Ứng dụng hệ số tài chính trong phân tích đầu tư chứng khoán

Chia sẻ: giomuaxuantoi

Khi tiến hành phân tích đầu tư chứng khoán, chúng ta cần phải sử dụng các hệ số tài chính của doanh nghiệp. Có 2 nhóm hệ số tài chính mà chúng ta ứng dụng trong phân tích đầu tư chứng khoán là Nhóm hệ số khả năng thanh toán và Nhóm hệ số hoạt động và hệ số nợ. Sau đây chúng ta cùng tìm hiểu về các hệ số này. Nhóm hệ số khả năng thanh toán Hệ số khả năng thanh toán được xem là cách thử nghiệm tính thanh khoản của công ty, hay nói cách...

Nội dung Text: Ứng dụng hệ số tài chính trong phân tích đầu tư chứng khoán

Ứng dụng hệ số tài chính trong phân

tích đầu tư chứng khoán


Khi tiến hành phân tích đầu tư chứng khoán, chúng ta cần phải sử dụng các hệ số

tài chính của doanh nghiệp. Có 2 nhóm hệ số tài chính mà chúng ta ứng dụng

trong phân tích đầu tư chứng khoán là Nhóm hệ số khả năng thanh toán và Nhóm

hệ số hoạt động và hệ số nợ. Sau đây chúng ta cùng tìm hiểu về các hệ số này.


Nhóm hệ số khả năng thanh toán


Hệ số khả năng thanh toán được xem là cách thử nghiệm tính thanh khoản của

công ty, hay nói cách khác là năng lực về tài chính mà doanh nghiệp có được để

đáp ứng nhu cầu thanh toán các khoản nợ cho cá nhân, tổ chức cho doanh nghiệp

vay hoặc nợ. Năng lực tài chính đó tồn tại dưới dạng tiền tệ (tiền mặt, tiền gửi…),

các khoản phải thu từ các cá nhân nợ doanh nghiệp, tài sản có thể chuyển đổi

nhanh thành tiền (hàng hóa, thành phẩm, hàng gửi bán).


Các khoản nợ của doanh nghiệp có thể là khoản vay ngắn hạn ngân hàng, khoản

nợ tiền hàng do xuất phát từ quan hệ mua - bán các yếu tố đầu vào, hoặc sản phẩm

hàng hóa doanh nghiệp phải trả cho người bán hoặc người mua đặt trước. Hệ số
thanh toán được sử dụng nhiều nhất là hệ số khả năng thanh toán hiện tại và hệ số

khả năng thanh toán nhanh (hay còn gọi là hệ số thử axít).


* Hệ số khả năng thanh toán hiện tại là mối tương quan giữa tài sản lưu động và

các khoản nợ ngắn hạn, hệ số này cho thấy mức độ an toàn của công ty trong việc

đáp ứng nhu cầu thanh toán các khoản nợ ngắn hạn.


Hệ số khả năng thanh toán hiện tại = Tài sản lưu động/Nợ ngắn hạn.


* Hệ số khả năng thanh toán nhanh là mối tương quan giữa các tài sản lưu hoạt và

các khoản nợ ngắn hạn, đảm bảo khả năng thanh toán nhanh, sau khi tài sản đã

được loại bỏ bởi các hàng tồn kho và tài sản kém tính thanh khoản.


Hệ số khả năng thanh toán nhanh = (Tài sản lưu động - Hàng dự trữ)/Nợ ngắn hạn.


Theo công thức trên, có thể thấy, khả năng thanh toán của doanh nghiệp sẽ là tốt

nếu tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn chuyển dịch theo xu hướng tăng lên, nợ

ngắn hạn chuyển dịch theo xu hướng giảm xuống; hoặc đều chuyển dịch theo xu

hướng cùng tăng, nhưng tốc độ tăng của tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn lớn

hơn tốc độ tăng của nợ ngắn hạn; hoặc đều chuyển dịch theo xu hướng cùng giảm,

nhưng tốc độ giảm của tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn nhỏ hơn tốc độ giảm

của nợ ngắn hạn.


Tuy nhiên, không phải hệ số này càng lớn càng tốt mà có trường hợp, hàng tồn
kho lớn (tức nguyên vật liệu dự trữ quá lớn không dùng hết và hàng hóa, thành

phẩm tồn kho không bán được), tức là có thể có một lượng lớn tài sản lưu động

tồn trữ lớn, phản ánh việc sử dụng tài sản không hiệu quả, vì bộ phận này không

vận động sinh lời..


Và khi đó, mặc dù hệ số vẫn lớn nhưng thực tế khả năng thanh toán của doanh

nghiệp không cao, thậm chí có thể không có khả năng thanh toán hay trường hợp

khác, ví dụ tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn được hình thành từ vốn vay dài

hạn hoặc được hình thành từ nợ khác (như các khoản ký quỹ, ký cược…). Lúc

này, có thể vốn vay ngắn hạn của doanh nghiệp nhỏ nhưng nợ dài hạn và nợ khác

lớn.


Khi đó, việc sử dụng hệ số này để đánh giá khả năng thanh toán của doanh nghiệp

sẽ không còn chính xác. Mặt khác, tính hợp lý của hệ số này còn phụ thuộc vào

ngành nghề kinh doanh. Thông thường, ngành nghề nào có tài sản lưu động chiếm

tỷ trọng cao trong tổng tài sản (như thương mại) thì hệ số này cao và ngược lại.


Nhóm hệ số hoạt động và hệ số nợ


1. Nhóm hệ số hoạt động: Xác định tốc độ mà một công ty có thể tạo ra được tiền

mặt nếu có nhu cầu phát sinh. Hệ số này bao gồm hệ số thu hồi nợ trung bình, hệ

số thanh toán trung bình, hệ số hàng lưu kho. Việc tính toán các hệ số được thiết

lập dựa trên giả định một năm có 360 ngày.
- Hệ số thu hồi nợ trung bình biểu thị thông qua kỳ thu hồi nợ trung bình của một

công ty, sẽ cho biết công ty đó phải mất bao lâu để chuyển các khoản phải thu

thành tiền mặt


Kỳ thu hồi nợ trung bình = Các khoản phải thu/(Doanh số bán chịu hàng năm/360

ngày).


- Hệ số thanh toán trung bình biểu thị thông qua thời hạn thanh toán trung bình,

phản ánh mối tương quan giữa các khoản phải trả đối với tiền mua hàng chịu mỗi

năm.


Thời hạn thanh toán trung bình = Các khoản phải trả/(Tiền mua chịu hàng

năm/360 ngày).


- Hệ số hàng lưu kho biểu thị số lượng hàng đã bán trên số hàng còn lưu kho, hệ

số này cho thấy khả năng dùng vốn vào các hàng hoá luân chuyển cao, tránh được

lưu kho bởi các mặt hàng kém tính lưu hoạt.


Hệ số hàng lưu kho = Giá trị hàng đã bán tính theo giá mua/Giá trị hàng lưu kho

trung bình.


2. Nhóm hệ số nợ của công ty: Phản ánh tình trạng nợ hiện thời của công ty, có tác

động đến nguồn vốn hoạt động và luồng thu nhập thông qua chi trả vốn vay và lãi

suất khi đáo hạn. Tình trạng nợ của công ty được thể hiện qua hệ số nợ, hệ số thu
nhập trả lãi định kỳ, hệ số trang trải chung.


- Hệ số nợ hay tỷ lệ nợ trên tài sản cho biết phần trăm tổng tài sản được tài trợ

bằng nợ. Hệ số nợ càng thấp thì hiệu ứng đòn bẩy tài chính càng ít và ngược lại.


Hệ số nợ = Tổng số nợ/Tổng tài sản


Hệ số nợ được phản ánh thông qua hệ số nợ trên vốn cổ phần và hệ số nợ dài hạn

trên tổng tài sản. Hệ số nợ trên vốn cổ phần biểu thị tương quan giữa nợ dài hạn và

vốn cổ phần. Mức cao thấp của hệ số này phụ thuộc vào từng lĩnh vực kinh tế khác

nhau. Hệ số nợ dài hạn trên tổng tài sản so sánh tương quan nợ với tổng tài sản của

một công ty và có thể cho biết những thông tin hữu ích về mức độ tài trợ cho tài

sản bằng nợ dài hạn của một công ty, hệ số này có thể dùng để đánh giá hiệu ứng

đòn bẩy tài chính của một công ty.


- Hệ số thu nhập trả lãi định kỳ: người ta sử dụng hệ số này để xem một công ty có

thể thực hiện trả lãi đến mức độ nào. Hệ số này đánh giá khả năng sử dụng thu

nhập hoạt động (thu nhập trước thuế và lãi - EBIT) để trả lãi của một công ty.

Thông thường, hệ số thu nhập trả lãi định kỳ càng cao thì khả năng thanh toán lãi

của công ty cho các chủ nợ càng lớn.


Hệ số thu nhập trả lãi định kỳ = EBIT/Chi phí trả lãi hàng năm.


- Hệ số trang trải chung: được tính bằng các nguồn thu tiền mặt chia cho một mẫu
số cố định gồm: Chi phí tiền thuê + Chi phí trả lãi + tiền trả nợ/(1-t) + Cổ tức ưu

đãi/(1-t) (t: là số năm tính toán). Các công ty và cổ đông đều muốn có hệ số trang

trải chung cao nhất, nhưng điều này phụ thuộc một phần vào khả năng sinh lãi của

công ty. Khi các hệ số nợ lớn quá mức, công ty có thể thấy chi phí vốn của mình

tăng lên. Giá trị các cổ phiếu của công ty cũng có thể giảm xuống do mức độ rủi ro

của công ty tăng.
Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản