Ứng dụng công cụ phái sinh tiền tệ trong phòng ngừa rủi ro tỷ giá tại các NH thương mại Việt Nam

Chia sẻ: michael29999

Ngày nay, hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại trở nên phong phú và đa dạng hơn bao giờ hết. Bên cạnh các nghiệp vụ ngân hàng mang tính truyền thống thì các ngân hàng đã không ngừng phát triển các nghiệp vụ tài chính mới, hiện đại, trong đó phải kể đến các giao dịch kinh doanh ngoại tệ.

Bạn đang xem 7 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: Ứng dụng công cụ phái sinh tiền tệ trong phòng ngừa rủi ro tỷ giá tại các NH thương mại Việt Nam

 

  1. Bản Tin Sớm www.bantinsom.com ỨNG DỤNG CÔNG CỤ PHÁI SINH TIỀN TỆ TRONG PHÒNG NGỪA RỦI RO TỶ  GIÁ TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM ThS. Phạm Thị Hoàng Anh  1. CÔNG CỤ PHÁI SINH TIỀN TỆ VÀ ỨNG DỤNG TRONG PHÒNG NGỪA  RỦI RO TỶ GIÁ. Ngày nay, hoạt  động kinh doanh của các ngân hàng thương mại (NHTM)  trở  nên phong phú  và   đa dạng hơn bao giờ  hết. Bên cạnh các nghiệp vụ  ngân  hàng mang tính truyền thống thì  các ngân hàng  đã  không ngừng phát triển các  nghiệp vụ tài chính mới, hiện đại, trong  đó, phải kể  đến các giao dịch kinh doanh  ngoại tệ.  Đây là  một hoạt  động kinh doanh có  thể   đem lại lợi nhuận rất cao cho   NHTM, nhưng nó cũng chứa đầy những rủi ro. Khi tham gia hoạt động kinh doanh  tiền tệ, ngân hàng sẽ  tạo ra trạng thái ngoại tệ  mở  và  dẫn  đến rủi ro tỷ  giá  cho  ngân hàng nếu tỷ giá trên thị trường biến động. Để có thể hạn chế được rủi ro này,  ngân hàng sẽ phải tiến hành các biện pháp phòng ngừa. Một trong những công cụ  hữu   hiệu   phòng   ngừa   tỷ   giá   đó   chính   là   các   hợp   đồng   phái   sinh   về   tiền   tệ   (Currency Derivaties). Các hợp  đồng phái sinh tiền tệ  bao gồm: hợp  đồng ngoại   hối kì hạn, hợp  đồng ngoại hối hoán  đổi, hợp  đồng ngoại hối quyền chọn và hợp  đồng ngoại hối tương lai. 2. THỊ TRƯỜNG CÔNG CỤ PHÁI SINH TIỀN TỆ TRÊN THẾ GIỚI. Kể  từ  những năm 80 của thế  kỉ  20, các giao dịch tài chính phái sinh  đã  được sử dụng ngày càng rộng rãi ở nhiều quốc gia, đặc biệt là những nước có nền  kinh tế  phát triển. Tuy nhiên,  ý thức phòng ngừa rủi ro tỷ  giá thông qua các công  cụ  phái sinh tiền tệ  của các NHTM cũng như các chủ thể  khác trong nền kinh tế   vẫn còn rất hạn chế (Mallin, Ow­Young and Reynolds, 2001). Nhận định này được   thể  hiện khá rõ nét nếu chúng ta so sánh tỷ  trọng của giao dịch phái sinh tiền tệ   với tổng các giao dịch tài chính phái sinh khác (xem sơ   đồ  1). Theo số  liệu về  doanh số của các công cụ tài chính phái sinh toàn cầu tháng 6/2007, các giao dịch  phái sinh tiền tệ  chỉ  chiếm một tỷ  lệ  khá  khiêm tốn khoảng 9% so với 68% của   giao dịch phái sinh lãi suất và  23% của giao dịch phái sinh trên chỉ  số  chứng  khoán.
  2. Bản Tin Sớm www.bantinsom.com Sơ   đồ  1: tỷ  trọng của giai dịch phái sinh tiền tệ  so với các giai dịch   phái sinh khác trên OTC (tháng 6/2007) 9% 23% 68% Currency Derivatives Interest Derivatives Others Nguồn: BIS Quaterly Review, March, 2008. Tuy vậy, một thực tế  không thể  phủ nhận rằng, bên cạnh mục  đích phòng  ngừa rủi ro về  tỷ  giá, các giao dịch phái sinh tiền tệ  ngày càng  được sử  dụng với  mục  đích  đầu cơ  nhằm tìm kiếm lợi nhuận khổng lồ,  đặc biệt là hợp  đồng tiền tệ  tương lai và quyền chọn. Chính vì lẽ đó mà doanh số của các giao dịch này đã có  sự gia tăng  đáng kể  qua các năm. Chúng ta có thể thấy  điều  đó qua Sơ  đồ  2 và   Sơ đồ 3. Sơ đồ 2
  3. Bản Tin Sớm www.bantinsom.com D o a n h  s ö  g ia o  d õc h  p h a á s in h  c u ã  c a á  h ú p  à ö n g  p h a á s in h   ë i acå ì i T iï ì  t ï åtr ï n  c a á  S ú  g ia o  d õc h  to a â  c ê ì  (2 0 0 0 ­ 2 0 0 7 )   n  cã nu 200 150   100 50 ãU S D Ty 0   1 2 /2 0 0 0 1 2 /2 0 0 1 1 2 /2 0 0 2 1 2 /2 0 0 3 1 2 /2 0 0 4 1 2 /2 0 0 5 1 2 /2 0 0 6 D e c -0 7 N ùm   F u tu re s O p t io n s Nguồn: BIS Quaterly Review, March, 2008 Sơ đồ 3 D o a n h  s ö ëc u ã  c a á  h ú p  à ö n g  p h a á s in h  tiï ì  t ï åtr ï n  O T C  (2 0 0 ­ 2 0 0 7 )    a c å ì i n  2 5 ,0 0 0 2 0 ,0 0 0   1 5 ,0 0 0 ãU S D Ty 1 0 ,0 0 0   5 ,0 0 0 0 1 2 /2 0 0 0 1 2 /2 0 0 1 1 2 /2 0 0 2 1 2 /2 0 0 3 1 2 /2 0 0 4 1 2 /2 0 0 5 1 2 /2 0 0 6 6 /2 0 0 7 N ùm   O u t r ig h t F o r w a r d & F o r e x S w a p C u rre n c y S w a p O p t io n s Qua hai sơ   đồ  trên chúng ta có thể  thấy rằng doanh số  của các giao dịch  phái sinh tiền tệ  trên thị  trường phi tập trung (OTC) cao hơn rất nhiều so với các  giao dịch diễn ra trên Sở  giao dịch. Có thể  nói  đó  là  con số   áp  đảo khi các giao   dịch phái sinh tiền tệ trên OTC chiếm tới 99% về doanh số, còn giao dịch trên Sở  chỉ là 1%.
  4. Bản Tin Sớm www.bantinsom.com Theo một nghiên cứu khá  toàn diện của Wharton School  được thực hiện  năm 2003,  đối tượng  điều tra là  các công ty phi tài chính của Mỹ, thì  có  khoảng  40% doanh nghiệp sử dụng các giao dịch tài chính phái sinh, 76% trong số đó có   sử  dụng các giao dịch phái sinh tiền tệ   để  phòng ngừa rủi ro hối  đoái. Mục  đích  chính của các công ty khi sử dụng các giao dịch này là quản lý luồng tiền, tiếp đó   là quản lý sự biến động trong thu nhập của chính họ. Với mục đích phòng ngừa rủi   ro tỷ giá cho các hợp đồng xuất nhập khẩu hoặc các giao dịch tài trợ quốc tế, 86%   các doanh nghiệp cho rằng họ sẽ sử dụng hợp đồng kì hạn và tương lai và cho đó  là  công cụ  phòng ngừa rất hữu hiệu. Trong khi  đó, nếu phòng ngừa rủi ro tỷ  giá  cho giá trị  thị trường của các doanh nghiệp thì nghiệp vụ “option” lại được xem là  một công cụ quan trọng, khi có tới 67% doanh nghiệp lựa chọn. Một lý do rất đơn   giản khi giải thích tại sao giao dịch kì  hạn lại  được sử  dụng nhiều hơn giao dịch  quyền chọn vì  giao dịch kì  hạn tỏ  ra thích hợp hơn khi phòng ngừa rủi ro tỷ  giá,  hơn nữa, chi phí phòng ngừa lại rẻ hơn nhiều so với các giao dịch phái sinh khác. 3. KHÁI QUÁT VỀ THỰC TRẠNG ỨNG DỤNG CÁC CÔNG CỤ PHÁI SINH  TIỀN TỆ TẠI CÁC NHTM VIỆT NAM.  3.1. Các văn bản pháp lý  3.1.1. Điều chỉnh giao dịch ngoại hối kì hạn và hoán đổi:  Theo quy  định của Ngân hàng Nhà  nước (NHNN) Việt Nam, trước ngày  28/5/2004, tỷ giá kì hạn được xác định bằng cách lấy tỷ giá giao ngay cộng với một  biên độ dao động tùy theo kì hạn của hợp đồng kì hạn. Như vậy, cách xác định tỷ  giá kỳ  hạn theo thông lệ  quốc tế  và của NHNN Việt Nam là hoàn toàn khác biệt.  Điều này có  thể  dẫn tới sự  khác nhau rất lớn giữa hai cách tính và  một khi cách  xác định tỷ giá kỳ hạn theo quy định của NHNN không còn phù hợp với những diễn  biến trên thị trường thì điều này sẽ làm nản lòng các chủ thể tham gia loại nghiệp   vụ này trên thị trường ngoại hối. (Xem bảng 1) Bảng 1: Bảng tổng hợp phương pháp xác định tỷ giá kì hạn theo quy định  của NHNN (Tỷ giá kì hạn tối đa = Tỷ giá giao ngay tối đa + % biên độ dao  động):
  5. Bản Tin Sớm www.bantinsom.com Tûâ   Tûâ  Tûâ   Tûâ  Tûâ6/ 98    8/ Tûâ   Tûâ     10/ 98  1/ 28/ 98  2/ 26/ 98  8/ 1/ 2002  7/ àïë  n 30/ 2000  8/ 18/ 01  9/ àïë  n àïë  n  àïë  n  àïë  n   26/ 98  8/ àïë  9/   àïë  7/   n 18/ 01 n 1/ 02 28/ 98  2/ 6/ 98  8/ 30/ 00  8/ 28/ 04  5/ D ûúá1 uêì  itn   +    1% +0.   25% +0.   19% ­  ­  ­  ­  1 uêì 2 uêì  t n­ t n +    1% +0.   5% +0.   38% ­  ­  0. 40%   0, 50%   2 uêì 3 uêì  t n­ t n +    1% +0.   75% +0.   57% ­  ­  0. 40%   0, 50%   3 uêì 4 uêì  t n­ t n +    1% +    1% +0.   82% ­  ­  0. 40%   0, 50%   30  â  ngay +    1% +    1% +1.   64% +0.   58% +0.   20% 0. 40%   0, 50%   31   ngaâ  ­44  y +  5%   1. +  5%   1. +1.   64% +0.   87% +0.   25% 1. 50%   1,   2% 45   ngaâ  ­59  y +  5%   1. +  5%   1. +1.   64% +1.   16% +0.   40% 1. 50%   1,   2% 60   ngaâ  ­74  y +    2% +    2% +2.   45% +1.   45% +0.   45% 1. 50%   1,   5% 75   ngaâ  ­89  y +    2% +    2% +2.   45% +1.   75% +0.   65% 1. 50%   1,   5% 90   ngaâ  ­104  y +  5%   2. +  5%   2. +3.   25% +2.   04% +0.   79% 1. 50%   2,   5% 105­ ngaâ  119  y +  5%   2. +  5%   2. +3.   25% +2. 3%   3 +1.   01% 1. 50%   2,   5% 120­ ngaâ  134  y +    3% +    3% +4.   05% +2.   62% +1.   14% 2. 35%   2,   5% 135­ ngaâ  149  y +    3% +    3% +4.   05% +2.   92% +1.   26% 2. 35%   2,   5% 150­ ngaâ  164  y +  5%   3. +  5%   3. +4.   84% +3.   21% +1.   38% 2. 35%   2,   5% 165–179  â  ngay +  5%   3. +  5%   3. +4.   84% +3.   50% +1.   48% 2. 35%   2,   5% 180  â  ngay +  5%   3. +  5%   3. +4.   84% +3.   50% +1.   50% 2. 35%   2,   5% Nguồn: Văn bản pháp quy của NHNN Hơn nữa, thời hạn tối  đa theo quy  định lúc  đó  của NHNN  đối với loại hợp  đồng này chỉ là 6 tháng, liệu rằng có đáp ứng được nhu cầu về thời hạn trong hoạt  động phòng ngừa rủi ro tỷ  giá của các chủ thể tham gia thị  trường ngoại hối hay  không. Bởi trong tương lai, số lượng chủ thể tham gia trên VinaForex là rất đông và  mỗi chủ thể có một nhu cầu phòng ngừa rủi ro tỷ giá với thời hạn riêng của mình,  có thể là vài tháng mà thậm chí là hơn 1 năm. Vì thế, trong thời gian tới, việc mở   rộng thời hạn dài hơn 6 tháng như hiện nay là tất yếu và NHNN không thể lại tiếp  tục quy  định tỷ lệ % gia tăng cho mỗi một thời hạn được. Đồng thời, nghiệp vụ kỳ  hạn có  thể   được mở  rộng cho nhiều loại ngoại tệ  mạnh khác mà  không riêng gì  USD. Do đó, NHNN không thể quy định tỷ  lệ % gia tăng cho mỗi thời hạn và cho  mỗi một loại ngoại tệ được. Chính   vì   vậy,   ngày   28/5/2004,   Thống   đốc   NHNN   đã   ra   quyết   định   số  648/2004 trong đó quy định kì hạn của hợp đồng Forward và Swap từ 3 ngày đến  365 ngày và thay đổi lại nguyên tắc xác định tỷ giá kì hạn. Tỷ giá kì hạn được xác 
  6. Bản Tin Sớm www.bantinsom.com định trên cơ  sở: (i) tỷ  giá  giao ngay của ngày kí  hợp  đồng kì  hạn, hoán  đổi; (ii)  chênh lệch giữa 2 mức lãi suất hiện hành là  lãi suất cơ  bản của VND (tính theo   năm) do NHNN công bố và lãi suất mục tiêu của Mĩ (Fed Funds Target rate) của  USD do Cục dự  trữ  Liên bang Mỹ  công bố; và  (iii) kì  hạn của hợp  đồng. Có  thể   khẳng  định rằng, quyết  định này  đã   đưa cách thức tính tỷ  giá  kì  hạn của các   NHTM Việt Nam tiến gần với thông lệ quốc tế và là tiền đề pháp lý quan trọng cho  sự phát triển của thị trường ngoại hối Việt Nam nói chung và giao dịch ngoại hối kì   hạn nói riêng. 3.1.2. Điều chỉnh giao dịch quyền chọn tiền tệ: Hiện nay, các NHTM Việt Nam thực hiện giao dịch quyền chọn tiền tệ theo  Quyết  định số  1452/2004/QĐ­NHNN của Thống  đốc NHNN. Theo  đó, giao dịch  quyền chọn tiền tệ  (sau  đây gọi là  “giao dịch quyền chọn”) là một giao dịch giữa  bên mua quyền và  bên bán quyền, trong  đó, bên mua quyền có  quyền nhưng  không có  nghĩa vụ  mua hoặc bán một lượng ngoại tệ  xác  định  ở  một mức tỷ  giá  xác  định trong một khoảng thời gian thoả  thuận trước. Nếu bên mua quyền chọn   thực hiện quyền của mình, bên bán quyền có nghĩa vụ bán hoặc mua lượng ngoại  tệ  trong hợp  đồng theo tỷ  giá  đã  thoả  thuận trước. Tại Quyết  định này, giao dịch  quyền lựa chọn chỉ  bao gồm giao dịch giữa các ngoại tệ  (không liên quan  đến  Đồng Việt Nam). Đối tượng được tham gia giao dịch hối đoái bao gồm tổ chức tín  dụng (TCTD) được phép, tổ chức kinh tế, tổ  chức khác và cá nhân và NHNN Việt  Nam. TCTD  được phép  được duy trì  tổng giá trị  hợp  đồng quyền lựa chọn không  có giao dịch đối ứng tối đa là 10% so với vốn tự có. Cũng trong quyết định này, các  TCTD  được phép không  được mua quyền lựa chọn của tổ  chức kinh tế, tổ  chức  khác và cá nhân mà họ chỉ được phép bán quyền chọn cho các đối tượng này mà   thôi. 3.2. Thực trạng rủi ro tỷ giá của các ngân hàng thương mại  3.2.1.  Trạng thái ngoại tệ của các NHTM  Như  chúng ta  đã  biết, các giao dịch mua bán ngoại tệ  của NHTM làm  chuyển giao quyền sở  hữu về  ngoại tệ, từ   đó, làm phát sinh trạng thái ngoại tệ  trường hoặc  đoản. Một NHTM duy trì  trạng thái ngoại tệ  trường sẽ  gặp rủi ro hối   đoái nếu như ngoại tệ giảm giá; và ngược lại, họ sẽ gặp rủi ro khi ngoại tệ tăng giá  trong trường hợp NHTM  đó  duy trì  trạng thái ngoại tệ   đoản.  Điều  đó  có  nghĩa là  khả năng rủi ro hối đoái sẽ xảy ra nếu như NHTM đó duy trì trạng thái ngoại tệ mở  và  tỷ  giá  trên thị  trường biến  động. Chính vì  vậy, ngày 10/01/1998, Thống  đốc   NHNN ban hành Quyết định 18/1998/QĐ­NHNN7 về việc quy định trạng thái ngoại 
  7. Bản Tin Sớm www.bantinsom.com tệ   đối với các NHTM Việt Nam, ngân hàng liên doanh và  công ty tài chính. Theo  đó, các ngân hàng phải thực hiện tổng trạng thái ngoại tệ  cuối ngày không  được  vượt quá 30% vốn tự có của ngân hàng mình. Nguyên tắc tính trạng thái của một ngoại tệ:  ­ Trạng thái ngoại tệ  (TTNT) cuối ngày  được tính trên cơ  sở  TTNT ngày  hôm trước và chênh lệch giữa doanh số mua, doanh số bán phát sinh trong ngày  của ngoại tệ đó, bao gồm cả giao dịch giao ngay và kỳ hạn. ­ TTNT cuối tháng  được tính trên cơ  sở  số  dư  tại thời  điểm cuối ngày làm  việc cuối cùng của tháng của tài khoản mua bán ngoại tệ  kinh doanh, tài khoản  ngoại tệ bán ra từ các nguồn khác, tài khoản cam kết mua ngoại tệ giao ngay, tài  khoản cam kết bán ngoại tệ giao ngay, tài khoản cam kết mua ngoại tệ có kỳ hạn   và tài khoản cam kết bán ngoại tệ có kỳ hạn. ­ Trạng thái ngoại tệ cuối ngày (phương pháp cộng dồn doanh số). TTNT  % )=  aåg haágöë    Tr åg haáphaásnh  t(   Tr n t i c  +   an t i t i                                M ua   á)*                             ( ­Ban   TG quy  it åg haá*  àöí ran t i 100%         TTN T  % )=  t(   TTN T ngaâ    %   ­ ­ ­ ­ ­ ­ ­ ­ ­ ­­ ­ ­ ­ ­ ­ ­ ­­ ­ ­ ­ ­ ­ ­ ­ ­ ­ ­   ( y t­1) + ­ ­ ­ ­ ­ ­ ­ ­ ­­ ­ ­ ­ ­ ­ ­ ­ ­ ­ ­ ­ ­ ­ ­ ­ ­ ­ ­ ­                                           öë  ûå áV N À )                                       V n T     co (   Việc giới hạn trạng thái ngoại tệ  như  vậy chủ  yếu là  giúp các ngân hàng phòng  tránh rủi ro tỷ giá đặc biệt là các ngân hàng có tư tưởng kinh doanh mạo hiểm, hạn   chế các ngân hàng này có trạng thái ngoại tệ mở quá lớn so với vốn tự có. Bởi khi  rủi ro tỷ giá thực sự phát sinh, các ngân hàng phải đối mặt với nguy cơ mất vốn và   nếu  để  trạng thái ngoại tệ  mở quá cao thì ngân hàng sẽ chịu nhiều thua lỗ, giảm  năng lực tài chính. Thực tế cho thấy, các NHTM thường duy trì trạng thái ngoại tệ   đoản và hậu quả là phải đối mặt với rủi ro tỷ giá khi tỷ giá tăng. Ngân hàng Ngoại  thương Việt Nam (VCB) là ngân hàng chiếm tỷ  trọng doanh số  mua bán ngoại tệ  lớn nhất trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng và chúng ta sẽ cùng tìm hiểu trạng  thái ngoại tệ của ngân hàng này. (Xem bảng 2). Bảng 2: Bảng trạng thái ngoại tệ cuối năm của VCB Đơn vị : Nguyên tệ
  8. Bản Tin Sớm www.bantinsom.com U SD   EU R   J  PY   So  úá vi   So  úá vi   Söë     So  úá vi   Söëuyïåàöë   ti t    Söëuyïåàöë   ti t    V TC   V TC   t ïåàöë uy t i    V TC   31. 01  12. ­ 705    21  432 ­30%   ­ 132    1  111 ­  1% 18  000  000    ­  31. 02  12. ­ 466  11  33  070, ­ 38%   25, ­4307  82  441, ­ 27%   3, ­599  193,   650  06 ­ 87%   3, 31. 03  12. ­ 614  10  26  997, ­ 35%   16, 2  261,   +2, 919  86 26%   ­ 648  54  63  149, ­ 37%   0, 31. 04  12. ­ 904  97  50  866, ­ 16%   27, 2  464,   +1, 426  33 54%   ­425  526,   027  54 ­ 07%   2, 31. 05  12. ­ 904  97  40  866, ­ 16%   20, 1  464,   +0, 426  33 84%   ­325  526,   027  54 ­ 07%   1, 31. 06  12. ­ 904  97  45  866, ­ 16%   22, 1  464,   +1, 926  33 24%   ­395  526,   027  54 ­ 87%   1, Nguồn : Phòng kinh doanh ngoại tệ VCB Đến cuối năm 2006, các NHTM Việt Nam thường duy trì trạng thái ngoại hối  đoản là do những nguyên nhân sau:  Thứ nhất, mức tỷ giá giao dịch bình quân liên ngân hàng mà NHNN công bố  thường  ổn  định trong thời gian dài, hầu như không có biến  động lớn, thậm chí có  lúc tỷ giá USD và JPY so với VND  đứng yên hoặc giảm. Do  đó, việc duy trì trạng  thái ngoại tệ đoản đối với USD và JPY là bình thường.  Thứ hai, đặc điểm của thị  trường ngoại hối Việt Nam thời gian này là theo  hướng một chiều, cầu về ngoại tệ luôn lớn hơn cung ngoại tệ, do vậy mà doanh số   mua vào nhỏ hơn doanh số bán ra và điều này dẫn tới trạng thái ngoại tệ của các  ngân hàng mà không riêng gì của VCB thường ở trạng thái đoản.  Thứ ba, lãi suất cho vay VND thường cao hơn nhiều so với lãi suất cho vay   của USD, EUR và JPY (lãi suất thực của VND dương), vì thế các ngân hàng sẵn  sàng bán ngoại tệ đổi lấy nội tệ và cho vay nội tệ để hưởng lãi suất cao, đến hạn   hoàn trả  ngoại tệ  họ sẽ mua ngoại tệ  vào và khoản lãi thu được từ  cho vay VND  luôn lớn hơn khoản thua lỗ do tỷ giá tăng (tức là VND mất giá) trong khi chính sách  tỷ giá mà NHNN theo đuổi lại ổn định trong thời gian dài và vì thế trạng thái ngoại  tệ của VCB và các ngân hàng khác thường đoản. Từ cuối năm 2006 đến những tháng đầu quý I/2008, trạng thái ngoại tệ của  các NHTM Việt Nam lại  ở  tình huống ngược lại,  đó  là  nó  luôn  ở  mức dư  thừa.  Nguyên nhân của tình trạng này là do: Thứ nhất: nguồn cung ngoại tệ cho các NHTM tăng nhanh là do thị trường   chứng khoán Việt Nam thời gian qua phát triển với tốc độ khá nóng. Điều đó khiến   cho các nhà   đầu tư  nước ngoài  đổ  xô  vào thị  trường Việt Nam. Họ  chuyển USD 
  9. Bản Tin Sớm www.bantinsom.com vào Việt Nam và  chuyển  đổi ra VND  để  kinh doanh chứng khoán dẫn  đến cung  ngoại tệ tăng mạnh. Thứ  hai: Ngoài nguồn vốn  đầu tư  gián tiếp thì  nguồn vốn  đầu tư  trực tiếp   FDI thực hiện trong năm 2007 cũng như trong quý I năm 2008 tăng cao. Trong quý   I năm 2008, tính chung cả vốn cấp mới và tăng thêm, cả nước đã thu hút thêm đạt   5,436 tỷ USD vốn đầu tư đăng ký, tăng 31% so với cùng kỳ năm 2007 đã làm tăng   nguồn cung USD của các NHTM. Thứ ba: do Cục dự trữ Liên bang Mỹ (FED) liên tục cắt giảm lãi suất đã làm  cho USD giảm giá mạnh so với các tiền tệ  như  EUR, JPY… cũng làm cho dòng  vốn đầu tư chuyển từ USD sang VND. Tất cả những lý do trên đã làm cho trạng thái ngoại tệ của các NHTM Việt   Nam luôn ở  trong tình trạng dư thừa. Trong khi  đó,  để  tránh  áp lức cho lạm phát,  NHNN không mua số ngoại tệ dư thừa này đã khiến cho tỷ  giá USD/VND liên tục   suy giảm. Và  chính  điều này lại gây khả  năng rủi ro tỷ  giá  cho các NHTM. Tuy  nhiên, hiện nay ngoại tệ lại đảo chiều, dẫn đến căng thẳng ngoại tệ tại các NHTM,  NHNN đã phải can thiệp và can thiệp với số lượng khá lớn.
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản