Tư tưởng Hồ Chí Minh với xây dựng một xã hội học tập

Chia sẻ: Nguyễn Hải Yến | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:10

0
1.046
lượt xem
538
download

Tư tưởng Hồ Chí Minh với xây dựng một xã hội học tập

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tài liệu tham khảo về tư tưởng Hồ Chí Minh

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tư tưởng Hồ Chí Minh với xây dựng một xã hội học tập

  1. 2. Không ngừng học tập, rèn luyện, nâng cao trình độ kiến thức, năng lực công tác, phẩm chất  chính trị, đạo đức cách mạng, có lối sống lành mạnh; đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, cơ  hội, cục bộ, quan liêu, tham nhũng, lãng phí và các biểu hiện tiêu cực khác. Tư tưởng Hồ Chí Minh với xây dựng một xã hội học tập  (THO) - Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã xác định “Chuyển mô hình giáo dục hiện nay sang mô hình giáo dục mở - mô hình xã hội học tập với hệ thống học tập suốt đời, đào tạo liên tục, liên thông giữa các bậc học, ngành học”. Chính phủ đã phê chuẩn đề án xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2005 - 2010. Như vậy, mô hình xã hội học tập đang được hình thành và từng bước đi vào đời sống. Xã hội học tập ngày nay được hình thành và xây dựng xuất phát từ Tư tưởng Hồ Chí Minh. Lúc sinh thời, Người từng căn dặn: “Làm sao cho nước ta hoàn toàn độc lập, dân ta hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”. Người xót xa vì qua bao năm dân ta phải sống trong ách thống trị ngoại bang với chính sách ngu dân, cho nên tư tưởng của Người gắn độc lập dân tộc với xóa bỏ dốt nát, vì “một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”. Trong giờ khắc khó khăn của đất nước: thù trong giặc ngoài, đói kém, nhưng xác định thứ giặc nguy hiểm lại là “giặc dốt”, chính vì vậy Người đã phát động phong trào bình dân học vụ. Nguồn nhân lực có chất lượng cao và nhân tài ngày nay đang được đặc biệt quan tâm, nhưng cách đây hơn nửa thế kỷ Người đã chỉ ra: trong xây dựng nước nhà “đòi hỏi phải có nguồn nhân lực dồi dào và có những nhân tài”. Cách đây 62 năm dễ mấy ai có thể hình dung được tác dụng của việc học tập nói riêng và sự nghiệp giáo dục nói chung ở một nước mới giành được độc lập và còn rất mong manh nhưng Người đã khẳng định: “Non sông Việt Nam có trở nên vẻ vang hay không, dân tộc Việt Nam có được vẻ vang sánh vai các cường quốc năm châu hay không chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các cháu”. Tư tưởng đó thật vĩ đại và ngày nay đang trở thành hiện thực, vị thế của đất nước Việt Nam đang ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế. Vấn đề học tập thường xuyên và học tập suốt đời là một nội dung rất quan trọng của xã hội học tập. Đến nay vẫn còn có người băn khoăn và trên thực tế không phải ai cũng hiểu được điều này. Hồ Chí Minh không chỉ diễn giải khúc triết về tư tưởng mà còn là tấm gương sáng về tự học, học thường xuyên, học suốt đời, học ở trong đời sống, trong nhân dân, trong sách vở... Người viết: “Học hỏi là một việc phải tiếp tục suốt đời. Không ai có thể tự cho mình đã hiểu biết đủ rồi, biết hết rồi...”. Người coi sự nghiệp giáo dục không phải chỉ là của Nhà nước mà “giáo dục là sự nghiệp của quần chúng”. Tư tưởng này là cơ sở của xã hội hóa giáo dục ngày nay. Bởi sự nghiệp giáo dục rất rộng lớn, đa
  2. dạng nhiều lĩnh vực đòi hỏi mọi thành viên trong xã hội cùng chung tay thực hiện, là niềm tin ở quần chúng... Thời gian qua, trong xây dựng xã hội học tập ở tỉnh ta đã thu được những kết quả bước đầu. Nhận thức về vị trí của giáo dục - đào tạo trong sự nghiệp phát triển đất nước đã có chuyển biến đáng kể. Quy mô phát triển sự nghiệp giáo dục nhanh, rộng lớn hơn bao giờ hết. Đã cơ bản xóa mù chữ, phổ cập tiểu học đúng độ tuổi và đã hoàn thành cơ bản phổ cập THCS. Đa dạng các loại hình đào tạo, xã hội hóa trong đào tạo, bước đầu coi trọng dạy nghề. Chất lượng đào tạo từng bước được nâng lên. Các hiện tượng tiêu cực trong giáo dục dần dần được khắc phục. Các hình thức giáo dục thường xuyên, phi chính quy và các phương thức, phương pháp học tập, đào tạo đã có những bước chuyển động mới, tạo điều kiện cho học tập thường xuyên, học tập suốt đời, cập nhật kiến thức, công nghệ, kỹ thuật mới. Các hình thức tự học, tự bồi dưỡng của cán bộ, công nhân, viên chức, hoạt động tích cực của các trung tâm học tập cộng đồng ở xã, phường, thị trấn ngày càng phát triển, củng cố và có hiệu quả trong bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng sản xuất của người lao động. Truyền thống hiếu học và sự khuyến khích động viên giúp đỡ của các thành viên và tổ chức xã hội đối với sự học và người học cả về tinh thần và vật chất được phát huy cao độ, đạt hiệu quả rất đáng kể. Nhưng từ một mô hình giáo dục hiện nay chuyển sang nền giáo dục mở - xã hội học tập, sự nghiệp giáo dục tỉnh ta còn nhiều bất cập. Sự nghiệp giáo dục phát triển nhưng vẫn chưa bảo đảm công bằng xã hội về học tập, nhất là đối với vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, người nghèo; giáo dục còn thiên về dạy “văn hóa” thuần túy mà chưa quan tâm đầy đủ đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao. Chất lượng đào tạo toàn diện còn hạn chế. Hàng năm tỉnh ta có tỷ lệ tốt nghiệp THPT, đậu đại học khá nhưng tỷ lệ người lao động được đào tạo nghề rất thấp, ảnh hưởng không tốt đến năng suất lao động, việc làm. Vẫn còn là một nền giáo dục chưa đa dạng được các loại hình đào tạo, còn thiếu sự liên thông và liên tục, chưa coi trọng giáo dục thường xuyên đối với người lao động; xã hội hóa giáo dục chưa sâu, nhưng sự đầu tư cho sự nghiệp giáo dục - đào tạo của Nhà nước vẫn còn hạn chế. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, “sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển” phải có quốc sách. Đảng ta xác định cùng với khoa học, giáo dục là “quốc sách hàng đầu”. Báu vật của một đất nước phát triển trong thời đại ngày nay đó là trí tuệ, đó là nguồn nhân lực có chất lượng cao và phải có những nhân tài. Thực hiện một nền giáo dục mới - xã hội học tập chính là nhằm góp phần đáp ứng những yêu cầu trên.
  3. Rèn luyện, nâng cao đạo đức cách mạng ­ một nội dung quan trọng trong xây dựng,  chỉnh đốn Đảng hiện nay Khi chuẩn bị những điều kiện để thành lập Đảng, năm 1927, trong tác phẩm Đường cách mệnh, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đề lên trang đầu Tư cách một người cách mệnh, và nhấn mạnh sự: cần kiệm, cả quyết sửa lỗi mình, vị công vong tư, không hiếu danh, không kiêu ngạo, nói thì phải làm, giữ chủ nghĩa cho vững, ít lòng tham muốn về vật chất... Trải qua 30 năm Đảng lãnh đạo cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Đảng ta là đạo đức, là văn minh. Trước khi đi xa, Người yêu cầu Đảng phải thường xuyên nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân. Trong thời kỳ đổi mới, Đảng ta luôn nhấn mạnh nhiệm vụ giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân. Về nâng cao chất lượng đảng viên, Nghị quyết Đại hội X của Đảng yêu cầu: "lấy đạo đức làm gốc, đồng thời bồi dưỡng về kiến thức, trí tuệ, năng lực để làm tròn nhiệm vụ người lãnh đạo, người đi tiên phong trong các lĩnh vực công tác được giao"(1). Như vậy, giáo dục, rèn luyện nâng cao đạo đức cách mạng là nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng hàng đầu trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa đòi hỏi xây dựng hoàn chỉnh cả cơ sở hạ tầng quan hệ kinh tế, lực lượng sản xuất và kiến trúc thượng tầng chính trị, pháp luật, tư tưởng, đạo đức. Nhất thiết phải hình thành và phát triển đạo đức mới, đạo đức của giai cấp vô sản cách mạng. Đạo đức cộng sản góp phần vào sự nghiệp sáng tạo chế độ mới, chế độ xã hội chủ nghĩa. V.I.Lê-nin cho rằng: "Đạo đức đó là những gì góp phần phá hủy xã hội cũ của bọn bóc lột và góp phần đoàn kết tất cả những người lao động chung quanh giai cấp vô sản đang sáng tạo ra xã hội mới..."(2). Ngay trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời ngày 3-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ, chủ nghĩa thực dân "đã dùng mọi thủ đoạn hòng hủ hóa dân tộc chúng ta bằng những thói xấu, lười biếng, gian giảo, tham ô và những thói xấu khác. Chúng ta có nhiệm vụ cấp bách là phải giáo dục lại nhân dân chúng ta. Chúng ta phải làm cho dân tộc chúng ta trở nên một dân tộc dũng cảm, yêu nước, yêu lao động, một dân tộc xứng đáng với nước Việt Nam độc lập"(3). Người cũng đã sớm nhận thấy những biểu hiện thoái hóa, biến chất trong một số đảng viên, cán bộ nắm bộ máy chính quyền. Trong thư gửi ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng, ngày 17-10-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu rõ những lầm lỗi chính là: trái phép, cậy thế, hủ hóa, tư túng, chia rẽ, kiêu ngạo. Đảng ta là một đảng cách mạng, một đảng vì dân, vì nước. Mọi việc làm tốt hay xấu của đảng viên đều ảnh hưởng đến sự nghiệp cách mạng của giai cấp, của dân tộc, cuộc sống của nhân dân. "Đảng viên và cán bộ cũng là người. Ai cũng có tính tốt và tính xấu. Song đã hiểu biết, đã tình nguyện vào một Đảng vì dân, vì nước, đã là một người cách mạng thì phải cố gắng phát triển những tính tốt và sửa bỏ những tính xấu. Vì tính xấu của một người thường chỉ có hại cho người đó; còn tính xấu của một đảng viên, một cán bộ, sẽ có hại đến Đảng, có hại đến nhân dân"(4). Năm 1947, trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề cập nội dung đạo đức cách mạng. Người nhấn mạnh năm điều: nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm. Nhân là thật thà thương yêu, hết lòng giúp đỡ đồng chí và đồng bào. Nghĩa là ngay thẳng, không có tư tâm, không làm việc bậy, không có việc gì phải giấu Đảng. Trí là vì không có việc tư túi nó làm mù quáng, cho nên đầu óc trong sạch, sáng suốt. Dũng là dũng cảm, gan góc, gặp việc phải có gan làm. Thấy khuyết điểm có gan sửa chữa. Liêm là không tham địa vị, không tham tiền tài. Không tham sung sướng. Không ham người tâng bốc mình. Hồ Chí Minh khẳng định "Đó là đạo đức cách mạng. Đạo đức đó không phải là đạo đức thủ cựu. Nó là đạo đức mới,
  4. đạo đức vĩ đại, nó không phải vì danh vọng của cá nhân, mà vì lợi ích chung của Đảng, của dân tộc, của loài người". Người nhấn mạnh: "Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không thể lãnh đạo được nhân dân"(5). Cùng với việc giáo dục, nâng cao đạo đức cách mạng cho đảng viên, cán bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn nhắc nhở mọi người tránh xa mọi thói hư tật xấu. Người cho rằng, những người có thói hư tật xấu là do chủ nghĩa cá nhân. "Chủ nghĩa cá nhân là như một thứ vi trùng rất độc, do nó mà sinh ra các thứ bệnh rất nguy hiểm"(6). Do chủ nghĩa cá nhân mà mắc vào bệnh: tham lam, lười biếng, kiêu ngạo, hiếu danh, thiếu kỷ luật, óc hẹp hòi, óc địa phương, óc lãnh tụ và những bệnh khác như "hữu danh vô thực", kéo bè kéo cánh, bệnh cận thị không trông xa thấy rộng, bệnh "cá nhân", v.v... Trước lúc đi xa, trong bài Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân đăng báo Nhân Dân ngày 3-2-1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc nhở trong Đảng ta bên cạnh rất nhiều đảng viên tốt vẫn "còn có một số ít cán bộ, đảng viên mà đạo đức, phẩm chất còn thấp kém". Họ mang nặng chủ nghĩa cá nhân. "Do cá nhân chủ nghĩa mà ngại gian khổ, khó khăn, sa vào tham ô, hủ hóa, lãng phí, xa hoa. Họ tham danh trục lợi, thích địa vị quyền hành. Họ tự cao tự đại, coi thường tập thể, xem khinh quần chúng, độc đoán, chuyên quyền. Họ xa rời quần chúng, xa rời thực tế, mắc bệnh quan liêu mệnh lệnh. Họ không có tinh thần cố gắng vươn lên, không chịu học tập để tiến bộ". "Cũng do cá nhân chủ nghĩa mà mất đoàn kết, thiếu tính tổ chức, tính kỷ luật, kém tinh thần trách nhiệm, không chấp hành đúng đường lối, chính sách của Đảng và của Nhà nước, làm hại đến lợi ích của cách mạng, của nhân dân"(7). Ở mỗi thời kỳ đấu tranh cách mạng, những nội dung cơ bản đó lại được cụ thể hóa sát hợp với yêu cầu do nhiệm vụ chính trị đặt ra. Vấn đề đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên không chỉ là vấn đề riêng của mỗi cá nhân mà ngày càng trở thành nội dung quan trọng trong xây dựng Đảng, nhất là trong điều kiện Đảng cầm quyền. Công cuộc đổi mới toàn diện và sâu sắc do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo từ 1986 đặt ra những yêu cầu rất cao về năng lực lãnh đạo và phẩm chất đạo đức của mỗi tổ chức đảng và mỗi cán bộ, đảng viên. Phải khẳng định rằng, đa số cán bộ, đảng viên của Đảng hoạt động trong hệ thống chính trị và mọi lĩnh vực đã đáp ứng nhiệm vụ của sự nghiệp đổi mới. Đó là một trong những nguồn gốc làm nên những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của công cuộc đổi mới. Tuy nhiên, Đảng ta cũng sớm nhận thấy rằng, trong điều kiện cơ chế thị trường, kinh tế nhiều thành phần, mở cửa với bên ngoài, cán bộ, đảng viên hằng ngày, hằng giờ chịu sự tác động của nhiều nhân tố phức tạp, kể cả sự chống phá của các thế lực thù địch, vấn đề giữ vững bản chất giai cấp công nhân và phẩm chất, đạo đức cộng sản đứng trước những thách thức mới. Đứng trước bước chuyển này Đảng cũng chưa chú ý đúng mức vấn đề giáo dục, rèn luyện phẩm chất chính trị, đạo đức đối với cán bộ, đảng viên. "Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng bản thân, phai nhạt lý tưởng, mất cảnh giác, giảm sút ý chí, kém ý thức tổ chức kỷ luật, sa đọa về đạo đức và lối sống. Một số thoái hóa về chính trị, tuy rất ít nhưng hoạt động của họ gây hậu quả hết sức xấu"(8). Đại hội IX của Đảng (4- 2001) cũng thẳng thắn chỉ ra rằng: "Tình trạng tham nhũng, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống ở một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên là rất nghiêm trọng. Nạn tham nhũng kéo dài trong bộ máy của hệ thống chính trị và trong nhiều tổ chức kinh tế là một nguy cơ lớn đe dọa sự sống còn của chế độ ta. Tình trạng lãng phí, quan liêu còn khá phổ biến"(9). Nghị quyết Đại hội X của Đảng đánh giá: Cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng
  5. chưa đạt yêu cầu và nêu rõ: "Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, bệnh cơ hội, chủ nghĩa cá nhân và tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí trong một bộ phận cán bộ, công chức diễn ra nghiêm trọng"(10). Tình trạng suy thoái về đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên trong những năm đổi mới đã được các Đại hội Đảng và Hội nghị Trung ương nhìn nhận một cách thẳng thắn, nghiêm túc. Có thể quy lại ba nguyên nhân chính của tình trạng đó. Một là, do tác động của nhiều nhân tố phức tạp trong điều kiện của nền kinh tế nhiều thành phần, kinh tế thị trường, mở cửa với bên ngoài. Hai là, công tác giáo dục, rèn luyện đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên của các tổ chức đảng chưa được chú ý đúng mức, thậm chí còn buông lỏng. Ba là, không ít cán bộ, đảng viên mang nặng chủ nghĩa cá nhân, không chịu tu dưỡng, rèn luyện về đạo đức, lối sống. Để chặn đứng đà suy thoái về đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên, một mặt, phải chủ động phòng ngừa những tác động tiêu cực từ bên ngoài; mặt khác, chủ yếu và quan trọng và phải tăng cường công tác giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên và mỗi cán bộ, đảng viên phải thật sự nghiêm túc tự rèn luyện, tự mình nâng cao đạo đức cách mạng. Đạo đức cách mạng chứa đựng nội dung lớn, căn bản và hoàn toàn có thể thực hiện tốt nếu mỗi người chú trọng tu dưỡng rèn luyện. Tuân theo những chỉ dẫn của Hồ Chí Minh và những quan điểm của Đảng ta trong công cuộc đổi mới, có thể hiểu đạo đức cách mạng hiện nay trên mấy điểm chính sau đây: - Tuyệt đối trung thành với chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định lý tưởng, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, phấn đấu hết sức mình cho sự thắng lợi, sự phát triển của công cuộc đổi mới vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. - Hết lòng, hết sức phục vụ sự nghiệp của Đảng, của Tổ quốc và nhân dân, trung với nước, hiếu với dân, đặt lợi ích của cách mạng, của đất nước và nhân dân lên trên lợi ích của cá nhân, theo nguyên tắc "Dĩ công vị thương". - Thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư. Không tham nhũng, xâm phạm tài sản của Nhà nước và nhân dân, không lãng phí. Chấp hành nghiêm chỉnh đường lối, cương lĩnh, kỷ luật của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước. - Ra sức học tập, rèn luyện không ngừng nâng cao trình độ, năng lực công tác, giữ gìn lối sống trong sạch, lành mạnh. Đề cao tự phê bình và phê bình nhằm góp phần xây dựng Đảng và hệ thống chính trị vững mạnh. - Gương mẫu trong mọi việc, gắn bó mật thiết với quần chúng nhân dân, đoàn kết, thân ái, nêu cao tinh thần thương yêu đồng chí, thương yêu nhân dân. Để không ngừng nâng cao đạo đức cách mạng trong cán bộ, đảng viên, có thể và cần phải tập trung thực hiện một số giải pháp chủ yếu: Thứ nhất, phải coi trọng nhiệm vụ giáo dục cho cán bộ, đảng viên về đạo đức, phẩm chất, lối sống. Nếu trong xã hội, trong hệ thống nhà trường phổ thông và đại học phải coi trọng giáo dục luân lý, đạo đức cho mọi tầng lớp, cho thế hệ trẻ, thì trong Đảng và bộ máy hệ thống chính trị phải đặc biệt chú trọng giáo dục đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên. Trong hệ thống trường đào tạo cán bộ của Đảng, Nhà nước và các đoàn thể nhân dân nhất thiết phải có môn học về đạo đức cách mạng. Đồng thời, cần tăng cường giáo dục cán bộ,
  6. đảng viên qua sinh hoạt ở tổ chức đảng. Trong sinh hoạt chi bộ và cấp ủy không chỉ có phần đánh giá công việc, mà còn phải kiểm điểm, đánh giá về đạo đức cán bộ. "Các tổ chức đảng phải thường xuyên giáo dục, rèn luyện, quản lý đảng viên, kể cả đảng viên là cán bộ cao cấp"(11). Nghị quyết Trung ương sáu (lần 2) khóa VIII, nhấn mạnh: Các tổ chức đảng phải thường xuyên giáo dục, quản lý, kiểm tra cán bộ, đảng viên về đạo đức, lối sống. Đại hội IX của Đảng nhấn mạnh việc tăng cường công tác giáo dục tư tưởng chính trị, rèn luyện đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân. Nghị quyết Đại hội X của Đảng cũng nêu rõ, cần làm tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, quản lý và giám sát đảng viên. Thứ hai, tăng cường vai trò, hiệu lực của kỷ luật Đảng và pháp luật của Nhà nước, tập trung chỉ đạo đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí có hiệu quả. Tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí là một vấn nạn gây nhức nhối trong xã hội hiện nay. Những tệ nạn đó vừa vi phạm luật pháp của Nhà nước, vừa là những hành vi vô đạo đức. Nhà nước đã từng ban hành pháp lệnh và phát triển thành luật phòng ngừa và chống tham nhũng, lập ra các cơ quan chống tham nhũng. Nghị quyết Trung ương sáu (lần 2) khóa VIII xác định rõ: "Các cấp ủy đảng và người đứng đầu các cấp, các ngành từ trung ương đến cơ sở phải chịu trách nhiệm chống tham nhũng ở nơi mình phụ trách. Bộ Chính trị phân công một số ủy viên Bộ Chính trị, các cấp ủy phân công ủy viên Ban Thường vụ trực tiếp chỉ đạo chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu. Khi xảy ra tham nhũng, lãng phí và các hiện tượng tiêu cực ở địa phương, ngành, cơ quan, đơn vị mình phụ trách thì tùy theo mức độ và tính chất vi phạm của vụ việc mà xem xét hình thức kỷ luật đối với cấp ủy và người đứng đầu về chế độ trách nhiệm". "Cấp ủy và ủy ban kiểm tra các cấp cùng với các cơ quan thanh tra, điều tra, kiểm sát, tòa án phải nắm chắc tình hình và khẩn trương kiểm tra, kết luận, xử lý kịp thời đúng pháp luật những đơn tố cáo về đạo đức, lối sống tiêu cực của cấp ủy viên và người đứng đầu các cơ quan, trước hết đối với Ủy viên Trung ương, trưởng ban, bộ trưởng, bí thư cấp ủy, chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và cán bộ chủ chốt trong hệ thống chính trị"(12). Đó là những biện pháp rất cần thiết và mạnh mẽ cần được thực hiện triệt để. Thứ ba, cần tăng cường tuyên truyền, học tập những tấm gương về đạo đức cách mạng, xây dựng, bồi đắp cái tốt, cái đúng trong hành vi đạo đức, biểu dương người tốt, việc tốt, lên án cái xấu, cái ác một cách cụ thể. Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ nói nhiều về đạo đức của người cách mạng mà bản thân cuộc đời và sự nghiệp của Người là tấm gương đạo đức cách mạng trong sáng và cao đẹp. Cần phải xây dựng kế hoạch tuyên truyền, học tập đạo đức Hồ Chí Minh. Cần phải nhận thức rằng, đạo đức của Bác không phải là cái gì cao siêu, xa vời, chỉ để chiêm ngưỡng, ca ngợi, mà đạo đức đó rất thiết thực, cụ thể, mọi người đều có thể học tập và làm theo. Nhiều tấm gương trong sáng về đạo đức cách mạng của các đồng chí lãnh đạo các chiến sĩ cách mạng qua các thời kỳ cần được tuyên truyền học tập. Tấm gương Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc và biết bao đồng chí khác là biểu hiện chủ nghĩa anh hùng cách mạng và đạo đức cao đẹp không chỉ thế hệ trẻ mà mọi cán bộ, đảng viên cần phải đọc, suy ngẫm và hành động cho xứng đáng. Trong công cuộc đổi mới cũng có rất nhiều cán bộ, đảng viên tiêu biểu, nêu cao đạo đức, thật sự vì nước, vì dân. Trong sinh hoạt đảng, đoàn thể, cơ quan, trường học, đơn vị kinh tế, tổ chức xã hội cần nêu gương và học tập những tấm gương tiêu biểu đó. Cần có nhiều cuốn sách viết về những "người tốt, việc tốt". Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh và cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng rất quan tâm đến sách "người tốt, việc tốt". Các phương tiện thông tin đại chúng cũng cần tăng cường hơn chuyên mục về những tấm gương đạo đức cách mạng trong quá khứ và hiện tại. Phải tập trung động viên, cổ vũ cái tốt, cái đúng, cái cao thượng để đẩy lùi cái xấu, cái sai, cái thấp hèn. Dân tộc Việt Nam là dân tộc có truyền thống văn hiến. Ngoài yếu tố về văn hóa, học thức, trí tuệ, biết sống đẹp, ưa chuộng và tôn vinh cái đẹp, văn hiến còn hàm chứa giá trị đạo đức
  7. truyền thống của dân tộc. Cũng cần tổng kết làm rõ những giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc để quảng bá trong mọi tầng lớp xã hội, làm cho xã hội ngày càng trong sạch, lành mạnh. Bác Hồ căn dặn: phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải thấm nhuần đạo đức cách mạng. Đạo đức trong xã hội và đạo đức cách mạng trong Đảng có ảnh hưởng trực tiếp lẫn nhau. Giữ gìn đạo đức tốt trong Đảng có ảnh hưởng trực tiếp tới đạo đức trong xã hội và ngược lại. Mục tiêu phấn đấu của Đảng và nhân dân ta là dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Đảng văn minh, xã hội văn minh nghĩa là giữ gìn, bồi dưỡng đạo đức thật tốt đẹp. Một công dân, một cán bộ, đảng viên có văn hóa nghĩa là phải có đạo đức cao đẹp. Vì thế, việc rèn luyện, nâng cao đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân là một nội dung quan trọng trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay, cũng là nội dung quan trọng trong cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” mà toàn Đảng, toàn dân ta đang tiến hành. Chống tham ô, lãng phí theo tư tưởng Hồ Chí Minh Hồ Chí Minh cho rằng: "Tham ô, lãng phí là căn bệnh "tứ chứng nan y" của mọi nhà nước... nếu không có sự giáo dục sâu sắc và mọi hoạt động của nhà nước không được đặt dưới sự kiểm tra, giám sát của nhân dân thì khó tránh khỏi tình trạng tham ô, lãng phí". Tham ô là lợi dụng quyền hành hoặc chức trách để ăn cắp của công; lãng phí là làm tốn kém hao tổn một cách vô ích. Bác cho rằng, tham ô là lấy trộm của công, chiếm của công làm của tư. Nó có hại đến sự nghiệp xây dựng nước nhà, có hại đến công việc cải thiện đời sống của nhân dân, có hại đến đạo đức cách mạng. Lãng phí và tham ô tuy có khác nhau ở chỗ lãng phí thì không trực tiếp ăn cắp, ăn trộm của công, nhưng kết quả tai hại đến tài sản của nhà nước, của tập thể thì cũng có tội. Lãng phí bao gồm nhiều mặt: lãng phí sức lao động, lãng phí thời gian, lãng phí của cải vật chất, tài nguyên thiên nhiên của nhân dân, của đất nước. Lãng phí có thể do nhiều nguyên nhân: trình độ non kém, thiếu kiến thức nghiệp vụ chuyên môn, độc đoán đưa ra những quyết định sai lầm gây tốn kém hàng chục, hàng trăm tỉ đồng công quỹ của nhà nước hoặc do chủ ý “ném tiền qua cửa sổ”; coi của công là “của chùa”; ăn uống, biếu xén, tiêu xài xa hoa lãng phí. Để nhấn mạnh tính chất nghiêm trọng của bệnh tham ô, lãng phí, Chủ tịch Hồ Chí Minh kết luận: "Tham ô là trộm cướp. Lãng phí tuy không lấy của công đút túi, song kết quả cũng rất tai hại cho nhân dân, cho chính phủ. Có khi tai hại hơn nạn tham ô". Chống tham ô, lãng phí là vấn đề luôn được Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm và đã trở thành một nội dung quan trọng trong hệ thống tư tưởng của Người. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, nguyên nhân sâu xa dẫn đến căn bệnh tham ô, lãng phí, đó là chủ nghĩa cá nhân. Chủ nghĩa cá nhân như một thứ vi trùng rất độc, nảy sinh ra các bệnh nguy hiểm như lười biếng, ngại gian khổ, khó khăn, tham danh, trục lợi, thích địa vị quyền hành, tham ô, hủ hóa, lãng phí, xa hoa... Cũng do cá nhân chủ nghĩa mà mất đoàn kết, thiếu tính tổ chức, tính kỷ luật, kém tinh thần trách nhiệm, không chấp hành đúng đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước, làm hại lợi ích của cách mạng, của nhân dân. Tóm lại, do cá nhân chủ nghĩa mà phạm nhiều sai lầm. Bệnh quan liêu là nguồn gốc sinh ra tệ nạn tham ô, lãng phí. Bác chỉ rõ: Có tham ô, lãng phí là vì bệnh quan liêu. Tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu là kẻ thù của nhân dân, bộ đội và chính phủ. Nó là kẻ thù khá nguy hiểm, vì nó không mang gươm, mang súng và nằm trong các tổ chức của ta để làm hỏng công việc của ta, làm hỏng tinh thần trong sạch và ý chí vượt khó của cán bộ ta, phá hoại đạo đức cách mạng cần, kiệm, liêm, chính... Nó là một thứ giặc trong lòng, “giặc nội xâm”... Vì
  8. vậy: “Chống tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu cũng quan trọng và cần kíp như việc đánh giặc trên mặt trận. Đây là mặt trận tư tưởng và chính trị”. Tham ô, lãng phí còn do trình độ hiểu biết, trình độ văn hóa và trình độ tổ chức quản lý nhà nước yếu kém. Mỗi người đảng viên, cán bộ từ trên xuống dưới đừng tưởng mình ở cơ quan Chính phủ là thần thánh rồi, coi khinh nhân dân, cứ lúc nào cũng vác mặt “quan cách mệnh”. Họ tự cho mình cái gì cũng giỏi. Họ xa rời quần chúng và chỉ muốn làm thầy quần chúng. Nói chuyện với cán bộ, đảng viên, Bác nhắc nhở mọi người phải ghi nhớ và làm theo câu nói của Lênin là “học, học nữa, học mãi”. Cán bộ ở cấp càng cao càng phải học nhiều, học văn hóa, học chuyên môn, học đạo đức, học cách cư xử và cách làm người... Do trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn, trình độ khoa học kỹ thuật thấp, thiếu hiểu biết thực tiễn, quen chỉ đạo, giáo huấn chung chung lại không chịu rèn luyện tu dưỡng nên một số cán bộ, đảng viên đã rơi vào tình trạng tham ô, lãng phí, suy thoái phẩm chất đạo đức... gây ảnh hưởng đến uy tín của Đảng và Nhà nước. Từ những nguyên nhân cơ bản trên, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra những phương thuốc chữa và triệt tận gốc bệnh tham ô, lãng phí, đó là: 1. Muốn chống tham ô, lãng phí, trước hết và quan trọng nhất là phải chống chủ nghĩa cá nhân. Bác nói: "Đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân không có nghĩa là “giày xéo lên lợi ích cá nhân”... Bác khuyên dạy cán bộ, đảng viên, quân đội... không xâm phạm cái kim sợi chỉ của dân, lên án những cán bộ, đảng viên nặng đầu óc cá nhân chủ nghĩa, chỉ biết chăm lo thu vén cho bản thân mình, không quan tâm đến lợi ích của tập thể cộng đồng và của những người xung quanh mình. Phải kiên quyết quét sạch chủ nghĩa cá nhân trong bộ máy của Đảng, của Nhà nước thì Đảng mới thực sự trong sạch và vững mạnh, mới giành được sự tin yêu thực sự của nhân dân. Bác yêu cầu: “Mỗi cán bộ, đảng viên phải đặt lợi ích của cách mạng, của Đảng, của nhân dân lên trên hết, trước hết. Phải kiên quyết quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng, bồi dưỡng tư tưởng tập thể, tinh thần đoàn kết, tính tổ chức và tính kỷ luật”. Điều đó có nghĩa là Đảng phải thực hành kỷ luật nghiêm minh, Nhà nước phải có thể chế cụ thể, rõ ràng và quan trọng hơn là phải biết dựa vào lực lượng quần chúng đấu tranh, phê bình, giáo dục và xử lý nghiêm minh những cán bộ đảng viên mắc bệnh cá nhân chủ nghĩa, tham ô, lãng phí gây nguy hại cho Đảng, cho Nhà nước, cho nhân dân. 2. Muốn chống tham ô, lãng phí phải phát huy quyền làm chủ tối đa của nhân dân, phải biết dựa vào dân: “Dân chủ là thế nào? Là dân làm chủ. Dân làm chủ thì Chủ tịch, Bộ trưởng, Thứ trưởng, Ủy viên này khác là làm gì? Làm đầy tớ. Làm đầy tớ cho nhân dân, chứ không phải là làm quan cách mạng. Thực hiện dân chủ là cái chìa khóa vạn năng có thể giải quyết mọi khó khăn”. 3. Tiếp tục hoàn thiện bộ máy quản lý nhà nước, đào tạo và nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ. Nhà nước đó phải thể hiện và thực hiện trên thực tế quyền lực của nhân dân, chịu sự kiểm tra, giám sát của nhân dân; thực hiện dân chủ hóa, công khai hóa sự quản lý của nhà nước. Việc hoàn thiện bộ máy quản lý gọn, nhẹ, có hiệu lực, bảo đảm cho bộ máy đó phải đi sâu đi sát thực tế, gắn quần chúng, thật sự tôn trọng và phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân. Đại hội X của Đảng cũng đã chỉ ra những mặt tồn tại, hạn chế trong công tác xây dựng Đảng là: “Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng chưa đạt yêu cầu. Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, bệnh cơ hội, chủ nghĩa cá nhân và tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí trong một bộ phận cán bộ, công chức diễn ra nghiêm trọng...”. Chính vì vậy, một trong những nhiệm vụ quan trọng trong thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” là phải thực hiện cho được lời Bác dạy về nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân, triệt tận gốc bệnh tham ô, lãng phí.
  9. Chống chủ nghĩa cá nhân  Trong bài viết “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”, Chủ tịch Hồ Chí  Minh đã nghiêm khắc phê phán chủ nghĩa cá nhân (CNCN) ở  một số cán bộ,  đảng viên. Bác  viết: “Họ mang nặng chủ nghĩa cá nhân, việc gì cũng nghĩ tới lợi ích của riêng mình trước hết.  Họ không lo “mình vì mọi người” mà chỉ muốn “mọi người vì mình”, do cá nhân chủ nghĩa mà   ngại gian khổ, khó khăn, sa vào tham ô, hủ hóa, lãng phí, xa hoa…”. Sự phê phán đó của Bác Hồ  đối với CNCN cho tới ngày nay vẫn giữ nguyên giá trị,  đồng thời   mang tính thời sự nóng hổi và có ý nghĩa giáo dục đạo đức, lối sống sâu sắc cho cán bộ, đảng  viên và nhân dân ta. Ở  nước ta hiện nay, những người mang nặng CNCN thường có  những  điểm giống nhau là:   Trong cuộc sống hằng ngày, họ  luôn tìm cách vun vén cho lợi  ích riêng và  gia  đình họ; tính  toán  đem lại lợi  ích cho một nhóm người “cùng cánh” có  lợi  ích ràng buộc với nhau; hoặc  ít   hoặc không quan tâm, chăm lo tới lợi  ích chính đáng, thiết thực của tập thể, đơn vị và xã hội.   Có  người mang nặng CNCN, vì  chỉ  muốn mình là  người nhanh chóng  được thăng quan, tiến  chức hoặc có quyền cao, chức trọng mà bán rẻ  lương tâm, tìm cách “đánh gục” những người  trung thực, thẳng thắn, những người có năng lực khi những người này dám nói sự thật về những  khuyết điểm của đơn vị và phê bình họ khi có khuyết điểm. Có người “háo danh”, muốn mình được nổi tiếng trước đơn vị, trong tổ chức, trong quần chúng,  khi thấy có ai đó thực đức, thực tài hơn mình thì tỏ ra khó chịu, đố kỵ, nói xấu, thậm chí tìm mọi  cách nhằm vô hiệu hóa uy tín của những người này trong cơ quan, đơn vị. Có người vì   để  CNCN lấn  át nên  đã  thoái hóa, biến chất, sa  đọa về   đạo  đức, lối sống, tham   nhũng, trục lợi, buôn lậu, làm giàu phi pháp, sống thực dụng, chạy theo đồng tiền… Đấu tranh quét sạch CNCN vừa là nhiệm vụ cơ bản lâu dài, vừa là nhiệm vụ quan trọng, cấp   bách trước mắt của toàn  Đảng, toàn dân và  toàn quân ta.  Đồng thời,  đây cũng là  một biện  pháp cơ  bản, quan trọng  để  phòng chống tham nhũng có hiệu quả và là biện pháp thiết thực  để  hưởng  ứng, làm theo Cuộc vận  động “Học tập và  làm theo tấm gương  đạo  đức Hồ  Chí  Minh”. Hiện nay, để đấu tranh quét sạch CNCN trong các tổ chức cũng như trong toàn xã hội có hiệu  quả  thiết thực, theo tôi, trước mắt cần tập trung thực hiện tốt một số  biện pháp chủ  yếu sau  đây: Tổ  chức  Đảng các cấp và  thủ  trưởng cơ  quan,  đơn vị  cần tăng cường hơn nữa công tác giáo   dục chính trị, tư tưởng cho cán bộ, đảng viên và quần chúng. Thường xuyên theo dõi, kịp thời phát hiện những biểu hiện của CNCN mới xuất hiện trong cán  bộ, đảng viên và quần chúng ở đơn vị để có biện pháp ngăn chặn và đấu tranh kịp thời, có hiệu  quả.
  10. Làm tốt công tác kiểm tra, thanh tra và  quản lý  cán bộ,  đảng viên, nhân viên, kịp thời biểu  dương người tốt, việc tốt,  đơn vị  tốt; xử  lý  nghiêm minh những cán bộ,  đảng viên vi phạm kỷ   luật. Mỗi cán bộ, đảng viên, quần chúng cần ra sức học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí  Minh và thực hiện tốt hơn nữa đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà  nước về triệt để thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, tham nhũng, tiêu cực.

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản