U não ( phần 1)

Chia sẻ: Traitim Muathu | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:8

0
846
lượt xem
18
download

U não ( phần 1)

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

U não ( phần 1) Nguyên nhân gây u não Nguyên nhân của u não vẫn chưa được biết. Các nhà nghiên cứu đang nỗ lực tìm kiếm lời giải đáp cho câu hỏi này. Họ càng tìm ra nhiều nguyên nhân bao nhiêu thì cơ hội tìm cách phòng tránh càng tốt hơn bấy nhiêu. Các bác sĩ không thể giải thích vì sao người này bị u não trong khi người khác lại không, nhưng họ biết chắc rằng khối u không lây từ người này qua người khác. U não không phải là một bệnh truyền nhiễm. Mặc dù...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: U não ( phần 1)

  1. U não ( phần 1) Nguyên nhân gây u não Nguyên nhân của u não vẫn chưa được biết. Các nhà nghiên cứu đang nỗ lực tìm kiếm lời giải đáp cho câu hỏi này. Họ càng tìm ra nhiều nguyên nhân bao nhiêu thì cơ hội tìm cách phòng tránh càng tốt hơn bấy nhiêu.
  2. Các bác sĩ không thể giải thích vì sao người này bị u não trong khi người khác lại không, nhưng họ biết chắc rằng khối u không lây từ người này qua người khác. U não không phải là một bệnh truyền nhiễm. Mặc dù u não có thể xảy ra ở bất kì độ tuổi nào, các nghiên cứu cho thấy chúng thường xuất hiện nhiều nhất ở hai nhóm tuổi. Nhóm thứ nhất là trẻ em từ 3 đến 12 tuổi; nhóm thứ hai là người trưởng thành từ 40 đến 70 tuổi. Dựa trên sự nghiên cứu ở nhiều bệnh nhân, các nhà khoa học đã tìm ra một số yếu tố nguy cơ làm tăng khả năng mắc bệnh u não. Những người thuộc nhóm này có nguy cơ bị u não cao hơn bình thường. Ví dụ như các nghiên cứu cho thấy một số loại u não thường gặp hơn ở các công nhân trong một vài ngành công nghiệp như tinh chiết dầu, sản xuất cao su và sản xuất dược phẩm. Những nghiên cứu khác cho thấy các nhà hóa học và người chuyên ướp xác có xuất độ u não cao hơn. Các nhà nghiên cứu cũng tìm sự liên quan giữa nhiễm virus với nguyên nhân gây bệnh. Do u não đôi khi xuất hiện trong một vài thành viên thuộc cùng gia đình nên các nhà nghiên cứu các gia đình có tiền sử u não để xem xét yếu tố di truyền. Tại thời điểm này thì các nhà khoa học không tin rằng chấn thương đầu có thể gây u não. Trong hầu hết trường hợp, bệnh nhân bị u não không có yếu tố nguy cơ rõ ràng nào. Bệnh có lẽ do nhiều yếu tố tác động cùng lúc. U não là gì? Cơ thể người bao gồm nhiều loại tế bào. Mỗi một loại tế bào lại mang những chức năng chuyên biệt. Hầu hết các tế bào trong cơ thể phát triển và phân chia trật tự để tạo nên nhiều tế bào mới cần để duy trì sự khỏe mạnh. Khi các tế bào mất khả năng
  3. kiểm soát quá trình tăng trưởng, chúng sẽ phân chia liên tục và không theo một trật tự nào. Các tế bào dư thừa này tạo thành một khối mô gọi là khối u. Có khoảng 16000 trường hợp được chẩn đoán u não mỗi năm. Khối u có thể lành tính hoặc ác tính. U não lành tính không chứa các tế bào ung thư. Thông thường thì có thể phẫu thuật lấy đi những khối u này và chúng ít khi tái phát. Những khối u não lành tính có bờ rõ ràng. Mặc dù chúng không xâm lấn vào các mô kế cận, khối u não có thể chèn ép các vùng nhạy cảm của não và bộc phát triệu chứng. Những khối u não ác tính có mang tế bào ung thư. Chúng tác động lên các chức năng sinh tồn và đe dọa mạng sống. Các khối u ác tính có tốc độ tăng trưởng nhanh và xâm lấn vào mô xung quanh. Giống như một loại cây, những khối u này có thể “mọc rễ” phát triển vào mô não lành. Nếu một khối u ác tính còn nhỏ và chưa “mọc rễ” thì nó được xem là còn nằm trong vỏ bao. Tuy nhiên, nếu một khối u lành tính nằm trong những vùng sinh tồn của não và ảnh hưởng đến chức năng của vùng đó thì nó có thể được xem là ác tính (cho dù không chứa các tế bào ung thư). Các bác sĩ phân loại một số u não theo độ - từ độ ác tính thấp (Độ 1) đến độ ác tính cao (Độ IV). Độ của khối u liên quan đến hình ảnh của chúng trên kính hiển vi. Những tế bào có phân độ cao nghĩa là có hình dạng bất thường hơn và nhìn chung tăng trưởng nhanh hơn tế bào được phân độ thấp; khối u có phân độ cao thì ác tính hơn phân độ thấp. U não nguyên phát là gì? Các khối u bắt đầu từ mô não gọi là u não nguyên phát. U não thứ phát là những khối u mọc lên khi tế bào ung thư lan tới não. U não nguyên phát được phân
  4. loại theo dạng mô nơi chúng xuất phát. U não thường gặp nhất là u thần kinh đệm xuất phát từ mô đệm. Có một vài dạng u thần kinh đệm: U sao bào xuất phát từ các tế bào nhỏ hình sao (sao bào). Chúng có thể phát triển bất cứ đâu trong não và tủy sống. Ở người trưởng thành, u sao bào thường bắt nguồn từ đại não. Ở trẻ em, chúng đi từ thân não, đại não và tiểu não. U sao bào độ III đôi khi gọi là u sao bào thoái biến. U sao bào độ IV thường được gọi là u nguyên bào xốp đa dạng. U thần kinh đệm phần thân não xảy ra ở phần thấp nhất của não. Thân não kiểm soát nhiều chức năng sinh tồn. Các khối u vùng này nhìn chung không thể phẫu thuật cắt bỏ. Hầu hết u thần kinh đệm thân não là u sao bào độ cao. U tế bào màng não bất thường phát triển trong lớp lót của não thất. Chúng cũng có thể hiện hữu trong tủy sống. Mặc dù những khối u này có thể gặp ở mọi lứa tuổi nhưng chúng hay xảy ra nhất ở trẻ em và người trưởng thành. U tế bào thần kinh đệm ít gai bắt nguồn từ các tế bào tạo myelin, một lớp mỡ bao phủ bảo vệ thần kinh. Những u này thường đi từ đại não. Chúng phát triển chậm và thường không lan sang mô não xuang quanh. U tế bào thần kinh đệm ít gai thì hiếm gặp. Chúng rất hay xảy ra ở độ tuổi trung niên những cũng có thể có ở mọi lứa tuổi. Có một số loại u não khác không có bản chất là mô đệm. Dưới đây là những nguyên nhân hay gặp nhất: U nguyên tủy bào đã từng được nghĩ là bắt nguồn từ tế bào đệm. Tuy nhiên, những nghiên cứu gần đây gợi ý những u này bắt nguồn từ các tế bào thần kinh nguyên thủy (đang phát triển) vốn thường không tồn tại sau khi sanh. Vì lý do này, u nguyên tủy bào đôi khi gọi là u ngoại bì thần kinh nguyên thủy (PNET). Hầu hết u
  5. nguyên tủy bào xuất phát trong tiểu não; tuy nhiên chúng vẫn có thể xuất phát từ nhiều vùng khác. Các khối u này xảy ra thường nhất ở trẻ em, đặc biệt là ở bé trai nhiều hơn bé gái. U màng não xuất phát từ màng não. Chúng thường lành tính. Do những khối u này tăng trưởng rất chậm, não có khả năng tự điều chỉnh; u màng não thường phát triển khá lớn trước khi gây triệu chứng. Chúng thường hay xảy ra ở phụ nữ từ 30 đến 50 tuổi. U tế bào Schwann là những khối u lành tính của tế bào Schwann có nhiệm vụ tạo myelin bảo vệ thần kinh thính giác và khứu giác. U thần kinh thính giác là một loại của u tế bào Schwann. Chúng gặp chủ yếu trên người lớn. Những khối u này gặp ở phụ nữ gấp 2 lần so với đàn ông. U sọ hầu phát triển từ vùng tuyến yên gần hạ đồi. Chúng luôn luôn lành tính; tuy nhiên, chúng đôi khi được coi là ác tính vì chèn ép hoặc phá hủy vùng hạ đồi và ảnh hưởng đến chức năng sống còn. Những khối u này thường xảy ra ở trẻ em và thanh niên. U của tế bào mầm xuất phát từ tế bào giới tính nguyên thủy (đang phát triển) hoặc tế bào mầm. Dạng u tế bào mầm thường gặp nhất ở não là u mầm. U vùng tuyến tùng xảy ra ở trong hoặc xung quanh tuyến tùng, một cơ quan nhỏ gần trung tâm não. Khối u có thế phát triển chậm (u lành tuyến tùng) hoặc nhanh (u tuyến tùng). Vùng tuyến tùng rất khó tiếp cận được, và những khối u vùng này không thể dùng phẫu thuật lấy ra. U não thứ phát là gì?
  6. Di căn là sự lan tỏa của ung thư. Ung thư bắt nguồn từ những vùng khác trên cơ thể có thể lan tới não gây ra u não thứ phát. Những khối u này không giống như u não nguyên phát. Ung thư di căn não có bản chất và tên gọi giống như nơi xuất phát của nó. Ví dụ như nếu ung thư phổi lan tới não thì bệnh được gọi là ung thư phổi di căn, do các tế bào trong khối u thứ phát này giống như các tế bào bất thường tại phổi và không phải là các tế bào não bất thường. Điều trị khối u não thứ phát phụ thuộc vào nguồn gốc của ung thư và mức độ di căn cũng như các yếu tố khác như tuổi tác, tổng trạng, đáp ứng với điều trị trước đó. Các triệu chứng của u não Các triệu chứng u não phụ thuộc chủ yếu vào kích thước và vị trí của chúng trong não. Các triệu chứng có thể do tổn thương của mô sinh tồn, do tăng áp nội sọ khi khối u phát triển lớn trong một không gian giới hạn của hộp sọ. Chúng cũng có thể do sự sưng nề và tích tụ dịch xung quanh khối u gọi là phù não. Ngoài ra, một nguyên nhân có thể xảy ra là hiện tượng não úng thủy do khối u làm tắc nghẽn sự lưu thông của dịch não tủy khiến chúng tích tụ trong các não thất. Nếu khối u não phát triển chậm, các triệu chứng xuất hiện từ từ vào bộc lộ rõ ràng sau một thời gian dài. Các triệu chứng thường gặp nhất của u não bao gồm: Đau đầu có khuynh hướng nặng vào buổi sáng và giảm dần trong ngày. Co giật Buồn nôn, nôn Yếu tay chân
  7. Đi lảo đảo, mất sự phối hợp các động tác trong khi đi (gọi là dáng đi thất điều) Rung giật nhãn cầu và thay đổi thị lực Ngủ gà Thay đổi về nhân cách, trí nhớ Thay đổi về ngôn ngữ Những triệu chứng này có thể do khối u não hoặc những bệnh lý khác. Nếu người nào bị các triệu chứng trên, họ nên đi khám bác sĩ ngay lập tức. Chẩn đoán u não bằng cách nào? Để xác định nguyên nhân của các triệu chứng trên, bác sĩ sẽ phải hỏi về bệnh sử bản thân người bệnh cũng như tiền sử gia đình và khám toàn diện. Ngoài việc kiểm tra các dấu hiệu sức khỏe chung, bác sĩ cần khám về thần kinh bao gồm kiểm tra mức độ tỉnh táo, trương lực cơ, khả năng phối hợp, phản xạ và đáp ứng với đau. Các bác sĩ cũng khám mắt để kiểm tra sự phù nề do khối u chèn ép vào thần kinh liên kết mắt với não. Dựa vào các kết quả khám tổng quát và thần kinh, bác sĩ có thể yêu cầu một hoặc cả hai cận lâm sàng sau: Chụp CT là chụp cắt lớp cấu trúc não. Những hình ảnh thu được nhờ một máy vi tính kết nối với máy chụp X-quang. Trong một số trường hợp, một loại thuốc cản quang đặc biệt được tiêm vào tĩnh mạch trước khi chụp. Chúng giúp thấy rõ sự tương phản giữa các mô trong não. Chụp MRI (cộng hưởng từ nhân) cho những hình ảnh về não nhờ sử dụng một nam châm mạnh kết nối với máy vi tính. MRI đặc biệt hữu ích trong chẩn đoán u não
  8. do nó có thể nhìn “xuyên” qua xương vào mô bên dưới. Có thể dùng một loại thuốc cản quang đặc biệt để tăng khả năng phát hiện u não. Bác sĩ cũng có thể yêu cầu thêm một số xét nghiệm sau Chụp X-quang não có thể cho thấy thay đổi về phần xương sọ do u não gây ra. Nó cũng cho thấy hiện tượng lắng động canxi trong một số loại u não. Trong chụp cắt lớp não, những vùng tăng trưởng bất thường trong não được ghi nhận bởi loại phim đặc biệt. Một lượng nhỏ chất có hoạt tính phóng xạ được tiêm vào tĩnh mạch. Loại thuốc cản qung này được khối u hấp thu và do đó sự tăng trưởng sẽ được thể hiện trên phim. (Chất phóng xạ được loại khỏi cơ thể trong vòng 6 giờ và không nguy hiểm). Chụp động mạch là chụp X-quang hàng loạt sau khi tiêm thuốc cản quang đặc biệt vào một động mạch (thường là ở vùng nối giữa bụng với phần trên chi dưới). Thuốc cản quang chảy qua mạch máu não và được thể hiện trên các phim X-quang. Những phim này cho thấy khối u và các mạch máu của nó. Chụp tủy sống là phương pháp chụp X-quang cột sống. Một chất cản quang đặc biệt được tiêm vào dịch não tủy trong cột sống, và cho bệnh nhân nghiêng qua lại để trộn chất cản quang với dịch. Xét nghiệm này được làm khi bác sĩ nghi ngờ khối u nằm trong tủy sống.
Đồng bộ tài khoản