Từ điển chứng khoán Chủ đề T

Chia sẻ: Tuan Bui Nghia | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:49

0
75
lượt xem
14
download

Từ điển chứng khoán Chủ đề T

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Chủ đề T T CALL: Lệnh gọi đóng thêm tiền hay chứng khoán. Xem Margin Call. TAIL: Khoảng cách thời gian, chênh lệch, đuôi. Bảo hiểm: thời khoảng giữa lúc nhận lợi tức phí bảo hiểm và chi trả theo quyền đòi chi trả.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Từ điển chứng khoán Chủ đề T

  1. Chủ đề T T CALL: Lệnh gọi đóng thêm tiền hay chứng khoán. Xem Margin Call. TAIL: Khoảng cách thời gian, chênh lệch, đuôi. Bảo hiểm: thời khoảng giữa lúc nhận lợi tức phí bảo hiểm và chi trả theo quyền đòi chi trả. Thí dụ, công ty tái bảo hiểm có thời khoảng từ lúc nhận phí bảo hiểm đến lúc phải trả bảo hiểm (tail) dài hơn khi so sánh với công ty bảo hiểm tai nạn. Đấu giá trái phiếu kho bạc : chênh lệch giá giữa giá đặt mua có cạnh tranh thấp nhất (lowest competitive bid) được công khố Hoa Kỳ chấp nhận đối với trái phiếu kho bạc ngắn, trung và dài hạn với giá đặt mua trung bình của tất cả công phiếu cung ứng, để mua các công phiếu như thế. Xem Treasuries. Bao tiêu: số thập phân đặt phía sau số tròn dollar của giá đặt mua do một nhà bao tiêu tương lai trong đấu thầu có cạnh tranh đặt bao tiêu. Thí dụ, trong giá đặt mua là $97,3347 của một loại trái phiếu phát hành nào đó, thì số đuôi thập phân là 0,3347. TAILGATING: Đi cửa hậu - Ăn có. Một hoạt động không đạo đức của một broker, sau khi khách hàng đã đặt lệnh mua hay bán một chứng khoán nào đó thì broker cũng đặt một lệnh cùng một loại chứng khoán như thế cho tài khoản của riêng mình. Broker hy vọng kiếm được lợi nhuận hoặc là nhờ các thông tin mà khách hàng đã biết hay đoán biết, hoặc là nhờ việc mua của khách hàng với số lượng đủ để tạo áp lực trên giá chứng khoán. TAKE: Lợi nhuận, tiền xổ số, tiền hối lộ, tịch thu, chấp nhận. Tổng quát: 1. Lợi nhuận hiện thực (nhận được) trong một vụ giao dịch. 2. Tổng số thu của công ty xổ số hay đánh bài. 3. Bắt đầu hối lộ, như trong câu "đang hối lộ" (being on the take). Luật pháp: tịch thu tài sản. Khi con nợ không thể trả nợ có thế chấp bảo đảm thì người cho vay sẽ tịch thu vật thế chấp này. Chứng khoán: chấp nhận giá cung ứng trong một vụ giao dịch giữa brokers và dealers (người mua bán cho chính mình). TAKE A BATH: Đi tắm - Thua sạch sẽ. Chịu thua lỗ nặng trong một vụ đầu cơ hay đầu tư như trong câu "tôi đã thua sạch sẽ số chứng khoán công ty XYZ stock...). TAKE A FLIER: Đầu cơ, có tham vọng kiếm lời, mạo hiểm. Đầu cơ, có nghĩa là mua chứng khoán với ý thức là vụ đầu tư này có rất nhiều rủi ro. TAKE A POSITION: Giữa một vị thế. 1. Mua chứng khoán trong công ty với ý định giữ một thời gian dài hoặc nếu có thể chiếm quyền kiểm soát công ty. Một người thụ đắc chiếm vị thế có từ 5% trở lên số chứng khoán đang lưu hành của công ty phải trình bản thông tin đến nhà nước cũng như việc mua bán với công ty bị tiếp quản đó. 2. Từ ngữ được sử dụng khi broker/dealer lưu giữ chứng khoán, trái phiếu trong kho, vì thế họ có thể ở vị thế mua hay bán (long or short). Xem Long Position Short Position. TAKE DELIVERY: Nhận số giao. 1. Kết thúc một giao dịch chứng khoán vào thời điểm thanh toán. Người mua nhận phần giao theo cách thanh toán thông thường, nghĩa là trong vòng 5 ngày theo thời điểm giao
  2. dịch mua bán. 2. Hành động thanh lý một giao dịch mua bán hợp đồng Futures bằng cách nhận số hàng hoá cơ sở. Nhà mua bán ít khi thanh lý hợp đồng Futures, thay vào đó họ bán hợp đồng trước khi đáo hạn. TAKE- OR- PAY CONTRACT: Hợp đồng nhận trực tiếp hay trả lại. Thoả thuận giữa người mua và người bán cam kết rằng người mua trả một số tiền tối thiểu để mua sản phẩm hay dịch vụ chưa được giao. Loại hợp đồng này thường được sử dụng trong ngành tiện ích công cộng để hỗ trợ trái phiếu tài trợ cho các nhà máy điện mới. Hợp đồng này có điều kiện là người mua điện sau này sẽ nhận lượng điện từ nhà phát hành trái phiếu, nếu công trình không hoàn tất sẽ trả lại cho trái chủ số tiền họ đã đầu tư. Hợp đồng nhận hay trả là cách thông thường nhất để bảo vệ trái chủ. TAKE-OUT COMMITMENT: Cam kết mua rút ra trong tương lai (mua tiền vay ngắn hạn). Thoả thuận giữa ngân hàng thế chấp và nhà đầu tư dài hạn, theo đó nhà đầu tư đồng ý mua tiền vay có thế chấp vào thời điểm ấn định trong tương lai. Nhà đầu tư được gọi là take-out lender, tiêu biểu như công ty bảo hiểm hay tổ chức tài chánh. Xem : Take-out Lender, Take-out Loan. TAKE-OUT LENDER: Người cho vay dài hạn mua tiền vay ngắn hạn có thế chấp. Tổ chức tài chánh cung cấp tiền cho vay có thế chấp dài hạn dựa trên tài sản thực, dùng để thay thế số tài trợ chuyển tiếp ngắn hạn, hoặc tiền cho vay xây dựng của đơn vị tiết kiệm và cho vay, ngân hàng hay ngân hàng thế chấp. Tổ chức cấp tiền cho vay dài hạn hay tài trợ thường xuyên thường là công ty bảo hiểm hay nhà đầu tư thuộc tổ chức sẵn sàng đầu tư dài hạn trong tài sản sinh lợi hiện thực bằng số tư bản kiếm được từ số bán cuối cùng của tài sản, ngoài ra còn có lượng tiền mặt từ số tiền chi trả thuê mướn của người thuê tài sản. TAKE OUT LOAN: Tiền cho vay dài hạn lấy lần lần. Tài trợ dài hạn thường được hoạch định như tiền vay có thế chấp chi trả dần dần và cố định cho dự án xây dựng nhà cửa, phát triển văn phòng hoặc là được kết hợp sử dụng tài sản có sinh lãi. Hình thức mới gần đây là tiền vay có thế chấp lãi 0, trong đó tiền lãi được trả ngay một kỳ hay được trả dồn một lần (balloon payment) khi đáo hạn. TAKE THE OFFER: Chấp nhận giá đặt bán. Cách diễn tả người mua sẵn sàng chấp nhận giá đặt bán của người bán đang báo giá ngược lại với Hit the Bid (chấp nhận giá đặt mua). TAKEDOWN: Phần chia, giá có hạ (có khấu trừ). 1. Phần chia chứng khoán theo tỷ lệ cho ngân hàng đầu tư có dự phần khi phát hành lần đầu tiên hay lần thứ hai các chứng khoán. 2. Giá của chứng khoán được phân bố cho thành viên nhóm bao tiêu, đặc biệt là trong phát hành trái phiếu đô thị. Xem Underwrite. TAKEOUT: Rút tiền, thay thế ngắn hạn bằng dài hạn. Tài chánh bất động sản: tiền vay có thế chấp dài hạn dùng để chi trả cho tiền vay xây dựng ngắn hạn (Interim loan). Xem Standby Commitment. Chứng khoán: rút số tiền mặt từ tài khoản công ty môi giới, sau một vụ mùa hay bán phát
  3. sinh ra một số cân đối dư thuần (net credit balance-kết số dư tín dụng thuần). TAKEOVER: Giành quyền kiểm soát, tiếm quyền. Thay đổi quyền kiểm soát lợi tức của một công ty. Việc giành quyền kiểm soát có thể là một thụ đắc thân thiện hay một đấu thầu không thiện ý (hay đặt giá mua) một công ty đang là mục tiêu để tiếm quyền (target company) và có thể phải đối đầu với kỹ thuật chống cá mập (sharp repellent-mùi hôi chống cá mập). Một hành động tiếm quyền có ác ý (nhằm mục tiêu thay thế ban điều hành hiện tại) thường được cố thực hiện bằng cách đưa ra giá đệm (tender offer-đưa ra giá mềm-giá mua cao hơn giá thị trường). Các phương thức khác có thể là các đề xuất sát nhập tự nguyện các uỷ viên ban quản trị (directors), gom góp (tích luỹ) dần dần các cổ phần trong thị trường tự do hay tìm cho được những quyền uỷ nhiệm (proxy rights) để thiết lập một ban quản trị mới. TAKEOVER ARBITRAGE: Sách lược song hành tiếm quyền. Xem Risk Arbitrage. Taking delivery : Nhận cung ứng. 1. Tổng quát: chấp nhận nhận hàng hoá từ phương tiện chuyên chở thông thường hay phương tiện vận chuyển bằng tàu, thông thường lập chứng từ bằng cách ký vào vận đơn hay các giấy biên nhận khác. 2. Hàng hoá: chấp nhận cung ứng hàng hoá cụ thể theo hợp đồng futures (spot market-thị trường trả ngay bằng tiền mặt). Các quy định về giao hàng (cung ứng) như tầm mức của hợp đồng và số lượng hàng hoá cần thiết, được thiết lập theo thị trường nơi hàng hoá mua bán. 3. Chứng khoán: chấp nhận nhận chứng chỉ chứng khoán hay trái phiếu mới mua gần đây hay mới chuyển từ tài khoản khác tới. TALON: Phần chia còn lại. Một hình thức được cổ đông áp dụng cho phiếu lãi (coupon) thuộc người mang (bearer bond coupons) khi một nguồn cùng đang có lại bị cạn. TAN: Giấy nợ trả trước thuế. Xem : Tax Anticipation Note. TANDEM LOAN: Tiền vay được bao cấp. Chương trình tiền vay có thế chấp được trợ cấp (bao cấp) trong đó nhà nước mua tiền vay có thế chấp theo giá cao hơn giá thị trường công bằng hợp lý, và bán lại cho một cơ quan nhà nước. Chương trình nhằm trợ giúp tài chánh cho nhà xây dựng phát triển của dự án xây dựng chung cư không vì mục đích kiếm lợi. Nhà nước sẽ trả phần chênh lệch-giữa giá mua và giá bán-sử dụng việc đánh giá tín dụng để đảm bảo cho phần khấu trừ (chênh lệch) mà các cơ quan xây dựng chung cư không đủ sức gánh vác và đổi lại họ sẽ chấp nhận một số thua lỗ (nếu có trong giao dịch này). TANGIBLE ASSET: Tài sản hữu hình. Bất cứ tài sản nào không hội đủ điều kiện của định nghĩa tài sản vô hình (intangible asset) là loại quyền không cụ thể đối với những thứ được xem là tiêu biểu cho một quyền lợi trên thị trường như nhãn hiệu cầu chứng, bản quyền. Vì thế tài sản hữu hình rõ ràng là những thứ tồn tại cụ thể như tiền mặt, bất động sản, máy móc. Tuy nhiên trong kế toán, các tài sản như tài khoản thu được xem là tài sản hữu hình mặc dù nó không giống tính cách cụ thể hơn gì môn bài hay hợp đồng cho thuê, cả hai loại này được xem như tài sản vô hình. Nói tóm lại, nếu một tài sản có một hình thức cụ thể thì nó là hữu hình nếu không thì phải tham khảo bản danh sách mà các nhà kế toán đã quyết định cái nào là tài
  4. sản vô hình. TANGIBLE COST: Giá phí hữu hình- Giá phí thực tế. Từ ngữ dùng trong lãnh vực khoan dầu và gas có nghĩa là giá phí của những hạng mục có thể sử dụng qua một thời gian như: các túi dầu (casings), các thiết bị lắp ráp tốt, đất đai, bể chứa, nó khác với giá phí vô hình như khoan dầu, thử nghiệm và chi phí địa chất. Trong thoả thuận phân chia thành viên góp vốn trách nhiệm hữu hạn (limited partnership) được mọi người sử dụng thì giá phí hữu hình do giám đốc thành viên gánh vác còn giá phí vô hình thì do thành viên chịu, thường thường được thực hiện nhằm mục đích giảm thuế. Tuy nhiên trong trường hợp giếng dầu cạn, tất cả trở thành giá phí vô hình. Xem Intangible Cost. TANGIBLE NET WORTH: Trị giá thuần hữu hình. Tổng số tài sản trừ đi tài sản vô hình và tổng số nợ, nó còn được gọi là tài sản hữu hình thuần (net tangble asset). Tài sản vô hình bao gồm các lợi ích không cụ thể như danh tiếng, bản quyền, quyền sao chép, và nhãn hiệu cầu chứng. TAP STOCK: Trái phiếu viền vàng (cấp cao) dưới mức đăng ký mua. Trái phiếu này được bán trong thị trường mở rộng, nó có thể ngắn hạn (short taps) hay dài hạn (long taps). Nó còn được gọi là undersubscripbed gilts. TAPE: Băng truyền thông tin. 1. Dịch vụ báo cáo giá cả và mức độ các vụ giao dịch trên các thị trường chính. Nó còn được gọi là băng truyền thông tổng hợp (composite tape) hay ticker tape (băng điện báo) (bởi vì âm thanh phát ra khi máy in vào băng trước khi xử lý tính toán). 2. Dịch vụ truyền thông của Dow Jones và mạng điện thoại điện toán khác, thường được gọi là Broad Tape. Xem Consolidate Tape. TARGET BALANCE: Số cân đối có mục đích. Số cân đối đạt tiêu chuẩn để được miễn lệ phí. Số cân đối mong muốn trong tài khoản ký thác để có đủ các tiêu chuẩn tối thiểu đạt được lợi nhuận, hay hoa lợi huề vốn (break-even yield). Có nhiều loại công thức để định giá tài khoản ký thác có khả năng trang trải phí dịch vụ. Nếu tài khoản chi phiếu được định giá riêng ra khỏi các tài khoản ký thác khác, thì ngân hàng có thể khẳng định rằng khách hàng nào giữ được số cân đối tối thiểu trong tài khoản thường xuyên thì có đủ điều kiện để miễn lệ phí viết chi phiếu. Ngân hàng cũng có thể miễn phí dịch vụ cho khách hàng nào có số cân đối tài khoản tiết kiệm cao. Thí dụ như chứng chỉ thị trường tiền tệ ngắn hạn, kết hợp với các tài sản được lưu giữ ký thác, số cân đối bù đắp do một công ty giữ có giá trị cao hơn mức ấn định. TARGET COMPANY: Công ty mục tiêu của sự tiếp quản. Công ty được chọn là mục tiêu hấp dẫn để tiếp thu. Người thụ đắc (người tiếp quản) trong tương lai có thể mua hơn 5% chứng khoán của công ty sẽ bị tiếp quản mà không thông báo ra công chúng, nhưng họ phải báo cáo tất cả các vụ giao dịch mua bán và cung cấp các thông tin khác cho nhà nước, cho thị trường nơi công ty bị tiếp quản có liệt kê, và cho chính công ty mục tiêu tiếp quản một khi đã thụ đắc hơn 5%. Xem Stockhold Purchase, Schedule 13D, Sleeping Beauty, Tender Offer, William Act. TARGET PRICE: Giá để tiếp quản; giá có lời.
  5. Tài chánh: giá theo đó nhà tiếp quản (acquirer-người thụ đắc) nhắm vào để mua một công ty trong hoạt động tiếm quyền (takeover). Hợp đồng options: giá của chứng khoán cơ sở mà sau đó một hợp đồng option sẽ trở nên có lợi cho người mua nó. Thí dụ, người nào đó mua một hợp đồng call option của công ty XYZ, giá điểm $50 (XYZ call 50) với phí mua option là $200 có thể được giá có lợi (giá đạt được mục tiêu kiếm lời-target price) là $52, sau giá này người ta có thể bù lại phí mua option (premium) đã trả cho người bán và hợp đồng call option sẽ có lời khi thực hiện. Chứng khoán: giá mà nhà đầu tư hy vọng chứng khoán mà ông ta vừa mới mua sẽ tăng lên trong một thời khoảng ấn định. Nhà đầu tư có thể mua chứng khoán công ty XYZ là $20 thì giá có lời (target price) có thể là $40 trong vòng một năm. TARGET RATE: Tỷ lệ có mục đích. 1. Tỷ lệ do uỷ ban tài sản- nợ của ngân hàng thiết lập, là mục tiêu mong muốn để tái định giá số ký thác hay tiền cho vay đang đáo hạn. 2. Tỷ lệ lợi nhuận nội tại còn được gọi là tỷ lệ rào cản (hurdle rate- tỷ lệ lợi nhuận tối thiểu) trong việc lập ngân quỹ vốn. TARIFF: Quan thuế biểu, thuế biểu. 1. Thuế nhà nước đánh trên xuất khẩu và nhập khẩu, thường là để tăng doanh thu (gọi là quan thuế biểu doanh thu- revenue tariff), hay để bảo vệ các công ty nội địa chống lại sự cạnh tranh nhập khẩu (gọi là hàng rào quan thuế biểu- protective tariff- quan thuế biểu bảo vệ). Quan thuế biểu cũng có thể được thiết lập để điều chỉnh lại sự mất cân đối chi trả. Tiền thu được bằng quan thuế biểu được gọi là duty hay customs duty (thuế hải quan). 2. Biểu thuế hay biểu phí thường dùng cho hàng hoá vận chuyển. TAX ABATEMENT: Giảm thuế. Chánh quyền đô thị hay khu vực giảm thuế bất động sản tính theo trị giá (ad valorem) lý do là vì vùng đó đang ở trong tình trạng đặc biệt như bị thiên tai hay vì lý do khác. TAX AND LOAN ACCOUNT: Tài khoản thuế và cho vay (ở Hoa Kỳ). Tài khoản trong tổ chức ký thác khu vực tư nhân, dưới danh nghĩa của ngân hàng dự trữ liên bang cùng với tư cách là cơ quan tài chánh của Hoa Kỳ, phục vụ như một kho chứa tiền mặt lưu động sẵn sàng cho ngân khố Hoa Kỳ. Số thuế lợi tức thu được, số đóng góp của người chủ vào quỹ bảo hiểm xã hội và số chi trả chứng khoán nhà nước Hoa Kỳ theo thường lệ, đều nhập vào tài khoản thuế và cho vay. TAX AND REVENUE ANTICIPATION NOTE (TRAN): Giấy nợ trả trước thuế và doanh thu. Đây là trái phiếu nợ ngắn hạn của đô thị. Xem Tax Anticipation Note. TAX ANTICIPATION BILL (TAB): Công phiếu ngắn hạn trả thuế trước, dự phòng thuế. Cam kết nợ ngắn hạn do ngân khố đưa ra trong đấu thầu có cạnh tranh với khung đáo hạn từ 23 đến 273 ngày. Tiêu biểu thì TAB đáo hạn trong vòng từ 5 đến 7 ngày sau ngày đáo hạn hàng quý số chi trả thuế của công ty nhưng các công ty có thể bỏ thầu theo mệnh giá theo thời hạn cuối cùng của thuế trong việc chi trả thuế mà không làm thiệt thòi quyền lợi về lợi tức. Sau này, TAB đã được bổ sung bằng công phiếu ngắn hạn quản lý tiền mặt (cash management bills), đáo hạn từ 30 ngày trở xuống và được phát hành từng khối có giá trị tối thiểu 10 triệu dollars. Các công cụ này được định thời điểm trùng khớp với ngày đáo hạn của các trái phiếu đang lưu hành, cung cấp thêm cho ngân khố khả năng
  6. linh động trong việc quản lý tiền mặt trong khi giúp đỡ một số lớn nhà đầu tư đầu tư an toàn vào các quỹ đầu tư tạm thời. TAX ANTICIPATION NOTE (TAN): Giấy nợ dự phòng thuế. Cam kết nợ ngắn hạn của nhà nước hay chính quyền đô thị nhằm tài trợ cho chi phí tiêu dùng hiện hành trong khi chờ đợi số tiền thuế sẽ nhận được. TAN sẽ rải đều lượng tiền mặt và được thu hồi một khi nhận được doanh thu thuế cá nhân và công ty. TAX AVOIDANCE: Tránh thuế. Dùng các phương tiện hợp pháp để giảm nợ thuế. Hoạch định cách đóng thuế hay dùng cách ẩn thuế là những công cụ tránh thuế được phép. (Tax planning and Tax shelters). TAX BASIS: Căn bản tính thuế. Tài chánh: phí gốc của một tài sản trừ đi khấu hao tích luỹ sau đó sẽ tính lời hay lỗ để tính thuế. Vì thế một tài sản thụ đắc giá $100.000 được khấu hao khoảng $40.000 thì sẽ có thuế căn bản dựa trên $60.000 với giả định là không có một điều chỉnh nào ; số bán tài sản đó được $120.000 thì vẫn chịu thuế tư bản kiếm được dựa trên $60.000 Đầu tư: giá theo đó người ta mua chứng khoán hay trái phiếu cộng với hoa hồng của công ty môi giới. Luật quy định rằng chênh lệch giá (premium) trả cho việc mua một công cụ đầu tư thì được trả dần. TAX BRACKETTAX AND REVENUE ANTICIPATION NOTE (TRAN): Giấy nợ trả trước thuế và doanh thu. Đây là trái phiếu nợ ngắn hạn của đô thị. Xem Tax Anticipation Note. TAX ANTICIPATION BILL (TAB): Công phiếu ngắn hạn trả thuế trước, dự phòng thuế. Cam kết nợ ngắn hạn do ngân khố đưa ra trong đấu thầu có cạnh tranh với khung đáo hạn từ 23 đến 273 ngày. Tiêu biểu thì TAB đáo hạn trong vòng từ 5 đến 7 ngày sau ngày đáo hạn hàng quý số chi trả thuế của công ty nhưng các công ty có thể bỏ thầu theo mệnh giá theo thời hạn cuối cùng của thuế trong việc chi trả thuế mà không làm thiệt thòi quyền lợi về lợi tức. Sau này, TAB đã được bổ sung bằng công phiếu ngắn hạn quản lý tiền mặt (cash management bills), đáo hạn từ 30 ngày trở xuống và được phát hành từng khối có giá trị tối thiểu 10 triệu dollars. Các công cụ này được định thời điểm trùng khớp với ngày đáo hạn của các trái phiếu đang lưu hành, cung cấp thêm cho ngân khố khả năng linh động trong việc quản lý tiền mặt trong khi giúp đỡ một số lớn nhà đầu tư đầu tư an toàn vào các quỹ đầu tư tạm thời. TAX ANTICIPATION NOTE (TAN): Giấy nợ dự phòng thuế. Cam kết nợ ngắn hạn của nhà nước hay chính quyền đô thị nhằm tài trợ cho chi phí tiêu dùng hiện hành trong khi chờ đợi số tiền thuế sẽ nhận được. TAN sẽ rải đều lượng tiền mặt và được thu hồi một khi nhận được doanh thu thuế cá nhân và công ty. TAX AVOIDANCE: Tránh thuế. Dùng các phương tiện hợp pháp để giảm nợ thuế. Hoạch định cách đóng thuế hay dùng cách ẩn thuế là những công cụ tránh thuế được phép. (Tax planning and Tax shelters). TAX BASIS: Căn bản tính thuế. Tài chánh: phí gốc của một tài sản trừ đi khấu hao tích luỹ sau đó sẽ tính lời hay lỗ để tính thuế. Vì thế một tài sản thụ đắc giá $100.000 được khấu hao khoảng $40.000 thì sẽ có thuế căn bản dựa trên $60.000 với giả định là không có một điều chỉnh nào ; số bán tài sản đó được $120.000 thì vẫn chịu thuế tư bản kiếm được dựa trên $60.000
  7. Đầu tư: giá theo đó người ta mua chứng khoán hay trái phiếu cộng với hoa hồng của công ty môi giới. Luật quy định rằng chênh lệch giá (premium) trả cho việc mua một công cụ đầu tư thì được trả dần. TAX BRACKET: Khung thuế. Điểm trên biểu thuế suất lợi tức nơi lợi tức có thuế hạ, nó còn được gọi là khung thuế biên tế (marginal tax bracket - khung thuế tăng theo số tiền kiếm thêm). Nó được tính bằng số phần trăm áp dụng cho số tiền kiếm thêm vượt ra ngoài số căn bản trong khung thuế đó. Theo hệ thống thuế tăng dần theo lợi tức (progressive tax), việc tăng lên của số lợi tức có thuế đưa đến thuế biên tế cao hơn theo hình thức các khung thuế ở mức cao hơn. TAX CLEARANCE: Khoảng trống của thuế - Khe hở của thuế. ý kiến tư vấn của cơ quan thuế cho biết một hoạt động hay giao dịch ấn định nào đó sẽ không tạo ra nợ thuế (trách nhiệm về thuế). TAX CREDIT: Tín dụng thuế. Trực tiếp giảm theo số tiền trong nợ thuế, khác với khấu trừ thuế là loại giảm thuế chỉ tính theo phần trăm của khung thuế của người đóng thuế. (Thí dụ, người đóng thuế trong khung thuế 31% sẽ nhận được 31 xu cho mỗi khấu trừ $1 dollar). Trong trường hợp tín dụng thuế, người đóng thuế nợ $10.000 tiền thuế sẽ nợ $9.000 nếu như ông ta được hưởng tín dụng thuế $1.000. Theo một vài điều khoản, những tín dụng thuế được cấp cho người hồi hưu trên 65 tuổi, thuế lợi tức trả cho nước ngoài, chi phí chăm sóc trẻ em, phục hồi tài sản lịch sử nổi tiếng, hướng dẫn nghiên cứu và phát triển, xây dựng nhà cho người có lợi tức thấp, cung cấp việc làm cho những người không có điều kiện kinh tế (những người kém kinh tế). TAX-DEDUCTIBLE INTEREST: Tiền lãi có thể khấu trừ vào thuế. 1. Số chi trả lãi trên tiền vay thế chấp lần thứ nhất, mức tín dụng trên vốn nhà và tiền vay thế chấp lần thứ hai phụ thuộc vào vốn - giá mua gốc của người vay cộng với chi phí sửa chữa. Tiền vay vốn được lấy ra để dùng vào y tế hay học hành không lệ thuộc vào những giới hạn này. 2. Số chi trả lãi của người tiêu thụ. TAX DEFERRED: Thuế được hoãn. Từ ngữ diễn tả một vụ đầu tư có lợi nhuận tích luỹ (lợi nhuận thu dần dần) được miễn thuế cho đến lúc nào nhà đầu tư thực hiện cụ thể quyền sở hữu chúng (lấy lợi nhuận ra). Thí dụ, người có tài khoản hưu trí cá nhân được hoãn chi trả thuế trên số tiền lãi, cổ tức, tư bản tăng giá, nếu ông ta chờ cho đến sau 59 1/2 tuổi mới nhận số tiền này. Các loại công cụ đầu tư được hoãn thuế bao gồm : kế hoạch Keogh, trợ cấp hàng năm, bảo hiểm nhân thọ có thể thay đổi (variable life insurance), bảo hiểm suốt đời, hợp đồng bảo hiểm nhân thọ phổ thông, mua chứng khoán cho công nhân hay kế hoạch tái đầu tư cổ tức và loạt trái phiếu tiết kiệm EE và HH của Hoa Kỳ. TAX-DEFERRED ANNUITY: Trợ cấp hàng năm được hoãn thuế. Phương tiện đầu tư thường được dùng để tạo lợi tức cho người hưu trí, thường được bán thông qua công ty bảo hiểm, kế hoạch trợ cấp hàng năm chi trả một tỷ lệ lợi nhuận có đảm bảo và số tiền đầu tư vào kế hoạch này được miễn thuế nhà nước cho đến khi hưu trí. Kế hoạch trợ cấp hàng năm có thể là loại chi trả một lần hay nhiều lần và có thể được sắp xếp để trả cho người thừa hưởng còn sống theo sự chỉ định của người giữ hợp đồng. TAX-DEFFERED SAVINGS: Số tiết kiệm được hoãn thuế. Kế hoạch tiết kiệm hay đầu
  8. tư cho phép cá nhân để riêng ra một phần lợi tức hiện hành trong kế hoạch tiết kiệm đã định, và được hoãn chi trả thuế lợi tức trên số vốn và tiền lãi kiếm được. Tài khoản hưu trí cá nhân (individual retirement account - IRA) cho phép cá nhân có tổng lợi tức hàng năm là bao nhiêu thì được để riêng biệt một số lợi tức ấn định hàng năm vào tài khoản tiết kiệm hay đầu tư và sẽ rút tiền ra vào lúc được 59 1/2 tuổi. Số tiền rút ở tài khoản sẽ được tính thuế theo thuế suất ban đầu. Xem All Savers Certificate. TAX EVASION: Trốn thuế. Sử dụng các phương tiện bất hợp pháp để giảm nợ thuế. Lẩn tránh thuế thường liên quan đến việc không công bố rõ ràng lợi tức và nộp tờ khai thuế không đúng sự thật. Người trốn thuế sẽ bị phạt hành chánh hay hình sự. TAX-FREE ROLLOVER: Số mang sang được miễn thuế. Tái đầu tư tài khoản tiết kiệm đã được hoãn thuế như tài khoản hưu trí cá nhân (IRA - Individual Retirement Account). Nhà nước có quy định trong vòng bao nhiêu ngày thì được tái đầu tư mà không bị phạt. Số nào không tái đầu tư thì phải chịu phạt theo tỷ lệ nhà nước ấn định. TAX-EXEMPT MONEY MARKET FUND: Quỹ thị trường tiền tệ ngắn hạn được miễn thuế. Quỹ thị trường tiền tệ ngắn hạn được đầu tư vào trái phiếu đô thị ngắn hạn, các trái phiếu này được miễn thuế và vì thế phân phối lợi tức miễn thuế cho cổ đông. Các quỹ này chi trả lợi tức thấp hơn quỹ có thuế và phải được định giá trên căn bản sau khi đóng thuế. TAX-EXEMPT SECURITY: Trái phiếu được miễn thuế. Cam kết nợ có tiền lãi được miễn thuế nhà nước. Nó thường được gọi là trái phiếu đô thị (hay đơn giản là Municipal) dù là nó có thể do nhà nước, một cơ quan, quận, thị xã hay các khu vực, phân khu chính trị phát hành. Trái phiếu được Full Faith And Credit bảo trợ (trái phiếu được chi trả bằng tiền thu thuế, số vay mượn và các doanh thu khác- có nghĩa là rất đảm bảo) hay do doanh thu trước của cơ quan phát hành bảo đảm. ở Hoa Kỳ lợi tức có từ loại trái phiếu đô thị được miễn thuế này thì được miễn thuế lợi tức liên bang cũng như miễn thuế trong phạm vi quyền hạn nơi trái phiếu phát hành. Vì thế, cam kết nợ của thành phố New York được miễn thuế 3 lần (triple tax-exempt) đối với cư dân thành phố có lợi tức bị chịu thuế liên bang, tiểu bang và địa phương. (Không ai trong số cư dân mà không phải chịu thuế đô thị ngoại trừ trái phiếu được miễn thuế). (ở Hoa Kỳ) quỹ hỗ tương đầu tư (mutual funds) đầu tư riêng về trái phiếu miễn thuế chuyển giao phần thuận lợi về thuế này cho cổ đông. Tuy nhiên, trong khi cổ tức của quỹ được hoàn toàn miễn thuế trong bảng khai thuế Liên bang của cổ đông thì họ chỉ được miễn thuế lợi tức của tiểu bang một phần đối với số lợi tức bắt nguồn từ tiểu bang nơi ở của người đóng thuế (taxpayer's home state), giả định rằng không có các thoả thuận liên tiểu bang dành riêng được nói đến. Lợi nhuận từ nhà đầu tư có từ trái phiếu được miễn thuế thì thấp hơn trái phiếu công ty, bởi vì số miễn thuế đã là số bù đắp thêm. Khung thuế của nhà đầu tư cao chừng nào thì sự chọn lựa loại miễn thuế càng trở nên hấp dẫn hơn. Hoa lợi trái phiếu đô thị thay đổi tuỳ theo các nhân tố kinh tế địa phương, khả năng nhận thức của nhà phát hành khi chi trả và mức đánh giá chất lượng chứng khoán do một trong cơ quan đánh giá thiết lập. Xem: Moral Obligation Bond. TAX HAVEN: Nơi ẩn trú thuế. Quốc gia hay vương quốc có thuế suất thấp. Các công ty nước ngoài sẽ thiết lập cơ sở ở đây để tiết kiệm được thuế. Bahamas, quần đảo Cayman, Liechtenstein là những nơi ẩn trú thuế nổi tiếng.
  9. TAX HOLIDAY: Khoảng thời gian được miễn thuế. Một thời khoảng giới hạn trong việc miễn thuế dành cho các xí nghiệp tiên phong. Khoảng thời gian dùng để miễn thuế này dùng để lôi cuốn đầu tư trong các ngành có giá trị cao. TAX INVOICE: Bản kê khai hàng hoá có thuế. Bản kê khai hàng hoá do người bán có đăng kí xuất ra để thu thuế trị giá gia tăng (Value- added taxes-VAT). Bản kê khai hàng hoá (hoá đơn hàng hoá) cho biết giá mua hàng hoá hoặc dịch vụ và thuế tăng thu đánh trên hàng hoá đó, nó được người mua dùng để khai số giảm trừ thuế đầu vào từ số VAT. TAX LIEN: Quyền giữ tài sản vì lý do thuế. Quyền giữ tài sản bắt buộc vì không trả thuế lợi tức hay thuế tài sản. Quyền giữ tài sản vì thuế ưu tiên hơn quyền giữ tài sản của ngân hàng để bảo đảm với cùng tài sản đó, đặt người cho vay vào vị thế thấp hơn để có thể thu nợ của người vay đã trễ hạn mà người này cũng là người đang nợ thuế. TAX LOSS CARRYBACK, CARRY FORWARD: Mang lui thua lỗ, mang sang thua lỗ để giảm thuế. Trong thuế có một thuận lợi là nó cho phép một công ty hay cá nhân được dùng số thua lỗ để giảm số nợ thuế. Công ty có thể bù đắp vốn năm hiện hành hay thua lỗ hoạt động thuần (net operating losses) dựa trên lợi nhuận trong 3 năm ngay trước đó, với năm đầu tiên gần nhất. Sau khi mang lui, nó có thể mang sang (còn gọi là carryover) số thua lỗ vốn 5 năm và số thua lỗ hoạt động thuần lên tới 15 năm. Sau đó nó sẽ xem như đã phục hồi lại sức tài chánh. Các cá nhân có thể mang sang thua lỗ vốn cho đến khi họ sử dụng hết số năm không giới hạn để bù đắp (thay cho) tư bản kiếm được. Tuy nhiên, không giống như công ty, cá nhân thường không thể mang lui thua lỗ để áp dụng vào bản khai thuế năm trước. Đạo luật nhà nước kiềm chế mua đứt (buyout- mua một số phần trăm quyền kiểm soát công ty) vì động cơ thuế bằng cách giới hạn việc sử dụng NOL khi một công ty bị thua lỗ đã có quyền sở hữu thay đổi từ 50% trở lên trong thời gian 3 năm. Có một số điều khoản trong luật lệ phức hợp nói về việc mang lui thua lỗ trong giao dịch mua bán các hợp đồng futures hàng hoá. TAX OPINION: ý kiến về thuế ý kiến hợp pháp của luật sư về thuế của nhà phát hành trái phiếu tuyên bố (để tính thuế nhà nước) rằng cam kết nợ có thế chấp được bảo đảm (CMO- Collateralized Mortgage Obligation) sẽ được người giữ nó xử lý như thế nào. Trong lãnh vực trái phiếu đô thị, ý kiến về thuế cũng nói rằng trái phiếu tuân thủ theo quy chế nhà nước sẽ được miễn thuế lợi tức nhà nước trên số tiền lãi của trái phiếu. TAX-ORIENTED LEASE: Hợp đồng cho thuê nghiêng lợi thế về thuế. Xem True Lease. Tax planning: Hoạch định về thuế. Tối thiểu hoá nợ thuế thông qua việc hoạch định tài chánh cá nhân, đầu tư vào các vụ đầu tư được hoãn thuế, trái phiếu miễn thuế hoặc tìm cách tránh thuế cho tư bản kiếm được trong phần đầu tư thụ động như uỷ thác bất động sản. Nó khác với trốn thuế (tax evasion) là cố tình không trả thuế đã nợ. TAX PREFERENCE ITEMS: Hạng mục thuế ưu đãi. Hạng mục được luật thuế xác định rằng người đóng thuế phải tính vào khi tính toán thuế tối thiểu có lựa chọn (AMT- Alternative Minium Tax). Theo đạo luật nhà nước các hạng mục ưu đãi bao gồm: 100% trị giá thua lỗ thụ động thuần (net passive losses) (có nghĩa là không có giao dịch mua bán quyền lợi mà theo luật thông thường cho phép đối với quyền lợi đã có trước khi thông qua); lợi ích từ khấu hao tích luỹ (được tính theo nhiều cách khác nhau đối với tài sản cá nhân hay tài sản thực); vài giá phí vô hình nào đó, số thặng dư của trị giá thị trường công bằng vào thời điểm thực hiện đối với giá phí Option của hợp đồng Option
  10. chứng khoán tặng thưởng (incentive stock options); tiền lãi được miễn thuế trên trái phiếu vì mục đích riêng (private purpose bonds) của chính quyền đô thị phát hành và số trị giá gia tăng không tính thuế của tài sản được đóng góp vào các việc từ thiện. Các ưu đãi cho công ty thường giống như của cá nhân nhưng có thêm: chi phí tăng số dự trữ nợ khó đòi khi chúng vượt quá mức kinh nghiệm thực tế (có thể áp dụng cho các ngân hàng nhỏ và các tổ chức tài chánh khác), số lợi nhuận căn cứ trên số phần trăm hoàn tất kết toán đối với các hợp đồng dài hạn được thực hiện, tiền kiếm được do bố trí tài sản người buôn bán trong năm có bố trí (ngược lại với phương pháp kế toán trả dần- và trị giá tương đương 50% chênh lệch giữa lợi tức trong sổ sách công ty và nợ thuế tối thiểu có lựa chọn (AMT- Alternative minium tax). Ưu đãi sau cùng là nhằm vào lợi nhuận báo cáo đến cổ đông nhưng không đánh thuế thường xuyên. TAX RETURN: Tờ khai thuế. Tờ khai do người đóng thuế soạn để liệt kê từng mục lợi tức và chi phí trong thời khoảng thuế ấn định. Việc định thuế dựa trên các thông tin trong tờ khai. TAX SELLING: Bán để được trừ thuế. Bán các chứng khoán, thường vào cuối năm, để bù đắp thua lỗ trong danh mục đầu tư, nó có thể dùng để bù đắp vào tư bản kiếm được và do đó hạ thấp số nợ thuế của nhà đầu tư. Xem: Long Term Gain, Long Term Loss, Selling Short Againts The Box, Short Term Gain or Loss, Swap, Thirty-day Wash Rule. TAX SHELTER: Nơi tránh thuế- Chỗ dựa để tránh thuế. Phương pháp do nhà đầu tư sử dụng để tránh hay giảm nợ thuế một cách hợp pháp. Chỗ dựa tránh thuế hợp pháp bao gồm những phương thức sử dụng khấu hao tài sản như bất động sản hoặc trang thiết bị, trợ cấp cạn kiệt trong việc khai thác dầu hoả và gas. Góp vốn trách nhiệm hữu hạn theo thông lệ cũng là cách giúp cho nhà đầu tư hạn chế nợ và thuế bao gồm thua lỗ hoạt động "chảy qua" (flow through) có thể dùng để bù đắp lợi nhuận từ các nguồn khác. Đạo luật nhà nước đã hạn chế việc này bằng cách quy định rằng thua lỗ thụ động chỉ có thể bù đắp cho lợi tức thụ động (passive income- lợi nhuận của người không tham gia trực tiếp đầu tư), bằng cách kéo dài thời biểu khấu hao, mở rộng các luật lệ về chứng minh rõ ràng rủi ro (at risk) để kể thêm các đầu tư về bất động sản. Các công cụ cho phép phát triển vốn được hoãn thuế như IRA (tài khoản hưu trí cá nhân- individual retirement account) và kế hoạch Keogh (nó cũng cho khấu trừ thuế hiện hành đối với người đóng thuế có đủ tiêu chuẩn), kế hoạch khấu trừ lương, bảo hiểm nhân thọ đóng phí một lần một (single premium life insurance), cũng là những nơi tránh thuế phổ biến như là trái phiếu đô thị được miễn thuế. TAX SPARING: Thời gian tiết kiệm được thuế. Một loại Tax Holiday (khoảng thời gian được miễn thuế), thường thường được quốc gia đưa ra như một phần ưu đãi đầu tư. Khoảng thời gian của Tax Holiday có thể vô hạn, kéo dài suốt thời gian hoạt động của xí nghiệp hoặc cho đến khi được huỷ bỏ. TAX STRADDLES: Mua bán hàng hai để tránh thuế. Kỹ thuật theo đó hợp đồng options hay futures được dùng để loại bỏ rủi ro kinh tế trong khi vẫn tạo ra một vị thế thuận lợi về thuế. Cách thông dụng nhất là nhà đầu tư có tư bản kiếm được sẽ phải chiếm một vị thế tạo ra một bù đắp thua lỗ "nhân tạo" (giả tạo) trong năm thuế hiện hành và trì hoãn lợi nhuận cho đến năm thuế sau. Đạo luật nhà nước dần dần loại bỏ việc này bằng cách quy định những người buôn bán điều chỉnh trị giá theo thị trường (mark to the market)vào
  11. cuối năm và phải kể thêm lợi nhuận chưa hiện thực vào lợi tức có thể chịu thuế. Đạo luật nhà nước đề xuất một thay đổi theo đó có một ngoại lệ cho người viết (bán) hợp đồng Call Options có bảo kê bị phủ nhận nếu người đóng thuế không giữ được hợp đồng call option trong vòng 30 ngày sau khi chứng khoán có liên hệ bị thua lỗ, hoặc là nếu cuối cùng có lợi nhuận hay có sắp xếp lại hợp đồng Option thì được đưa vào năm tới. TAX SWAP: Chuyển đổi thuế. Xem Bond Swap. TAX UMBRELLA: Chiếc dù thuế- Che thuế. Số lỗ thuế được mang sang, xuất phát từ các thua lỗ của công ty trong những năm qua, nó bảo vệ (che chắn) lợi nhuận trong năm hiện hành hay những năm kế tiếp khỏi bị đóng thuế. Xem: Tax Loss Carryback, Carryforward. TAXABILITY: Khả năng có thể bị đánh thuế. Rủi ro của lợi tức đầu tư bị xói mòn vì phải chịu thuế. TAXABLE EQUIVALENT YIELD: Hoa lợi tương đương có thuế. Tổng số lợi tức, kể cả lợi tức kiếm được trên số trái phiếu được miễn thuế (trái phiếu đô thị). Lợi tức không thuế được tính lại này là lợi tức kiếm được trong danh mục đầu tư trên căn bản là có thể so sánh với lợi tức có thuế trước khi thực sự trả bất cứ thuế nào. TAXABLE ESTATE: Tài sản (bất động sản) có thuế. Một phần tài sản thừa hưởng phải chịu thuế tài sản sau khi khấu trừ các chi phí được cho phép đã phải gánh chịu khi thanh lý tài sản, kể cả chi phí làm đám tang, thuế còn nợ, các khoản khấu trừ về hôn nhân, từ thiện. TAXABLE INCOME: Lợi tức có thuế. Số lợi tức (sau khi trừ đi các khoản khấu trừ được cho phép và các điều chỉnh lợi tức) phải chịu thuế. Trong bản khai thuế lợi tức nhà nước của một cá nhân, lợi tức có thuế là tổng lợi tức đã điều chỉnh (tổng số tiền lương công nhân, nhân viên, cổ tức tiền lãi, tư bản kiếm được, lợi tức kinh doanh v.v...trừ đi số điều chỉnh của phần đóng góp vào tài khoản hưu trí cá nhân, chi phí vận chuyển, chi phí kinh doanh chưa trả), trừ đi các khoản khấu trừ đã liệt kê hay các khoản khấu trừ tiêu chuẩn và tổng số miễn thuế cá nhân. Một khi đã biết số lợi tức có thuế, cá nhân người đóng thuế sẽ tìm tổng số thuế lợi tức phải đóng để biết khung thuế của ông ta, bằng cách soát lại trong bảng thuế nhà nước hay bằng cách tính thuế theo bảng thuế suất. Tín dụng thuế giảm nợ thuế theo đơn vị tiền, lợi tức thuần của một cá nhân làm việc cho chính mình (tự làm chủ - self proprietorship) và các khoản đóng góp vào thành viên góp vốn được tính trong tổng lợi tức đã điều chỉnh và vì thế là loại lợi tức có thuế do đó phải làm tờ khai thuế cá nhân. Lợi tức có thuế của một liên doanh còn gọi là lợi tức thuần trước khi đóng thuế (net income before taxes) bao gồm tổng doanh thu trừ phí hàng hoá đã bán, chi phí bán và quản lý, tiền lãi và các hạng mục bất thường khác. TAXABLE MUNICIPAL BOND: Trái phiếu đô thị có thuế (ở Hoa Kỳ). Cam kết có thuế của nhà nước hay một thực thể nhà nước địa phương, đây là một phát sinh khác của đạo luật Tax Reform Act of 1986 (đạo luật giới hạn việc phát hành các trái phiếu được miễn thuế như thông lệ). Trái phiếu đô thị có thuế được phát hành như loại trái phiếu có mục đích riêng (private purpose bond) nhằm tài trợ cho các dự án bị hạn chế như sân vận động thể thao, như trái phiếu doanh thu đô thị có nguồn thu (caps apply), như trái phiếu có mục đích chung (public purpose bonds) khi vượt quá giới hạn 10% phục vụ cho mục đích riêng.
  12. TAXPAYER IDENTIFICATION NUMBER (TIN): Số chứng minh của người đóng thuế (ở Hoa Kỳ). Số chứng minh IRS cần có trước khi mở những tài khoản. Đối với cá nhân hay người chủ thì số thuế là số an toàn xã hội của cá nhân. Số chứng minh thuế doanh nghiệp là số chứng minh của người chủ. TEAR SHEET: Tờ xé rời. Tờ giấy lấy từ một trong các sổ rời (loose-leaf book : sổ gồm các giấy rời) tập trung các báo cáo chứng khoán của S&P. Tờ này cung cấp các dữ kiện tài chánh và bối cảnh cơ bản của hơn 4.000 công ty. Broker thường xé rời tờ này và gửi cho khách hàng (do đó mới có tên tờ xé rời). TEASER RATE: Lãi suất như đùa. 1. Lãi suất ban đầu của tiền vay có thế chấp mà người cho vay tính với tiền vay có thế chấp có lãi suất điều chỉnh (adjustable rate mortgage). Lãi suất này ít hơn lãi suất tính với tiền vay có thế chấp lãi suất cố định theo tiêu chuẩn và còn thấp hơn lãi suất theo chỉ số đầy đủ tính trên tiền vay có thế chấp với lãi suất điều chỉnh . Đến lượt số chi trả thấp này sẽ làm cho việc tài trợ tiền vay có thế chấp càng thuận lợi hơn cho nhiều người sắp sửa mua nhà. Lãi suất được định lại theo lãi suất thị trường sau một thời khoảng vài tháng đến một năm. 2. Lãi suất ban đầu cao được đề nghị với người ký thác đầu tư trong tài khoản tiết kiệm chi trả theo lãi suất thị trường tiền tệ ngắn hạn. Khi tài khoản ký thác theo thị trường tiền tệ ngắn hạn (money market deposit account - MMDA) được giới thiệu với công chúng, một vài ngân hàng đã đề nghị lãi suất cao đến 21% thông qua hợp đồng mua lại và đã được chuyển vào MMDA khi tài khoản có lãi suất cao này trở thành hợp pháp. TECHNICAL ANALYSIS: Phân tích kỹ thuật. Nghiên cứu số cùng và cầu chứng khoán và hàng hoá dựa trên các nghiên cứu số lượng và giá cả. Nhà phân tích dùng các biểu đồ hay chương trình vi tính để nhận dạng và lập kế hoạch chiều hướng giá trong thị trường, chứng khoán, hay hàng hoá tương lai. Hầu hết các phân tích được thực hiện để phân tích ngắn và trung hạn, nhưng một vài nhà phân tích cũng tiên đoán các chu kỳ dài hạn dựa trên biểu đồ và các dữ kiện khác. Không giống nhà phân tích cơ bản, nhà phân tích kỹ thuật không quan tâm đến vị thế tài chánh của công ty. TECHNICAL RALLY: Phục hồi có tính kỹ thuật. Giá hợp đồng futures hàng hoá hay chứng khoán tăng nhẹ trong chiều hướng tổng quát đang giảm. Việc phục hồi như thế có thể xảy ra bởi vì nhà đầu tư đang săn lùng các giao kèo hay vì nhà phân tích đã lưu ý ta về một mức giá đỡ (support level) đặc biệt nào đó, ở mức này chứng khoán sẽ nảy lên (tăng lên). Tuy nhiên phục hồi có tính kỹ thuật không kéo dài và ngay sau đó giá lại tiếp tục sụt giảm. TECHNICAL SIGN: Dấu hiệu có tính kỹ thuật. Chiều hướng ngắn hạn mà nhà phân tích kỹ thuật có thể xác định là rất quan trọng trong chuyển biến giá cả chứng khoán hay hàng hoá. Xem : Technical Analysis. TECHNOLOGY TRANSFER: Chuyển giao kỹ thuật. Tiến trình chia sẻ kiến thức và kỹ năng kỹ thuật đạt được do nghiên cứu và triển khai, thường thông qua giấy phép bản quyền hay thông qua thoả thuận liên doanh. Trong ngoại thương, chuyển giao kỹ thuật thì được cho rằng có giá trị hơn là đầu tư tư bản nước ngoài vì lúc đó chúng ta không thể không học hỏi về kỹ thuật. TELEPHONE BILL PAYMENT: Chi trả hoá đơn qua điện thoại. Dịch vụ ngân hàng
  13. cho phép khách hàng chi trả thương phiếu (merchant bill), xác minh số cân đối tài khoản, chuyển ngân quỹ giữa các tài khoản bằng lời nói chỉ thị đến đại diện dịch vụ của khách hàng hoặc là dùng điện thoại trực tiếp. Nó còn được gọi Bank-by-phone hay pay-by- phone trong lãnh vực dịch vụ tài chánh, chi trả hoá đơn bằng điện thoại hấp dẫn một số nhỏ khách hàng ruột (trung thành) nhưng không hấp dẫn nhiều người sử dụng phần lớn là vì nó giới hạn số chi trả hoá đơn và số chuyển ngân quỹ. Ngoài ra hầu hết các khách hàng không xem việc chi trả hoá đơn bằng chi phiếu là bất tiện. Chi trả hoá đơn bằng điện thoại rất phổ biến vào thập niên 1970 trong các hiệp hội tiết kiệm và cho vay, họ muốn cung cấp cho khách hàng các tài khoản giao dịch mà trong lúc đó họ không được phép cung cấp tài khoản chi phiếu, vì thế số chi trả được lấy thay từ tài khoản tiết kiệm. Nhiều ngân hàng thương mại và tổ chức tiết kiệm cung cấp dịch vụ chi trả hoá đơn bằng điện thoại với hy vọng rằng chi phiếu sau cùng rồi cũng có thể được thay thế bằng hệ thống điện tử chuyển ngân quỹ, dù sao cho đến nay việc thay thế chi phiếu vẫn chưa được thực hiện bao nhiêu. TELEPHONE ORDER: Lệnh qua điện thoại. 1. Chỉ thị bằng miệng (bằng lời nói) để chuyển ngân quỹ từ tài khoản ngân hàng này sang tài khoản khác hay từ ngân hàng này sang ngân hàng khác. 2. Lệnh mua theo đường bưu điện được tính vào thẻ ngân hàng hay thẻ du lịch-giải trí, không cần có chữ ký và khách hàng có quyền và có trách nhiệm như khi mua với tư cách cá nhân. Xem Signature on File. TELEPHONE SWITCHING: Chuyển đổi bằng điện thoại. Tiến trình chuyển tài sản từ một quỹ Hỗ Tương Đầu Tư hay Danh Mục Đầu Tư Trợ Cấp Hàng Năm Có Thay Đổi (Variable Annuity Portfolio) đến quỹ, danh mục đầu tư khác bằng điện thoại. Việc chuyển này có thể thực hiện giữa chứng khoán, trái phiếu hay quỹ thị trường tiền tệ của riêng một họ quỹ (family of funds) hay từ một quỹ trong một họ đến quỹ trong họ khác. Việc chuyển đổi liên quan đến các danh mục đầu tư trong hợp đồng trợ cấp hàng năm không bị đánh thuế lợi nhuận như chuyển đổi quỹ Hỗ Tương Đầu Tư. TELEPHONE TRANSFER: Chuyển bằng điện thoại. Chuyển số cân đối tài khoản từ tài khoản này sang tài khoản khác hay từ người trả sang người nhận bằng điện thoại chứ không bằng giấy uỷ quyền viết tay hay công cụ chi trả như thông lệ, tài khoản đang ghi nợ có thể là tài khoản chi phiếu, tiết kiệm hoặc nếu chỉ có vài ba cuộc chuyển bằng điện thoại thì nó có thể là tài khoản ký thác theo thị trường tiền tệ ngắn hạn (MMDA-money market deposit account). TELLER: Nhân viên thu phát. Nhân viên ngân hàng nhận tiền ký thác, chi phiếu tiền mặt và thực hiện các dịch vụ khác cho dân chúng. Trong hầu hết các tổ chức tài chánh, các thu phát ngân làm việc sau quầy. Các ngân hàng lớn phân công nhiệm vụ Teller theo loại công việc: Mail Teller xử lý số ký thác ngân hàng sẽ được gửi đến bằng đường bưu điện; Loan Teller lưu giữ chi trả cho tài khoản khách hàng; Note Teller điều hành việc thu ngân quỹ trên số giấy nợ và hối phiếu do các ngân hàng khác chi trả. Xem: Customer Service Representive Head Tellers. TELLER'S CHECK: Chi phiếu của nhân viên thu phát ngân. Xem Cashier's Check. TELEX FOR AUTHORITY TO PAY: Gởi điện báo cho cơ quan thẩm quyền chi trả. Một yêu cầu huỷ bỏ một điểm tương phản trong tín dụng thư. Nhà nhập khẩu được ngân
  14. hàng thông báo (advising bank, negotiating bank) thông báo về các điểm tương phản (điểm không đúng). Các điểm này sẽ được sửa lại bằng bản tu chỉnh hay được huỷ bởi ngân hàng, của nhà nhập khẩu trước khi chi trả cho nhà xuất khẩu. TEMPERED BY WORRIES: Làm âu lo. Any short term enthusiasm was temped by worries that tomorrow release of Dec job data. (Một số người thích lãi suất ngắn bị lo âu về con số có việc làm tháng 12 vào ngày mai). TEMPORARY LOAN: Tiền vay tạm thời. Tiền vay vốn hoạt động (vốn lưu động) ngắn hạn để tài trợ cho hàng kho hay tài khoản thu của công ty. Tiền vay này thường có thời hạn dưới 1năm và được xác minh bằng giấy hứa trả nợ hay giấy nợ ngắn hạn (warrant) do người vay phát hành. Tiền vay tạm thời (ngắn hạn) có thể không được bảo đảm hoặc được bảo đảm bằng quyền giữ thế chấp trên số tài sản của công ty. Tài sản lưu động có được nhờ tài trợ tạm thời cuối cùng sẽ được chuyển thành tiền mặt qua chu kỳ mua bán của công ty khi công ty bán hàng kho để lấy tiền mặt hay khi thu tiền cho tài khoản thu. Xem: Collateral Loan, Term Loan. TEN PERCENT GUIDELINE: Chỉ dẫn về 10%. Chỉ dẫn của nhà phân tích trái phiếu đô thị cho rằng nợ được tài trợ vượt quá 10% trị giá định thuế của một tài sản trong chính quyền đô thị là quá đáng. TENANCY BY THE ENTIRETY: Cùng chung sở hữu như một thực thể duy nhất. Vợ và chồng cùng liên đới tài sản, mỗi người có quyền sở hữu và hưởng thụ ngang nhau, và có quyền thừa hưởng của người còn sống (survivorship) khi người kia chết. Mặc dù tương tự như joint tenancy (liên đới sở hữu), một hình thức thông dụng nhất của quyền sở hữu tài sản của một cặp vợ chồng, nhưng cùng quyền sở hữu như một thực thể duy nhất (tenency by the entirety) xem tài sản như một đơn vị độc nhất, điều này có nghĩa là không có người nào có thể bán tài sản mà không có người kia đồng ý. Ngoài ra chủ nợ không thể ép buộc bán tài sản để trả nợ cho một người. Người phối ngẫu còn sống được quyền hưởng trọn vẹn tài sản. Xem: Community Property, Joint Tenants With Right of Supervivorship, Tenancy in Common. TENDER DOCUMENT: Tài liệu đấu thầu. 1. Công ty hay nhà nước đưa hồ sơ chính thức để mua hàng hoá hay dịch vụ. Những đặc điểm, khả năng, phương thức và nhân viên được chỉ định đi mua sẽ được ghi trong tài liệu đấu thầu. 2. Công ty đưa ra tài liệu về việc bán chứng khoán. Người đưa ra đấu thầu yêu cầu các giá đặt mua phải trên giá bán tối thiểu đã ấn định. TENANCY IN COMMON: Sở hữu chung. Tài sản do hai hay nhiều người sở hữu theo cách khi một trong số họ chết, lợi tức không thể phân chia của người mất được chuyển sang người thừa kế và không chuyển cho những người cùng sở hữu còn sống. Thoả thuận này khác với sở hữu (tenancy) liên kết (xem Joint tenants with the right of Survivorship) và sở hữu toàn vẹn (một thoả thuận tương tự đề cập đến một cặp vợ chồng khi một người mất thì người vợ hay người chồng tự động được nhận phần chia của người kia). TENANT: Người thuê, người sở hữu. Bất động sản: 1. Người giữ hay sở hữu tài sản thực. 2. Người thuê. Chứng khoán: người sở hữu một phần một loại chứng khoán. Xem Joint Tenants with Right of Survivorship, Tenancy in Common.
  15. TENDER: Giá đệm, bỏ thầu, giao, tiền theo pháp luật (tiền hợp pháp). 1. Hành động từ bỏ cổ phần của một người nào đó để đáp ứng một giá mua đã ấn định- xem Tender offer (một người nào đó bản cổ phần của mình theo giá bán đã được một người khác ấn định thường cao hơn giá thị trường vì người đặt giá này muốn chiếm quyền kiểm soát công ty có cổ phần đó). 2. Đệ trình giá đặt mua chính thức để mua chứng khoán, như trong đấu thầu công khố phiếu Hoa Kỳ. 3. Cung cấp tiền hay hàng hoá để chi trả một món nợ trước hay quyền đòi chi trả (lệnh phiếu) như trong việc giao hàng hoá theo hợp đồng futures đã đến hạn. 4. Phương tiện đã được thoả thuận để thanh toán các giao dịch mua bán tài chánh, như tiền tệ Hoa Kỳ được mệnh danh là "tiền tệ hợp pháp đối với tất cả các món nợ, công cũng như tư". TENDER BOND: Trái phiếu theo hợp đồng put option. Xem Put Bond. Trái phiếu được quyền bán lại nhà phát hành trước khi trái phiếu đáo hạn. Tender offer: Đưa ra giá đệm (giá cao hơn giá thị trường). Mua các cổ phần của một công ty, thường với giá có chênh lệch cao hơn giá thị trường của cổ phần bằng tiền mặt hay chứng khoán hay cả hai, thông thường là nhằm mục đích chiếm quyền kiểm soát của một công ty đang là mục tiêu hấp dẫn (target company). Việc đưa ra giá đệm có thể xuất phát từ các thương lượng đầy thiện ý giữa công ty và công ty muốn tiếp quản hay có thể do tự ý hoặc không thân thiện dẫn đến việc công ty bị tiếp quản có các biện pháp chống lại. Nhà nước quy định người muốn tiếp quản (corporate suitor) đã có trong tay từ 5% trở lên số cổ phần của công ty bị tiếp quản phải thông báo rõ ràng cho nhà nước, cho chính công ty bị tiếp quản (target company) và cho thị trường có liên quan. Xem: Schedule 13D, Takeover, Treasury Stock. TENDER PANEL: Nhóm đệm (trong đấu thầu). Phương pháp tài trợ dùng trong việc bán giấy hứa trả nợ, (giấy nợ Châu Âu) thông qua RUF (Revolving Underwriting Facility- Phương tiện bao tiêu tuần hoàn) Tổ hợp bao tiêu (Syndicate) bao gồm từ 15 đến 20 ngân hàng thương mại và ngân hàng đầu tư được người vay (hay đại diện của người vay) uỷ nhiệm đưa ra giá đặt mua chào mời trên căn bản cố gắng hết sức mình (best effort) cho việc tài trợ dự án. Nhóm hoạt động như một nhân viên trung gian bên bán cho các ngân hàng đang thoả thuận một phương tiện tín dụng. Nhóm đệm bên bán cho phép sắp xếp mua bán giấy nợ Châu Âu với một số lớn nhà đầu tư đang tìm kiếm giấy nợ trung hạn (từ 5 đến 7 năm). Nó cũng tách ngân hàng gốc ra khỏi các ngân hàng thực sự mua giấy nợ, do đó phải trải đều rủi ro tín dụng cho phần lớn số ngân hàng tham gia. Phần đóng góp của ngân hàng gốc trong việc cung ứng chiếm một phần nhỏ thường khoảng 10% tổng số tài trợ. TENOR: Lề thói hằng ngày, quy định thời hạn. 1. Đánh dấu để nhớ thời điểm đáo hạn của giấy nợ hay công cụ tài chánh. 2. Vạch rõ thời điểm khi hối phiếu được trả : ngay khi trình (on sight), theo số ngày ấn định sau khi trình, theo số ngày ấn định sau thời điểm ký hối phiếu. 3. Điều khoản thiết lập để chi trả một hối phiếu, nghĩa là : khi được trình ra (đối với hối phiếu trả ngay khi trình - Sight draft) hay vào thời điểm tương lai (đối với hối phiếu trả ngay khi trình - Sight draft) hay vào thời điểm tương lai (đối với hối phiếu định kỳ - Time
  16. draft). TERM: Kỳ hạn, điều khoản, nhiệm kỳ. 1. Khoảng thời gian trong đó các quy định của hợp đồng sẽ được thực hiện. Từ ngữ này cũng ám chỉ khoảng thời gian trong đó phải thực hiện chi trả tiền vay hay phải chi trả tiền lãi của chứng chỉ ký thác hay trái phiếu. Nó cũng ám chỉ khoảng thời gian có hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm nhân thọ. Xem : Term Life Insurance. 2. Điều khoản ấn định bản chất của một thoả hiệp hay hợp đồng như trong terms and conditions (điều khoản và quy định). 3. Khoảng thời gian phục vụ của một viên chức hay thành viên ban quản trị đã được bầu hay chỉ định. Thí dụ, các thống đốc hệ thống Dự Trữ Liên Bang được chỉ định với nhiệm kỳ 14 năm. TERM BOND: Trái phiếu định kỳ (dài hạn). Trái phiếu có độc nhất một thời điểm đáo hạn, ngược lại với serial bond (loạt trái phiếu - seri trái phiếu). Thông thường, nhà phát hành phải để số tiền chi trả bắt buộc vào quỹ thanh toán nợ (sinking fund - quỹ dự phòng nợ) trong nhiều năm trước khi đến ngày đáo hạn. Nhà phát hành trái phiếu đáp ứng các quy định về thanh toán nợ bằng cách mua trái phiếu đã phát hành trong thị trường tự do (open market), thu hồi trái phiếu theo giá thị trường, nó có thể thấp hơn giá theo lệnh gọi của quỹ thanh toán nợ (sinking fund call price). Việc dự phòng trước quỹ thanh lý nợ sẽ rải đều trách nhiệm của nhà phát hành đối với trái phiếu nợ chung (general obligation bond) trong suốt thời gian hiệu lực của trái phiếu; nhà phát hành trái phiếu doanh thu có thể chi trả dịch vụ nợ bằng doanh thu trái phiếu. TERM CERTIFICATE: Chứng chỉ theo định kỳ. Chứng chỉ ký thác (certificate of deposit) có thời gian đáo hạn dài. CD như thế có kỳ hạn từ một năm đến 10 năm, dù sao hầu hết các chứng chỉ định kỳ đều là loại một năm hay 2 năm. Người có chứng chỉ thường nhận lãi suất cố định, được chi trả làm hai kỳ trong thời gian hiệu lực và phải chịu phạt nặng khi rút tiền sớm (early withdrawal penalties) tức là khi chứng chỉ được chi trả trước thời hạn đã ấn định. TERM FEDERAL FUNDS: Ngân Quỹ Liên Bang theo kỳ hạn. Số cân đối tài khoản dự trữ được mua trong các thời khoảng lâu hơn một ngày, nhưng thường ít hơn 90 ngày. Ngân hàng mua ngân quỹ Liên Bang trong một thời khoảng kéo dài khi họ thấy nhu cầu vay sẽ kéo dài vài ngày, hoặc khi họ tin rằng lãi suất ngắn hạn sẽ tăng và họ muốn khoá chặt lãi suất hiện hành. Ngân quỹ Liên Bang được mua theo kỳ hạn kéo dài giống như ngân quỹ Liên Bang cách đêm, không bị lệ thuộc vào quy định dự trữ và thỉnh thoảng được ưa thích hơn là mua các công cụ nợ khác có cùng thời gian đáo hạn. TERM LIFE INSURANCE: Bảo hiểm nhân thọ theo kỳ hạn. Hình thức bảo hiểm nhân thọ được soạn thảo có một thời khoảng ấn định, nó quy định người có hợp đồng chỉ chi trả giá phí bảo vệ cái chết, có nghĩa là không thiết lập trị giá tiền mặt như trong bảo hiểm suốt đời. Cứ mỗi lần ký lại hợp đồng phí bảo hiểm sẽ cao hơn bởi vì người được bảo hiểm sẽ già hơn và theo thống kê thì dễ chết hơn. Bảo hiểm theo kỳ hạn thì rẻ hơn nhiều so với bảo hiểm suốt đời, nó giúp cho người có hợp đồng bảo hiểm (policyholder) có cơ hội chọn lựa để sử dụng tiền tiết kiệm đầu tư cho riêng họ. TERM LOAN: Tiền vay theo kỳ hạn. Tín dụng trung hạn và dài hạn có bảo đảm 9 thường thời hạn từ 2 đến 10 năm) do ngân hàng thương mại, công ty bảo hiểm hay công
  17. ty tài chánh thương mại trao cho một công ty thường là để tài trợ vốn trang thiết bị hay để cung cấp vốn lưu động. Tiền vay được trả dần trong một thời khoảng cố định, đôi khi kết thúc bằng số chi trả dồn (balloon payment). Người vay theo thoả hiệp vay có kỳ hạn thông thường theo quy định là phải có vốn lưu động tối thiểu và nợ tối thiểu so với các tiêu chuẩn tỷ lệ trị giá thuần, phải giới hạn cổ tức và phải duy trì sự nhất quán liên tục ban điều hành. TERM MATURITY: Đáo hạn theo kỳ hạn. Đây là một loại đáo hạn trong đó toàn bộ trái phiếu đáo hạn vào một thời điểm duy nhất. Xem Maturity Date. TERM MORTGAGE: Tiền vay định kỳ có thế chấp. Tiền vay có thế chấp không chi trả dần, thường thường có thời gian đáo hạn dưới 5 năm, trong đó chỉ chi trả lãi theo một thời khoảng ấn định, sau đó số vốn hiện hành khi đáo hạn sẽ được chi trả dồn một lần (balloon payment). Xem Standing Mortgage. TERM REPURCHASE AGREEMENT: Thoả thuận mua lại theo định kỳ. Thoả thuận mua lại có thời gian đáo hạn hơn một ngày. Nó còn gọi là Term Repo. Ngân hàng và tổ chức tiết kiệm có dư tiền mặt thường đầu tư vào trái phiếu nhà nước (thay vì chứng chỉ ký thác, nó có thời gian đáo hạn tối thiểu là 7 ngày. Trong thoả thuận mua lại, ngân hàng mua trái phiếu của dealers (người mua bán cho chính mình) hay của ngân hàng (không mua bán cho mình - non dealers bank) với thoả thuận sẽ bán lại sau này với giá đã định trước. Chênh lệch giữa giá mua và giá bán lại tức là số lãi. Thoả thuận mua lại định kỳ có thể trả hoa lợi cao hơn thoả thuận mua lại qua đêm (overnight repos) bởi vì người bán chấp nhận rủi ro lãi suất trong một thời gian dài hơn là thoả thuận mua lại qua đêm TERMINAL BONUS: Tiền bồi dưỡng cuối cùng. Trong bảo hiểm, số chi trả tiền mặt được lập ra ngoài số tiền thu được của hợp đồng bảo hiểm khi hợp đồng đáo hạn hay khi người được bảo hiểm chết. Tiền bồi dưỡng này được chi trả từ số lợi nhuận thuần kiếm được do đầu tư, được hợp đồng bảo hiểm chi trả theo quyền hạn tự do hành động của Nhà Bảo Hiểm. TERMINAL MARKET: Thị trường đầu cuối. Thị trường hàng hoá toạ lạc tại Trung Tâm Mua Bán chính. Giao dịch mua bán tại thị trường đầu cuối phần lớn tập trung vào hợp đồng Futures, mặc dù hàng hoá thuộc thị trường tại chỗ (thị trường tiền mặt, spot market) cũng có thể được mua bán. Thị trường không thuộc đầu cuối (nonterminal) được thiết lập tại trung tâm sản xuất. TERM SHARE: Cổ phần định kỳ. Một đơn vị tài chánh không thể được chi trả tiền mặt theo yêu cầu, thí dụ cổ phần trong hiệp hội tín dụng hay hiệp hội tiết kiệm và cho vay. TERMINATION STATEMENT: Báo cáo kết thúc. Báo cáo giải toả quyền đòi chi trả hay quyền lợi bảo đảm của người cho vay trong số tài sản của người vay khi nợ đã được trả đầy đủ và kết thúc báo cáo tài trợ đã nạp trước đây. Nhà nước quy định người cho vay phải ký báo cáo kết thúc, để xoá tên người vay trong quyền giữ tài sản làm thế chấp. TERMS OF TRADE: Đáp số của mậu dịch. Còn gọi là Trade Terms, một phương thức đo lường diễn biến thực hiện kinh tế của một quốc gia. Khi được xác định bằng trị giá xuất khẩu so sánh với nhập khẩu. Một quốc gia có đáp số mậu dịch thích hợp sẽ nhận nhiều biên nhận xuất khẩu hơn là phải chuyển tiền cho nhập khẩu hoặc trị giá tăng thêm của xuất khẩu lớn hơn nhập khẩu. Ngược lại, quốc gia có đáp số mậu dịch không thích hợp sẽ phải chuyển tiền cho nhập khẩu nhiều hơn là nhận từ xuất khẩu.
  18. TEST: Kiểm tra, bản tiêu chuẩn tỷ lệ. Tổng quát: kiểm tra để xác định kiến thức, khả năng, chuyên môn. Tài chánh: tiêu chuẩn dùng để đo lường phù hợp theo quy định tỷ lệ tài chánh của giao kèo và các thoả thuận cho vay khác. Thí dụ, tài sản hiện hành đối với tiêu chuẩn tỷ lệ nợ hiện hành, nợ đối với tỷ lệ trị giá thuần. Chứng khoán: từ ngữ được dùng liên quan đến biến chuyển giá cả đang tiến gần đến mức giá đỡ (support level) và mức giá đề kháng (resistance level) của hợp đồng future hàng hoá, chứng khoán hay thị trường đã thiết lập trước đây. Mức thử nghiệm (test) được chấm dứt nếu các mức giá này không bị thâm nhập và không còn giá trị nếu giá cả tiếp tục tăng lên mức thấp nhất hay cao nhất. Thí dụ, các nhà phân tích nói rằng nếu chỉ số công nghiệp Dow Jones vừa qua hình thành trên căn bản vững chắc là 1.000 và giá cả đang rớt từ 1.100, giai đoạn thử nghiệm bắt đầu đến gần. Nếu giá cả một khi lại tăng lên khi chỉ số Dow đang giảm 1.000 và tiếp tục đi lên nữa thì thử nghiệm chấm dứt. Nếu giá rớt xuống dưới 1.000 thì thử nghiệm thất bại. Xem Technical Analysis. TEST NUMBER: Số kiểm tra. Số đầu trong số chi trả bằng hệ thống điện tử chuyển ngân quỹ hay số chỉ dẫn chi trả xác định ngân hàng xuất phát. Nó còn được gọi là key hay test key. Số này thay đổi mỗi lần chuyển tải giữa các ngân hàng để ngăn ngừa người ngoài lợi dụng. TESTAMENTARY TRUST: Uỷ thác di chúc. Uỷ thác do di chúc lập ra, nó khác với uỷ thác giữa những người còn sống (inter vivos trust) được thiết lập trong suốt cuộc đời của người bảo trợ. TESTAMENTARY TRUSTEE: Người thụ uỷ di chúc. Người được uỷ quyền để quản lý một uỷ thác, gồm các tài khoản trong công ty môi giới, sự uỷ quyền này do người nay đã chết lập ra. Thẩm quyền của người thụ uỷ di chúc được lập ra bằng di chúc sau cùng của người nay đã chết, người này là người đã lập ra sự uỷ thác. TESTATOR: Người lập di chúc. Người đã chết có để lại di chúc hợp pháp để phân phối tài sản cho những người thừa hưởng. Đôi khi còn gọi là settlor. Hãy so sánh với trustor. THEORETICAL VALUE (OF A RIGHT): Trị giá lý thuyết. Trị giá thị trường của đặc quyền đăng ký (market value of subscription right) được xác định theo toán học sau khi việc phát hành được tuyên bố hay trước khi chứng khoán chưa có đặc quyền (ex-rights). Công thức bao gồm trị giá thị trường hiện hành của chứng khoán thường, giá đăng ký mua, số đặc quyền đủ mua một cổ phần chứng khoán : Trị giá lý thuyết = Trị giá thị trường CK thường trừ (-) Giá đăng ký mua 1 cổ phần/ Số đặc quyền đủ mua một cổ phần cộng (+) 1 Vì thế, nếu giá thị trường chứng khoán thường là $50/cổ phần, giá đăng ký là $45/cổ phần, tỷ lệ đăng ký là 4 lấy 1 (có 4 đặc quyền thì mua được một cổ phần), thì trị giá một quyền sẽ là 1: 50 - 45/ 4+1= 5/5= 1 THIN CAPITALIZATION: Tư bản hoá yếu (mỏng). Công ty có quá ít vốn đăng ký và có quá nhiều nợ. Trong vài quốc gia, tiền lãi trong một phần số nợ được xem là loại cổ tức có thuế, theo đó sẽ làm giảm số tiền lãi có thể khấu trừ vào lợi nhuận. THIN MARKET: Thị trường mỏng manh (dễ mất quân bình). Thị trường trong đó có ít giá đặt mua để mua và có ít giá đặt bán để bán. Đặc tính thị trường mỏng có thể áp dụng
  19. cho toàn thể một hạng loại (lớp) chứng khoán hay hợp đồng futures hàng hoá - như chứng khoán nhỏ trên thị trường ngoài danh mục hay thị trường nhôm. Thị trường mỏng có thể ám chỉ một loại chứng khoán cá biệt nào đó không có liệt kê mua bán trên thị trường chính hay mua bán trên thị trường ngoài danh mục. Giá cả trong thị trường mỏng thường bất ổn định hơn trong các thị trường có khả năng chuyển đổi ra tiền mặt (khả năng thanh toán) lớn, bởi vì một vài vụ mua bán có thể ảnh hưởng mạnh đến giá cả. Nhà đầu tư thuộc tổ chức mua hay bán từng khối lớn chứng khoán có khuynh hướng tránh các thị trường mỏng bởi vì họ khó mà tham gia vào hay rút ra khỏi vị thế mà không ảnh hưởng trực tiếp cụ thể đến giá chứng khoán. THIRD COUNTRY ACCEPTANCE: Giấy chấp nhận của nước thứ ba. Trong mậu dịch quốc tế, đây là giấy chấp nhận của ngân hàng rút ở một ngân hàng trong một quốc gia không phải ở quốc gia của nhà nhập khẩu hay xuất khẩu, và được chi trả bằng tiền tệ quốc gia của ngân hàng chấp nhận. Giấy chấp nhận của nước thứ ba còn gọi là refinance bills, thường được nhà xuất khẩu sử dụng để có số tài trợ ngân hàng theo lãi suất thị trường hợp lý (competitive rates - lãi suất thị trường cạnh tranh), kể từ thập niên 70, Nhật và Hàn Quốc đã tài trợ một phần lớn số xuất khẩu kể cả xuất khẩu đến các quốc gia châu Âu thông qua giấy chấp nhận ngân hàng tính theo đơn vị đồng dollars Hoa Kỳ làm cho giấy chấp nhận càng được phát triển trong những thập niên cuối này. THIRD - COUNTRY DUMPER: Người phá giá thuộc nước thứ ba. Một quốc gia cho phép nhà sản xuất bán dưới giá phí tại thị trường nước ngoài. Thí dụ, quốc gia A cho phép hàng xuất khẩu được phá giá ở quốc gia B. Quốc gia C sẽ tố cáo quốc gia A bởi vì việc buôn bán của quốc gia A với quốc gia B sẽ ảnh hưởng xấu đến việc mua bán giữa quốc gia C và quốc gia B. THIRD PARTY CONTROL: Kiểm soát của bên thứ ba. Kế toán trưởng tài khoản bên thứ ba yêu cầu thành viên duy trì thêm hồ sơ, tài khoản dưới sự kiểm soát của bên thứ ba xảy ra khi một người đưa lệnh mua bán không phải là khách hàng cũng không phải là thành viên của NFA (National Futures Accociation - Hiệp hội quốc gia về hợp đồng Futures) hay là một trong những AP (Associated Person - Người cộng tác). Bên thứ ba này không thể thực hiện quyền hạn tự do hành động trừ khi đáp ứng đủ các điều kiện sau: 1. Thành viên có văn bản làm bằng chứng uỷ quyền mua bán của khách hàng. 2. Thành viên có giấy xác nhận của khách hàng cho biết ông ta đã nhận tài liệu thông báo rõ ràng thích đáng. Các yêu cầu trên không cần thiết nếu bên thứ ba là thành viên trực hệ trong gia đình của khách hàng. THIRD MARKET: Thị trường thứ ba- thị trường cấp III. Broker và Dealers không phải thành viên của thị trường chính và nhà đầu tư thuộc tổ chức, mua bán trên thị trường ngoài danh mục các chứng khoán có liệt kê trên thị trường chính. Thị trường cấp III trở nên quan trọng trong thập niên 1950 khi các nhà đầu tư thuộc tổ chức bắt đầu mua chứng khoán thường để ngăn ngừa lạm phát và khi tỷ lệ hoa hồng cố định vẫn còn hiện hành trên các thị trường. Bằng cách mua bán từng khối lớn với các công ty không phải là thành viên của thị trường chứng khoán chính, họ vừa tiết kiệm được tiền hoa hồng (vì có thể thương lượng) vừa tránh được tác động làm rối loạn giá cả do việc mua bán lớn trên các thị trường gây ra. Sau khi tỷ lệ hoa hồng cố định bị huỷ bỏ, một số công ty hoạt động tích cực ở thị trường cấp III đã trở thành các công ty thành viên do đó họ có thể quan hệ mua
  20. bán với các công ty thành viên khác cũng như với các công ty không phải là thành viên. Cùng lúc đó, các công ty thành viên bắt đầu gia tăng việc chuyển từng khối lớn chứng khoán ra khỏi hiện trường mua bán (sàn mua bán- floor) của các thị trường chính, thực tế là đang trở thành các người dự phần trong thị trường cấp III. Tuy nhiên, trước khi bán chứng khoán ra khỏi thị trường chính cho người không phải là thành viên, công ty thành viên phải thoả mãn tất cả các lệnh có giới hạn (limit order) trong sổ chuyên viên (specialist's book) có cùng một giá hay có giá cao hơn. Xem off-floor order. THIRD - PARTY CHECK: Chi phiếu cho bên thứ ba. 1. Chi phiếu được chi trả thông qua ngân hàng, ngoại trừ chi phiếu trả cho chính người viết chi phiếu đó (nghĩa là chi phiếu được viết để lấy tiền mặt). Bên thứ nhất trong giao dịch là ngân hàng trong đó chi phiếu được rút ra. Bên thứ nhì là người rút tiền bằng chi phiếu dựa trên quỹ ký thác trong ngân hàng. Bên thứ ba là người được trả tiền, người bối thự chi phiếu. 2. Chi phiếu bối thự kép- Trong trường hợp này, người được chi trả bối thự chi phiếu bằng cách ký tên phía sau, sau đó chuyển chi phiếu cho người tiếp theo, người bối thự chi phiếu ưu tiên đổi chi phiếu lấy tiền mặt. Người nhận chi phiếu có nhiều người bối thự thường miễn cưỡng nhận nó trừ khi họ có thể xác minh chữ ký của từng người bối thự. 3. Hối phiếu chi trả qua trung gian (payable-through drafts) và các lệnh chi trả khác (negrotiable orders) không do công ty cung cấp trực tiếp phục vụ. Thí dụ, một chi phiếu được viết ra dựa trên quỹ hỗ tương đầu tư thị trường tiền tệ được giải quyết không phải bởi công ty hỗ tương đầu tư mà tiêu biểu bởi ngân hàng thương mại là ngân hàng cung cấp dịch vụ cho bên thứ ba hay "chi trả qua trung gian". Lệnh trả tiền, hối phiếu cổ phần liên hiệp tín dụng và chi trả rút ra dựa trên tài khoản công ty môi giới là loại "chi trả qua trung gian" hay cho bên thứ ba. THIRD PARTY CREDIT: Tín dụng cho bên thứ ba. Tín dụng tạo điều kiện dễ dàng cho việc bán hàng hoá và dịch vụ theo thoả thuận với một người nào đó chứ không phải với người bán. Thương buôn bán lẻ chấp nhận thẻ tín dụng ngân hàng và thẻ du lịch giải trí như là số chi trả hàng hoá, nó thường ít tốn kém hơn là cấp tín dụng trực tiếp, bởi vì thương buôn được nhẹ bớt phần chi phí tài trợ cho tài khoản thu tín dụng và thu tiền chi trả. Đổi lại, số chi trả của chiết khấu thương buôn (marchant discount) tính bằng số phần trăm doanh số thuần, thương buôn có thể có ngay số tín dụng cho phiếu bán bằng thẻ ngân hàng đã ký thác ở một ngân hàng. Nếu tỷ lệ chiết khấu thương buôn là 2%, thương buôn có thể nhận $98 cho mỗi $100 trong doanh số tín dụng. Hễ chừng nào thương buôn còn theo các điều khoản của tín dụng thì thương buôn còn có thể không bị thua thiệt tín dụng hay thua lỗ vì lừa đảo. Xem Private Label Credit, Revolving Credit. THIRD PARTY PAYMENNT: Chi trả cho bên thứ ba. Xem Third party transfer. THIRD PARTY TRANSFER: Chuyển ngân quỹ cho bên thứ ba. Số chi trả được ký gửi vào tài khoản của một người nào đó chứ không phải cho người đề xuất chi trả hay người đáng lẽ nhận đầu tiên. Số chi trả đó có thể là: chi phiếu trả cho bên thứ ba (third party checks) được chuyển bằng bối thự, chỉ thị của người tiêu dùng hoặc là số chi trả thông qua hệ thống điện tử. Xem Telephone Bill Payment. THIRTY - DAY VISIBLE SUPPLY: Nguồn cùng hiển nhiên trong vòng 30 ngày. Tổng số lượng tiền của trái phiếu đô thị mới, có thời khoảng đáo hạn từ 13 tháng trở lên số này
Đồng bộ tài khoản