Tư tưởng xã hội học của E. Durkhiem

Chia sẻ: Nguyen Thi Hien | Ngày: | Loại File: DOCX | Số trang:8

1
160
lượt xem
79
download

Tư tưởng xã hội học của E. Durkhiem

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Theo E.Durkheim, xã hội tồn tại bên ngoài cá nhân và có trước cá nhân với nghĩa là cá nhân dược sinh ra trong xã hội và phải tuân thủ các chuẩn mực, phép tắc xã hội đã có sẵn trước khi cá nhân đó được sinh ra. Vì vậy XHH cần phải xem xét hệ thống xã hội, cấu trúc xã hội và các hiện tượng xã hội với tư cách là các sự vật, các bằng chứng, các sự kiện đang tác động tới đời sống của các cá nhân....

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tư tưởng xã hội học của E. Durkhiem

  1. Tư tưởng xã hội học của E.Durkheim: 1. Quan niệm về khoa học xã hội học: 1.a. Quan niệm về đối tượng nghiên cứu: Theo E.Durkheim, xã hội tồn tại bên ngoài cá nhân và có trước cá nhân với nghĩa là cá nhân dược sinh ra trong xã hội và phải tuân thủ các chuẩn mực, phép tắc xã hội đã có sẵn tr ước khi cá nhân đó được sinh ra. Vì vậy XHH cần phải xem xét hệ thống xã hội, cấu trúc xã hội và các hiện tượng xã hội với tư cách là các sự vật, các bằng chứng, các sự kiện đang tác đ ộng tới đời sống của các cá nhân. Thực chất XHH của E.Durkheim chủ yếu xoay xung quanh vấn đề mối quan hệ gi ữa con người và xã hội. Ông đã tìm cách trả lời câu hỏi: làm thế nào có thể bảo đảm tự do cá nhân mà không làm tăng tính ích kỷ của con người trong khi vẫn tạo ra được trật tự xã hội qua việc nghiên cứu các sự kiện xã hội như lao động, tự tử và nhiều sự kiện khác? Để trả lời câu hỏi này lúc đầu ông vận dụng cách tiếp cận vĩ mô trong nghiên cứu xã hội với tư cách là một chỉnh thể hệ thống, ví dụ như là ông đã chỉ ra vai trò quan trọng của đoàn kết xã hội, của phân công lao động trong xã hội đối với việc duy trì trật tự xã hội nói riêng và h ệ thống xã hội nói chung. Sau đó ông phân tích các quá trình vi mô làm nền tảng của trật tự xã hội, ví dụ như là ông nghiên cứu các quá trình tương tác trực tiếp, giao tiếp cá nhân, các nghi thức xã hội và các hình thức sơ đẳng của đời sống tôn giáo đ ể gi ải thích cách t ổ ch ức và phát triển cộng đồng xã hội. Như vậy, theo E.Durkheim để biến XHH thành khoa học thì cần xác định rõ đối tượng nghiên cứu và phương pháp khoa học của nó, cần áp dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học thực chứng như: quan sát, so sánh, thực nghiệm để nghiên cứu, phát hiện ra các quy luật của các sự vật, sự kiện xã hội. Theo quan niệm của E.D, có thể định nghĩa khái quát XHH là khoa học nghiên cứu các sự kiện xã hội. Sự kiện xã hội là sản phẩm của lịch sử, là kết quả của hoạt động tập thể. Có thể coi quan niệm XHH của E.D thuộc về “chủ nghĩa tập thể” bởi ông luôn lấy cuộc sống c ộng đồng làm xuất phát điểm của sự kiện xã hội, của các phương pháp tiếp cận các sự ki ện xã hội. 1.b. Quan niệm về cơ cấu xã hội: Hình thái học xã hội là một bộ phận của XHH có nhiệm vụ nghiên cứu thành phần, cấu t ạo, số lượng, kích cỡ, cách sắp xếp và các mối liên hệ giữa những thành phần cụ thể và phân loại chúng để chỉ ra các kiểu xã hội, các hình thức xã hội. Một số bộ phận khác của XHH chuyên nghiên cứu sự biến đổi xã hội với các nguyên nhân, cơ chế, điều kiện và hệ quả của sự biến đổi xã hội. Theo quan niệm của chủ nghĩa chức năng, XHH hướng tới phân tích các nguyên nhân và đưa ra cách giải thích về chức năng của các sự kiện xã hội. Ông chủ trương áp dụng quy tắc giải thích các chức năng luận vào xã hội học. Chức năng được hiểu là sự phù hợp giữa sự ki ện được nghiên cứu với các nhu cầu chung của cơ thể xã hội. Theo E.Durkheim, sự kiện xã hội xuất hiện là để đáp ứng nhu cầu của tổng thể hệ thống xã hội, cần tìm hiểu và chỉ ra chức năng của một sự kiện xã hội trong mối quan hệ của nó với cả hệ thống xã hội đang theo đuổi những mục đích nhất định nào đó. 1.c. Vị trí độc lập của xã hội học trong khoa học: Theo E.D, XHH coi các hiện tượng xã hội là sự vật và phải được xử l1y với tư cách là những dữ liệu. Sự kiện xã hội xuất hiện, vận động và biến đổi không phải vì chức năng kinh tế cũng không phải vì hiệu quả kinh tế mà nó có nguyên nhân xã hội, có các tác nhân xã hội và có hệ quả đối với đời sống xã hội của con người.
  2. Ngoài sự khác biệt với triết học và kinh tế học, E.D còn nhấn mạnh sự khác biệt về đối tượng nghiên cứu giữa XHH và tâm lý học Xã hội học Tâm lý học XHH nghiên cứu các sự kiện xã hội từ bên Tâm lý học có đối tượng tác động là sự trải ngoài như các sự vật bên ngoài. nghiệm và nhu cầu, động cơ của thế giới bên trong cá nhân. Phương pháp tâm lý học xuất phát từ cá nhân, XHH có hệ thống phương pháp luận với từ thế giới bên trong con người để hiểu các đặc các quan niệm, với các quy tắc và các điểm, tính chất hành vi cá nhân hay hành vi của thao tác nghiên cứu cụ thể. nhóm người. Tâm lý học xuất phát từ thế giới bên trong của XHH xuất phát từ cấu trúc, chức năng XH, cá nhân mỗi người. từ thế giới XH bên ngoài cá nhân để hiểu hành vi xã hội của nhóm người và cuộc sống xã hội của con người. Như vậy, quan niệm của E.D về XHH cho thấy nó nghiên cứu cái gì, nghiên cứu như thế nào và vị trí tương đối độc lập của nó trong hệ thống các khoa học, đ ặc biệt là ranh gi ới gi ữa XHH với tiết học, kinh tế học và tâm lý học. 2. Các quy tắc phương pháp luận: Nguyên lý xuyên suốt trong phương pháp nghiên cứu của E.D là quan niệm coi các sự kiện xã hội như những sự vật. Vì vậy, thành kiến coi con người là trung tâm của vũ trụ, là thước đo của thế giới phải bị xóa bỏ ra khỏi tất cả các khoa học, nhất là trong XHH. Theo ngôn ng ữ triết học, ta có thể nói: E.D cho rằng phải thay thế CNDT bằng CNDV trong phương pháp luận XHH. Để hiểu rõ đối tượng và phương pháp nghiên cứu của XHH E.D ta cần tìm hiểu một số quy tắc mà ông đưa ra cách đây hơn một thế kỷ. Các quy tắc đó được phân thành một số nhóm chính sau đây: Nhóm quy tắc quan sát hiện tượng xã hội: Quy tắc này đòi hỏi coi các sự kiện xã hội như các sự vật. Khi quan sát sự ki ện xã h ội, nhà XHH phải gạt bỏ một cách hệ thống tất cả các khái niệm thường ngày, phải loại bỏ các tình cảm và thành kiến của cá nhân, phải định nghĩa rõ hiện tượng nghiên cứu, phải tìm ra các chỉ báo thực nghiệm của hiện tượng nghiên cứu. Ông cho rằng khi nào sự kiện xã hội được coi là sự vật thì mới có thể sử dụng các phương pháp thực chứng để nghiên cứu các đặc điểm, tính chất và quy luật của sự kiện xã hội, kể cả các hiện tượng xã hội như: niềm tin, chuẩn mực, đạo đức cũng phải được coi là đối tượng nghiên cứu khoa học với tư cách là các sự vật đ ặc biệt trong hiện thực khách quan. Nhóm quy tắc phân biêt cái bình thường với cái sai lệch: Quy tắc này đòi hỏi nhà nghiên cứu XHH phải phân biệt được cái chuẩn mực với cái dị biệt vì mục tiêu sâu xa của XHH là chỉ ra những gì là chuẩn mực tốt lành cho cuộc s ống c ủa con người. Theo E.D cách tốt nhất để xác định chuẩn mực là phát hiện ra cái th ường g ặp, cái chung, cái của số đông, cái điển hình của xã hội cụ thể trong giai đoạn phát triển lịch sử nhất định.. căn cứ vào đó có thể coi tất cả những gì lệch lạc so với chuẩn mực là dị biệt, là không bình thường, thậm chí là các tệ nạn, các bệnh tật xã hội. Nhóm quy tắc phân loại xã hội: E.D cho rằng cần phân loại xã hội dựa vào bản chất và số lượng các thành phần cấu thành nên xã hội, căn cứ vào phương thức, cơ chế, hình thức kết hợp các thành phần đó.
  3. Nhóm quy tắc chức năng luận: Quy tắc này đòi hỏi: khi giải thích các hiện tượng xã hội ta cần phân biệt nguyên nhân gây ra hiện tượng với chức năng mà hiện tượng đó thực hiện. Theo E.D nghiên cứu XHH có hai nhiệm vụ chính: một là chỉ ra điều kiện, yếu tố và nguyên nhân gây ra hiện tượng; hai là phân tích chức năng, hệ quả của hiện tượng đó đối với cả hệ thiông xã hội, bối cảnh xã hội mà hiện tượng đó diễn ra. Đây là những quy tắc phương pháp luận làm cơ sở phát triển tr ường phái chức năng luận trong XHH. Nhóm quy tắc chứng minh XHH: Để chứng minh một hiện tượng là nguyên nhân của hiện tượng khác cần phải sử dụng các quy tắc của phương pháp thí nghiệm, so sánh, kết lắng, và nhất là phương pháp xem xét s ự biến đổi cùng nhau (cùng biến đổi). Quy tắc này đòi hỏi phải so sánh hai hay nhiều các xã hội để xem liệu một sự kiện đã cho trong một xã hội mà không hiện diện trong xã hội khác có gây ra sự khác biệt nào trong xã hội đó hay không? Có thể áp dụng quy tắc chứng minh “biến thiên tương quan” trong nghiên cứu xã hội như sau: nếu hai sự kiện tương quan với nhau và một trong hai sự kiện đó được coi là nguyên nhân gây ra sự kiện kia, và trong khi các sự kiện khác cũng có thề là nguyên nhân nhưng không thể loại trừ được mối tương quan giữa hai sự kiện này thì cách giải thích nhân quả như vậy có thể được coi là đúng, là có thể chấp nhận được. Trong XHH thực nghiệm hiện đại, phương pháp biến thiên tương quan này là cách phân tích hồi quy đa biến. Với ý nghĩa thực nghiệm quan trọng như vậy nên phương pháp hồi quy (đơn biến và đa biến) được sử dụng triệt để trong các nghiên cứu XHH hiện nay. 3. Sự kiện xã hội: 3.a. Khái niệm: Theo E.Durkheim, đối tượng nghiên cứu của xHH là các sự kiện xã hội. Khái niệm sự kiện xã hội được hiểu với hai nghĩa cơ bản như sau: Các sự kiện xã hội có tính “vật chất”: ví dụ: nhóm người, dân cư, tổ chức xã hội, thiết chế xã hội với tất cả các đặc điểm về chất và lượng của nó. Các sự kiện xã hội có tính “phi vật chất”: ví dụ: hệ thống giá trị, chuẩn mực, phong t ục, t ập quán xã hội. Sự kiện phi vật chất bao gồn cả các sự kiện đạo đức, tức là các cách thức hành động, suy nghĩ và trải nghiệm mà các cá nhân nhập tâm được khi cùng chung sống trong xã hội. 3.b. Các đặc trưng cơ bản của sự kiện xã hội: Tính khách quan: Sự kiện xã hội phải là những gì bên ngoài cá nhân, đ ộc l ập với ý mu ốn ch ủ quan c ủa cá nhân. Tính phổ biến: Các sự kiện xã hội bao giờ cũng là sự kiện chung, phổ biến đối với nhiều cá nhân. Nghĩa là sự kiện xã hội là cái được cộng đồng xã hội cùng chia sẻ, chấp nhận, coi chúng là của mình; sự kiện xã hội là phổ biến đối với moi thành viên trong xã hội. Tính cưỡng chế: Sự kiện xã hội bao giờ cũng có sức mạnh kiểm soát. Thậm chí là hạn chế, gây áp lực đối với hành động và hành vi của cá nhân. Các điều khoản luật là ví dụ rất rõ về đ ặc trưng này của sự kiện xã hội. Qua đó thấy rằng E.D coi XH có vai trò nhất định đối với đời sống con người. 4. Đoàn kết xã hội:
  4. 4.a. Khái niệm: Khái niệm đoàn kết xã hội của E.D có nội dung gần giống với khái niệm hội nhập XH đang được sử dụng rộng rãi hiện nay. Ông dùng khái niệm này để chỉ các mối quan h ệ gi ữa cá nhân và xã hội, giữa các cá nhân với nhau, giữa cá nhân với nhóm XH. Nếu như không có sự đoàn kết xã hội thì các cá nhân riêng lẻ, biệt lập không thể tạo thành XH với t ư cách là một chỉnh thể hệ thống xã hội. E.D đã phân biệt hai hình thức cơ bản của sự đoàn kết xã hội là đòan kết cơ học và đoàn kết hữu cơ, tương ứng với nó là hai loại xã hội: xã hội cơ học và xã hội hữu cơ. Ông đã vận dụng khái niệm đoàn kết xã hội để giải thích các hiện tượng xã hội như sự phân công lao động, tự tử, tôn giáo và nhiều sự kiện xã hội khác. Ông không những phát hiện ra nguyên nhân mà còn phân tích chức năng, hệ quả và mối quan hệ của các hiện tượng đó với việc duy trì, củng cố đoàn kết xã hội tức là trật tự xã hội và biến đổi xã hội. 4.b. Đoàn kết xã hội và phân loại xã hội: Đoàn kết xã hội cơ học: Đây là kiểu đoàn kết xã hội dựa trên sự giống nhau, sự thuần nhất, sự đ ơn đi ệu, sự thống nhất của các giá trị, niềm tin, tín ngưỡng, phong tục tập quán. Các cá nhân gắn bó với nhau trên cơ sở cùng chia sẻ những giá trị tinh thần, trên cơ sở lòng trung thành của cá nhân đ ối với truyền thống, tập tục và quan hệ gia đình. Trong xã hội này, quyền tự do cá nhân, tinh thần tự chủ và tính độc lập của các cá nhân rất thấp. Xã hội cơ học thường có quy mô nhỏ nhưng ý thức cộng đồng cao, các chuẩnmực chặt chẽ, luật pháp mang tính chất cưỡng chế. Đoàn kết xã hội hữu cơ: Đây là kiểu đoàn kết XH dựa trên sự phong phú, sự đa dạng của các chức năng, các mối liên hệ, các tương tác giữa các cá nhân và các bộ phận cấu thành nên xã hội. Trong xã hội này, mức độ và tính chất chuyên môn hóa chức năng càng cao thì các bộ phận trong xã hội càng phụ thuộc, càng gắn bó và đoàn kết chặt chẽ với nhau. XH hữu cơ thường có quy mô lớn, ý thức cộng đồng có thể yếu nhưng tính độc lập, tự chủ của cá nhân được đề cao, đ ược tôn trọng. Các quan hệ xã hội chủ yếu mang tính chất chức năng, tính chất trao đ ổi và đ ược pháp luật tôn trọng, bảo vệ. Sự biến đổi xã hội từ dạng này sang dạng khác bắt nguồn từ những thay đổi có tính quy luật thề hiện qua các sự kiện xã hội có tính vật chất và phi vật chất. 4.c. Đoàn kết xã hội và phân công lao động: Theo E.D, phân công lao động thực hiện chức năng vô cùng to lớn và quan trọng đối với cuộc sống con người, đó là tạo ra sự đoàn kết xã hội, sự hội nhập xã hội. Cùng với sự bi ến đ ổi hình thức phân công lao động là sự xuất hện kiểu xã hội mới. Với trình đ ộ phân công lao động ngày càng cao thì vai trò và nhiệm vụ lao động càng bị phân hóa và chuyên môn hóa sâu sắc. Kết quả là các cá nhân ngày càng phải tương tác vào nhau, ph ụ thu ộc l ẫn nhau, quan hệ với nhau một cách chặt chẽ và đó chính là sự đoàn kết hữc cơ. Sự biến đổi xã hội phụ thuộc vào sự biến đổi kiểu đoàn kết xã hội. Đến lượt mình sự đoàn kết XH phụ thuộc vào sự phân công lao động. Ông cho rằng sự di cư và tích tụ dân cư, đô thị hóa và công nghiệp hóa đã làm tăng mật độ tiếp xúc, quan hệ và tương tác giữa các cá nhân, nhóm và tổ chức trong xã hội. Trong bối cảnh đó buộc cá nhân muốn tồn tại phải “đấu tranh”, cạnh tranh với nhau thông qua sự phân công lao động, thông qua sự chuyên môn hóa ch ức năng và nhiệm vụ. Ông chỉ ra rằng sự phân công lao động càng tinh vi, chuyên môn hóa chức năng xã hội càng cao thì các cá nhân, các nhóm xã hội càng tương tác chặt chẽ với nhau và càng phụ thuộc lẫn nhau. Kết quả là tạo ra sự đoàn kết XH và củng cố tinh thần đoàn k ết XH. 4.d. Đoàn kết xã hội và tự tử:
  5. E.D chỉ ra rằng nạn tự tử là hiện tượng XH có mối liên hệ tỷ lệ nghịch với mức đ ộ đoàn kết, gắn kết, hội nhập XH. Ông cho rằng tự tử là cái chết do kết quả trực tiếp hoặc gián ti ếp t ừ hành động tích cực hay tiêu cực của cá nhân chống lại chính bản thân mình mà cá nhâm biết là hành động đó nhất định tạo ra kết cục như vậy. Ông cũng chỉ ra rằng tự tử phụ thuộc vào các yếu tố xã hội cụ thể. Ví dụ như: những người theo đạo Tin lành tự sát nhiều hơn những người theo đạo Công giáo, tỷ lệ tự tử ở thành phố cao hơn ở nông thôn. Dựa vào đặc điểm và tính chất của sự đòan kết xã hội, ông phân biệt một số kiểu t ự t ử như sau: Tự tử ích kỷ: xảy ra khi cá nhân bị bỏ rơi, không được quan tâm đến và cá nhân chỉ sống vì bản thân mình. Đây là kiểu tự tử do chủ nghĩa cá nhân quá lớn, quá mạnh gây ra. Tự tử vị tha: cá nhân tự sát, xả thân vì mục tiêu của nhóm. Tự tử vị tha có thể diễn ra dưới hình thức bắt buộc không thể làm khác trong một tình huống nhất định. Hành động tự sát này có thể là do quy ước có tính truyền thống của nhóm (ví dụ: kiểu tự sát võ sĩ đạo), có thể đơn giản chỉ là do quan niệm đó là sự hy sinh. Dù dưới hình thức nào thì kiểu tự tử vị tha chủ yếu là do sự gắn kết quá mạnh của cá nhân với nhóm, với cộng đồng xã hội. Tự tử phi chuẩn mực: đó là sự tự sát trong tình huống nhiễu loạn, hỗn độn, khủng hoảng. Trong tình huống xã hội như vậy các chuẩn mực cũ không còn tác dụng kiểm soát, đi ều tiết hành vi cá nhân nhưng các chuẩn mực mới chưa xuất hiện, cá nhân r ơi vào tr ạng thái m ất phương hướng, chơi vơi. Tự tử cuồng tín: đó là sự tự sát do niềm tin mù quáng chi phối, do bị kiểm soát, điều tiết quá gắt gao, trừng phạt quá nặng nề về mặt giá trị, chuẩn mực. Các kiểu tự tử khác nhau về mức độ, tính chất đoàn kết xã hội chứ không phải tách biệt hoàn toàn, tuyệt đối. Về mặt phương pháp luận XHH, ông đã chứng minh rằng có thể gi ải thích hiện tượng tự tử từ góc độ XHH chứ không phải là tâm lý học. Là một hiện tượng xã hội, tự tử liên quan tới đoàn kết xã hội, phụ thuộc vào mối liên kết của cá nhân với nhóm, sự đi ều ti ết kiểm soát từ phía các hệ giá trị, chuẩn mực Xh đối với hành vi của các cá nhân chức không phải là phụ thuộc vào tâm lý cá nhân. 4.e. Đoàn kết xã hội và tôn giáo: Theo E.D, tôn giáo có nguyên nhân xã hội và có chức năng xã hội. Chức năng đích thực của tôn giáo là gắn kết cá nhân và nhóm xã hội – đoàn kết cộng đồng, làm cho họ hoạt động một cách tự tin và giúp cho họ sống theo quan niệm của họ. Nhờ có tôn giáo với tư cách là một thể thống nhất bao gồm các niềm tin và các hành đ ộng nghi lễ tạo thành một cộng đồng đạo đức riêng gọi là “nhà thờ”. Các cá nhân theo tôn giáo đó cảm thấy có sức mạnh và tìm cách vượt qua những khó khăn của cuộc sống, cho dù nhi ều khi cách thức hành động của họ chỉ giới hạn trong phạm vi tinh thần, ý thức. Nhờ tôn giáo mà họ có đức tin, có niềm tin vào một sức mạnh vô hình, siêu tự nhiên. Về mặt lý luận XHH, đối với E.D tôn giáo nảy sinh dưới tác động của các yếu XH, các đi ều kiện XH. Chức năng XH cơ bản của tôn giáo là tạo ra sự đoàn kết xã hội giữa cá nhân, củng cố niềm tin và tăng cường gắn bó, quyết tâm của các cá nhân trong xã hội. Mọi tôn giáo xét cho đến cùng cũng là sản phẩm của lịch sử xã hội, của mối tương tác và hoạt đ ộng c ộng đồng. Kết luận: Với lý luận và phương pháp luận khoa học, khách quan, E.Durkheim đã xây dựng và phát triển những quy tắc phương pháp xã hội và khái niệm cơ bản của XHH như sự kiện XH, đoàn kết xã hội. Lý thuyết XHH của E.D làm sáng tỏ nhiều chủ đề quan trọng như chức năng Xh, cấu trúc xã hội, phân loại xã hội bình thường và sai lệch xã hội, trật tự xã hội và biến đ ổi xã hội. Emeli Durkheim đã có công lớn trong việc làm cho XHH trở thành một bộ môn khoa học độc lập, đồng thời cũng mở đường cho một trào lưu tư tưởng mới. Ông đã khởi dầu một
  6. phương pháp nghiên cứu mà người ta gọi là định lượng vì nó dựa trên những điều tra thống kê. Các kỹ thuật này ngày nay vẫn còn nguyên giá trị, chúng thường đi đôi và b ổ sung cho phương pháp định tính./. Những đóng góp của E.Durkheim (1858 – 1817) đối với sự phát triển của XHH. “Khi giải thích hiện tượng xh ta cần phân biệt nguyên nhân gây ra hiện t ượng đó và ch ức năng mà hiện tượng đó thực hiện” a. Tiểu sử: Ông là một nhà xhh người pháp nổi tiếng, sinh năm 1858 trong một gia đình do thái, mất năm 1917. ông là người đặt nền móng xây dựng chủ nghĩa chức năng . Ông là nhà giáo dục học, triết học, một nhà kinh tế học và là một nhà xhh. Ông còn được coi là nhà sáng lập xhh Pháp vì ông đã có công lớn đ ưa xhh tr ở thành một lĩnh vực khoa học, một ngành nghiên cứu về giáo dục ở Pháp nên được coi là cha đẻ của xhh Pháp. Bối cảnh kinh tế xh Pháp ở cuối thế kỷ 18 đầu thể kỷ 19 ảnh hưởng lớn đến sâu sắc đến quan điểm tư tưởng của ông về xhh.Nhiều học giả trên thế giới thừa nhận .xhh này sinh ra trong bối cảnh đầy biến động của kinh tế – xh Pháp cuối TK 18 đ ầu TK 19. Chính Durkheim đã gọi xh Pháp thời kỳ này là một xh vô tổ chức, một chính phủ vô đ ạo đ ức. Ông cho rằng cần phải có một khoa học nghiên cứu các hiện tượng trong XH.Gi ải pháp xhh của ông đã được thừa nhận như vậy .Ông đã đặt ra nhiệm vụ cho xhh là phải nghiên cứu thực tại hiện tại xh để có giải pháp tổ chức lại trật tự xh . Về mặt tư tưởng và khoa học .ông chịu ảnh hưởng bởi chủ nghĩa thực chứng của A. Comte và nguyên lý tiến hoá xh của Spencer. b. Tác phẩm : - Tự tử - Sự phân công lao động trong Xh . - Các quy tắc của ph.pháp xhh. - Các h.thức sơ đẳng của tôn giáo. c. Đóng góp : + Quan niệm về xhh và đối tượng nghiên cứu của nó . Ông coi xhh là khoa học về các” sự kiện xh”. ông chỉ ra đối tương của xhh là các sự kiện xh. Sự kiện xh là tất cả những cái tồn tại bên ngoài cá nhân nhưng có khả năng chi phối, điều khiển hành vi của cá nhân. Ông phân biệt 2 loại : Sự kiện Xh vật chất và sự kiện xh phi vật chất.
  7. Sự kiện xh vật chất là những quan hệ mà chúng ta có thể quan sát được, đo lường được thì gọi là sự kiện xh vật chất (cá nhân, nhóm Xh, tổ chức Xh, cộng đồng XH ...) Sự kiện xh không thể quan sát được hay khó quan sát, phải dùng đến trí tưởng tượng đ ể hình dung ra thì gọi là sự kiện xh phi vật chất. (Quan niệm xh, giá trị chuẩn mực xh, lý tưởng niềm tin xh, tình cảm xh..) Từ quan niệm như vậy về sự kiện xh ông nêu ra 3 đặc điểm : * Tính khách quan: Tồn tại bên ngoài các cá nhân. Nhiều sự kiện xh đã t ồn t ại trước khi các cá nhân xuất hiện. Nó mang tính khách quan . * Tính phổ quát: Là cái chung cho nhiều người (Giá trị hiếu thảo là cái phổ biến đ ối v ới nhiều người) ở đâu có con người, có sự XH hoá cá nhân thì ở đó có sự kiện xh * Sự kiện xh có sức mạnh kiểm soát, điều chỉnh và gây áp lực đối với cá nhân. Dù mu ốn hay ko, các cá nhân vẫn phải tuân theo các sự kiện xh. Theo ông xhh chính là sự nghiên cứu các sự kiện xh. + Phương pháp nghiên cứu xhh. Ông cho rằng xhh phải vận dụng pp thực chứng để nghiên cứu. Để sử dụng hiệu quả pp này ng/cứu xhh, ông đã chỉ ra một số quy tắc cơ bản: - Quy tắc khách quan: Đòi hỏi nhà xhh phải xem các sự kiện xh như một s ự v ật t ồn t ại khách quan bên ngoài cá nhân con người và nó có thể quan sát được. Nó đòi hỏi phải loại bỏ yếu tố chủ quan, ấn tượng chủ quan về các hình tượng XH trong quá trình nghiên cứu . - Quy tắc ngang cấp: Ông kịch liệt phản đối c/n tâm lý và c/n kinh tế trong khi nghiên cứu xhh. Mà phải lấy các sự kiện xh để giải thích xh .lấy nguyên nhân xh để giải thích hiện tượng xh.lấy hiện tượng này giải thích hiện tượng khác (hiện tượng tử tử, hiện tượng nghèo đói ..) - Quy tắc phân loại : Yêu cầu nhà xhh khi nghiên cứu hiện t ượng xh cần ph ải phân bi ệt được đâu là cái bình thường phổ biến, chuẩn mực và đâu là cái khác biệt , dị thường. Mục đích phân loại là để nhận diện. Dùng cái bất thường - dị biệt để hiểu cái bình thường. Dùng cái lệch chuẩn để hiểu cái chuẩn mực. Nhà xhh phải đối xử với chúng ngang nhau vì đó đều là sự kiện xh. - Quy tắc phân tích tương quan: Theo ông các hiện tượng, sự kiện xh luôn t ồn t ại trong mối quan hệ, tác động qua lại với các sự kiện, hiện tượng xh khác. Do đó khi nghiên cứu một hiện tương sự kiện xh cụ thể nào đó nhà xhh phải thiết lập được mối quan hệ nhân quả giữa sự kiện xh đó với sự kiện xh khác . Nghèo đói Học vấn phong tục, tập quán k/nghiệm, kí năng sx + Khái niệm đoàn kết xh: 2 khái niệm quan trọng: sự kiện xh và đoàn kết xh. Đoàn kết xh: là sự gắn bó, liên kết giữa các cá nhân các nhóm, các c ộng đ ồng xh v ới nhau. Ông cho rằng nếu thiếu đoàn kết xh thì xh sẽ ko tồn tại với tư cách là một chỉnh thể
  8. Có hai loại đoàn kết xh : Đoàn kết Cơ học và Đoàn kết hữu cơ. * ĐK cơ học ĐK tôn giáo, cấu kết làng xã...là một loại ĐK xh dựa trên sự giống nhau sự thu ần nh ất của các cá nhân về một hệ các giá trị chuẩn mực. Những phong tục tập quán hay một ni ềm tin vào đó (VD: hiện nay có > 1,3 tỷ tín đồ hồi giáo rải rác khắp nơi trên thê giới nhưng rất gắn kết). * ĐK hữu cơ : Là loại ĐK xh dựa trên sự khác biệt về vị trí chức năng của các cá nhân trong xh. Sự phân công lao động xh là nhân tố cơ bản tậo nên ĐKHC trong Xh. Khi phân công cụ thể rõ ràng thì mỗi cá nhân, nhóm tổ chức có những chức năng của mình buộc phải bổ trợ cho nhau ở cả cộng đồng . Đây là loại ĐKxh phổ biến trong xh truyền thống còn ĐK hữu cơ là ĐKXH phổ biến trong xh hiện đại Kết luận : XHH của E.Durkheim phản ánh rõ các ý tưởng của H.Spencer về “cơ thể xã hội”, tiến hoá xã hội, chức năng xã hội. XHH E.Durkheim chủ yếu xoay quanh vấn đ ề mối quan hệ giữa con người và xã hội. XHH cần phải xác định đối tượng nghiên cứu một cách khoa học. Phải coi xã hội, cơ cấu Xh, thiết chế XH, đạo đức, truyền thống, phong tục, tập quán, ý thức t ập thể … như là các sự kiện Xh, các sự vật, các bằng chứng xã hội có thể quan sát đ ược. Cần áp dụng các pp nghiên cứu khoa học như quan sát, so sánh, thực nghiệm … đ ể nghiên c ứu, phát hiện ra các quy luật cuả các sự vật, sự kiện Xh. Khi giải thích hiện tượng XH ta cần phân biệt nguyên nhân gây ra hiện tượng đó và chức năng mà hiện tượng đó thực hi ện - Đó là tư tưởng XHH của ông.

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản