U não ( phần 2)

Chia sẻ: Traitim Muathu | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:9

0
820
lượt xem
17
download

U não ( phần 2)

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

U não ( phần 2) Phương pháp điều trị u não Điều trị u não phụ thuộc vào nhiều yếu tố bao gồm phân loại, vị trí và kích thước khối u cũng như tuổi tác, tổng trạng bệnh nhân. Các phương pháp và kế hoạch điều trị thường thay đổi từ trẻ em đến người lớn. Mỗi liệu pháp điều trị được đưa ra sao cho phù hợp với từng yêu cầu trên bệnh nhân. Bác sĩ riêng và bác sĩ điều trị khối u nên thảo luận trước với nhau. Bệnh nhân cũng có thể muốn được nói chuyện với...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: U não ( phần 2)

  1. U não ( phần 2) Phương pháp điều trị u não Điều trị u não phụ thuộc vào nhiều yếu tố bao gồm phân loại, vị trí và kích thước khối u cũng như tuổi tác, tổng trạng bệnh nhân. Các phương pháp và kế hoạch điều trị thường thay đổi từ trẻ em đến người lớn. Mỗi liệu pháp điều trị được đưa ra sao cho phù hợp với từng yêu cầu trên bệnh nhân.
  2. Bác sĩ riêng và bác sĩ điều trị khối u nên thảo luận trước với nhau. Bệnh nhân cũng có thể muốn được nói chuyện với bác sĩ về mong muốn được tham gia vào công trình nghiên cứu một loại điều trị mới. Những nghiên cứu như vậy gọi là thử nghiệm lâm sàng. Nhiều bệnh nhân muốn được biết tất cả những gì họ có thể biết về bệnh và các lựa chọn điều trị của bản thân để có thể đóng vai trò chủ động trong quyết định vấn đề chăm sóc y tế. Một bệnh nhân u não có rất nhiều câu hỏi và bác sĩ là người tốt nhất để trả lời những câu hỏi đó. Những câu hỏi phần lớn là loại khối u họ mắc phải, phương pháp điều trị cũng như sự hiệu quả của nó và chi phí phải trả. Nhiều người liệt kê những câu hỏi sẵn trước khi gặp bác sĩ và thấy điều đó có lợi. Ghi chép là biện pháp giúp nhớ tốt hơn những gì bác sĩ nói. Một số bệnh nhân cũng thấy rằng việc có người thân, bạn bè bên cạnh khi nói chuyện với bác sĩ, có thể tham gia trực tiếp hoặc chỉ đứng nghe, cũng giúp ích được nhiều cho họ. Bệnh nhân và gia đình có nhiều điều cần học về u não và phương pháp điều trị của bản thân. Họ không cần phải hiểu hết mọi thứ ngay từ đầu. Sẽ có nhiều cơ hội để người bệnh yêu cầu bác sĩ giải thích những điều chưa rõ. Các phương pháp điều trị U não có thể được điều trị bằng phẫu thuật, xạ trị và hoá trị. Có thể sử dụng vài phương pháp tuỳ thuộc vào yêu cầu bệnh nhân. Người bệnh có thể yêu cầu bác sĩ chuyên về từng loại điều trị khác nhau và tham gia vào giống như một nhóm. Nhóm này thường bao gồm bác sĩ ngoại thần kinh, bác sĩ ung bướu về nội khoa, bác sĩ ung bướu về xạ trị, y tá, chuyên viên dinh dưỡng và nhà hoạt động xã hội. Bệnh nhân cũng có thể trải qua vật lý trị liệu, nghề nghiệp trị liệu và ngôn ngữ trị liệu do từng chuyên gia đảm trách.
  3. Trước khi bắt đầu điều trị, hầu hết bệnh nhân được cho dùng thuốc kháng viêm steroid để làm giảm hiện tượng phù nề. Họ cũng có thể được dùng thuốc chống co giật để phòng ngừa hoặc kiểm soát động kinh. Nếu bị não úng thủy (là tình trạng tích tụ dịch quanh não), bệnh nhân cần được nối dẫn lưu dịch não tủy. Ống nối là một ống dài, mỏng đặt vào não thất và sau đó đi dưới da vào một phần khác của cơ thể, thường là ổ bụng. Ống này hoạt động như một ống dẫn lưu đưa lượng dịch thừa ra khỏi não tới ổ bụng để hấp thu. (Trong một số trường hợp, dịch được dẫn lưu vào tim). Ngoại khoa là phương pháp điều trị thường dùng cho hầu hết u não. Để lấy khối u, bác sĩ ngoại thần kinh phải tạo một lỗ trên hộp sọ. Phẫu thuật này được gọi là thủ thuật mở hộp sọ. Các bác sĩ phẫu thuật đều muốn lấy toàn bộ khối u khi có thể. Tuy nhiên, nếu không thể lấy hoàn toàn khối u mà không làm ảnh hưởng đến mô não sinh tồn thì bác sĩ sẽ cắt bỏ nhiều nhất có thể. Việc lấy một phần khối u có tác dụng làm giảm triệu chứng vì làm giảm áp lực trong não và khối u còn lại được xạ trị hoặc hóa trị. Một số khối u không thể lấy được. Trong trường hợp này, bác sĩ có thể chỉ làm được sinh thiết. Một mẫu nhỏ của khối u được cắt và chuyển tới bác sĩ giải phẫu bệnh đọc dưới kính hiển vi loại tế bào của nó. Chúng sẽ giúp bác sĩ quyết định phương pháp điều trị. Sinh thiết đôi khi được thực hiện bằng kim. Bác sĩ sử dụng một dụng cụ đặc biệt kèm chụp CT hoặc MRI để đánh dấu vị trí chính xác của khối u. Phẫu thuật viên đục một lỗ nhỏ trên hộp sọ và đưa kim vào khối u. (Phương pháp trên gọi là thủ thuật định hình trong không gian, có thể dùng để sinh thiết hoặc điều trị).
  4. Xạ trị là phương pháp sử dụng tia năng lượng cao phá hủy và làm ngưng tăng trưởng tế bào ung thư. Nó thường được dùng để tiêu diệt mô khối u không thể lấy bằng phẫu thuật hoặc để tiêu diệt tế bào ung thư còn sót lại sau phẫu thuật. Xạ trị còn được dùng khi không thể dùng phương pháp ngoại khoa. Xạ trị có hai cách dùng. Xạ trị ngoài bằng một máy lớn. Nhìn chung, bệnh nhân được xạ trị ngoài 5 ngày/tuần và kéo dài trong vài tuần. Lịch điều trị phụ thuộc vào loại, kích thước khối u và tuổi bệnh nhân. Việc chia tổng liều phóng xạ trong một giai đoạn dài giúp bảo vệ mô lành trong vùng có khối u. Xạ trị có thể là đưa một chất phóng xạ vào trực tiếp khối u (xạ trị bằng phương pháp cấy).Vật cấy có thể lưu lại trong não trong một thời gian ngắn hoặc vĩnh viễn phụ thuộc vào chất phóng xạ được sử dụng, Vật cấy này giảm hoạt tính phóng xạ từng ngày. Khi độ phóng xạ ở mức cao thì bệnh nhân sẽ nằm trong bệnh viện vài ngày. Xạ trị ngoài có thể vào trực tiếp khối u và mô quanh nó hoặc toàn bộ não (rất ít gặp). (Đôi khi có thể xạ trị trực tiếp vào tủy sống). Khi phải điều trị toàn bộ não, bệnh nhân thường được tăng thêm liều phóng xạ ở vùng có khối u bằng xạ trị ngoài hoặc vật cấy. Phẫu thuật dùng tia xạ bằng phương pháp định hình trong không gian là một cách điều trị u não khác. Phương pháp này chỉ cần điều trị một lần; những tia năng lượng cao được chiếu vào khối u từ nhiều góc. Nhờ vậy, một lượng tia xạ liều cao đến được khối u mà không làm ảnh hưởng đến mô não khác. (Đôi khi, người ta gọi xạ trị là dao g).
  5. Hóa trị là dùng thuốc để giết tế bào ung thư. Bác sĩ có thể dùng một loại thuốc hoặc phối hợp, thường thì qua đường uống hoặc tiêm tĩnh mạch, tiêm bắp. Hóa trị dưới màng cứng là tiêm thuốc vào dịch não tủy. Hoá trị thường được dùng theo chu kì : một giai đoạn điều trị đi kèm với giai đoạn phục hồi sau đó, rồi lại tiếp tục giai đoạn điều trị và cứ như vậy. Bệnh nhân không cần phải nằm viện trong khi điều trị. Hầu hết các thuốc có thể phát tại phòng khám hoặc khu ngoại trú của bệnh viện. Tuy nhiên, tuỳ theo loại thuốc, cách dùng và tổng trạng bệnh nhân mà có thể cần nhập viện trong một thời gian ngắn. Các thử nghiệm lâm sàng Các nhà nghiên cứu đang tìm kiếm phương pháp điều trị u não hiệu quả và ít tác dụng phụ hơn. Khi các nghiên cứu trong phòng thí nghiệm có nhiều hứa hẹn, bác sĩ sử dụng chúng để điều trị ung thư trong các thử nghiệm lâm sàng. Những thử nghiệm này được thiết lập để trả lời các câu hỏi về mặt khoa học và để xác định xem hướng tiếp cận này có hiệu quả và an toàn không. Các bệnh nhân tham gia thử nghiệm lâm sàng đã đóng góp quan trọng vào y khoa và có thể có cơ hội đầu tiên được hưởng những lợi ích do phương pháp mới mang lại. Hiện nay đang có rất nhiều thử nghiệm lâm sàng đối với điều trị u não. Các bác sĩ đang nghiên cứu về những cách, lịch xạ trị mới, thuốc chống ung thư mới, phác đồ phối hợp thuốc mới, và phác đồ phối hợp xạ trị với hóa trị. Các nhà khoa học đang cố gắng làm tăng hiệu quả của xạ trị bằng cách cho chiếu hai lần một ngày thay vì chỉ một như trước đây. Họ cũng đang nghiên cứu một loại thuốc có đặc tính nhạy cảm với tia xạ. Những thuốc này khiến tế bào ung thư nhạy cảm hơn với tia xạ. Một phương pháp khác cũng đang nghiên cứu là làm tăng thân nhiệt trong đó khối u nóng lên và làm tăng hiệu quả của xạ trị.
  6. Nhiều thuốc không thể vào được tế bào não do hàng rào máu não – là hệ thống mạch máu và tế bào có nhiệm vụ ngăn không cho thuốc vào não. Các nhà nghiên cứu đang tiếp tục tìm kiếm loại thuốc mới có thể qua được hàng rào này. Các nghiên cứu về nhiều kỹ thuật khác nhau phá vỡ tạm thời hàng rào trên để thuốc tiếp xúc với khối u đang đựơc xúc tiến. Trong những nghiên cứu khác, các nhà khoa học đang khám phá những đường dùng thuốc mới. Thuốc có thể tiêm vào động mạch đến não hoặc đưa trực tiếp vào não thất. Nhiều bác sĩ cũng đang nghiên cứu hiệu quả của việc đặt viên con nhộng nhỏ có chứa thuốc chống ung thư trực tiếp vào khối u. (Vỏ viên thuốc có thể tan theo thời gian). Những nhà nghiên cứu còn đang thử nghiệm việc sử dụng thuốc chống ung thư liều cao. Do liều cao có thể làm tổn thương tủy xương lành nên bác sĩ kết hợp phương pháp điều trị này với ghép tủy để thay thế tủy bị tiêu diệt. Liệu pháp sinh học là một phương pháp điều trị u não mới đang được nghiên cứu. Phương pháp này hướng tới việc cải thiện hệ miễn dịch cơ thể chống lại bệnh tật. Những bệnh nhân muốn tham gia vào thử nghiệm lâm sàng nên thảo luận điều này với bác sĩ. Họ có thể muốn đọc “Những điều cần biết về thử nghiệm lâm sàng” , là một cuốn sách nhỏ của Hội ung thư quốc gia Hoa Kỳ (NCI), giải thích về một số thuận lợi và nguy cơ của các nghiên cứu về điều trị. Tác dụng phụ của điều trị ung thư não Điều trị ung thư thường gây ra tác dụng phụ. Điều này là do phương pháp điều trị tiêu diệt tế bào ung thư cũng gây phá hủy một số tế bào lành.
  7. Tác dụng phụ của điều trị ung thư rất khác nhau. Chúng phụ thuộc vào cách điều trị và vùng được điều trị. Sự phản ứng của từng người cũng rất khác nhau. Người ta đang nổ lực thiết lập kế hoạch điều trị sao cho giảm thiểu tối đa tác dụng phụ. Các bệnh nhân được theo dõi rất sát để có thể phát hiện bất cứ vấn đề nào xảy ra. Mổ hộp sọ là một đại phẫu. Phẫu thuật viên có thể làm tổn thương mô não lành và phù não có thể xảy ra. Yếu, mất sự phối hợp, thay đổi nhân cách, nói và suy nghĩ khó khăn có thể xảy ra. Bệnh nhân cũng có thể bị co giật. Thực tế là các triệu chứng có thể còn tệ hơn trước sau khi được phẫu thuật một thời gian ngắn. Hầu hết tác dụng phụ của phẫu thuật giảm và biến mất theo thời gian. Đa số tác dụng phụ của xạ trị biến mất ngay sau khi chấm dứt điều trị. Tuy nhiên, cũng có một số tác dụng phụ có thể kéo dài sau khi chấm dứt điều trị. Một số bệnh nhân bị buồn nôn trong vài giờ sau khi điều trị. Bệnh nhân bị xạ trị có thể trở nên yếu ớt, mệt mỏi khi điều trị tiếp tục. Nghỉ ngơi là quan trọng, nhưng các bác sĩ thường khuyên bệnh nhân cố gắng giữ trạng thái vận động tương đối. Xạ trị qua vùng da đầu khiến hầu hết bệnh nhân rụng tóc. Khi mọc lại, tóc đôi khi mềm hơn và có màu hơi khác. Trong một số trường hợp, tóc bị mất vĩnh viễn. Phản ứng da tại vùng điều trị cũng thường gặp. Da đầu và tai có thể đỏ, ngứa hoặc sậm màu. Chúng có thể giống như bỏng do nắng. Vùng được điều trị nên tiếp xúc với không khí càng nhiều càng tốt nhưng phải được bảo vệ tránh ánh nắng mặt trời. Bệnh nhân không nên đội vật gì trên đầu có thể gây kích thích. Chăm sóc da đúng cách trong thời điểm này là rất quan trọng. Bác sĩ có thể đề nghị một số loại xà phòng, chất mỡ và bệnh nhân không nên dùng bất cứ loại dung dịch rửa hay loại cream nào khi không có lời khuyên của bác sĩ.
  8. Đôi khi các tế bào não bị chết do tia xạ tạo thành một khối trong não. Khối này có thể trông giống như một khối u và cũng gây ra các triệu chứng tương tự như nhức đầu, mất trí nhớ hoặc co giật. Bác sĩ có thể đề nghị phẫu thuật hoặc thuốc khám viêm streroid để làm giảm triệu chứng. Sau khi xạ trị khoảng 4 đến 8 tuần, bệnh nhân thường thấy buồn ngủ và ăn mất ngon. Những triệu chứng này kéo dài vài tuần nhưng thường tự khỏi. Tuy nhiên bệnh nhân nên báo cho bác sĩ nếu chúng xảy ra. Trẻ em được xạ trị để điều trị u não có thể có vấn đề về học tập, hoặc mất một phần quang trường của mắt. Nếu tuyến yên bị tổn thương, trẻ không thể phát triển bình thường. Tác dụng phụ của hóa trị phụ thuộc vào thuốc được dùng. Nhìn chung, các thuốc chống ung thư tác động nhanh vào tế bào đang tăng trưởng, như các tế bào máu tham gia chống nhiễm trùng, tế bào lót ống tiêu hóa, và tế bào trong nang lông. Vì vậy, bệnh nhân giảm sức đề kháng với nhiễm trùng, ăn mất ngon, buồn nôn, nôn, và loét miệng. Bệnh nhân cũng có thể thấy mệt mỏi và rụng tóc. Những tác dụng phụ sẽ mất từ từ sau khi ngưng điều trị. Một vài thuốc trị ung thư có thể gây vô sinh. Phụ nữ dùng một số loại thuốc chống ung thư có thể có triệu chứng của mãn kinh (nóng bừng mặt và khô âm đạo; chu kì kinh không đều hoặc mất). Một số thuốc dùng cho trẻ em và thiếu niên có thể ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của chúng sau này. Một số thuốc dùng trong điều trị ung thư có thể gây tổn thương thận. Bệnh nhân thường được cho uống nhiều nước khi dùng các thuốc này. Họ cũng có thể bị châm chích ở đầu ngón tay, ù tai, hoặc giảm thính giác. Những triệu chứng này có thể không hết sau khi ngưng điều trị.
  9. Điều trị bằng steroid để giảm phù não có thể kích thích ngon miệng và lên cân. Thường thì bệnh nhân phù mặt và chân. Steroid cũng có thể gây bồn chồn, tâm thần bất định, khó tiêu và mụn. Tuy vậy, bệnh nhân không được tự ý ngưng hay thay đổi liều thuốc. Việc ngưng steroid đòi hỏi phải từ từ để cơ thể có thời gian điều chỉnh. Chán ăn có thể là một vấn đề đối với bệnh nhân trong suốt quá trình điều trị. Một người nếu thấy khó chịu hoặc mệt mỏi thì có thể không cảm thấy đói. Một số tác dụng phụ của điều trị ung thư như buồn nôn, nôn cũng là nguyên nhân gây chán ăn. Tuy vậy, chế độ dinh dưỡng tốt là quan trọng vì bệnh nhân ăn đầy đủ nhìn chung thấy đỡ hơn và có nhiều năng lượng hơn. Thêm nữa, họ có thể đề kháng tốt hơn với tác dụng phụ trong điều trị. Chế độ ăn tốt là có đủ calori và protein nhằm giúp ngừa sụt cân, khôi phục sức khỏe và tái tạo mô lành. Nhiều bệnh nhân thấy rằng ăn nhiều bữa ăn nhỏ cũng như bánh snack tốt hơn là cố gắng ăn nhiều trong ba bữa chính. Bệnh nhân trong giai đoạn điều trị u não có thể hình thành cục máu đông và tình trạng viêm tĩnh mạch, thường nhất là ở chân. Tình trạng này gọi là viêm tĩnh mạch huyết khối. Bệnh nhân nếu thấy có phù chân, đau chân hoặc chân ửng đỏ nên báo cho bác sĩ ngay lập tức. Các bác sĩ, y tá và chuyên gia dinh dưỡng có thể giải thích cho bệnh nhân về tác dụng phụ của điều trị ung thư cũng như đưa ra những hướng giải quyết cho họ.
Đồng bộ tài khoản