Ứng dụng của nấm trong căn bệnh ung thư và tim mạch

Chia sẻ: Thanh Nga | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:40

0
324
lượt xem
149
download

Ứng dụng của nấm trong căn bệnh ung thư và tim mạch

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Ung thư và rối loạn tim mạch là hai bệnh chủ yếu mà con người đang mắc phải ngày nay. Những nghiên cứu của chúng tôi cho thấy rằng những chất chiết xuất từ nấm có khả năng gây ra các tác dụng rất tích cực trong hỗ trợ điều trị và ngăn ngừa hai loại bệnh trên. Ngoài việc đề cập đến những thành quả nghiên cứu nhằm chứng minh các dữ liệu lâm sàng, quyển sách này cũng đề nghị một sự thảo luận liên quan đến các thông tin cơ bản về chức năng và tác dụng của các chất từ nấm trong cơ thể con người.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Ứng dụng của nấm trong căn bệnh ung thư và tim mạch

  1. Ứng dụng của nấm trong căn bệnh ung thư và tim mạch
  2. Chen, Shiu-Nan Ph.D. Bác học chuyên khoa bệnh nhiệt đới Đại học Liverpool Anh Giáo sư ngành khoa học sự sống Viện khoa học sự sống Đại học Quốc Gia Đài Loan Giáo sư kiêm chủ nhiệm khoa ngành khoa học sự sống Đại học Quốc lập Cao Hùng Chủ tịch Hiệp hội Glucan sinh học Đài Loan Chủ nhiệm Viện Nghiên cứu kiêm chủ nhiệm khoa sinh học Đại học Quốc lập Đài Loan Trung tâm nghiên cứu sinh vật đánh bắt Đại học Quốc Gia Đài Loan Ủy viên Ban chủ nhiệm Ủy ban phát triển ngành đánh bắt Đại học Quốc Gia Đài Loan Phó Giáo Sư ngành vi sinh vật Đại học Bang Oregon Mỹ Ủy viên Ủy ban chuyên gia bệnh cá kiêm đại diên khu vực châu Á và châu Đại Dương của Cục thú y quốc tế. Application of Mushroom Immunomodulatory Peptides, Người đoạt giải thưởng “Kiệt xuất” của Ủy ban khoa học Đài Loan 5 năm liền (1985-1996) β-Glucans and Fibrolytic Enzymes Giải thưởng nhân tài Khoa học Kỹ thuật. on Cancer and Cardiovascular Disease Giải thưởng nông nghiệp xuất sắc của Ủy ban Nông nghiệp Đài Loan. Giải thưởng danh dự nghiên cứu kiệt xuất Quỹ Hầu Kim Đôi đài Loan. Ủy viên nghiên cứu khách mời của Ủy ban khoa học Đài Loan. CHEN SHIU-NAN Ph.D. Professor, Department Of Life Science National Taiwan University Chairman, Taiwan Beta-Glucan Association
  3. I began organizing our research proposal for Lactobacillus, for the establishment of any new product in order to be convincing. Only after Bifidobacterium and yeast immunomodulatory polysaccharides during the fall of presenting the experimental data of the mushroom products to the public care 1982, at the time also started evaluating the potential of mushroom β-glucan. we further move along their development. In this book we illustrate the theory Time moves on quickly, and 24 years have passed by in just a blink of an eye , but behind mushroom fibrolytic enzyme, a product of our research work in the it has been no less than a very productive period. Throughout these years, I have recent years that we are happy to share with the public. In this book, we discuss focused much of my research effort in exploring the field of mushroom in detail the roles of β – glucan or immunomodulatory protein and fibrolytic immunomodulators and continuously sought out innovative developments. enzyme of mushroom in combating cancer and cardiovascular disease. Currently, I have finally accumulated substantial experience and results from The vastness of scientific realm amplifies our smallness, as our slight years of research and experimentation. After decades of a career in research, I advancement have taken us more than two decades of time to achieve. There have not forgotten my original purpose of serving the society in the field of still is much work ahead of us yet to be completed. I hope that through this scientific research. I am constantly reminded of my personal goal of establishing book, we can help the reader understand more in depth the contributions of mushroom immunomodulators as an important industry in Taiwan under the mushroom-related substances to humans. Most importantly, we hope that this current field of biotechnology, and I am very happy to see that it has begun its book will explain the efficacy of mushroom products in enhancing human growth and expansion. In the recent five years, our research has been targeting body’s anti-cancer ability but also making it clear that it is by no means a the treatments using β – glucan, immonomodulatory proteins of mushroom panacea for cancer. They are natural substances supported by ample scientific enzymes for cancer patients and for those suffering from cardiovascular evidence to strengthen health and furthermore, to serve as an effective disorders. While laboratory work may often be tough and tedious, the joy of supplement in the battle against cancer and thrombus, given proper diffusing my confusion has been worth the years of sweat. manufacturing and appropriate use. This book may lack complete information, and I much welcome any corrections and suggestions from the readers. Cancer and cardiovascular disorder are two major diseases humans suffer today. Our research has shown that mushroom-related substances can provide very positive effects in supplementing the treatment and prevention of these two diseases. Other than obtaining related research results in proving the clinical Shiu-Nan Chen, Ph.D. data, this book also offer a discussion of related background information on the Professor, College of Life Science National Taiwan University functions and effects of mushroom substances inside the human body. I believe January, 9. 2007 in Lab. that strong scientific research evidence plays the crucial role as the backbone
  4. Tôi bắt đầu thiết lập kế hoạch nghiên cứu của chúng tôi về vi khuẩn lên học sẽ đóng vai trò trụ cột cho việc tạo ra những sản phẩm mới nhằm mang lại men sữa Lactobacillus, Bifidobacterium và các polysaccharide điều hòa miễn sự tin tưởng về tác dụng. Chỉ sau khi các số liệu nghiên cứu về những sản phẩm dịch từ men trong khoảng năm 1982, cũng vào thời điểm đó chúng tôi bắt đầu nấm được trình bày với cơ quan chăm sóc sức khỏe cộng đồng, chúng tôi đã đánh giá khả năng của chất β-glucan từ nấm. Thời gian trôi qua nhanh, và 24 tiến đến việc triển khai các sản phẩm này. Trong quyển sách này chúng tôi làm năm đã qua trong chớp mắt, nhưng cũng không thể ít hơn cho một giai đoạn hữu sáng tỏ về mặt lý thuyết cho việc sử dụng các enzyme trong sợi nấm, một sản ích. Trong suốt bấy nhiêu năm, tôi đã tập trung cao độ cho sự nỗ lực nghiên cứu phẩm từ công trình nghiên cứu trong những năm gần đây mà chúng tôi rất tâm và khám phá về lãnh vực các yếu tố điều hòa miễn dịch từ nấm và tiếp tục theo đắc để chia xẻ nó với mọi người. Trong quyển sách này, chúng tôi thảo luận chi đuổi việc triển khai các phát kiến mới. tiết về vai trò của β – glucan, protein điều chỉnh hệ miễn dịch và các enzyme sợi Hiện nay, tôi đã tích lũy được những kinh nghiệm và kết quả đáng kể từ nhiều nấm trong cuộc chiến với căn bệnh ung thư và tim mạch. năm nghiên cứu và thử nghiệm. Sau những thập kỷ của sự nghiệp nghiên cứu, tôi So với lĩnh vực khoa học bao la rộng lớn, thành quả của chúng tôi chỉ rất nhỏ đã không hề quên mục tiêu nguyên thủy của tôi là phụng sự cho xã hội từ lãnh bé nhưng cũng phải mất hơn hai thập kỷ để đạt được. Vẫn còn rất nhiều việc vực nghiên cứu khoa học. Tôi luôn tự nhắc nhở mục tiêu về thiết lập hệ thống trước mắt phải làm mà chúng tôi chưa hoàn thành được. Tôi hy vọng rằng điều chỉnh miễn dịch với các loại nấm như là một công nghệ quan trọng tại Đài thông qua quyển sách này, chúng tôi có thể giúp cho người đọc hiểu sâu hơn về Loan trong lãnh vực công nghệ sinh học, và tôi rất vui mừng khi thấy điều này đã những đóng góp của các chất chiết xuất từ nấm cho con người. Quan trọng có sự tiến triển và mở rộng. Trong khoản năm năm gần đây, sự nghiên cứu của nhất, chúng tôi mong rằng quyển sách sẽ giải thích cho hiệu quả của những sản chúng tôi tập trung vào việc điều trị sử dụng β – glucan, thuộc nhóm protein phẩm nấm trong việc nâng cao khả năng tự chống ung thư của cơ thể con người chiết xuất từ nấm có tác dụng điều chỉnh hệ miễn dịch dùng cho các bệnh nhân nhưng cũng cần làm rõ ràng rằng nó không có nghĩa là thuốc chữa mọi loại ung thư và những người mắc các chứng bệnh tim mạch. Dù rằng công trình ung thư. Chúng chỉ là những chất thiên nhiên được minh chứng khoa học cho nghiên cứu dai dẵng và mệt mỏi nhưng niềm vui về thành quả của nó đã lan tỏa tác dụng tăng cường sức khỏe và hơn thế nữa được xem như một chất hỗ trợ và đền bù xứng đáng cho bao năm vất vả qua. hiệu quả trong cuộc chiến chống ung thư và tắc nghẽn tuần hoàn máu, phục vụ cho việc sản xuất và sử dụng. Quyển sách này chắc hẳn còn nhiều thiếu sót, rất Ung thư và rối loạn tim mạch là hai bệnh chủ yếu mà con người đang mắc mong sự đóng góp và sửa chữa của Quý độc giả để giúp quyển sách hoàn thiện phải ngày nay. Những nghiên cứu của chúng tôi cho thấy rằng những chất chiết hơn. xuất từ nấm có khả năng gây ra các tác dụng rất tích cực trong hỗ trợ điều trị và ngăn ngừa hai loại bệnh trên. Ngoài việc đề cập đến những thành quả nghiên cứu nhằm chứng minh các dữ liệu lâm sàng, quyển sách này cũng đề nghị một sự Shiu-Nan Chen, Ph.D. thảo luận liên quan đến các thông tin cơ bản về chức năng và tác dụng của các Giáo sư, Ngành khoa học sự sống Trường Đại học Quốc Gia Đài Loan chất từ nấm trong cơ thể con người. Tôi tin rằng sức mạnh của chứng cớ khoa Ngày 09 tháng 01 năm 2007, viết tại phòng thí nghiệm.
  5. Mục Lục Lời tựa __________________________________ Tế bào là đơn vị cơ bản tạo ra cơ thể 35 Xét nghiệm vật tiêu biểu tế bào ung thư con người 1 __________________________________ 38 Phân cấp bệnh lý ung thư Giới thiệu sơ lược về bệnh ung thư 6 Điều trị ung thư 40 __________________________________ __________________________________ 6 41 Nguyên tắc điều trị ung thư Sinh trưởng của tế bào và hình thành tế bào ung thư 43 Điều trị phẫu thuật 8 Thế nào gọi là ung bướu 45 Xạ trị 10 Bướu lành tính và bướu ác tính 46 Hóa trị 12 Nguyên nhân chính hình thành bệnh ung 48 Điều trị bằng hormone thư 49 Điều trị bằng gene 17 Sự phát triển của bệnh ung thư mang tính quy luật 50 Điều trị nhiệt 18 Triệu chứng bệnh ung thư 51 Điều trị lạnh 19 Tên gọi bệnh ung thư 52 Điều trị miễn dịch Chẩn đoán ung thư 21 Chăm sóc bệnh 56 __________________________________ __________________________________ 21 Chẩn đoán siêu âm 56 Ăn uống của người bị bệnh ung thư 23 Chẩn đoán X-quang 57 Kiểm soát cơn đau của bệnh nhân ung thư 24 Chụp CT 60 Môi trường gia đình của bệnh nhân 26 Chẩn đoán MRI 61 Mười nhân tố đẩy lùi ung thư 28 Chẩn đoán PET Phòng chống ung thư 70 30 Chụp hình miễn dịch phóng xạ __________________________________ 70 Ba cấp phòng chống ung thư 31 Chụp hình thuốc phóng xạ 72 Ăn uống và ung thư 32 Chẩn đoán nội soi 34 Chẩn đoán bệnh lý
  6. 78 Tập luyện và ung thư 116 Mối quan hệ giữa ung thư và miễn dịch 79 Thuốc lá và ung thư 117 Điều trị miễn dịch và điều trị truyền thống 80 Cau và ung thư 118 Thuốc chống ung thư và chất điều tiết miễn 82 Rượu và ung thư Tác dụng chống ung thư về Globin dịch 83 Ánh nắng và ung thư của chất chiết xuất từ nấm 120 __________________________________ 84 Nghề nghiệp và ung thư Polysaccharid trong nấm giảm tác 85 Kiến nghị phòng chống ung thư dụng phụ của xạ trị và hóa trị __________________________________ 126 88 Tự kiểm tra Polysaccharide trong nấm với di căn của tế bào ung thư 128 89 Kiểm tra phòng chống ung thư __________________________________ Polysaccharide trong nấm và chống Hệ miễn dịch 91 ung thư 136 __________________________________ __________________________________ 91 Hệ miễn dịch cơ thể: Phòng tuyến tự vệ Khai thác và ứng dụng thuốc miễn dịch Polysaccharid 141 91 Thành viên hệ miễn dịch __________________________________ 92 Tác dụng của hệ miễn dịch 141 Bối cảnh khai thác 96 Globin miễn dịch 142 Nghiên cứu và bước tiến về Polysaccharid 98 Phản ứng dị ứng 144 Cơ chế tác dụng của Polysaccharid và bào Biện pháp điều trị miễn dịch 101 chế thuốc trong tương lai __________________________________ 101 Cơ hội mới cho điều trị ung thư Căn bệnh tim mạch 150 106 Cơ chế chống ung bướu với Polysaccharid __________________________________ 152 Tìm hiểu về bệnh động mạch vành của nấm và Globin điều tiết miễn dịch 112 Chất trao đổi Polysaccharid trong nấm Điều trị bệnh mạch vành 154 và hoạt tính ức chế men Tomomerase __________________________________ 114 Ung thư và liệu pháp miễn dịch của 156 Tìm hiểu chức năng ưu việt của nấm đối với huyết khối Polysaccharid trong nấm
  7. TẾ BÀO LÀ ĐƠN VỊ CƠ BẢN TẠO RA CƠ THỂ CON NGƯỜI Phòng chống và điều trị bệnh tắc nghẽn do huyết khối 158 Cơ thể con người bao gồm rất nhiều cơ quan chức năng để duy trì sự sống và __________________________________ 158 Cơ chế tạo huyết khối và tan huyết khối cơ chế sinh lý bình thường, có sự phân công vai trò riêng cho mỗi cơ quan. Hình trong cơ thể thái và chức năng các cơ quan trong cơ thể tuy có nhiều khác biệt, tuy nhiên chúng đều được tạo ra từ một đơn vị cơ bản giống nhau, đó là tế bào. Các cơ 160 Thế nào gọi là huyết khối? quan trong cơ thể kết hợp và hỗ trợ tác động lẫn nhau mới tạo ra sự sống và duy 161 Thuốc điều trị bệnh huyết khối trì hoạt động bình thường cho cơ thể. Tuy nhiên, chỉ khi tế bào được sinh trưởng bình thường và hoàn thành tốt chức năng nhiệm vụ, mới giúp cho các bộ phận và 164 Phòng chống bệnh huyết khối các cơ quan trong cơ thể hoạt động được suôn sẻ. Vì vậy sự sinh trưởng và hoạt 167 Thức ăn phòng chống bệnh tim mạch động bình thường của đơn vị tế bào có mối liên quan mật thiết đến sức khỏe của cơ thể người. Polysaccharid của nấm với tác dụng Phôi thai được nguyên phân từ trứng thụ tinh, sau đó phân hóa thành nhiều phòng chống bệnh tim mạch 168 loại mô khác nhau, và có những chức năng cụ thể. Tuy hình thái và kết cấu các __________________________________ mô khác nhau, nhưng kết cấu cơ bản của tế bào vẫn là một. Nhìn chung có thể Chất chiết xuất nấm và cơ chế cải thiện tuần hoàn máu 174 chia làm 3 phần chính: nhân, tế bào chất và màng sinh chất. __________________________________ Trước hết, xin giới thiệu về nhân tế bào: Nhân là nơi chủ yếu để cất giữ thông Công trình nghiên cứu và khai thác tin di truyền, có thể xem nhân là bộ tư lệnh để điều khiển hình thái và chức năng men nấm 182 tế bào. Chúng mang theo phân tử di truyền là DNA (deoxyribonucleic acid), bề __________________________________ ngoài bao phủ Histone, và chất nhiễm sắc. Bình thường, chúng phân tán trong tế 182 Ứng dụng men nấm bào, đến khi sinh trưởng, chất nhiễm sắc sẽ xoắn vào nhau, ta gọi là nhiễm sắc 183 Vai trò của chất chiết xuất nấm đối với thể. Tế bào dù với chức năng hoặc hình thái ra sao đều mang theo thông tin di hệ tuần hoàn máu truyền như nhau. Tuy nhiên do phân hóa và biểu hiện khác biệt về gene, nên khiến tế bào xuất hiện với nhiều hình thái và chức năng. Khi sinh trưởng, tế vào 186 sẽ nhân đôi chất di truyền mang theo. Lúc này, trong tế bào có 2 nhóm DNA Bệnh tim mạch và ăn uống __________________________________ giống hệt nhau, sau đó lại chia chất di truyền ra làm hai. Thế là nhân đôi thành công hai tế bào giống nhau. Tài liệu tham khảo 190 Phần nằm ngoài nhân là tế bào chất. Nếu chúng ta xem tế bào chất là một nhà __________________________________ máy, thì các bào quan bên trong tế bào sẽ là các phòng ban sản xuất khác chức năng, chúng phân công cùng duy trì sự trao đổi chất bình thường trong tế bào và thực hiện chức năng của tế bào. Ví dụ, Ti thể, cung cấp năng lượng cho tế bào; Ribôxôm, tổng hợp chất đạm và chất men; còn Gôngi, tổng hợp kết cấu của chất protein; Lixôxôm, giúp phân hủy chất thải tế bào và chất thâm nhập. Qua phân công và hợp tác của các bào quan, tế bào thức hiện được chức năng đặc thù, và môi trường làm việc của các bào quan chính là tế bào chất.
  8. Màng sinh chất là kết cấu ngoài cùng của tế bào với chức năng chính là ngăn GIỚI THIỆU SƠ LƯỢC VỀ BỆNH UNG THƯ cách và bảo vệ, đặc biệt giúp ngăn cách nơi làm việc của từng tế bào, tránh bị can Ung bướu ác tính còn gọi là ung thư, là căn bệnh nguy hiểm ảnh hưởng nghiêm thiệp. Màng sinh chất chế tạo bởi lớp keo phốtpholipit, có nhiều prôtein khảm trọng tới sức khỏe, uy hiếp mạng sống của chúng ta. Xưa nay, bệnh ung thư, động, prôtein khác nhau, tình trạng khảm động cũng khác nhau, cũng có prôtein bệnh tim mạch, và tai nạn là 3 nguyên nhân chính gây tử vong lớn trên thế giới. xuyên thấu màng kép. Ngoài prôtein ra, màng sinh chất có lỗ nhỏ để các chất Vì vậy, Tổ chức Y tế trên thế giới và các cơ quan y tế các nước đều coi trọng trong ngoài lưu thông qua lại màng tế bào, vận chuyển các chất, tiếp nhận và nhiệm vụ phòng chống và điều trị bệnh ung thư. truyền thông tin từ bên ngoài vào trong tế bào. Màng sinh chất có chứa loại glucose, với nhiệm vụ chính là đón nhận và truyền tải thông tin. SINH TRƯỞNG CỦA TẾ BÀO VÀ SỰ HÌNH THÀNH CỦA TẾ BÀO UNG THƯ Mỗi tế bào có vai trò khác nhau và thực hiện công việc cũng không giống Từ khi trứng thụ tinh ra đời, cũng là lúc khởi đầu một cá thể sống độc lập, muốn nhau. Tế bào phải tạo ra prôtein theo yêu cầu, và hoàn thành công việc. Khi tế duy trì sự sống và cơ chế sinh lý bình thường của cá thể, đòi hỏi tồn tại các tế bào bào thực hiện công việc, sẽ tìm đến chất di truyền AND, tiến hành nhân bản, khác chủng loại và chức năng, chúng đều được hình thành từ trứng thụ tinh qua chuyển AND thành ARN quá trình này được tiến hành chủ yếu trong nhân tế bào, giai đoạn sinh trưởng và phân hoá của tế bào. Tế bào giữ chức năng khác nhau được nhiều nhân tố hỗ trợ, để uốn nắn sai lệch. Sau đó tiến hành phân bào II. ngày đêm làm việc, dù cơ thể đang nghỉ ngơi. Do hoạt động liên tục, nên cũng Dưới hỗ trợ của bào quan trong tế bào chất, tế bào hoàn thành công việc hữu hiệu giống như máy móc sẽ bị hao mòn, tế bào của cơ thể chúng ta cũng bị lão hóa suy và chính xác. yếu dần, công suất làm việc cũng bị giảm bớt. Nên cơ thể tùy theo tình hình sẽ Ngày nay do ngành công ngiệp phát triển nhanh chóng, mức sống của con tiến hành đổi cũ thay mới, sản sinh thêm tế bào, để duy trì tốt hoạt động sinh học người cũng được nâng cao. Tuy nhiên bệnh tật cũng xuất hiện thường xuyên, đó cho cơ thể. Sự sinh sản tế bào mới sẽ được hoàn tất qua việc nhân bản của tế bào. là do môi trường sống bị ô nhiễm nặng, áp lực trong cuộc sống,… là những Quá trình sinh trưởng của tế bào gọi là chu kỳ của tế bào, chu kỳ này chia làm 4 nguyên nhân chủ yếu dẫn tới căn bệnh ung thư. Con số tử vong do bệnh ung thư giai đoạn, được ký hiệu là G1, S, G2 và M. Pha G1 là giai đoạn tế bào nhân đôi. rất lớn, uy hiếp đến sinh mạng và sức khỏe của con người và mang lại nhiều gánh Khi tế bào nhận được thông tin sinh trưởng phân chia, sẽ bắt đầu khâu chuẩn bị, nặng cho gia đình bệnh nhân. Tuy ngành y tế ra sức nghiên cứu những biện pháp tăng trưởng đến một kích thước nhất định, thì chúng sẽ tiến hành nhân đôi DNA, phòng chống ung thư. Nhưng hiệu quả vẫn còn giới hạn, nên khiến mọi người kiểm tra theo trình tự sắp xếp DNA trong nhiễm sắc thể, lập tức tu bổ khi DNA bị đều lo lắng đến nguy cơ mắc bệnh ung thư. Sự giấu diếm có thiện ý của người khiếm khuyết, và tránh xa những sắp xếp DNA sai lệch. Công việc kiểm tra cần nhà và ý nghĩ tiêu cực của bệnh nhân, càng làm tăng thêm con số tử vong. Đây là khoảng 10 đến 12 giờ, sau khi hoàn tất tế bào sẽ đi qua pha S. Khi tế bào không vấn đề khiến chúng ta phải suy tư, chúng ta phải làm thế nào để giữ sức khỏe vượt qua được điểm giới hạn, sẽ đi vào quá trình biệt hóa. Ở pha S tế bào cần 6 được tốt? Điều then chốt là nâng cao khả năng miễn dịch của cơ thể. Mọi sinh vật đến 8 giờ để diễn ra nguyên phân, hình thành 2 bộ nhiễm sắc thể giống nhau đều có khả năng phòng chống mầm bệnh xâm nhập, có khả năng tự bảo vệ, xin 100%. Pha G2 tiếp tục sau pha S, tiếp tục tổng hợp prôtein có vai trò đối với sự đừng lầm tưởng những người xui xẻo mới bị ung thư, thực ra trong cơ thể mỗi hình thành thoi phân bào. Chuẩn bị chuyển sang pha M, pha M chủ yếu là phân con người ít nhiều cũng sản sinh tế bào ung thư, nhưng số tế bào này không chia tách thành 2 tế bào con, tạo thành 2 nhân mới có số nhiễm sắc thể bằng ngừng bị tiêu diệt bởi hệ thống miễn dịch, cho nên những người yếu sức đề kháng nhau, và bằng nhiễm sắc thể của bố mẹ. Thế là hoàn thành chu kỳ tế bào. dễ bị xâm hại bởi bệnh ung thư. Phòng chồng bệnh ung thư là một cuộc chiến Trong quá trình nguyên phân, mỗi giai đoạn đều có mặt của chất mem, chất men tranh, chúng ta muốn cầm chắc phần thắng, phải hiểu thấu kẻ địch, mới có hy xúc tác các phản ứng, giúp uốn nắn những sai lệch, hỗ trợ tế bào hoàn thành vọng giành chiến thắng. Vì vậy phòng chống và điều trị bệnh ung thư, trước hết nguyên phân. Khi chất men bất kỳ đánh mất chức năng hoặc biến đổi bất thường, cần có hiểu biết cơ bản về bệnh ung thư. nguyên phân của tế bào sẽ không bình thường. Nguyên phân của tế bào không phải tiến hành liên tục mà điều tiết bởi gien. Khi có nhu cầu sinh trưởng hoặc nguyên phân, mới khởi động chu kỳ tế bào. Đặc trưng chủ yếu của tế bào ung thư chính là mất đi sự điều khiển theo cơ chế bình thường và tăng sinh không ngừng.
  9. THẾ NÀO GỌI LÀ UNG BƯỚU BẢNG SO SÁNH BƯỚU LÀNH TÍNH VÀ BƯỚU ÁC TÍNH Con người phát hiện ung bướu đến nay đã có hơn 3000 năm lịch sử. Từ khi có kính hiển vi vào thế kỷ thứ 19, đã bắt đầu hình thành khâu nghiên cứu về ung MỨC SO SÁNH BƯỚU LÀNH TÍNH BƯỚU ÁC TÍNH bướu. Kể từ thế kỷ 20 do ngành khoa học tự nhiên phát triển, đi đôi với việc Kiểu sinh trưởng Bành trướng, ranh giới rõ, đa số có Ngâm tẩm, phá hoại, không ranh nghiên cứu lý luận căn bản, và ứng dụng kỹ thuật mới, người ta bắt đầu tìm hiểu màng bọc. giới, không màng bọc. kỹ càng về bệnh ung bướu. Tốc độ sinh trưởng Tăng trưởng chậm, ít nhân đôi. Tăng trưởng nhanh, nhân đôi liên Cũng như phần trên đã trình bày, hoạt động của tế bào chủ yếu được điều tiết bởi tục, hoại tử lỡ loét. gen, mà gen là một đoạn của DNA. Thông thường tế bào được sinh trưởng một Tái phát It tái phát sau phẩu thuật. Dễ tái phát sau phẩu thuật. cách có kế hoạch, nhưng khi gen điều tiết phát sinh đột biến do một nguyên nhân Di căn Ít di căn. Di căn qua máu hoặc bạch huyết bất kỳ (tiếp xúc đến tác nhân gây ung bướu), tế bào bình thường bắt đầu dị dạng Mức độ phân hóa Hình thái phân hóa gần giống mô Mức độ phân hóa không đồng tăng trưởng liên tục không chịu khống chế. Quá trình đột biến từ lượng đến chất, và kết cấu thường, qui tắc sắp xếp và kết cấu đều, biến dạng, qui tắt sắp xếp và tổ chức gần giống mô thường. kết cấu tổ chức khác hẳn mô là hậu quả tác dụng lâu dài bởi tác nhân gây ung bướu trong cơ thể yếu kém sức thường. đề kháng. Ảnh hưởng đối với Chèn ép một chỗ cố định, ảnh Ngoài chèn ép một chỗ cố định, Khi số tế bào khác thường này không ngừng tăng trưởng biến thành một khối tế cơ thể hưởng ít hơn (khi chèn ép cơ quan còn phá hoại và ngâm tẩm cơ bào ta gọi là khối u. Khối u này được hình thành và phát triển trong cơ thể, không quan trọng, sẽ ảnh hưởng chức quan xung quanh, gây hoại tử xuất năng, gây hậu quả nghiêm trọng). huyết, viêm nhiễm, di căn, gây hại chịu sự kiểm soát của hệ thống miễn dịch. Nếu hệ thống miễn dịch khỏe mạnh U trong cơ quan nội tiết gây cương nghiêm trọng đến tính mạng. nhận biết ngay từ đầu tế bào ung thư thì sự sinh trưởng của tế bào ung thư sẽ bị cơ năng. giới hạn hoặc tiêu diệt. Vì vậy, chính chức năng miễn dịch điều tiết là điều then chốt để điều trị và phòng chống bệnh ung thư ngay từ gốc, không phải tất cả các Có điểm phải chú ý là giữa bướu lành tính và bướu ác tính đôi khi không có ranh khối u đều là ung thư, ngành y học tùy theo mức độ nguy hại đến cơ thể đã chia giới tuyệt đối, cũng có một số ung bướu có biểu hiện cả hai gọi là lưỡng tính. Ví khối u thành hai loại lớn: bướu ác tính và bướu lành tính. dụ, u lành tính ở đầu bàng quang, có hình thái tế bào lành tính, nhưng lại dễ tái phát hoặc tai biến thành bướu ác tính. Số bướu lành tính mà không có màng bọc BƯỚU LÀNH TÍNH VÀ BƯỚU ÁC TÍNH ranh giới không rõ ràng, sau khi tách bóc cũng dễ tái phát. Bướu lành tính nảy Tế bào của bướu lành tính có hình thái và chức năng gần giống với tế bào bình sinh ở một số cơ quan quan trọng cũng có thể gây hậu quả nghiêm trọng như thường bên cạnh, sinh trưởng hơi chậm, đa số đều có màng bọc, phân ranh rõ bướu lành tính trong não, sẽ chèn ép mô não, dẫn tới tác hại rất lớn, hoặc bướu ràng và sinh trưởng ở chỗ cố định. Có xảy ra hiện tượng chèn ép và gây ra ách tim sẽ làm rối loạn nhịp tim, gây đột quỵ. Bướu ác tính cũng chưa hẳn gây hậu tắt, xong không lan tỏa di căn sang các bộ phận khác trong cơ thể, chỉ cần tách quả nghiêm trọng. Đối với tế bào ung thư da, thường sinh trưởng chậm, hầu như bóc, không tái phát, ít nguy hại. Còn kết cấu và chức năng của tế bào ung bướu ác không di căn, sau khi điều trị có thể khỏi bệnh hoàn toàn. Song tính chất lành ác tính khác nhau rất lớn so với tế bào bình thường, hình thù quái dị, kích thước và của khối u cũng không phải tuyệt đối không thay đổi. Đôi khi bướu lành tính nếu hình thái không đồng đều, chức năng yếu hoặc mạnh hoặc biến mất, tăng trưởng không chữa trị kịp thời vẫn sẽ có cơ hội chuyển thành bướu ác tính, đôi khi bướu cực mạnh không chịu khống chế, có tính xâm phạm và lan tỏa, nên dễ xâm nhập ác tính cũng có thể chuyển thành bướu lành tính. vào các mô hoặc tế bào bình thường để tranh giành chất dinh dưỡng. Bướu ác tính ngoài gây chèn ép và ách tắt, còn gây xuất huyết hoại tử, và lên cơn sốt, nếu NGUYÊN NHÂN CHÍNH HÌNH THÀNH BỆNH UNG THƯ không được điều trị nó sẽ di căn sang các bộ phận khác trong cơ thể thông qua hệ Nhìn chung gồm 3 lý luận: thống bạch huyết hoặc mạch máu. Ngoài ra bướu ác tính sau khi điều trị vẫn có 1. Mô hình hai giai đoạn hoặc mô hình nhiều giai đoạn khả năng tái phát.
  10. Trước hết là tác nhân gây ung thư (Initiator), gây nên sự biến đổi không bình bệnh, còn có khả năng nhận biết tế bào khác thường trong cơ thể. Một khi có tế thường về DNA, dẫn tới quá trình hình thành chất đạm cũng không bình thường, bào khác thường xuất hiện, tế bào miễn dịch sẽ nhanh chóng nhận biết và tiến làm ảnh hưởng quá trình trao đổi chất trong tế bào, dẫn tới tế bào không bình hành tiêu diệt chúng, khiến số tế bào khác thường này không thể ảnh hưởng đến thường. Tác nhân gây ung thư bao gồm hóa chất, tia phóng xạ, tia tử ngoại, thuốchoạt động bình thường của cơ thể. lá, virus v.v. ngoài ra, nếu đồng thời tồn tại tác nhân xúc tác (Promotor), sẽ tăng Tế bào ung thư nói tóm lại là những tế bào không bình thường trong cơ thể, nhanh quá trình phát bệnh. Qua nghiên cứu có 35% nguyên nhân gây ung thư có nhưng tại sao không bị hệ miễn dịch tiêu diệt, lại tồn tại trong cơ thể gây hại vậy? liên quan đến thức ăn uống, 30% có liên quan đến thuốc lá, còn 10% có liên quan Nguyên nhân chính là do hệ miễn dịch của cơ thể bị suy yếu. Nhìn chung tế bào tới nhiễm độc mãn tính và nhiễm độc virus, ngoài ra còn có các nguyên nhân miễn dịch bình thường đủ sức tìm ra những tế bào không bình thường và tiêu diệt khác như làm việc quá sức, thiếu ngủ, strees … nếu chỉ có tác nhân gây ung thư chúng, nhưng giả sử số tế bào miễn dịch này không đủ sức nhận biết và tiêu diệt mà không có tác nhân xúc tác, thì ung thư cũng không thể phát sinh. số tế bào không bình thường, thì số tế bào không bình thường đó sẽ có cơ hội tiếp 2. Sự xuất hiện của gen gây ung thư tục tồn tại trong cơ thể và phá hoại sâu hơn. Mỗi người chúng ta đều có gen gây ung thư. Trong môi trường thích hợp, gen Trình độ khoa học kỹ thuật khoa học ngày càng phát triển thì ô nhiễm cuộc sống này sẽ đóng vai trò môi giới, hình thành tế bào ung thư. Ngoài ra, chúng ta cũngcũng ngày một tăng lên, cơ thể chúng ta sống trong môi trường đầy ô nhiễm, có vài gen ức chế tế bào ung thư, chức năng giữa các gen này tác động qua lại, cộng thêm sức ép cuộc sống và công việc, hấp thụ nhiều phụ gia gây độc hại qua giúp phòng chống tế bào bình thường đột biến thành tế bào ung thư. Trường hợp chế biến thức ăn. Những tác nhân gây độc hại nêu trên tồn tại và tích lũy dần tất cả gen ức chế ung thư đều xảy ra đột biến, không còn giữ được chức năng trong cơ thể, ảnh hưởng liên tục đến chức năng hoạt động của cơ thể, hệ miễn bình thường, sẽ không thể ngăn chặn sự hình thành của tế bào ung thư, từ đó dẫn dịch từ đó suy yếu dần. Những vật chất có hại trong môi trường cũng gây ảnh tới bệnh ung thư hưởng xấu đến gen, làm cho gen trở nên khác thường, không thể phục hồi tế bào 3. Hệ miễn dịch trong cơ thể bị trục trặc bình thường và khiến tế bào khác thường tăng nhanh, gây ảnh hưởng xấu đến cơ Hệ miễn dịch trong cơ thể cũng hỗ trợ đối phó với tế bào ung thư. Nhưng trường thể. hợp hệ miễn dịch không tốt hoặc mất tác dụng miễn dịch, thì khả năng chống ung Do tế bào ung thư hết sức ngoan cố. Ban đầu chưa hẳn bị phát hiện và dễ bị di thư cũng giảm xuống. Một khi tế bào ung thư lọt qua giám sát của hệ miễn dịch căn. Nên dù đã xử lý mầm bệnh vẫn lo bị tái phát hoặc di căn. Cho nên chúng ta sẽ bắt đầu tăng trưởng. luôn luôn cảnh giác và tránh xa tiếp xúc với nguồn ô nhiễm và chú ý nâng cao chức năng của hệ miễn dịch. Nhằm nâng cao tỉ lệ tiêu diệt của tế bào miễn dịch Sự phát sinh bệnh ung thư thông thường do nhiều tác nhân tích tụ lâu ngày, đối với số tế bào khác thường, để chúng không gây hại cơ thể. Từ đó giảm tỉ lệ những tác nhân này gồm: rượu mạnh, thức ăn ướp muối hun khói, ô nhiễm thuốc mắc bệnh ung thư. lá, nhiễm độc virus (như viêm gan siêu vi B và C), di truyền hoặc ảnh hưởng môi trường hoặc do viêm nhiễm qua đường truyền. Tóm lại, các bạn có độ tuổi lớn SỰ PHÁT TRIỂN CỦA BỆNH UNG THƯ MANG TÍNH QUY LUẬT hoặc thường xuyên bộc lộ trong môi trường có nhiều tác nhân gây ung thư, về lâu Ung thư là một quá trình diễn biến phức tạp và nhiều giai đoạn, hình thành bởi tế về dài, hệ miễn dịch sẽ bị suy giảm, tỷ lệ mắc bệnh ung thư cũng tăng lên. bào ung thư với đặc điểm chính là sự đột biến về gen di truyền, dẫn tới tế bào liên Cơ thể bao gồm các loại tế bào có liên quan đến chức năng miễn dịch, số tế bào tục tăng trưởng khác thường, hình thành ung bướu, xâm phạm đến các tổ chức này đóng vai trò bảo vệ cơ thể không bị mần bệnh xâm hại, như quân đội bảo vệ xung quanh và di căn sang các cơ quan khác để gây hại. Đây là hình thức chủ yếu nước nhà, thông qua nhiều phòng tuyến khác nhau, đạt đến mục đích phòng vệ. gây hại của tế bào ung thư biểu hiện qua lâm sàng là nhóm bệnh tật toàn thân với Chỉ khi những tế bào trong khâu miễn dịch này hoạt động bình thường thì cơ thể đặc trưng là khối u cục bộ. Nhìn chung, quy trình phát triển của tế bào ung thư mới đủ sức chống lại bệnh tật. Trường hợp chức năng của tế bào này bị cản ngại, gồm: cơ thể sẽ không đủ sức chống lại bệnh tật, đi tới mắc bệnh. Vì vậy, mắc bệnh có mối liên quan tuyệt đối đến hệ miễn dịch. Tế bào miễn dịch ngoài tiêu diệt mầm
  11. 1. Bắt đầu từ ổ bệnh, kích thước từ nhỏ đến lớn (dưới kính hiển vi tới 1g, hoặc số 2. Thay đổi vị giác. tế bào từ 101 đến 109 ). 3. Thuốc men có thể gây buồn nôn, biếng ăn. 2. Từ ổ bệnh xâm phạm đến các mô xung quanh hoặc bạch huyết xung quanh ( số 4. Có đến 80% bệnh nhân ung thư có hiện tượng chất đạm bị giảm xuống rất tế bào từ 1010 đến 1012). thấp, do nguyên nhân tai biến trong ruột. 3. Từ ổ bệnh xâm nhập mạch máu hoặc mạch bạch huyết cục bộ và lan tỏa sang các cơ quan xa hơn ( số tế bào trên 1012). TÊN GỌI BỆNH UNG THƯ Tên được đặt theo nguồn gốc tế bào bị bệnh. Thông thường, khi tế bào tăng trưởng tới số tế bào 10 lũy thừa 9, mới dễ phát • Ung thư tế bào thượng bì (Carcinoma) : ngoài da hoặc bề ngoài cơ quan. hiện triệu chứng lâm sàng, ta gọi thời gian này là giai đoạn tiềm ẩn. Giai đoạn • Bướu thịt: tế bào mô (Sarcoma) : sụn, xương và cơ bắp. này ngắn hoặc dài tùy theo loại ung thư. Trong quá trình sinh trưởng của tế bào • Ung thư sắc tố đen (Melanoma) : tế bào sắc tố của da. ung thư, chúng cũng cần dinh dưỡng và oxy, cũng thải ra chất thải. Cho nên khi • Ung thư bạch huyết (Lymphoma) : mô bạch huyết. tế bào ung thư còn nhỏ, thường nằm chung với tế bào mạch máu bình thường, khi • Bệnh bạch cầu (Leukemia) : tế bào máu từ máu và tủy xương. chúng lớn dần và mạch máu không đủ cung cấp dinh dưỡng, chúng sẽ tạo ra • Ung thư tủy xương (Myeloma) : tế bào tương trong máu. mạch máu riêng cho mình. Quá trình này gọi là tăng sinh mạch máu. Sau khi tế • Ung thư thần kinh (Gliomas) : tế bào mô thần kinh. bào ung thư có được dinh dưỡng và oxy đầy đủ sẽ lớn nhanh, lớn mạnh. Đồng Trong đó bệnh bạch cầu và ung thư bạch huyết, đôi khi còn gọi là bướu nước, vì thời, tế bào ung thư tách từ khối u sẽ thông qua mạch máu mới này di căn sang nguồn gốc từ hệ tuần hoàn. Đặc biệt là hệ tuần hoàn máu và bạch huyết. Còn khối các bộ phận khác trong cơ thể. Sự sinh trưởng và di căn của tế bào ung thư nếu u bên ngoài hệ thống tuần hoàn thì thường là khối u đặc, gọi là ung thư hoặc không được khống chế, sẽ phá hoại những cơ quan quan trọng dẫn tới suy kiệt, bướu thịt. cuối cùng là tử vong. Có một số ít chứng bệnh ung thư (ung thư phổi) có khả năng ác tính cao, lan tỏa ra các cơ quan xung quanh cũng rất nhanh chóng. Sự CHẨN ĐOÁN UNG THƯ phát triển của ung thư máu thì ngay từ đầu đã mang tính toàn thân. Tóm lại trong Đa số bệnh ung thư không có triệu chứng trước khi tế bào ung thư lớn lên, nên quá trình ung thư phát triển trong các cơ quan, ban đầu gây hại ít hơn, điều trị ít chẩn đoán có tác dụng giúp phát hiện sớm căn bệnh. Cung cấp thông tin cần thiết hơn, hiệu quả cũng khá lớn, nhưng sau khi chúng lan tỏa, tỷ lệ trị khỏi sẻ giảm trong điều trị, như vị trí, bị di căn chưa… Chẩn đoán trước khi lập bệnh án, bác còn rất thấp, thậm chí mất cơ hội trị khỏi bệnh và trong quá trình điều trị sự tác sĩ tiến hành khám bằng mắt hoặc sờ bằng tay, chụp hình. Với nguyên tắc an toàn hại và tác dụng phụ cũng cao hơn. tiện lợi, chẩn đoán không gây đau đớn cho bệnh nhân. TRIỆU CHỨNG UNG THƯ Chẩn đoán siêu âm Đây là biện pháp kiểm tra an toàn, đơn giản và nhanh chóng. Cho kết quả chẩn Do bệnh ung thư gồm rất nhiều loại, và phát sinh trong các bộ phận khác nhau, đoán tốt trên các bộ phận chứa nước trên cơ thể; sau đó phản xạ hiện ra hình ảnh nên triệu chứng cũng không giống nhau, mức độ nghiêm trọng cũng có phần khác trên màn hình. nhau. Dưới đây chỉ giới thiệu sơ lược về một vài triệu chứng của bệnh ung thư. Chẩn đoán siêu âm thường áp dụng để khám và phát hiện khối u ở sọ, mắt, tuyến 1. Sụt cân: nguyên nhân khả năng gây sụt cân giáp, tuyến nước bọt, tuyến ngực, hoành cách mạc, tai biến và khối u phổi và a. Tăng tốc độ trao đổi chất dẫn đến tăng tiêu hao năng lượng. Tuy nhiên do tỷ lệ màng ngực, u gan, mật, tụy, dạ dày, đường ruột, tuyến thượng thận, bạch huyết ác thay đổi trao đổi chất của bệnh nhân ung thư không giống nhau, nên mức độ giảm tính, u bàng quang, tuyến tiền liệt, tinh hoàn, tử cung buồng trứng và sau màng cân cũng khác nhau. bụng…… b. Bệnh tình ác tính (gầy, yếu cực độ, uể oải và yếu sức đối với số bệnh nhân giai đoạn cuối). c. Biếng ăn.
  12. Ưu khuyết điểm Chụp CT 1. Chẩn đoán siêu âm giúp tìm ra hình thù, kích thước, chức năng co giản của Đây là nguyên lý ứng dụng X quang để chụp cắt lớp trên một phạm vi nhất định. túi mật, là biện pháp tốt nhất để kiểm tra bệnh túi mật. Do mô cơ thể hấp thụ X quang có mức chênh lệch, qua phân tích của máy vi tính, 2. Siêu âm nhận biết được động mạch bụng, xác định vị trí và tai biến của sẽ cho hình ảnh giải phẩu cắt lớp, tạo hình 3D, có độ phân giải cao, phân biệt tuyến tụy, xác suất phát hiện bướu tuyến tụy đạt 85-90% được chênh lệch cực nhỏ mật độ giữa các tổ chức, hình ảnh cắt lớp giúp phát hiện 3. Có giới hạn đối với các chứng viêm tuyến ngực mãn, xơ cứng, ung thư trực tiếp kết cấu và tai biến các cơ quan mà X quang không phát hiện, ngoài ra, tuyến ngực giai đoạn đầu và bướu xơ kém màng bọc, còn cần nghiên cứu tiếp còn đo đạt trị số mật độ các mô, cung cấp thông tin để chẩn đoán. và nâng cao. Gần 20 năm nay, CT đã trở thành một phương pháp quan trọng chẩn đoán vị trí 4. Siêu âm không xuyên thấu mô phổi có không khí, nên không ý nghĩa mấy khối u. đối với khám u phổi. Chẩn đoán CT chủ yếu ứng dụng trên khối u hệ thần kinh trung khu, khối u mắt, 5. Hiệu quả khám dạ dày và ruột không lý tưởng, kém hơn so với chụp X mũi, họng, khối u ngực và xương chậu. quang và nội soi. Ưu khuyết điểm Chẩn đoán X quang 1. Tính chính xác khi chụp CT dễ chẩn đoán u trong sọ tương đối cao. Vì mật Ứng dụng tác dụng xuyên thấu, huỳnh quang và cảm quang của X quang, xuyên độ giữa khối u khác nhất định so với mô thông thường, u thiên ác tính còn xuất thấu cơ thể, chụp lên hình ảnh trên màn hình hoặc phim, để tiến hành chẩn đoán. hiện mạch máu bị phá hoại, cho tín hiệu hình rõ hơn. CT giúp xác định vị trí, Chụp X quang này được áp dụng ở các khoa lâm sàng, so sánh tỷ lệ ở các bộ kích cỡ, số lượng khối u, xuất huyết bên trong, hoại tử, nang, phù thủng xung phận như ngực, xương, khi phát hiện khác thường về mật độ, mới cần kiểm tra quanh khối u... qua đó tiến hành định vị chẩn đoán. thêm hoặc chụp khác. Hiện nay chủ yếu được ứng dụng để phát hiện khối u ngực, 2. Đối với khối u nằm trong cơ quan phủ tạng có khoản trống, do thành ruột hệ thống xương, hệ tiêu hóa, tiết niệu, não,... mỏng, có hơi, ảnh hưởng của tiêu hoá và thức ăn thừa, đôi khi gây khó khăn khi chụp, nên không dễ phát hiện sớm khối u giai đoạn đầu. Ưu khuyết điểm 3. Do chụp CT cần thời gian, nên cũng chịu ản hưởng bởi hoạt động sinh lý 1. Do hệ thống xương có mật độ cao trong kết cấu cơ thể. Tỉ lệ nổi bật so với như hít thở, nhịp tim, nhu động ruột, mà sinh ra ngộ nhận, làm giới hạn kết quả mô xung quanh, chất xương bị phá hoại hay tăng sinh do ung bướu, sẽ trông rõ chẩn đoán. ràng qua phim chụp X quang, tiện cho chẩn đoán. 4. Đối với biến chứng nhỏ dễ bị bỏ qua. 2. Phổi tràn đầy không khí, có tỉ lệ so sánh tốt. Tai biến, kích thướt và hình thù 5. Do khối u thiên lành tính có mật độ gần như mô bình thường, độ quét hình của khối u thấy rõ qua phim chụp, có thể phát hiện sớm bệnh tật, tiện cho việc không rõ, khó chẩn đoán phát hiện. khám và theo dõi bệnh. 6. Giá đắt, có thể có bức xạ gây hại nhất định. 3. Tai biến xương phức tạp và nhỏ, do kết cấu của che lấp trùng điệp, phim chụp khó thấy và không rõ, tai biến phổi ở vị trí nhỏ hoặc bị ẩn nấu (trong phổi Chẩn đoán MRI rãnh bên cột sống), tai biến khí quản hoặc thanh khí quản cũng không thể thấy Ứng dụng lâm sàng kỹ thuật chụp cộng hưởng từ là một cuộc cách mạng hình hoàn toàn. Nên phối hợp với chụp hoặc kiểm tra đặc thù. ảnh học ngành y, sau kỹ thuật CT và siêu âm. Với nguyên lý tận dụng sóng điện 4. Khi thiếu vị trí so sánh, như hệ tiêu hóa, tiết niệu, não tủy khó nổi bật tai và từ trường, để tạo nên hiện tượng cộng hưởng của proton bên trong cơ thể từ đó biến, khó khám chức năng cơ quan. Nên không thích hợp khám khối u tiết niệu quan sát hình ảnh bên trong. Do cơ thể chúng ta có nhiều mô, như xương sụn, và tiêu hóa. Tuy nhiên, lại là cách hỗ trợ khám bướu hệ thần kinh. Dù cho thấy xương cứng, mô mềm..., hàm lượng nước và mỡ của các cơ quan cũng khác nhau, chất lượng xương thay đổi do bướu sọ và ống cột sống, song cũng cần chụp mật độ proton trong môi trường bình thường và tai biến cũng có chênh lệch. CT, MRI hoặc tạo ảnh, mới khẳng định được kết quả chính xác.
  13. nên nghiên cứu trạng thái phân bổ của proton qua độ phân giải 2D, 3D, có ý PET chủ yếu dùng để chẩn đoán ung thư phổi, đầu cổ, trực tràng, thực quản, bạch nghĩa lớn trong ngành y học. Chụp MRI không gây hại vì không có tia bức xạ, có huyết, ngực, da, buồng trứng, tuyến giáp, cổ tử cung, tụy tạng, bướu não,… ưu điểm là độ phân tích mô và không gian cao, không bị can thiệp ngộ nhận. Đồng thời với liều so sánh khác, sẽ giúp tìm thấy thay đổi giữa dòng máu trong Ưu khuyết điểm mạch và tim. Nay đã được áp dụng rộng rãi trong chẩn đoán ung thư. 1. Độ phân giải và tính chính xác cao, đặc biệt khi phân biệt bướu lành hoặc ác tính. Đánh giá và theo dõi hiệu quả chẩn đoán và điều trị tốt. Ưu khuyết điểm 2. Có thể quét kiểm tra toàn thân, ngoài kiểm tra khối u, còn tổng quan bạch 1. Trong tất cả kỹ thuật chụp hình chẩn đoán, MRI có độ phân giải cao nhất đối huyết, phổi, gan, xương. với các mô mềm. Nhìn thấy rõ mô mềm như cơ bắp, màng gân, mỡ... 3. Khuyết điểm lớn nhất của kỹ thuật PET là không cung cấp vị trí giải phẩu 2. Có khả năng chụp cắt lớp trực tiếp từ nhiều góc độ, không cần thay đổi vị trí chính xác. Hiện nay đang nghiên cứu sử dụng PET kết hợp với ảnh tổng hợp từ người bệnh, qua đó nhìn rõ kết cấu cơ quan hoặc các mô, không có góc chết. CT và MRI, để nhìn rõ vị trí chính xác của mô ung thư từ 3D; và máy quét mới Nay mở rộng diện tích quét, cho phép dựng lại hình quét nhiều mặt, tiện theo sẽ là bộ máy kết hợp PET và CT. dõi lập thể kết cấu giải phẩu và ổ tai biến. 3. MRI không tạo vết thương, không tia hại, tránh gây tác hại. RII : Chụp hình miễn dịch phóng xạ 4. Hệ số tham chiếu của hình MRI nhiều, thông tin nhiều, độ phân giải cao. Có Tiêm kháng thể đặc thù (có kháng nguyên liên quan với ung thư) có ký hiệu tiềm năng ứng dụng nghiên cứu lâm sàng rất lớn. phóng xạ vào cơ thể, khi theo máu đi tới khối u, sẽ kết hợp với kháng nguyên của 5. Thiết bị và chi phí kiểm tra MRI cao, nên mức thông dụng bị giới hạn. khối u, xuất hiện tia phóng xạ lớn hơn mô thường, qua kỹ thuật chụp bên ngoài, 6. Ngoài máy quét MRI từ trường thấp (0,02- 0,04T) và open style (
  14. vùng nóng. Kỹ thuật này có giá trị tham khảo quan trọng đối với chẩn đoán ung Chẩn đoán bệnh lý thư. Tuy nhiên cũng cần tiến hành chẩn đoán khác như siêu âm, CT, MRI, và kỹ Là cắt lấy mẫu hoặc phết lấy mẫu để soi dưới kính hiển vi, quan sát kết cấu và thuật khác để tránh sai sót. hình thù tế bào. Chẩn đoán qua hình ảnh, sinh hoá, miễn dịch về ung thư, tuy có Hiện nay kỹ thuật này ứng dụng chủ yếu trong chẩn đoán u não, tuyến nội tiết, bước phát triển, song muốn xác định tính chất, chủ yếu còn phải dựa trên chẩn gan, phổi, thận, ổ bệnh di căn ở xương, ung thư tuyến ngực, cổ tử cung, bàng đoán bệnh lý. Đây là một nhánh của ngành bệnh lý học, thường chia làm bệnh lý quang, tuyến tiền liệt và hậu môn... mô và bệnh lý tế bào. Chẩn đoán tìm ra bướu lành bướu ác, làm căn cứ lâm sàng. Đồng thời còn dựa trên chỉ tiêu “phân loại ung thư chuẩn quốc tế”, tìm ra kết quả Chẩn đoán nội soi chẩn đoán và tên gọi thống nhất cho bệnh lý. Có lợi cho giao lưu và nghiên cứu. Kính nội soi (Endoscope) đã ra đời hơn 100 năm, với nguyên lý cắm đầu soi vào Hiện nay, chủ yếu ứng dụng trên ung thư di căn bạch huyết, ung thư cổ tử cung, cơ quan dạng ống hoặc chụp ảnh nhờ cáp quang hiện qua màn hình để xem xét gan, phổi, ung thư cổ họng, dạ dày,… bệnh tình. Cận đại phát triển thêm máy soi Fiberscope, Video Endoscope, giúp quan sát kiểm tra tận các cơ quan như đường tiêu hóa, đường hô hấp, đường tiết Ưu khuyết điểm niệu, lồng ngực, ổ bụng, khớp, đồng thời cho phép tiến hành phẩu thuật để tách 1. Quan sát trực tiếp và xác định tính chất ung thư bóc khối u, thông ách tắc do ung thư, cắt túi mật...., ứng dụng kỹ thuật viba, laser, 2. Kiểm tra mẫu tươi. Chỉ là một phần nhỏ của tai biến được phát hiện dưới chức năng chụp hình, ghi hình, phóng to, xử lý vi tính, tóm lại là thiết bị chẩn kính hiển vi, đôi khi không thể đại diện cho căn bệnh. đoán kỹ thuật tinh vi hiện đại. 3. Chẩn đoán bệnh lý cần kết hợp kiểm tra lâm sàng, vì ung thư có hình thù, Do kính nội soi có thể chẩn đoán khối u ở dạ dày, phổi, thực quản, đại tràng... bệnh lý đa dạng. Đôi khi u ác tính phân hoá tốt cũng chẳng khác biệt so với u đáng tin cậy, nhất là phát hiện sớm ung thư giai đoạn đầu, chẩn đoán bệnh lý tốt lành tế bào hoặc tai biến u sôi nổi, sẽ đi đến ngộ nhận và chẩn đoán sai lầm. hơn so với chẩn đoán khác (kể cả MRI, CT và siêu âm). Phẩu thuật nội soi có thể điều trị hữu hiệu đa dạng đối với u lành tính, u ác tính cạn, ung thư giai đoạn đầu. Xét nghiệm vật tiêu biểu tế bào ung thư Đối với ung thư giai đoạn cuối, phẩu thuật nội soi và ứng dụng kỹ thuật lồng Vật tiêu biểu tế bào ung thư là mẫu đặc thù của bản thân tế bào khối u hoặc do bụng, giúp thuyên giảm triệu chứng, kéo dài mạng sống. Do vậy, kỹ thuật nội soi bài tiết của tế bào khối u, hoặc chất sinh ra từ tế bào bình thường có phản ứng với không ngừng được cải tiến và ứng dụng, giúp nâng cao hiệu quả điều trị ung thư tế bào ung thư. Vật tiêu biểu thường tồn tại ở tế bào ung thư hoặc chất dịch cơ thể và phát triển lâm sàng. bệnh dưới hình thức kháng nguyên, men, hormone, sản phẩm từ trao đổi chất. Hiện nay, kính nội soi gồm kính thực quản, kính tá tràng, kính lồng ngực, kính Qua lấy mẫu máu, chất dịch mô hoặc chất bài tiết để kiểm tra, dựa trên tính miễn thanh khí quản, kính bàng quang.... dịch, sinh hóa của mẫu sinh thiết để chẩn đoán. Vật tiêu biểu của ung bướu gồm Ưu khuyết điểm các đặc trưng như sau : 1. Tìm hiểu trực tiếp hình thù, phạm vi, tính chất của khối u, chẩn đoán mô 1. Tạo ra tế bào ung thư ác tính, từ máu, chất dịch mô, mô ung bướu. tươi, làm căn cứ tin cậy cho chẩnn đoán hoặc điều trị. 2. Không tồn tại ở mô bình thường hoặc căn bệnh thường. 2. Giúp kiểm tra, nhận định, chụp hình đối với tai biến ở các cơ quan, chỗ hẹp, 3. Vật tiêu biểu của một vài thứ ung bướu thường bị tìm ra ở đa số người mắc khối u giai đoạn đầu, là thiết bị quan sát ung bướu ban đầu hữu hiệu nhất hiện chứng bệnh này. nay. 4. Tốt nhất nên phát hiện trước khi có bằng chứng xác thật bị ung thư. 3. Giúp đi sâu nghiên cứu ung bướu và bệnh liên quan, tìm ra nguyên nhân 5. Số lượng của vật tiêu biểu tốt nhất nên phản ảnh đúng kích cỡ ung bướu. bệnh, cơ chế phát bệnh. 6. Trên một mức nhất định, giúp đánh giá hiệu quả điều trị, dự kiến tái phát 4. Tiến hành phẩu thuật kín hoặc nữa kín cho khối u lành hoặc ác tính. hoặc di căn. 5. Quá trình kiểm tra làm bệnh nhân khó chịu và đau đớn.
  15. Tuy nhiên, với vật tiêu biểu đã biết hiện nay, tuyệt đại đa số có cả ở bướu lành và PT : ung bướu nguyên phát. bướu dữ, thậm chí mô phôi thai và mô bình thường. Chẳng còn là sản phẩm đặc • Ptis : ung thư vị trí cố định : trong thượng bì, chỉ xâm phạm lớp cố định. thù, tuy chỉ nhiều hơn ở người bệnh u ác tính. Nên gọi là kháng nguyên có liên • PT0 : mô tách phẩu thuật không phát hiện ung thư nguyên phát. quan đến ung bướu. • PT1, PT3, PT3, PT4 : ung bướu nguyên phát lớn lên. Vật tiêu biểu của ung bướu được chia làm nhiều loại lớn: kháng nguyên phôi thai, • PTx : sau phẩu thuật và kiểm tra bệnh lý, đều không thể xác định phạm vi ngâm (như AFP, CEA, ACTH), men (như LDH, NSE, men PAP tuyến tiền liệt, β2M), tẩm của ung bướu. sản phẩm trao đổi chất, kháng nguyên ung bướu (như CA19-9, CA125, CA), gen ung thư (như là e-mye, ras, p53, Rb), nguyên tố vi lượng (như sắt, kẽm, đồng, PN : hạch bạch huyết cục bộ. arsenic và selenium). • PN0 : hạch bạch huyết chưa di căn. Kiểm tra vật tiêu biểu ung thư và nghiên cứu lâm sàng có ý nghĩa quan trọng, ứng • PN1, PN2, PN3 : hạch bạch huyết tăng di căn. dụng các mặt sau : • PN4 : hạch bạch huyết di căn xung quanh. 1. Kiểm tra ung bướu : là cách chính để phát hiện và chẩn đoán ung thư gan • PNx : phạm vi ngâm tẩm ung bướu không xác định. 2. Kiểm tra người có nguy cơ mắc bệnh ung bướu cao : tỉ lệ người mắc bệnh ung thư tuyến giáp cao hơn khi có bệnh sử gia đình về bệnh này. PM : di căn vùng xa. 3. Chẩn đoán ung thư : men acid phosphate ở tuyến tiền liệt khác với ở mô khác, • PM0 : không chứng cứ di căn vùng xa. có thể dùng để chẩn đoán ung thư tuyến tiền liệt hoặc phán xét ung thư di căn có phải đến từ tuyến tiền liệt. • PM1 : di căn xa. 4. Giám sát ung bướu : trước, đang hoặc sau khi tiến hành điều trị, theo dõi vật • Mx : không xác định có hoặc không di căn xa. tiêu biểu giúp nắm vững kết quả trị liệu. Giám sát tái phát hoặc di căn. Như CEA giám sát ung thư đại tràng, HCG giám sát ung thư mao mạch. 5. Phân loại ung bướu : dùng CEA, NSE để phân loại giữa ung bướu dạ dày - ruột với ung thư hạch (CEA dương tính, NSE âm tính), hoặc ung thư cơ quan (CEA âm tính, NSE dương tính). 6. Giai đoạn ung bướu: bệnh nhân ung thư tuyến tiền liệt giai đoạn cuối, PAP huyết thanh cao rõ ràng so với bệnh nhân giai đoạn đầu. Kiểm tra mức độ PAP, hỗ trợ cho công việc chẩn đoán phân chia giai đoạn bệnh. 7. Định vị: dùng kháng thể có ký hiệu phóng xạ và kháng nguyên ung bướu, quét laser để định vị khối u. 8. Điều trị: ứng dụng kháng thể và thuốc độc tế bào để phối hợp điều trị. Phân cấp bệnh lý ung thư Tùy theo hình thù bệnh lý, phân cấp bệnh lý cho ung bướu, để nắm vững mức độ ác tính, dùng làm căn cứ cho điều trị lâm sàng và dự phòng. Theo tổ chức UICC, căn cứ kích thước, phạm vi (T), hạch bạch huyết (N) và tình trạng di căn (M), để phân cấp bệnh lý cho ung bướu như sau :
  16. ĐIỀU TRỊ UNG THƯ như hóa trị, điều trị nội tiết, miễn dịch, đông tây y kết hợp... nhằm diệt sạch tế bào ung thư còn lại. Bệnh nhân giai đoạn cuối, do biến chứng di căn, sức khỏe Ung thư không phải là chứng bệnh cục bộ, mà là căn bệnh toàn thân hết sức phức yếu, phải chọn các liệu pháp hỗ trợ, tăng cường cơ địa và chức năng miễn dịch tạp. Ung thư giai đoạn giữa và cuối mang biến chứng toàn thân. Tỉ lệ phát sinh trước, sau đó tùy theo mức độ hồi phục mà tìm cách điều trị thích hợp. Nếu các loại ung bướu và vị trí, phạm vi biến chứng, mức độ nghiêm trọng, giai đoạn không thể trị khỏi tận gốc, thì kéo dài mạng sống và giúp thuyên giảm bệnh tình, chia bệnh, quá trình biến chứng, điều kiện chữa trị, do các nhân tố không giống sẽ trở thành hai mục tiêu lớn trong điều trị. Nghĩa là chỉ để kéo dài mạng sống và nhau nên phản ứng và hiệu quả điều trị cũng khác nhau. giảm đau đớn, nâng cao chất lượng sống cho ngày tháng còn lại. Trong vài chục năm qua, đã ra đời nhiều cách chữa trị bệnh ung thư. Chủ yếu gồm điều trị bằng phẫu thuật, xạ trị, hóa trị, hormone, điều trị nhiệt, điều trị lạnh, 3. Căn cứ vào đặc tính sinh vật học của ung bướu mà chọn cách điều trị tương điều trị miễn dịch. Trong đó, liệu pháp phẫu thuật, hóa trị, xạ trị, là 3 liệu pháp ứng. Đối với những khối u phân hóa tốt, hơi chín mùi, mức độ ác tính không cao. thường dùng nhất trong các bệnh viện. Các liệu pháp trên có thể dùng kết hợp, Tế bào ung thư gần giống như tế bào mô bình thường, nên tiến hành điều trị phẫu hoặc dùng riêng biệt. Khi dùng kết hợp trên hai liệu pháp, ngoài liệu pháp chính, thuật là chính. Vì có những trường hợp ung thư chỉ cần phẫu thuật cắt bỏ là sẽ liệu pháp còn lại đóng vai trò phụ trợ. Song 3 liệu pháp được xem là cách điều trị được hồi phục. Đối với những khối u phân hóa kém hơn, ác tính cao hơn, tế bào tiêu biểu nhất hiện nay, có lẽ làm ức chế sự sinh trưởng của tế bào ung thư, giúp ung thư khác nhiều so với các mô ban đầu thì phải tiến hành điều trị toàn thân là căn bệnh thuyên giảm, nhưng không có cách uốn nắn nguyên nhân gây bệnh chính, chờ ổ bệnh teo lại mới áp dụng điều trị cục bộ như phẫu thuật, hoặc xạ trị. chính đó là sa sút hệ miễn dịch, đôi khi còn gây giảm chức năng miễn dịch. Vì vậy, khi xây dựng kế hoạch điều trị, chẳng những cần nghĩ đến hiệu quả, mà còn Điều trị ung bướu cần áp dụng và phát huy sự kết hợp giữa các khoa phòng để phải chăm lo các chức năng các cơ quan khác, giảm tối đa tác dụng phụ, nâng cao tiến hành điều trị tổng hợp, thông qua hội chẩn để chọn ra phương pháp điều trị chất lượng sống cho bệnh nhân. Ngoài điều trị ở bệnh viện, chúng ta đề nghị bệnh tốt nhất. Đối với một người bệnh ung bướu, khâu chẩn đoán và điều trị, ít nhất nhân nên chú ý thay đổi thói quen sống không tốt, tận dụng thức ăn uống và tập phải tham khảo ý kiến hội chẩn của 5 chuyên gia gồm : bệnh lý, khoa ngoại, khoa luyện để tăng cường thể chất, củng cố sức khỏe, điều này góp phần lớn cho hồi nội, chẩn đoán phóng xạ và điều trị phóng xạ, thậm chí phải mời thêm bác sĩ phục sức khỏe. chuyên khoa để tham gia hội chẩn. Tổng hợp các cách điều trị, để phát huy sở trường của từng cách để đạt đến hiệu quả tốt nhất. NGUYÊN TẮC ĐIỀU TRỊ UNG THƯ Theo bước chân tiến bộ của ngành y học, liệu pháp điều trị ung thư ngày càng gia Dù áp dụng liệu pháp nào, nguyên tắc chung của điều trị là khống chế và tiêu diệt tăng, vì chủ thể điều trị là người bệnh và chịu đựng nỗi đau cũng là người bệnh, ổ bệnh. Duy trì sức khỏe chung, để đạt tới mục đích hồi phục. nếu không trị khỏi, thì mất mạng cũng là người bệnh, cho nên bản thân người Nhìn chung, căn cứ giai đoạn biến chứng, chủng loại bệnh lý của căn bệnh, phải bệnh phải quan tâm chịu khó thu tập thông tin, suy nghỉ và tìm ra cái lợi và tác nắm vững nguyên tắc điều trị sau đây : dụng phụ của điều trị. Xuất phát từ giá trị quan trọng của bản thân, tự quyết định 1. Không chỉ riêng ung thư, mà kể cả khi chọn cách điều trị cho các căn bệnh phương chân điều trị cho mình. Mối quan hệ giữa nhân viên y tế và người bệnh nói chung, trước hết cần nghĩ tới tính quan trọng của điều trị, so với bó tay không phải được xây dựng trên cơ sở tôn trọng lẫn nhau, cùng quyết định và cùng chịu làm gì cả, thì mức độ hiệu quả sau điều trị có ý nghĩa quan trọng. trách nhiệm. 2. Căn cứ giai đoạn sớm muộn của căn bệnh, phải có cách điều trị tương ứng, ví dụ, giai đoạn đầu khối u nhỏ, thể trạng người bệnh còn tốt, nên lấy điều trị tận ĐIỀU TRỊ PHẪU THUẬT gốc là chính. Qua biện pháp phẫu thuật, xạ trị, tiêu diệt hoàn toàn mầm ổ bệnh, Chủ yếu để nhanh chóng cắt bỏ khối u ác tính, là cách điều trị xưa nhất, truyền đối với số ít tế bào ung thư ở bộ phận khác, có thể kết hợp điều trị miễn dịch để thống và thường dùng. Khoảng 90% bệnh ung thư được chẩn đoán và điều trị ngăn ngừa tái phát hoặc di căn. Nghĩa là điều trị chính cục bộ, cộng với hỗ trợ từng giai đoạn bằng phẫu thuật. Đối với khối u nhỏ hơn và chỉ ở một nơi trong cơ toàn thân. Còn bệnh nhân giai đoạn giữa, phải dùng biện pháp điều trị toàn thân thể, cách này là cách điều trị mang lại hiệu quả tốt. Trường hợp tế bào ung thư đã
  17. di căn, phẫu thuật chỉ nhằm cắt bỏ các mô và mô bạch huyết xung quanh khối u, cách xạ trị. Đôi khi cũng có kết hợp với phẫu thuật (trước hoặc sau) hoặc hóa trị. đôi khi do cắt bỏ quá nhiều mô, dẫn tới người bệnh có di chứng thiếu hụt chức Hiện nay có hai cách xạ trị chính là xạ trị ngoại tại và nội tại. Xạ trị ngoại tại là năng, trở ngại... những ca phẫu thuật lớn gây gánh nặng cho cơ thể, khiến người tận dụng tia phóng xạ tiêu diệt tế bào ung thư, còn điều trị nội tại là đặt trong cơ bệnh suy yếu hệ miễn dịch, mất trạng thái cân bằng, dẫn tới bệnh nặng hơn. thể những viên thuốc có chứa phóng xạ. Sau khi phẫu thuật cắt bỏ khối u, đặt những viên thuốc có tia phóng xạ đó vào vết mổ để tiêu diệt tế bào ung thư còn Những năm gần đây, qua nghiên cứu ngày càng sâu về bản chất khối u và đặc lại. tính sinh vật học, cộng thêm sự phát triển nhanh chóng của khoa điều trị phẫu ĐIỀU TRỊ XẠ TRỊ thuật và trang thiết bị y tế, kỹ thuật chẩn đoán ban đầu cũng được nâng cao. Khái niệm căn bản về khoa ngoại ung thư cũng có nhiều thay đổi. Khoa ngoại ung thư hiện đại được xây dựng trên cơ sở giải phẫu học, sinh vật học, miễn dịch học và Tận dụng cách chiếu tia phóng xạ tiêu diệt ổ bệnh, thường áp dụng và tỏ rõ hiệu tâm lý xã hội học, đã thay thế ngành khoa học điều trị truyền thống với giải phẫu quả ở nơi cố định, không hiệu quả khi điều trị di căn. Trong quá trình điều trị, gây là chính. Thời đại chỉ áp dụng một cách điều trị là phẫu thuật đã qua đi. Bác sĩ hại đến tế bào bình thường, quá tình điều trị lâu dài, có tác dụng phụ, gây tổn khoa ngoại chẳng những phải năm bắt cách chẩn đoán và điều trị khối u, đồng thương và gánh nặng lớn đối với người bệnh. thới trước khi tiến hành phẫu thuật còn phải tìm hiểu đặc tính và hành vi sinh vật học của khối u, hướng phát triển của nguy cơ di căn,.... Tóm lại bác sĩ khoa ngoại phải có kỹ thuật phẫu thuật tốt, còn phải có hiểu biết về xạ trị, hóa trị và điều trị HÓA TRỊ miễn dịch, để tiến hành điều trị kết hợp cho bệnh nhân, nhằm nâng cao kết quả Hóa trị còn gọi là điều trị bằng thuốc men, nghĩa là dùng hóa chất để tiêu diệt tế điều trị. bào ung thư qua thuốc uống hoặc tiêm chích. Được áp dụng rộng rãi trên các loại ĐIỀU TRỊ PHẪU THUẬT NGOẠI KHOA ung bướu, mục đích chính là gồm: 1/ chữa lành ung thư, để khối u biến mất không còn mọc trở lại. Nếu không đạt được mục tiêu trên, chuyển sang : 2/ nhằm khống chế (ức chế sự tăng trưởng và di căn của khối u), nâng cao chất lượng sống Chủ yếu để cắt bỏ khối u đã sưng to. của bệnh nhân ung thư. Khi bệnh nhân bước vào giai đoạn giữa và cuối chữa lành Song đối với những ung thư đã di căn thì không có công dụng thiết thực. chẳng còn hi vọng, 3/ Mục tiêu cuối cùng chính là để giảm triệu chứng khó chịu Hơn nữa quá trình tiến hành phẫu thuật và hồi phục cũng là gánh nặng to lớn đối của bệnh, nâng cao chất lượng sống cho bệnh nhân. Khuyết điểm của hóa trị là với thể xác và tâm hồn của người bệnh. thuốc men ngoài giết chết tế bào ung thư còn tiêu diệt luôn tế bào bình thường. Nhất là đối với những tủy xương hoặc cơ quan tiêu hóa có trao đổi chất mạnh. XẠ TRỊ Hơn nữa tế bào ung thư dễ bị lờn thuốc, dẫn tới luôn cần dùng loại thuốc mạnh Xạ trị còn gọi là điều trị bằng điện, tận dụng các tia xạ α,β,γ tạo ra đồng vị hơn, mới hơn. phóng xạ, cùng với máy điều trị tia X hoặc máy tăng tốc tạo ra tia X, tia tử Tuy nhiên, chỉ dùng một loại thuốc cũng có thể điều trị ung thư, song vì muốn ngoại, tia proton, tia nơtron và những chùm tia khác. Với tia phóng xạ năng tăng cường hiệu quả, thường phải dùng kết hợp vài loại thuốc với những tác dụng lượng cao, chọc thủng ung bướu ác tính, tia phóng xạ tác dụng lên DNA của tế khác nhau, nhằm giết chết tế bào ung thư nhiều hơn, giảm khả năng lờn thuốc đối bào, tiêu diệt tính năng nhân đôi của tế bào, để chúng tự diệt vong. Nhưng trong với một loại thuốc đặc trị nào đó. Phẫu thuật và xạ trị đều nhằm tiêu diệt tế bào quá trình tiêu diệt tế bào ung thư, tia phóng xạ đồng thời sát thương tế bào bình ung thư ở một chổ nhất định, còn hoá trị là gây tác dụng toàn thân, giúp tiêu diệt thường. Hiệu quả xạ trị hơi chậm, thường cho kết quả sau một tháng, nửa năm tế bào ung thư di căn đến các nơi trong cơ thể. Hiện nay có hơn 90 loại thuốc hóa hay một năm, đồng thời có tác dụng như gây rụng tóc, biếng ăn và buồn nôn. trị được ứng dụng để điều trị bệnh ung thư. Tóm lại hóa trị là cách chọn lựa cuối Những mô bệnh không thể cắt bỏ, hoặc không thích hợp làm phẫu thuật thì chọn cùng và duy nhất khi tế bào ung thư mất khống chế, di căn đến phạm vi rộng, thậm chỉ ảnh hưởng đến toàn thân.
  18. ĐIỀU TRỊ HÓA TRỊ tế bào bình thường. Người ta cũng có thể qua thử gien để phản ảnh hiện trạng gien của người bệnh, từ đó có biện pháp làm giảm bệnh tình hoặc đề phòng chứng bệnh phát sinh. Thử gien giúp nhanh chẩn đoán ra ung thư. Từ đó mang lại Phòng chống ổ bệnh ung thư trở nặng và phình to hiệu suất điều trị cao. Song đến hôm nay, điều trị gien còn ít ứng dụng trên lâm sàng, có mối nguy hại đến chức năng các gien bình thường, có khả năng dẫn tới các chứng bệnh khác. Vì vậy, khai thác và áp dụng hệ thống điều trị gien mang Chất chống ung thư gây hại lớn đối với cơ thể, có tác dụng phụ mạnh như : giảm tính an toàn cao, vẫn còn là vấn đề thách thức. mạnh bạch cầu, thiếu máu, buồn nôn, biếng ăn, rối loạn chức năng gan thận, rụng tóc, rụng lông và các triệu chứng không lường trước được. ĐIỀU TRỊ NHIỆT Điều trị nhiệt (Hyperthermia) là sử dụng nhiệt độ để tiêu diệt tế bào ung thư, do ĐIỀU TRỊ BẰNG HORMONE tế bào ung thư có đặc tính không chịu nhiệt, nên khi ở nhiệt độ ổn định là 42oC sẽ Còn gọi là điều trị nội tiết, sử dụng thuốc ức chế sản sinh hormone và phản ứng làm suy yếu tế bào ung thư, còn tế bào bình thường sẽ không bị tổn hại, vì ở nhiệt do hormone hoặc cắt bỏ những tuyến thể sản sinh hormone, nhằm giết chết tế bào độ cao mạch máu bình thường sẽ giản nở, lưu lượng máu lưu thông mang bớt ung thư hoặc ức chế chúng tăng trưởng. Những nghiên cứu trước đây cho thấy nóng đi, giúp giải nhiệt. Tuy nhiên do mạch máu mới của mô tế bào ung thư bệnh nhân ung thư ngực cuối kỳ, sau khi cắt bỏ buồng trứng, triệu chứng sẽ giảm. không thể giản nở ở nhiệt độ cao, nên tế bào ung thư sẽ bị chết do nóng. Cắt bỏ tinh hoàn có mang lại hiệu quả tốt cho điều trị bệnh tiền liệt tuyến. Điều Với cơ chế tự bảo vệ vốn có của cơ thể, khi chịu nhiệt sẽ sản sinh ra chất đạm trị hormone thường được áp dụng cho bệnh ung thư thuộc dạng sống nhờ Heat shock 70 (HSP70), giúp bảo vệ tế bào thường không bị tổn thương ở nhiệt hormone. Nghĩa là những căn bệnh phát sinh phát triển và điều trị đều có liên độ cao. Vì vậy điều trị nhiệt lần thứ 2, hiệu quả thường không tốt bằng lần thứ 1, quan mật thiết đến hormone như ung thư ngực, ung thư tiền liệt tuyến, ung thư cổ ta gọi đó là lờn nhiệt. tử cung và ung thư tuyến giáp, điều trị hormone có ưu điểm là tiện lợi, ít phản Điều trị nhiệt chia làm toàn thân hoặc cục bộ. Điều trị nhiệt cục bộ chủ yếu dùng ứng xấu, nhưng hiện nay mới được áp dụng cho điều trị hỗ trợ, không thể thay sóng điện từ hoặc sóng viba để làm tăng nhiệt độ ổ bệnh, khiến tế bào ung thư co thế cho phẫu thuật, xạ trị, hóa trị. lại hoặc bị tiêu diệt. Ngoài gia nhiệt từ phía ngoài cơ thể, còn cách nữa là cắm cây kim điện cực vào thực quản, trực tràng, tử cung, mật, ống mật... để gia nhiệt. ĐIỀU TRỊ BẰNG GIEN Đôi khi do tác dụng của chất béo, không khí và xương trong cơ thể, khiến gia nhiệt nội bộ khó điều tiết, hiệu quả kém lý tưởng. Gia nhiệt toàn thân thì có thể Áp dụng gien gốc di truyền để điều trị ung thư. Mọi cách nhằm thay đổi cơ cấu thông qua tia xạ hồng ngoại, dùng điều trị cho bệnh nhân ung thư cuối kỳ. Nhằm và chức năng gien, đều thuộc phạm trù gien. Do ung thư là căn bệnh mang tính di gây suy dinh dưỡng các mô ung thư, giảm nồng độ oxy, tăng axit, từ đó hạn chế tỉ truyền, nên điểu trị gien có tiềm lực lớn trong chẩn đoán và điều trị ung thư. Hiện lệ sinh tồn của tế bào ung thư. Điều trị nhiệt thường không sử dụng riêng mà kết nay có hai loại điều trị gien qua tế bào thể (Somatic Cell) và tế bào mầm (Germ hợp nhằm tăng cường hiệu quả điều trị của xạ trị và hóa trị. Cách này cũng có thể Line). Trong quá trình điều trị qua tế bào thể, số gien lành mạnh được cấy vào số gây đau đớn ở bộ phận bị gia nhiệt, tác dụng phụ của tia xạ, v.v.. gien bị khuyết tật đặc thù, với mục đích chính là tu bồ khuyết tật và nâng cao chất lượng sống. Trong điều trị gien bằng tế bào mầm, gien được cấy vào những tế ĐIỀU TRỊ LẠNH bào đặc thù với chức năng chuyển tải thông tin di truyền. Tuy nhiên cách điều trị này gây sóng gió đến đặc trưng nhân chủng tương lai. Còn gọi là điều trị ở nhiệt độ thấp. Tận dụng máy làm lạnh nhanh chóng để đông Sau khi nhân viên nghiên cứu xác định sự đột biến về gien của các chứng bệnh cứng rồi xả đông tế bào ung thư. Tận dụng áp suất thẩm thấu khác nhau ở dạng ung thư, sẽ thiết kế ra phương án điều trị hữu hiệu nhất, là dùng gien thường thay đá và chất lỏng để phá hoại tế bào, đông lạnh còn giúp ngăn cản lưu thông của thế cho những gien khuyết tật, nhằm ngăn chặn sự di căn và hồi phục chức năng mạch máu xung quanh tế bào ung thư, ngăn tách dòng máu nuôi sống tế bào ung
  19. thư để chúng chết vì thiếu oxy. Thao tác của liệu pháp này đơn giản, không đau Điều trị miễn dịch còn có thể dùng chung với các cách điều trị thông dụng ở bệnh đớn và an toàn, chất đông lạnh thường dùng là nitơ dạng lỏng, hiệu quả khá khi viện như đã nêu ở phần trên, khi kết hợp điều trị miễn dịch với hóa trị hoặc xạ trị, điều trị ung bướu nhỏ. Đang được dùng chủ yếu đề điều trị khố u phần cạn hoặc sẽ làm giảm tác dụng phụ như mệt mỏi, biếng ăn, rụng tóc, lở loét khoang miệng nơi dễ tiếp xúc như đầu cổ, trực tràng, cổ tử cung, bàng quang, tuyến tiền liệt, hoặc da, buồn nôn, rụng răng,… xuống mức thấp nhất. Hỗ trợ tu bổ tế bào bình song chỉ là điều trị cục bộ, có giới hạn nhất định, kỹ thuật cần cải tiến thêm. thường trong giai đoạn phân bào, nâng cao sức đề kháng và hiệu quả điều trị, duy trì chất lượng sống của bệnh nhân, tránh căn bệnh tái phát. ĐIỀU TRỊ MIỄN DỊCH Còn gọi là điều tiết phản ứng sinh học (Biologic Response Modifiers), hoặc liệu Hiện nay, điều trị miễn dịch có các cách điều trị như sau: pháp sinh học. Cơ thể vốn có cơ chế đề kháng đối với bệnh tật, còn bệnh nhân mắc căn bệnh ung thư thường do suy giảm sức đề kháng, tạo điều kiện ung thư Phân loại Đặc trưng lan tỏa và di căn. Nên ý nghĩa điều trị miễn dịch là hoạt hóa hệ thống miễn dịch Loại thức ăn lành mạnh(nấm, sữa Hỗ trợ tinh thần, trong gồm chất hoạt hóa bẩm sinh (Innate Immunity), hệ thống miễn dịch thích ứng (Adaptive Immunity), nguyên sinh, mật ong, thảo hoạt tính tế bào miễn dịch hầu như không để ức chế tế bào ung thư, phòng chống di căn và tái phát. dựợc...) tác dụng phụ. Hệ miễn dịch bẩm sinh bao gồm đại thực bào (Macrophage), tế bào sát thủ tự Liêu pháp tâm lý( liệu pháp ấn Hỗ trợ tinh thần, gây ảnh hưởng đến hệ nhiên (Natural Killer (NK) cell), bạch cầu trung tính. Còn hệ miễn dịch thích ứng tượng, liệu pháp Simonton...) thống miễn dịch bằng tác dụng tâm lý. là tế bào T (T lymphocyte), tế bào B (B lymphocyte) và kháng thể. Nên ý nghĩa Chất hoạt hóa miễn dịch (lentinan. Hoạt hóa chức năng miễn dịch của cơ thể, điều trị miễn dịch ung thư chính là : krestin, glucan của nấm Vân Chi, không tập trung ung thư đặc thù. Áp dụng 1. Tận dụng liệu pháp miễn dịch bẩm sinh và thích ứng. glucan của nấm chân chim, BCG, cho y học chính thống và liệu pháp dân 2. Tận dụng liệu pháp bạch cầu hoặc kháng thể (có chức năng miễn dịch) cấy cầu bạch huyết của người gian 3. Tăng cường liệu pháp bạch cầu hoặc kháng thể để tấn công tế bào ung thư. khác) Những năm gần đây, với sự phát triển ngành sinh học tế bào, sinh học phân tử, Liệu pháp chất tế bào( chất can Liều lượng giới hạn, quá liều sẽ gây tác công nghệ sinh học,… mà điều trị miễn dịch đã có bước đột phá mới, với ít tác thiệp, nhân tố di truyền của tế bào dụng phụ. dụng phụ, được đánh giá cao và mang lại hy vọng cho nhiều bệnh nhân ung thư. miễn dịch) Ứng dụng lâm sàng chưa đạt hiệu quả lý tưởng. Liệu pháp kháng thể Không dùng cho ung thư đặc thù. Sản xuất kháng thể khó khăn. Liệu pháp vacxin (chất hòa tan tế Tập cho tế bào trụ nhận biết tế bào ung bào ung thư qua xử lý đặc biệt, thư, chất hòa tan của chúng, hoặc liệu chất đạm trích từ tế bào ung thư, tế pháp chất đạm, chủ yếu dành cho cơ chế bào trụ...) phân tử kháng thể của tế bào miễn dịch. Không phải mọi loại bệnh đều thích hợp. Liệu pháp cầu bạch huyết bản thân Chiết bạch huyết ra khỏi cơ thể, nuôi cấy bên ngoài, sau khi hoạt hóa, mới cấy vào bên trong cơ thể, ít tác dụng phụ.
  20. CHĂM SÓC BỆNH 1. Đau do ung bướu lan rộng trong các mô. Chèn ép thần kinh, di căn tới xương Qua sự nỗ lực chung của nhân viên y tế, bệnh nhân và người thân, giúp nâng cao hoặc gây sưng hệ bạch huyết. tỷ lệ sống còn, kéo dài mạng sống bệnh nhân, cải thiện chất lượng sống của bệnh 2. Do nằm cố định lâu ngày, dẫn tới đau khớp hoặc lở loét. nhân. Mục tiêu hồi phục của bệnh nhân ung thư hoàn toàn có thể thực hiện. Tuy 3. Đau do vết mổ phẫu thuật hoặc viêm khoang miệng do chất chống ung thư và nhiên, mục tiêu này không thể hoàn thành ngay khi nằm viện, vì nằm viện chỉ là xạ trị. giai đoạn điều trị ngắn ngủi để bắt đầu cuộc sống về sau, chỉ khi bệnh nhân trở về 4. Đau do các biến chứng, như bị Zona. nhà, trở về xã hội, xây dựng cuộc sống mới, sống tự lập và phát huy tác dụng 5. Đau do tác dụng tâm lý như sợ hãi, căng thẳng, phiền muộn, khiến nỗi đau sống đối với xã hội, mới coi là đạt tới mục tiêu hồi phục . gia tăng. Trong quá trình này, người thân đóng vai trò hết sức quan trọng, họ chẵn những Dù lên cơn đau, cũng không nên quá lo sợ, tuyệt vọng, với thuốc giảm đau sẽ là trụ cột tinh thần và cuộc sống của người bệnh, đồng thời là thành viên quan giúp chúng ta, hơn nữa qua điều trị lâm sàng, chúng ta còn tìm ra nhiều cách trọng tham gia và triển khai hoạt động phục hồi. Sự phối hợp tích cực của thân giảm đau không cần thuốc, vì vậy, chúng ta nên xem trọng vấn đề điều trị và nhân người bệnh chẳng những có lợi cho việc thực hiện mục tiêu chăm sóc phục quản lý cơn đau trong bệnh ung thư. hồi, mà còn mang lại dũng khí chiến thắng bệnh tật cho bệnh nhân, là lực lượng ủng hộ to lớn. CÁCH GIẢM ĐAU KHÔNG THUỐC MEN 1. Thư giản cơ bắp toàn thân là cách giảm đau tốt. Đặc biệt là giúp thanh thảnh ĂN UỐNG CỦA BỆNH NHÂN UNG THƯ tâm hồn, xóa đi phiền muộn, cải thiện giấc ngu, phục hồi sức lực. Điều trị bằng ăn uống đặc biệt quan trọng, nhất là trải qua điều trị thực dưỡng, cơ 2. Phân tán sự tập trung bằng cách nghe nhạc, xem tivi. bản bồi nguyên, cải thiện thức năng, nâng cao sức đề kháng, giúp phòng chống 3. Dùng cách kích thích da để giảm đau, có thể massage xoay tròn chậm và chắc căn bệnh tái phát và mắc chứng bệnh ung thư khác. quanh lưng, eo và chân, bấm những chỗ đau hoặc xung quanh khoảng 10 giây, để Điều trị bằng ăn uống tùy theo thể chất và thói quen ăn uống của từng trường bệnh nhân cảm nhận có giảm đau phần nào hay không, nếu kết quả chưa rõ rệt, hợp. Yêu cầu về dinh dưỡng của bữa ăn hàng ngày là: chất đạm cao hơn người có thể tìm điểm bấm tốt hơn. Sau đó hãy bấm cố định khoảng 1-2 phút, đôi khi bình thường (như sữa, cá, trứng, thịt, đậu), lượng chất béo gần như người bình giúp giảm đau đến vài phút thậm chí vài giờ đồng hồ. Cũng có thể chườm lạnh để thường không tăng thêm; nên dùng nhiều thức ăn có chất xơ đề giảm chất độc gây tê cục bộ và giảm đau, thường cho hiệu quả tốt. Khi chườm nên dùng khăn trong đường ruột. Muối vô cơ, vitamin, nguyên tố vi lượng có thể hữu ích cho bọc lấy túi đá, chú ý phản ứng cục bộ (màu da chuyển sang màu trắng), tránh làm ung bướu hấp thu nhiều hơn bình thường. Đề nghị ăn nhiều thức ăn có tác dụng tổn thương da do quá lạnh. phòng chống ung thư (xem phần thức ăn và ung thư ở mục phòng chống ung thư Khi xảy ra cơn đau cấp tính, phải liên hệ với bác sĩ ngay. Đau chưa hẳn là báo của quyển sách), chú ý qui luật ăn uống và giữ cân bằng dinh dưỡng. hiệu bệnh di căn, cũng có thể là vấn đề nhỏ, như táo bón, kích thích ngoài da, quá Ngoài ra nếu có thể hấp thu thên glucan của nấm, để điều tiết chức năng miễn căng thẳng, lo lắng, mệt mỏi,… dịch cơ thể, vừa chăm sóc cơ quan, vừa duy trì cân bằng sinh học, để cơ thể khỏe dần lên. Giảm nhẹ tác dụng phụ và cảm giác khó chịu do hóa trị hoặc xạ trị, nâng MÔI TRƯỜNG GIA ĐÌNH VÀ NGƯỜI THÂN CỦA BỆNH NHÂN cao chất lượng sống. Chất lượng sống đóng vai trò quan trọng trong điều trị và phục hồi căn bệnh. Để QUẢN LÝ CƠN ĐAU CỦA BỆNH NHÂN UNG THƯ bệnh nhân sớm khỏi bệnh, phải tạo cho môi trường sống thoải mái, yên tĩnh, hài Dù ở giai đoạn đầu, cũng có khoảng 1/3 bệnh nhân ung thư có triệu chứng đau hòa, căn phòng dưỡng bệnh nên thông thoáng, có ánh nắng, giường ngủ sạch sẽ, đớn, mệt mỏi, yếu sức, biếng ăn, ngủ không tốt, ngày càng đuối sức trong công mềm mại, tốt nhất nên trưng bày thêm vài cành hoa, để tạo tâm lý thư giãn. việc. Nỗi đau đó người ngoài khó thấu hiểu, nên bệnh nhân cảm thấy bị cô lập, Chế độ ăn uống của bệnh nhân cần chú ý nguyên tắc ăn ít nhưng chất lượng tốt, ít nguyên nhân gây đau rất phức tạp, thường thấy các loại sau đây: lượng nhiều bữa. Khuyến khích bệnh nhân siêng cử động, làm những công việc
Đồng bộ tài khoản