
thanh niên, hoạt động trong quần chúng thanh niên, tập hợp mọi thanh niên Việt
Nam vào tổ chức Đoàn.



1
Hội nghị Trung ương lần thứ hai cũng đã dành thời gian để bàn và định
hướng hoạt động cho các tổ chức quần chúng tiếp tục củng cố tổ chức đã có và
thành lập tổ chức mới, đi sâu vận động quần chúng tham gia sinh hoạt trong các
tổ chức Công hội, Nông hội, Hội cứu tế đỏ, Phụ nữ hiệp hội. Đảng xác định
nhiệm vụ về sự lãnh đạo quần chúng của thời kỳ này là: Thâu phục quảng đại
quần chúng là nhiệm vụ duy nhất hiện tại của Đảng. Khẩu hiệu hành động của
Đảng là: Phải hướng về quần chúng, công tác chuyên cần trong quần chúng
hàng ngày và lãnh đạo tranh đấu của quần chúng.
II. CÔNG TÁC DÂN VẬN TRONG CAO TRÀO CÁCH MẠNG 1930-
1931 VÀ XÔ VIẾT – NGHỆ TĨNH
Vừa mới ra đời, Đảng đã lãnh đạo phong trào cách mạng rộng lớn trong
cả nước. Phong trào đấu tranh của quần chúng nổ ra từ các xí nghiệp, công
nghiệp ở các thành phố đến những vùng nông thôn từ Nam ra Bắc và miền
Trung.
Đặc biệt ở Nghệ An, Hà Tĩnh, từ cuối tháng 8 đến tháng 9-1930 là thời kỳ
đấu tranh quyết liệt với hàng vạn người tham gia. Nông dân nhiều huyện biểu
tình vũ trang kéo đến huyện lỵ, đốt huyện đường, phá nhà tù thả tù chính trị. Các
Ban Chấp hành Nông hội xã do Chi bộ Đảng lãnh đạo, đã đứng ra quản lý, làm
nhiệm vụ của chính quyền nhân dân theo kiểu chính quyền Xô Viết: Bãi bỏ sưu
thuế vô lý, thực hiện quyền tự do dân chủ cho nhân dân, chia lại ruộng công, bắt
địa chủ giảm tô, vận động nông dân giúp đỡ tương trợ trong cuộc sống, học tập
chữ quốc ngữ, bài trừ các hủ tục lạc hậu…
Để đối phó với phong trào cách mạng, thực dân Pháp thi hành chính sách
đàn áp khủng bố rất tàn bạo ( khủng bố trắng) gây tổn thất cho phong trào cách
mạng nhưng không thể xóa bỏ được tinh thần và ý chí cách mạng của quần
chúng. Sau thời gian tạm lắng xuống, phong trào từng bước được khôi phục và
phát triển.
Tháng 6-1932, Đảng đề ra Chương trình hành động, vạch rõ nhiệm vụ
trước mắt của Đảng là lãnh đạo quần chúng đấu tranh đòi quyền dân sinh, dân
chủ hàng ngày, đấu tranh chống khủng bố trắng, chuẩn bị đưa quần chúng tiến
lên những cuộc đấu tranh cao hơn khi có điều kiện.
Tháng 3- 1935, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ nhất của Đảng họp ở
Ma Cao; đề ra 03 nhiệm vụ: củng cố phát triển Đảng, tranh thủ rộng rãi quần
chúng và chống chiến tranh đế quốc. Đại hội xác định:
Trước hết, Đảng phải bênh vực quyền lợi của quần chúng, vạch rõ cho
quần chúng hiểu rõ sự bóc lột của đế quốc, phong kiến. Hướng quần chúng đấu
tranh đòi quyền lợi hàng ngày: chống sưu cao, thuế nặng, đòi tăng lương, giảm
giờ làm, đòi quyền lợi của các dân tộc thiểu số, của thanh niên, phụ nữ.
Thứ hai, Đảng phải củng cố và phát triển các tổ chức quần chúng, vì nếu
không sẽ không kéo được quần chúng ra đấu tranh bênh vực quyền lợi hàng

2
ngày, ảnh hưởng của Đảng sẽ kém, tranh đấu không thắng lợi, phải nhanh
chóng tổ chức và thống nhất Công hội đỏ, Nông hội, Đoàn thanh niên từng tỉnh,
Xứ tới Trung ương. Ngoài 03 tổ chức trên phải lợi dụng các hình thức bí mật,
công khai và bán công khai mà phát triển các tổ chức quần chúng khác.
Thứ ba, xây dựng Mặt trận thống nhất tranh đấu để kéo quần chúng trong
các tổ chức về phe cộng sản.
Sau Đại hội, phong trào quần chúng tiếp tục được khôi phục, phát triển.
Đảng không những đứng vững mà càng thêm tôi luyện, gắn bó chặt chẽ với
nhân dân.
III. CÔNG TÁC DÂN VẬN THỜI KỲ MẶT TRẬN DÂN CHỦ ( 1936-1939)
Vận dụng Nghị quyết Đại hội Quốc tế lần thứ VII tổ chức tại Matxcơva
(tháng 7-1935), Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng ( tháng 7- 1936) xác
định kẻ thù chủ yếu trước mắt của nhân dân Đông Dương là bọn phản động
thuộc địa, chống phát xít và chiến tranh, đòi tự do, dân chủ, cơm áo và hòa bình.
Để thực hiện mục tiêu ấy, Hội nghị chủ trương lập Mặt trận phản đế Đông
Dương lấy tên là Mặt trận dân chủ Đông Dương. Mặt trận bao gồm các giai
cấp, các đảng phải, các đoàn thể, các nhóm chính trị tán thành cải cách dân chủ
và tiến bộ. Tiếp đến các Nghị quyết của Trung ương Đảng ( tháng 3-1937),
( tháng 9-1937), ( tháng 3-1938) vạch rõ tình hình mới đòi phải có đường lối
chính trị và phương pháp hoạt động mới. Trên cơ sở phân tích cụ thể tình hình
các giai cấp, tầng lớp xã hội, các tổ chức và đảng phái; coi trọng công tác tổ
chức và tập hợp quần chúng trong Mặt trận dân chủ và các đoàn thể quần
chúng. Đảng chủ trương các cấp phải phân công cán bộ đi vào các giới, củng cố
các Đảng, đoàn trong tổ chức quần chúng. Phương pháp tổ chức và hoạt động
phải rất linh hoạt nhằm đoàn kết đông đảo quần chúng trong một Mặt trận
thống nhất chống phản động thuộc địa, chống phát xít và chiến tranh, đòi tự do
dân chủ. Đảng đề ra chủ trương chuyển hình thức hoạt động bí mật, không hợp
pháp sang các hình thức công khai, hợp pháp và nửa công khai nhằm tập hợp
hướng dẫn đông đảo quần chúng đấu tranh từ thấp đến cao, qua đó giáo dục,
phát triển lực lượng cách mạng. Để phù hợp với chủ trương trên, Đoàn thanh
niên dân chủ được thành lập thay cho Đoàn thanh niên cộng sản, Công hội thay
cho Công hội đỏ, Nông hội thay cho Nông hội đỏ, Phụ nữ dân chủ thay cho phụ
nữ giải phóng, Cứu tế bình dân thay cho Cứu tế đỏ…
Những hình thức hoạt động công khai, nửa công khai được phát triển
mạnh mẽ tập hợp đông đảo quần chúng như: Hội ái hữu, Hội tương tế, Hội
hiếu, Hợp tác xã, các nhóm chung sở thích, trên cơ sở đó, hướng quần chúng vào
cuộc đấu tranh cách mạng, vai trò của Mặt trận và các đoàn thể được phát huy,
chuẩn bị tiến tới cao trào rộng lớn trong những năm 1939- 1945.



3
IV. CÔNG TÁC DÂN VẬN TRONG CAO TRÀO CÁCH MẠNG
THÁNG 8 ( 1939-1945)
Tháng 5-1941, Hội nghị Trung ương lần thứ tám họp dưới sự chủ trì của
Đồng chí Nguyễn Ái Quốc. Hội nghị xác định cuộc cách mạnh trước mắt là
cuộc cách mạng giải phóng dân tộc; các lực lượng cách mạng của dân tộc cần
tập trung mũi nhọn vào bọn phát xít xâm lược Nhật – Pháp. Hội nghị quyết định
thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất chống phát xít Nhật – Pháp lấy tên là
Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh, gọi tắt là Việt minh.
Vấn đề tổ chức các đoàn thể quần chúng, Nghị quyết nêu rõ vì chính sách
hiện tại là chính sách cứu quốc cho nên hình thức tổ chức cũng phải linh hoạt
mềm dẻo. Công hội từ nay lấy tên là Hội công nhân cứu quốc; Nông hội đổi
thành Hội nông dân cứu quốc Việt nam. Ngoài ra cần thành lập Hội quân nhân
cứu quốc Việt Nam để tập hợp binh lính. Đoàn nhi đồng cứu vong để tập hợp
các em từ 10 đến 16 tuổi và các đoàn thể khác như Hội văn hóa cứu quốc, Đoàn
học sinh cứu quốc…Đặc biệt lần này, Hội nghị còn thông qua Điều lệ của Hội
Nông dân cứu quốc Việt nam và Điều lệ Việt Nam tiểu tổ du kích cứu quốc.
Ngày 06 tháng 6 năm 1941, Đồng chí Nguyễn Ái Quốc ra lời kêu gọi: Kính
cáo đồng bào. Nghị quyết hội nghị Trung ương lần thứ tám và lời kêu gọi Kính
cáo đồng bào đã được vận dụng cụ thể và đầy sáng tạo trong Tuyên ngôn,
Chương trình, Điều lệ của Việt Minh công bố tháng 10- 1941.
Ngày 25 tháng 1 năm 1942, báo Cứu quốc, cơ quan của Tổng bộ Việt
Minh ra số đầu tiên. Khắp nơi, các tỉnh Bắc kỳ, Trung kỳ, các Hội đoàn thể cứu
quốc và Mặt trận Việt Minh lần lượt được thành lập, phát triển nhanh chóng.
Ngày 25 - 2 - 1943, Thường vụ Trung ương Đảng thông qua Đề cương
Văn hóa Việt Nam để tập hợp các văn nghệ sỹ và trí thức và Hội văn hóa cứu
quốc. Ngày 30 - 6 - 1944, Đảng đã giúp một số trí thức yêu nước thành lập Đảng
dân chủ Việt Nam nhằm tập hợp tất cả các trí thức, sinh viên yêu nước và tư sản
dân tộc. Đảng dân chủ Việt Nam đã ra nhập Mặt trận Việt Minh.
Ngày 22 tháng 12 năm 1944, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân
được thành lập tại Cao Bằng. Đội đã cùng với các đội cứu quốc quân đẩy mạnh
cuộc đấu tranh chính trị kết hợp với đấu tranh vũ trang, đẩy tới cao trào đánh
Pháp, đuổi Nhật trong cả nước.
Đêm ngày 09 - 3- 1945, giữa lúc Nhật nổ súng đánh pháp, Hội nghị mở
rộng của Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã họp để đánh giá tình hình cuộc
đảo chính và đề ra những chủ trương, nêu khẩu hiệu “ Đánh đuổi phát xít Nhật”
thay cho khẩu hiệu “ Đánh đuổi Nhật - Pháp” và phát động cao trào chống Nhật,
cứu nước mạnh mẽ, gấp rút, tiến tới Tổng khởi nghĩa giành chính quyền.
Ngày 16-8-1945, Đại hội Quốc dân họp ở Tân Trào ( Tuyên Quang) quyết
định phát động toàn dân Tổng khởi nghĩa. Ngay sau Đại hội, Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã ra lời hiệu triệu đồng bào và chiến sỹ cả nước nổi dậy giành chính

4
quyền “ Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào
hãy đứng dậy đem sức ta mà giải phóng cho ta”
Ngày 19-8, cuộc Tổng khởi nghĩa đã giành được thắng lợi rực rỡ ở thủ đô
Hà Nội. Từ ngày 19-8 đến ngày 25-8, cuộc khởi nghĩa đã giành được thắng lợi ở
khắp các địa phương khác. Ngày 02-9-1945, tại Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch
Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời đọc Tuyên ngôn độc lập, tuyên bố
nước Việt nam Dân chủ Cộng hòa ra đời.

CÔNG TÁC DÂN VẬN THỜI KỲ XÂY DỰNG CỦNG CỐ CHÍNH QUYỀN VÀ 
KHÁNG CHIẾN CHÔNG THỰC DÂN PHÁP ( 1945­1954)

Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vừa mới ra đời đã phải đương đầu với
muôn vàn khó khăn, thủ thách. Nạn đói, nạn dốt và giặc ngoại xâm. Trước tình
hình đó, Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã vạch ra những phương hướng và
biện pháp về xây dựng chế độ mới và đối phó với các lực lượng đế quốc, tay
sai. Trong phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ ngày 03 -9-1945, Chủ tịch
Hồ Chí Minh thay mặt Trung ương Đảng nêu ra sáu nhiệm vụ cần kíp trước mắt
để củng cố chính quyền cách mạng mới: Chống giặc đói, giặc dốt, tổng tuyển
cử, xây dựng nếp sống mới, xóa bỏ thuế thân, thuế chợ, thuế đò; tự do tín
ngưỡng và đoàn kết lương, giáo. Sau đó, Người khái quát thành ba nhiệm vụ lớn
là: Diệt giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm.
Ngày 25-11-1945, Ban chấp hành Trung ương Đảng ra chỉ thị kháng chiến,
kiến quốc với nội dung chính là: Cuộc cách mạnh Đông Dương lúc này vẫn là
cách mạng giải phóng dân tộc mà kẻ thù chính là thực dân Pháp. Đấu tranh bằng
khẩu hiệu “ Dân tộc trên hết”, “ Tổ quốc trên hết”.
Nhiệm vụ cần kíp là phải mở rộng Mặt trận dân tộc thống nhất để thu
nạp đông đảo quần chúng Việt Minh. Chú ý thành lập tổ chức mới và sửa lại
điều lệ của các Hội cứu quốc cho phù hợp với tình hình. Đảng cần mở rộng
hoạt động của Hội nghiên cứu chủ nghĩa Mác ở Đông Dương để thu hút quần
chúng về với Đảng. Lập Ban Dân vận để giúp Đảng phụ trách các giới. Sau một
thời gian vận động, ngày 20-5-1946, Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam ( gọi tắt
là Liên Việt) được thành lập với cương lĩnh: “ Đoàn kết tất cả các đảng phái
yêu nước và đồng bào yêu nước vô đảng phái; không phân biệt giai cấp, tôn giáo,
xu hướng chính trị, dân tộc để làm cho nước Việt Nam độc lập, thống nhất, dân
chủ, cường thịnh”.
Về Công tác dân vận, Hội nghị cán bộ Trung ương Đảng chủ trương lập
Ban công vận toàn quốc, xúc tiến xây dựng Công đoàn và các Liên đoàn lao động
để tập hợp công nhân vào Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam. Về phụ vận, chú
ý chăm lo đào tạo bồi dưỡng cán bộ nữ. Về thanh niên, Đoàn thanh niên cứu
quốc cần quan hệ chặt chẽ với thanh niên, tập hợp rộng rãi các tầng lớp thanh

5
niên. Ngày 18/19-12/1946, Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp, quyết định
phát động kháng chiến trong cả nước. Vào lúc 20 giờ ngày 19-12-1946, cuộc
kháng chiến chống thực dân Pháp bùng nổ. Nhân dân cả nước đồng lòng và nhất
tề đứng lên đánh giặc với tinh thần “ Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” theo lời
kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Chủ trương về Công tác dân vận trong kháng chiến, Hội nghị Trung ương
lần thứ hai ( từ ngày 03-6/4/1947) đề ra nhiệm vụ là phải củng cố và mở rộng
Mặt trận dân tộc thống nhất chống Pháp. Mọi hoạt động của Đảng nhằm mục
đích thống nhất: Vì dân, được lòng dân để thực hiện toàn dân đoàn kết, kháng
chiến lâu dài. Ngoài việc chấn chỉnh các đoàn thể, tổ chức đã có, Hội nghị còn
đề cập tới công tác tôn giáo, Hoa kiều, dân tộc, địch vận và vận động đồng bào.
Đối với vận động đồng bào có đạo là một việc quan trọng trong công tác dân
vận nhằm khắc phục những lệch lạc thành kiến với giáo dân và giáo sỹ đồng
thời vạch rõ mưu gian xuyên tạc của địch chia rẽ đồng bào với Chính phủ và
Mặt trận. Đối với dân tộc thiểu số được xác định là việc trọng yếu của công
tác dân vận để chống lại âm mưu của địch trong việc lập các “ Vùng tự do”. Chú
ý đào tạo cán bộ dân vận và lập Ủy ban vận động dân tộc thiểu số ở từng vùng.
Về địch vận: Phải coi đây là công việc của Đảng, đoàn thể chứ không chỉ
của bộ đội.
Về vận động Hoa kiều: Bằng cách tôn trọng và bảo vệ tài sản của họ;
giúp họ di cư, dùng người Hoa vận động người Hoa nhưng đề phòng tư tưởng
hẹp hòi, tả khuynh, chấn chỉnh lại Ủy ban Hoa vận.
Thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ hai, ngày 31 tháng 8
năm 1947, Thường vụ Trung ương Đảng ra Nghị quyết về xây dựng các Đảng
đoàn ( Hội đoàn), đoàn thể, cơ quan chính quyền, các ban chuyên môn. Trong đó
có Ban Dân vận cùng chức năng, nhiệm vụ, cách tổ chức hoạt động của từng
Đảng, đoàn và các Ban chuyên môn. Ngày 01-9-1947, Thường vụ Trung ương
Đảng ra Chỉ thị về công tác dân vận. Chỉ thị còn nêu lên chủ trương vận động
các giới, tổ chức, đoàn thể và chấn chỉnh hoạt động của các Ban Dân vận ở các
cấp, cách tổ chức Tiểu ban vận động các giới.
Mục đích thiết thực của dân vận là làm cho toàn dân đoàn kết, tham gia
kháng chiến, ủng hộ Chính phủ, ủng hộ bộ đội. Nhiệm vụ của Dân vận là nắm
vững phong trào quần chúng, củng cố và phát triển cơ sở quần chúng trong vùng
địch kiểm soát cũng như ở vùng tự do.
Để tăng cường công tác tham mưu cho Đảng về công tác Dân vận, Hội
nghị cán bộ Trung ương lần thứ tư ( ngày 20/5/1948) đã xác định: Các cấp phải
có các Ban chuyên môn của công tác Dân vận, Mặt trận trong sự nghiệp kháng
chiến, cứu quốc. Hội nghị cán bộ Trung ương Đảng lần thứ năm ( từ ngày 8
đến ngày 16/8/1948) đã ra nghị quyết chuyên đề về Công tác Dân vận và công
tác Mặt trận Dân tộc thống nhất. Với mười nguyên tắc cơ bản làm cơ sở cho

6
việc hoạch định chính sách và phương châm vận động các giới còn là cơ sở có
tính lý luận và thực tiễn để chỉ đạo công tác dân vận và Mặt trận tiến lên một
bước mới.
Từ ngày 10 đến ngày 15-2-1949, tại Việt Bắc, Hội nghị cán bộ dân vận
Trung ương lần thứ nhất được tiến hành. Hội nghị đề ra chủ trương: Tích cực
chấn chỉnh công tác dân vận của Đảng, thống nhất Mặt trận Việt Minh và Hội
Liên Việt; chính sách và phương châm vận động công nhân, nông dân, thanh
niên, phụ nữ, trí thức, tư sản, địa chủ, tôn giáo, dân tộc thiểu số, Hoa kiều, công
tác dân vận trong vùng tạm chiếm.
Ngày 15 tháng 10 năm 1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết bài báo “ Dân
vận” đăng báo “ Sự thật”, cơ quan của Trung ương Đảng. Bài báo ngắn gọn
nhưng hết sức súc tích, có giá trị lớn về lý luận và thực tiễn. Có thể nói, đây là
cương lĩnh hoàn chỉnh về công tác dân vận.
Hội nghị toàn quốc lần thứ ba của Đảng ( từ 21 tháng 1 đến 03 tháng 2
năm 1950) đã nêu lên phương hướng công tác dân vận là: Các tổ chức quần
chúng phải vận động nhân dân thực sự tham gia xây dựng chính quyền; xây dựng
các tổ chức công, nông, thanh niên, phụ nữ có hệ thống chặt chẽ. Báo cáo củng
cố khối đại đoàn kết toàn dân để chiến thắng được trình bày tại Đại hội Đại
biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng ( tháng 2 năm 1951) là một văn kiện tổng
kết súc tích về công tác dân vận và Mặt trận. Do thái độ sai lầm, coi thường
công tác dân vận và Mặt trận ở các cấp Đảng bộ và các ngành chính quyền nên
Đảng chưa thu phục được nhiều thêm các tầng lớp mới về mình. Thực tế chứng
tỏ rằng: Nơi nào công tác này kém thì mọi mặt đều kém và ngược lại…
Với cương lĩnh, đường lối đúng đắn của Đảng, nhân dân ta đã tiến hành
cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp ròng rã đầy hy sinh, gian khổ nhưng vô
cùng anh dũng và thắng lợi vẻ vang.
Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân pháp xâm lược cũng là
thành công to lớn của công tác dân vận của Đảng, đó là thành công của đường
lối mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân vì sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc với
yêu cầu “ Vận động tất cả lực lượng của mỗi người dân, không bỏ sót người
dân nào, góp thành lực lượng toàn dân”

CÔNG TÁC DÂN VẬN TRONG THỜI KỲ 
CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC  ( 1954­ 1975)

I. GIAI ĐOẠN 1954-1960

Đặc điểm lớn nhất của cách mạng Việt Nam từ tháng 7 -1954 là đất nước
tạm thời bị chia cắt làm 02 miền. Miền Bắc hoàn toàn được giải phóng, bước
vào thời kỳ quá độ lên CNXH, trở thành hậu phương vững mạnh của cách mạng


7
Miền Nam. Miền nam tiếp tục sự nghiệp cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân,
đánh cho “ Mỹ cút, ngụy nhào” thực hiện giải phóng Miền Nam, thống nhất Tổ
quốc, cùng cả nước quá độ lên CNXH.
Ngày 05-9-1954, Bộ Chính trị ra Nghị quyết lập Mặt trận rộng rãi các tầng
lớp nhân dân chống đế quốc, tay sai Mỹ. Ngày 10-9-1955, Đại hội Mặt trận dân
tộc thống nhất Việt Nam đã họp tại Hà Nội. Đại hội quyết định đổi tên thành
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Để tăng cường công tác vận động quần chúng trong tình hình mới, từ
Trung ương đến các địa phương đã chú ý kiện toàn Ban Mặt trận và các tiểu Ban
trong khối: Công vận, Nông vận, Thanh vận, Phụ vận…. Các Đảng đoàn Mặt
trận và các đoàn thể ở Trung ương và các khu, miền, tỉnh, thành phố được kiện
toàn. Tổ chức và hoạt động của Mặt trận và các đoàn thể đã nhanh chóng
chuyển hướng cho phù hợp với nhiệm vụ của từng miền.
Ngày 18-7-1957, Ban Bí thư ra Thông tri 72 về công tác dân vận, ghi rõ: “
Trong thời gian qua, nói chung công tác dân vận chưa được các cấp ủy Đảng chú
ý lãnh đạo một cách đúng mức, do đó đã ảnh hưởng đến việc huy động quần
chúng thực hiện các chủ trương và chính sách của Đảng và Chính phủ”
Quán triệt và thực hiện các Nghị quyết, thông tri, chỉ thị của Trung ương,
Bộ Chính trị, Ban Bí thư, từ năm 1954-1960, ở Miền Bắc, các cấp bộ Đảng,
chính quyền đã phối hợp chặt chẽ với Mặt trận và các đoàn thể tuyên truyền,
giáo dục nhân dân hiểu rõ tình hình và nhiệm vụ mới, các chủ trương, chính sách
của Đảng, Chính phủ và vận động quần chúng thực hiện. Nhờ vậy, kinh tế từng
bước được ổn định phát triển, nhiệm vụ khôi phục kinh tế căn bản hoàn thành,
phong trào hợp tác hóa phát triển rộng khắp ở nông thôn ( tính đến tháng 13-
1960:84.8% hộ nông dân đã vào hợp tác xã), 100% cơ sở công nghiệp tư bản tư
doanh được tổ chức thành xí nghiệp công tư hợp doanh…
Tại miền Nam, từ 1954-1960, dưới sự lãnh đạo của Đảng, các tầng lớp
nhân dân bằng nhiều hình thức đã đấu tranh quyết liệt, đòi địch phải thi hành
Hiệp định Giơnevơ, đòi quyền dân sinh, dân chủ, bảo vệ các quyền lợi đã giành
được trong cuộc kháng chiến chống Pháp, chống khủng bố và trả thù người
kháng chiến cũ.
Tháng 1 năm 1959, Hội nghị lần thứ 15 của Ban Chấp hành Trung ương
Đảng đã ra Nghị quyết xác định đường lối và phương pháp cách mạng miền
Nam là khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân. Con đường đó là sức
mạnh của quần chúng, dựa vào lực lượng chính trị của của quần chúng là chủ
yếu, kết hợp lực lượng vũ trang để đánh đổ quyền thống trị của đế quốc và
phong kiến, dựng lên chính quyền cách mạng của nhân dân. Ngày 20-12-1960,
Tại Tây Ninh, Đại hội đại biểu quốc dân miền Nam họp quyết định thành lập
Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam. Bản tuyên ngôn và chương
trình hành động 10 điểm được thông qua tại Đại hội vạch ra cương lĩnh cho

8
phong trào cách mạng miền Nam, trong đó nội dung cơ bản là mở rộng đoàn kết
dân tộc, bao gồm tất cả những lực lượng yêu nước ở miền Nam để đánh đổ chế
độ thuộc địa trá hình của đế quốc Mỹ và chế độ độc tài Ngô Đình Diệm, xây
dựng một miền Nam độc lập, dân chủ, hòa bình, trung lập, tiến tới hòa bình
thống nhất nước nhà.
II. GIAI ĐOẠN 1960 – 1965
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng ( 9-1960) là Đại hội xây
dựng CNXH ở miền Bắc và đấu tranh hòa bình thống nhất nước nhà. Về mối
liên hệ giữa Đảng và quần chúng nhân dân, Báo cáo Chính trị nêu rõ: Cách mạng
là sự nghiệp của quần chúng do Đảng lãnh đạo. Nguồn sức mạnh vô hạn của
Đảng là ở chỗ Đảng liên hệ chặt chẽ với quần chúng nhân dân lao động, Đảng
ta vốn có truyền thống liên hệ chặt chẽ với quần chúng, có nhiều kinh nghiệm
phát động quần chúng làm cách mạng.
Sau Đại hội Đảng toàn quốc, Bộ Chính trị và Ban Bí thư đã tập trung chỉ
đạo Mặt trận và các đoàn thể tiến hành Đại hội. Nội dung trọng tâm của các
Đại hội là động viên đoàn viên, hội viên thực hiện thắng lợi kế hoạch 5 năm lần
thứ nhất 1960-1965, tạo được phong trào thi đua yêu nước rộng lớn trong các
tầng lớp nhân dân.
Ban Bí thư Trung ương Đảng đã kiện toàn Ban Mặt trận, Ban Phụ vận,
tiểu ban Công vận, Thanh vận, Tôn giáo vận, Hoa vận… ở Trung ương và một
số tỉnh, thành; đồng thời xác định cụ thể chức năng của các Đảng đoàn Mặt trận
và các đoàn thể. Công tác tham mưu và sự lãnh đạo, chỉ đạo công tác dân vận
của các cấp ủy Đảng được tăng cường.
Để thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ III của
Đảng và các Nghị quyết của Trung ương, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ra
Nghị quyết về đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước. Ngay từ năm 1961, phong
trào thi đua phấn đấu hoàn thành vượt mức kế hoạch 5 năm lần thứ nhất được
phát động sâu rộng trong các tầng lớp nhân dân. Trong công nhân viên chức có
phong trào thi đua phấn đấu trở thành tổ đội lao động XHCN. Trong thanh niên
có phong trào xung phong tình nguyện vượt mức kế hoạch 1961-1965. Trong
nông thôn, nông dân, nông nghiệp có phong trào thi đua học tập, đuổi kịp hợp tác
xã Đại Phong. Trong công nghiệp, hơn 500 xí nghiệp, công trường đã đẩy mạnh
phong trào “ học tập Duyên Hải, thi đua với Duyên Hải”. Trong ngành Giáo dục
có phong trào thi đua học tập trường phổ thông cấp 2 Bắc Lý- lá cờ đầu của
phong trào thi đua “ Hai tốt”. Trong quân đội có phong trào thi đua “ Ba nhất”:
đạt thành tích nhiều nhất, đều nhất, giỏi nhất. Đặc biệt phong trào “ Người tốt,
việc tốt” do Bác Hồ trực tiếp phát động đầu năm 1959 đã có tác dụng tích cực
biểu dương những gương sáng trong nhân dân trên các lĩnh vực.



9
Phong trào thi đua “ mỗi người làm việc bằng hai” vì miền Nam ruột thịt
được phát động sâu rộng trong các tầng lớp nhân dân ở miền Bắc thu được
những kết quả to lớn, trong lao động sản xuất, sẵn sàng chiến đấu, quyết chiến
quyết thắng, góp phần vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng miền Nam, thống
nhất Tổ quốc.
Ngày 31-1-1961, Bộ Chính trị ra Chỉ thị về phương hướng và nhiệm vụ
công tác trước mắt của cách mạng miền Nam. Về công tác quần chúng, Chỉ thị
nêu rõ: Phải ra sức xây dựng cơ sở Đảng và quần chúng, nhất là ở những nơi
còn yếu. Hình thức tổ chức quần chúng ở những nơi địch còn kiểm soát vẫn
phải lấy tổ chức hợp pháp làm chính. Về xây dựng Mặt trận và Chính quyền,
Bộ Chính trị chỉ rõ, điều kiện cơ bản để mở rộng Mặt trận là phải ra sức tăng
cường lực lượng công nông, thực hiện khẩu hiệu công nông binh liên hiệp, đẩy
mạnh đấu tranh làm tan rã và tiêu diệt sinh lực địch. Đồng thời phải căn cứ vào
đường lối cách mạng của Đảng, chương trình của Mặt trận, vào tình hình và thái
độ các giai cấp mà phát triển, mở rộng Mặt trận khắp nơi và xây dựng cho được
Mặt trận ở bên trên. Chú trọng thu hút trí thức, sinh viên, học sinh, các phần từ
tiêu biểu và tiến bộ của giai cấp tư sản, những đồng bào dân tộc thiểu số và
đồng bào theo đạo có xu hướng chống Mỹ - Diệm ở các vùng giải phóng, Ủy
ban Mặt trận địa phương làm cả nhiệm vụ giữ gìn trật tự, an ninh, hướng dẫn
nhân dân đoàn kết, sản xuất, học tập, cải thiện đời sống, bảo vệ trật tự cách
mạng.
Thực hiện sự lãnh đạo của Đảng, từ năm 1961-1965, Ban Dân vận các
cục, khu, tỉnh, thành được phát triển ở miền Nam. Mặt trận dân tộc giải phóng
miền Nam Việt Nam ngày càng mở rộng. Các đoàn thể, tổ chức xã hội được xây
dựng, củng cố thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia: Ngày 27-4-1961,
Hội Lao động giải phóng miền Nam được thành lập; ngày 01-1-1962, Đoàn
thanh niên nhân dân cách mạng miền Nam ra đời…Hoạt động của hệ thống Dân
vận, Mặt trận, các đoàn thể ở miền Nam thời kỳ này đã góp phần quan trọng vào
việc xây dựng lực lượng chính trị trong quần chúng ở cả nông thôn, thành thị,
kết hợp chặt chẽ với lực lượng vũ trang đập tan chiến lược “ Chiến tranh đặc
biệt” của đế quốc Mỹ.
III. GIAI ĐOẠN 1965-1975
Từ tháng 2-1965, đế quốc Mỹ liên tục dùng không quân và hải quân tăng
cường đánh phá ác liệt miền Bắc nhằm mục đích đánh sập tiềm lực kinh tế,
quốc phòng miền Bắc, ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc cho miền Nam,
hòng làm lung lay ý chí, quyết tâm kháng chiến của Đảng và nhân dân ta, nâng
đỡ tinh thần quân Ngụy Sài Gòn.
Trước tình hình đó, Hội nghị lần thứ 11 của Ban Chấp hành Trung ương
Đảng ( 3-1965) chủ trương phải xây dựng miền Bắc thành hậu phương chiến


10
lược vững mạnh, bảo đảm cho cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân ta
giành thắng lợi, quyết định chuyển hướng xây dựng kinh tế sang thời chiến,
chuyển hướng về tư tưởng và tổ chức, tăng cường lực lượng quốc phòng cho
phù hợp với tình hình mới và nhiệm vụ cấp bách của miền Bắc. Hội nghị lần
thứ hai của Ban Chấp hành Trung ương Đảng ( 12-1965) quyết định chuyển toàn
bộ hoạt động các mặt trên miền Bắc vào thời kỳ có chiến tranh, vừa sản xuất,
vừa sẵn sàng chiến đấu, hết lòng chi viện cho tiền tuyến lớn miền Nam.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, phong trào quần chúng nhân dân phát triển
hết sức mạnh mẽ, sâu rộng ở các cấp, các ngành, các đoàn thể. Công nhân với
phong trào “ tay búa, tay súng”, nông dân với phong trào “ tay cày, tay súng”,
thanh niên có phong trào “Ba sẵn sàng”, phụ nữ với phong trào “ Ba đảm đang”,
quân đội với phong trào giành danh hiệu “ đơn vị quyết thắng” và “ Chiến sỹ
quyết thắng”, các cụ phụ lão rộ lên phong trào “ Bạch đầu quân”, thiếu nhi với
phong trào “ làm nghìn việc tốt”, văn hóa có phong trào “ tiếng hát át tiếng
bom”… Tất cả các phong trào đó cộng hưởng lại thành hậu phương lớn vững
chắc của miền Nam, góp phần đập tan “ chiến lược chiến tranh cục bộ”, “ Việt
Nam hóa chiến tranh” và các cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân của
Mỹ.
Ở miền Nam, Mặt trận dân tộc giải phóng ngày càng phát triển rộng
khắp, vững mạnh trong công nhân, nông dân, học sinh, sinh viên và nhân sĩ yêu
nước. Để tăng cường công tác vận động quần chúng xây dựng lực lượng chính
trị vững mạnh, tháng 10-1966, Hội nghị chiến tranh du kích toàn miền đã họp
tổng kết kinh nghiệm về phát động quần chúng tham gia kháng chiến. Trong
những năm 1965-1972, phong trào đấu tranh của quần chúng ở cả nông thôn,
thành thị, miềm Nam phát triển đến đỉnh cao, với ý chí “ còn cái lai quần cũng
đánh”, “ nắm thắt lưng địch mà đánh”, “ tìm Mỹ mà diệt”…đã làm quân thù
khiếp đảm, thất bại liên tiếp.
Thắng lợi của quân và dân ta ở hai miền Nam- Bắc, buộc Mỹ phải ký
hiệp định Pari chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam.
Sau hiệp định, Mỹ- Ngụy vẫn tiến hành lấn chiếm với ý đồ biến miền
Nam thành “ quốc gia” thân Mỹ, xóa bỏ chính quyền cách mạng của ta. Trước
tình hình đó, tháng 7-1973, Hội nghị lần thứ 21 Ban Chấp hành Trung ương
Đảng vạch ra 8 công tác ở miền Nam là nắm vững lực lượng vũ trang ba thứ
quân, nhiệm vụ hàng đầu là giành dân và giành quyền làm chủ của nhân dân, đẩy
mạnh phong trào đấu tranh ở đô thị đòi hòa bình, dân chủ, dân sinh…Ở miền
Bắc, Hội nghị lần thứ 22 Ban chấp hành Trung ương họp ( tháng 12-1973) quyết
định nhiệm vụ khôi phục kinh tế với khẩu hiệu “ Tất cả cho tiền tuyến”, “Tất
cả để đánh thắng”.
Đầu tháng 10 – 1974, Bộ Chính trị họp chủ trương động viên những lỗ lực
lớn nhất của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ở cả hai miền, mở cuộc tổng tiến

11
công và nổi dậy, đưa chiến tranh cách mạng phát triển đến mức cao nhất, đánh
đổ Ngụy quyền các cấp, giải phóng hoàn toàn miền Nam, tiến tới thống nhất
nước nhà. Cuộc tấn công và nổi dậy mùa xuân năm 1975 bắt đầu từ ngày 04-3-
1975. Ngày 14-4-1975, Bộ Chính trị quyết định mở chiến dịch tiến công giải
phóng Sài Gòn- Gia Định được mang tên là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.
11giờ 30 phút ngày 30 tháng 4 năm 1975, quân ta chiếm dinh Tổng thống Ngụy,
buộc Ngụy quyền Sài Gòn đầu hàng vô điều kiện. Sự nghiệp giải phóng hoàn
toàn miền Nam của nhân dân ta toàn thắng.
CÔNG TÁC DÂN VẬN TRONG THỜI KỲ CẢ NƯỚC THỐNG NHẤT 
ĐI LÊN CNXH VÀ THỰC HIỆN SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI ( 1975­2010)

I. GIAI ĐOẠN 1975-1985
Sau thắng lợi hoàn toàn cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, hoàn thành
độc lập dân tộc và thống nhất đất nước, Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân cả nước
tiến lên giai đoạn cách mạng mới- xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc. Công
tác dân vận thời kỳ này đòi hỏi phải có những đổi mới về nội dung và phương
thức, phù hợp với yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp cách mạng trong tình
hình mới.
Để tăng cường công tác dân vận và Mặt trận trong thời kỳ mới, ngày 29-3-
1976, Bộ Chính trị đề ra Nghị quyết số 249 thành lập Ban Dân vận và Mặt trân
Trung ương. Ban có chức năng vừa làm tham mưu cho Trung ương Đảng về
công tác dân vận và Mặt trận vừa là Đảng đoàn Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ tư của Đảng ( tháng 12-1976) đã chủ
trương tiến hành đồng thời 3 cuộc cách mạng, xây dựng chế độ làm chủ tập thể
XHCN, cùng với việc xây dựng nền sản xuất lớn XHCN và nền văn hóa mới và
con người mới XHCN.
Ngày 8-3-1977, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ra Chỉ thị số 05 về tăng
cường công tác dân vận trong quá trình đi lên CNXH là xây dựng chế độ làm chủ
tập thể và phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động. Về nhiệm vụ,
chỉ thị nêu ra 3 công tác cụ thể:
Một là, nâng cao trách nhiệm của các cấp bộ Đảng, các cấp chính quyền
và đoàn thể đối với công tác dân vận và Mặt trận.
Hai là, phát huy vai trò của các đoàn thể trên mấy công tác chính: Giáo dục
chính trị tư tưởng trong các tầng lớp nhân dân; đẩy mạnh phong trào thi đua lao
động sản xuất, cần kiệm xây dựng CNXH, động viên và tổ chức nhân dân xây
dựng và bảo vệ chính quyền, tham gia quản lý kinh tế- xã hội, phát triển và
củng cố các đoàn thể cách mạng.


12
Ba là, tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng đối với công tác dân
vận, Mặt trận ( ở các tỉnh, thành phố cần thành lập Ban Dân vận- Mặt trận; ở
cấp huyện, cần phân công ủy viên thường vụ phụ trách; cấp xã có ủy viên
thường vụ hoặc cấp ủy viên phụ trách).
Nhân dân cả nước bước vào thực hiện kế hoạch 5 năm 1976-1980 trong
khí thế phấn khởi đất nước được thống nhất, nhưng cũng đứng trước đầy khó
khăn, thử thách. Công tác dân vận trong những năm này có nhiều chuyển biến
tích cực. Song nhìn chung, phong trào quần chúng chưa đều và trong nhiều
trường hợp hiệu quả còn thấp. Nội dung, hình thức và phương pháp vận động
quần chúng còn lúng túng, chưa phát huy được toàn bộ sức mạnh của hệ thống
chính trị làm công tác vận động quần chúng.
Để tiếp tục củng cố và tăng cường công tác dân vận trong tình hình mới,
ngày 17-3-1981, Ban Bí thư Trung Đảng đã quyết định thành lập Ban Dân vận
Trung ương và Đảng đoàn Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Ban Dân vận là cơ quan
tham mưu chiến lược về công tác dân vận bao gồm cả công tác tôn giáo và công
tác người Hoa.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng ( 3-1982) đã kiểm điểm
thành tích và khuyết điểm 6 năm qua, có những sửa đổi, bổ sung một số chính
sách lớn về kinh tế- xã hội trong chặng đường trước mắt của thời kỳ quá độ lên
CNXH. Đại hội đặc biệt nhấn mạnh tầm quan trọng chiến lược của công tác
quần chúng: Ở thời kỳ nào công tác vận động và tổ chức quần chúng làm cách
mạng cũng có ý nghĩa chiến lược. Trong giai đoạn cách mạng XHCN và hiện
nay khi cách mạng nước ta làm hai nhiệm vụ chiến lược: Xây dựng CNXH và
bảo vệ Tổ quốc XHCN, tầm quan trọng của công tác vận động quần chúng
chẳng những không giảm bớt mà còn tăng thêm.
Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã ban hành một số Chỉ thị, nghị quyết quan trọng
về lĩnh vực này như: Chỉ thị số 17 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo
của Đảng đối với công tác Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong giai đoạn mới
ngày 18-4-1983; Chỉ thị số 53 của Ban Bí thư về tăng cường công tác quần chúng
của Đảng ngày 28-11-1984, nêu rõ 6 nhiệm vụ các tổ chức Đảng, cấp ủy Đảng
cần tăng cường lãnh đạo. Một là, làm cho toàn Đảng, toàn hệ thống chính trị
quán triệt sâu sắc quan điểm quần chúng và công tác quần chúng của Đảng trong
giai đoạn mới. Hai là,phát huy quyền làm chủ, sử dụng sức mạnh tổng hợp, đẩy
mạnh phong trào cách mạng của quần chúng trên mọi lĩnh vực. Ba là, cải tiến và
nâng cao trình độ chỉ đạo công tác quần chúng của tổ chức Đảng và cấp ủy
Đảng. Bốn là, nâng cao trách nhiệm của các tổ chức chính quyền đối với công
tác quần chúng. Năm là, phát huy vai trò và chức năng của các đoàn thể. Sáu là,
tăng cường công tác cán bộ làm công tác vận động quần chúng.
II. GIAI ĐOẠN THỰC HIỆN SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI 1986-2010


13
Đại hội toàn quốc lần thứ VI của Đảng ( 12-1986) với thái độ nhìn thẳng
vào sự thật đã nghiêm khắc kiểm điểm những sai lầm, khuyết điểm, vạch rõ
nguyên nhân của tình hình khủng hoảng kinh tế - xã hội trong nhiều năm trước,
đề ra đường lối đổi mới toàn diện trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.
Về công tác dân vận, Đại hội nhấn mạnh việc phát huy quyền làm chủ
của nhân dân lao động, thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa, chống tệ quan liêu,
cửa quyền, ức hiếp quần chúng, coi nhẹ vận động quần chúng. Quyền làm chủ
của nhân dân cần được thể chế hóa bằng pháp luật và tổ chức. Mọi công tác
quản lý Nhà nước, quản lý kinh tế, quản lý xã hội đều cần có sự tham gia của
quần chúng ngay từ khi chuẩn bị ra quyết định cho đến khâu tổ chức thực hiện.
Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra phải trở thành nền nếp hàng ngày của
xã hội mới. Mặt trận và các đoàn thể nhân dân cũng cần mau chóng đổi mới nội
dung và phương thức hoạt động.
Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng ( khóa VI) đã ban
hành Nghị quyết 8B về “ Đổi mới công tác quần chúng của Đảng”, tăng cường
mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân”, nêu rõ 4 quan điểm chỉ đạo đổi mới công
tác quần chúng, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân. Bốn quan điểm
đó là: Một là, cách mạng là sự nghiệp của dân, do dân, vì dân. Hai là, động lực
thúc đẩy phong trào quần chúng là đáp ứng lợi ích thiết thực của nhân dân và kết
hợp hài hòa các lợi ích, thống nhất quyền lợi và nghĩa vụ công dân. Ba là, các
hình thức tập hợp nhân dân phải đa dạng. Bốn là, công tác quần chúng là trách
nhiệm của Đảng, Nhà nước và các đoàn thể. Vấn đề trọng tâm vừa có tính cơ
bản, vừa có tính cấp bách mà Nghị quyết vạch ra là: đổi mới tổ chức và hoạt
động của Mặt trận và các đoàn thể nhân dân; tăng cường công tác quần chúng
của bộ máy Nhà nước; đổi mới và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với
công tác quần chúng, giữ vững mối liên hệ mật thiết giữa Đảng và nhân dân.
Trước tình hình công tác thanh niên đang đặt ra nhiều vấn đề mới, ngày
09-2-1991, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 25 về Đổi mới và tăng cường sự lãnh
đạo của Đảng đối với công tác thanh niên, nêu rõ: Làm tốt công tác thanh niên là
một nhiệm vụ chính trị có ý nghĩa chiến lược đối với tương lai dân tộc và vận
mệnh của Tổ quốc.
Đối với trí thức, ngày 31-3-1991, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 26 về khoa
học và công nghệ trong sự nghiệp đổi mới, xác định: Khoa học và công nghệ là
một động lực mạnh mẽ của sự nghiệp đổi mới, ổn định tình hình và phát triển
kinh tế - xã hội theo định hướng XHCN.
Về chính sách dân tộc, Ban Bí thư và Chính phủ đã có những chính sách về
phát triển kinh tế- xã hội miền núi ( QĐ 72/HĐBT, ngày 13-3-1990); đối với
đồng bào Khơ me ( Chỉ thị số 68 của Ban Bí thư ngày 18-4-1991); đối với đồng
bào Chăm ( Thông tri số 03 của Ban Bí thư ngày 17-10-1991).



14
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng ( Tháng 6-1991) đã đề ra
phương hướng, mục tiêu và các nhiệm vụ chủ yếu cho 5 năm 1991-1995; thông
qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH và Chiến
lược ổn định và phát triển kinh tế- xã hội đến năm 2000.
Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương Đảng ( Tháng 6-1992) đã
đề ra Nghị quyết về một số nhiệm vụ đổi mới và chỉnh đốn Đảng, đã gắn việc
sơ kết 2 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 8B với công tác xây dựng Đảng;
đã dành riêng mục 6 về: “Đổi mới và tăng cường công tác vận động trong nhân
dân, củng cố mối liên hệ giữa Đảng và nhân dân”. Nghị quyết đặt rõ phải tiếp
tục quán triệt và thực hiện Nghị quyết Trung ương 8B đến tận mọi cán bộ, đảng
viên. Các cấp ủy Đảng phải có sự kiểm điểm nghiêm túc và đề ra những nhiệm
vụ tiếp tục thực hiện Nghị quyết trên bằng chương trình công tác hàng năm, tăng
cường tổ chức phối hợp, kiểm tra và kịp thời xử lý những vấn đề mới nảy sinh
trong nội bộ nhân dân, thông qua quan hệ công tác giữa các tổ chức có liên quan.
Các tổ chức Đảng phải quan tâm chăm lo công tác cán bộ dân vận và mọi đảng
viên đều phải làm tốt công tác dân vận. Hệ thống chính quyền có trách nhiệm
dân vận, nhất là xây dựng thực hiện cơ chế bảo đảm cho nhân dân và các đoàn
thể tham gia và kiểm tra công việc chính quyền; công bố các quy chế về trách
nhiệm phục vụ dân của viên chức Nhà nước. Mặt trận và đoàn thể cần đổi mới
tổ chức, phương thức hoạt động cho phù hợp với quá trình đổi mới kinh tế- xã
hội. Nghị quyết cũng xác định rõ phải kiện toàn Ban Dân vận ở Trung ương và
tỉnh, thành ( QĐ số 32 ngày 9-7-1992 của Ban Bí thư); ở cấp quận, huyện lập
khối Dân vận do đồng chí ủy viên thường vụ phụ trách; phải có chính sách đãi
ngộ thỏa đáng đối với cán bộ Dân vận và cán bộ đoàn thể.
Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII của Đảng ( Tháng 1-
1994) đã kiểm điểm hơn 2 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội VII, tổng kết một
bước quá trình đổi mới, đề ra những nhiệm vụ và giải pháp thực hiện Nghị
quyết Đại hội VII. Về công tác dân vận, Hội nghị đánh giá, sau Nghị quyết
Trung ương 8B, công tác dân vận và hoạt động của các đoàn thể có những
chuyển biến tích cực. Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng
( tháng 7 – 1994) đã tập trung bàn định chủ trương, chính sách phát triển công
nghiệp, công nghệ và xây dựng giai cấp công nhân nhằm đẩy tới một bước sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng tiến hành từ ngày 28-6-
1996 đến ngày 01-7-1996 tại Hội trường Ba Đình lịch sử. Đại hội đã đánh giá
kết quả 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội VII và 10 năm thực hiện đường lối
đổi mới được đề ra từ Đại hội VI; Đại hội đã khẳng định: “Nhìn tổng quát,
công cuộc đổi mới 10 năm qua đã thu được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa
rất quan trọng. Nhiệm vụ Đại hội VII đề ra cho 5 năm 1991-1995 đã được hoàn
thành về cơ bản”.

15
Tổng kết chặng đường đổi mới 10 năm (1986-1996), Đại hội đã rút ra 6
bài học chủ yếu trong đó bài học số 4 đề cập đến mở rộng và tăng cường khối
đại đoàn kết toàn dân, phát huy sức mạnh của cả dân tộc. Bài học nêu rõ: “ cách
mạng là sự nghiệp của nhân dân, vì nhân dân và do nhân dân. Chính những ý
kiến, nguyện vọng và sáng kiến của nhân dân là nguồn gốc hình thành đường
lối đổi mới của Đảng. Cũng do nhân dân hưởng ứng đường lối đổi mới, dũng
cảm phấn đấu, vượt qua biết bao khó khăn, thử thách mà công cuộc đổi mới đạt
được những thành tựu hôm nay. Để tiếp tục đưa sự nghiệp đổi mới tiến lên,
giành những thắng lợi to lớn hơn, cần thực hiện tốt hơn nữa việc mở rộng, tăng
cường khối đại đoàn kết toàn dân, cả ở trong nước và ở nước ngoài, phát huy
dân chủ, động viên tối đa sức mạnh của toàn thể dân tộc vì mục tiêu dân giàu,
nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh”.
Đại hội đã xác định phải xây dựng cơ chế cụ thể để thực hiện phương
châm “ Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” đối với các chủ trương, chính
sách đường lối của Đảng và Nhà nước. Thực hiện các cơ chế làm chủ của nhân
dân. Làm chủ thông qua đại diện là cơ quan dân cử và các đoàn thể; làm chủ trực
tiếp bằng các hình thức nhân dân tự quản, bằng các quy ước, hương ước từ cơ
sở phù hợp với pháp luật Nhà nước.
Đối với Mặt trận và các đoàn thể chính trị, Đại hội đã nêu rõ, phải tiếp
tục đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động. Mặt trận và các tổ chức thành
viên là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, nơi phối hợp thống nhất hành
động của các tầng lớp nhân dân thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp
luật của Nhà nước; tham gia với Đảng và Nhà nước thực hiện và giám sát việc
thực hiện dân chủ, chăm lo và bảo vệ lợi ích chính đáng các tầng lớp nhân dân;
bảo vệ Đảng và Chính quyền, thực hiện các nhiệm vụ kinh tế, văn hóa, xã hội,
quốc phòng an ninh, đối ngoại; góp phần tăng cường mối liên hệ mật thiết giữa
nhân dân với Đảng và Nhà nước.
Đối với công tác dân vận, Đại hội nêu rõ: “Mọi cán bộ, đảng viên đều
phải làm công tác dân vận theo chức trách của mình. Mọi cấp cán bộ Đảng
chăm lo công tác dân vận, đổi mới phương thức lãnh đạo đối với Mặt trận Tổ
quốc, các đoàn thể nhân dân, các hội quần chúng”.
Triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
của Đảng, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị đã tiếp tục ban hành nhiều
chỉ thị, nghị quyết liên quan đến công tác Dân vận, Mặt trận và các đoàn thể
nhân dân như: Chỉ thị số 30-CT/TW ngày 18-2-1998 của Bộ Chính trị về xây
dựng thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở. Thông báo số 183/TB-TW ngày 23-11-
1998 của Thường vụ Bộ Chính trị về tổng kết việc thực hiện chủ trương, chính
sách đại đoàn kết toàn dân. Chỉ thị số 42-CT/TW ngày 06-10-1998 của Bộ Chính
trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với tổ chức và hoạt động các hội
quần chúng. Hướng dẫn số 01/HDLB-TC-DV-TW ngày 25-5-2000 của Ban Tổ

16
chức Trung ương- Ban Dân vận Trung ương về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức
bộ máy và biên chế cán bộ của Ban Dân vận địa phương.
Sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng, Mặt trận Tổ quốc
và các đoàn thể chính trị xã hội đã tiến hành đại hội các cấp, đề ra chương trình,
nội dung hoạt động cụ thể, thiết thực góp phần đưa Nghị quyết Đại hội VIII
của Đảng thành hiện thực.
Dưới ánh sáng của Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII,
công tác dân vận có nhiều chuyển biến tích cực. Trước hết, về mặt tổ chức, từ
Trung ương xuống tỉnh, huyện, xã, phường, hệ thống Dân vận đã được xây
dựng, kiện toàn. Tất cả các tỉnh, thành phố đều có Ban Dân vận do đồng chí Ủy
viên thường vụ làm Trưởng ban. Tất cả các quận, huyện, thị xã đều thành lập
Ban Dân vận do đồng chí Thường vụ cấp ủy làm Trưởng ban ( Một số nơi do
đồng chí Phó Bí thư thường trực cấp ủy làm Trưởng ban). Hầu hết các xã,
phường, thị trấn đều thành lập khối Dân vận hoặc Ban Dân vận do đồng chí
Thường vụ cấp ủy làm Trưởng khối. Chức năng, nhiệm vụ được xác định rõ
trong các văn bản Trung ương Đảng. Nội dung, phương thức hoạt động ngày
càng đi vào nền nếp, góp phần quan trọng tăng cường mối quan hệ giữa Đảng
với nhân dân, đưa phong trào quần chúng phát triển cả về bề rộng, chiều sâu.
Công tác dân vận của chính quyền từng bước có chuyển biến, nhất là từ
sau khi có Nghị định 29 của Thủ tướng Chính phủ về triển khai thực hiện quy
chế dân chủ ở cơ sở. Đặc biệt ngày 21-9-2000, Thủ tướng Phan Văn Khải ký
Chỉ thị 18/2000/CT-TTg về tăng cường công tác dân vận của chính quyền , càng
làm cho công tác dân vận ở các cơ quan Nhà nước từ Trung ương xuống cơ sở
có chuyển biến lớn về nhận thức, hành động. Mối quan hệ giữa chính quyền
với Mặt trận và các đoàn thể chính trị xã hội được tăng cường, thông qua các
quy chế hoạt động phối hợp.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng họp từ ngày 10-4-2001
đến ngày 24-4-2001 tại Hội trường Ba Đình lịch sử. Đại hội IX của Đảng là đại
hội của trí tuệ, dân chủ, đoàn kết, đổi mới, thể hiện ý chí kiên cường và niềm
hy vọng lớn lao của cả dân tộc.
Đại hội IX của Đảng là Đại hội mở đầu của thế kỷ XXI được Đại hội
khẳng định: “ Với những thắng lợi giành được trong thế kỷ XX, nước ta từ một
nước thuộc địa đã trở thành một quốc gia độc lập, tự do, phát triển theo con
đường xã hội chủ nghĩa, có quan hệ quốc tế rộng rãi, có vị thế ngày càng quan
trọng trong khu vực và trên thế giới. Nhân dân ta từ thân phận nô lệ đã trở thành
người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội. Đất nước ta từ một nền kinh tế nghèo
nàn, lạc hậu đã bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa”.
Đại hội IX của Đảng đã rút ra 4 bài học chủ yếu trong 15 năm đổi mới
( 1986-2000):



17
Một là, trong quá trình đổi mới phải kiên trì mục tiêu độc lập dân tộc và
chủ nghĩa xã hội trên nền tảng chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.
Hai là, đổi mới phải dựa vào nhân dân, vì lợi ích của nhân dân, phù hợp
với thực tiễn, luôn luôn sáng tạo.
Ba là, đổi mới phải kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.
Bốn là, đường lối đúng đắn của Đảng là nhân tố quyết định thành công
của sự nghiệp đổi mới.
*
80 năm qua, công tác Dân vận của Đảng đã để lại một kho tàng kinh
nghiệm phong phú và nhiều bài học lịch sử quý báu:
Bài học thứ nhất: Tin ở lực lượng và sức mạnh của nhân dân, gắn bó
máu thịt với nhân dân, một lòng, một dạ phục vụ nhân dân.
Bài học thứ hai: Thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc, xây dựng
mặt trận dân tộc thống nhất, nhất quán và phù hợp với từng giai đoạn cách
mạng.
Bài học thứ ba: Tổ chức tập hợp nhân dân vào các hình thức hoạt động
thích hợp trong từng giai đoạn cách mạng.
Bài học thứ tư: Công tác Dân vận phải bám chặt đường lối, chủ trương,
chính sách của Đảng, gắn chăm lo và bảo vệ lợi ích của nhân dân với động viên
nhân dân xây dựng và thực hiện các nhiệm vụ chính trị.
Bài học thứ năm: Công tác Dân vận luôn gắn chặt với công tác xây dựng
Đảng và xây dựng chính quyền nhà nước của dân, do dân và vì dân.
Bài học thứ sáu:Thường xuyên chăm lo xây dựng bộ máy và đội ngũ cán
bộ làm công tác dân vận.
Thực tiễn 80 năm qua cho thấy, sự lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương và
các cấp ủy Đảng về công tác Dân vận, Mặt trận, đoàn thể có chất lượng đến
đâu, phần lớn tùy thuộc vào chất lượng của bộ máy tham mưu và đội ngũ cán bộ
Dân vận, Mặt trận, đoàn thể. Đây chính là lực lượng chủ yếu, là nhân tố quyết
định để thực hiện tốt lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “ Dân vận khéo thì
việc gì cũng thành công”.




18
Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản