Ứng dụng kỹ thuật nuôi cấy mô trên Hoa Lily

Chia sẻ: Nguyen Van Long | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:9

0
416
lượt xem
197
download

Ứng dụng kỹ thuật nuôi cấy mô trên Hoa Lily

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Cùng với hoa cẩm chướng hoa Lily là một trong hai loại cây hoa có giá trị hàng đầu thế giới về xuất khẩu và tiêu thụ nội địa của nhiều nước. Lily là một trong những loài hoa cắt cành đẹp và được nhân giống thương mại trên diện rộng Hoa Lily là cây hoa mang lại lợi nhuận lớn ở nhiều nước như Hà Lan, Nhật bản…Ở Việt Nam, hoa Lily được trồng ở Đà Lạt từ thời Pháp thuộc. Hiện nay nhu cầu về giống hoa Lily là rất lớn. Ở Đà Lạt, những người trồng hoa phải mua củ giống từ Hà...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Ứng dụng kỹ thuật nuôi cấy mô trên Hoa Lily

  1. Ứng dụng kỹ thuật nuôi cấy mô trên Hoa Lily(Lilium spp.)  Cùng với hoa cẩm chướng hoa Lily là một trong hai loại cây hoa có giá trị hàng đầu thế giới về xuất khẩu và tiêu thụ nội địa của nhiều nước. Lily là một trong những loài hoa cắt cành đẹp và được nhân giống thương mại trên diện rộng Hoa Lily là cây hoa mang lại lợi nhuận lớn ở nhiều nước như Hà Lan, Nhật bản…Ở Việt Nam, hoa Lily được trồng ở Đà Lạt từ thời Pháp thuộc. Hiện nay nhu cầu về giống hoa Lily là rất lớn. Ở Đà Lạt, những người trồng hoa phải mua củ giống từ Hà Lan, giá hiện tại cho một củ giống từ 7000 - 10.000 đồng tuỳ loại và màu sắc, do vậy sản phẩm của hoa thương phẩm là rất đắc. Ứng dụng kỷ thuật nuôi cấy mô tế bào có thể chủ động sản xuất cây giống cũng như củ giống và là phương pháp được áp dụng nhiều nơi trên thế giới. Có thể nuôi cấy được nhiều bộ phần khác nhau của hoa Lily. Một trong những phương đơn giản nhất là phương pháp nuôi cấy vảy củ. Qui trình nhân giống và trồng: Môi trường tạo mẫu ban đầu: là môi trường ½ MS. Môi trường nhân chồi là môi trườmg MS có bổ sung 0.5 - 1 ml/l BA, 8 g/l và 30 g/l đường. Môi trường ra rễ là môi trường ½ MS và 20 g/l đường. Cách đưa cây ra bầu đất và chế độ chăm sóc: Cây mô Lily ra rễ đạt chiều cao 6-8 cm, lấy cây ra ngoài rữa sạch aga và trồng vào vĩ xốp (112 lỗ). Tưới nước dạng phun sương trong tuần đầu tiên và giữ ẩm bằng cách che bao Nylon. Sử dụng NPK phun lên lá để cung cấp thêm nguồn dinh dưỡng cho cây chóng lớn. Sau 4 tuần cây hình thành lá mới, khi đó tiến hành chuyển cây ra bầu đất, đến tháng thứ 3 có thể chuyển cây mô trồng ra ngoài đồng ruộng. ̀ ́ Quy trinh nuôi cây I. Khử trùng mẫu: 1. Nguyên liệu: Tất cả các bộ phận của cây hoa Lily 2. Khử trùng: Ngoài box cấy: Sử dụng bông thấm nước xà phòng lau nhẹ khắp bề mặt mẫu cấy, rửa sạch và để dưới vòi nước chảy khoảng 30 phút. Trong box cấy: khử trùng mẫu vưói cồn 70 độ và dung dịch Thủy ngân chlorua trong khoảng 5 đến10 phút, sau đó rửa sạch bằng nước cất vô trùng 3. Thao tác cắt mẫu: Thực hiện kỹ thuật cắt lấy các bộ phận trong nụ hoa, các phần lát mỏng tế bào và các đoạn thân có chồi bên của cây Lily. II. Nhân giống invitro: 1. Tạo mô sẹo: Cấy các mẫu lên môi trường MS có bổ sung đường; NAA kết hợp TDZ; agar; pH: 5,8 ở nhiệt độ 20-25oC sau 02 tháng nuôi cấy mẫu sẽ tạo được nhiều mô sẹo. 2. Tạo phôi:
  2. Cắt các mô sẹo cấy lên môi trường MS có bổ sung đường; NAA kết hợp cùng TDZ; agar; pH: 5,8 ở nhiệt độ 20-25oc để trong tối sau 02 tháng trên các mảnh mô sẹo tạo nhiều phôi Lily. 3. Tạo củ con từ phôi: Cấy các mẫu phôi lên môi trường MS có bổ sung đường; NAA kết hợp TDZ; agar; than hoạt tính pH: 5,8 ở nhiệt độ 20-25oc để trong tối sau 2 tháng mỗi cụm phôi Lily sẽ hình thành 1 cụm củ con. 4. Tạo củ bi: Tách các cụm thành các củ con riêng rẽ và cấy lên môi trường MS có bổ sung đường; NAA kết hợp TDZ; agar; than hoạt tính, pH: 5,8 ở nhiệt độ 20-25 oc để trong tối sau 02 tháng mỗi củ con Lily sẽ tạo 1 củ bi. 5. Tạo củ lớn: Giai đoạn này thực hiện ngoài vườn vào thời điểm thích hợp nhất là đầu mùa Xuân. Các củ bi được vùi vào giá thể đất kết hợp chế độ tưới nước, bón phân, phòng trừ sâu bệnh điều độ. Loại bỏ các bông hoa nở sớm và duy trì sự phát triển dinh dưỡng của củ càng lâu càng tốt nhằm tạo củ lớn. Sau 08 tháng cũng là lúc bộ lá tàn đi, củ được đào lên rửa sạch phân loại 6. Tạo củ thương phẩm: Củ sau khi đào lên rửa sạch và phân loại được đưa vào hệ thống xử lý lạnh ở nhiệt độ từ -2oc đến 2oc trong thời gian phù hợp từng đối tượng giống. Việc xử lý lạnh có vai trò phá miên trạng của củ để sau 90 ngày kể từ lúc trồng thu hoạch được hoa thương phẩm. Đối với giống Asiatic Lily và Longiflorum Lily thời gian phá miên trạng là liên tục 06 tuần, riêng giống Oriental Lily thời gian xử lý lạnh là liên tục 08 tuần. Quy tr ì nh nuôi cấy Mở đầu  Trong khi sự an toàn của con người đối với thực phẩm biến đổi gen vẫn còn chưa được khẳng định chắc  chắn thì việc nghiên cứu hệ thống chuyển gen hiệu quả cho các loài hoa cây cảnh từ đó chuyển được các  gen mong muốn tạo ra các đặc tính mới lạ (mầu sắc, cấu trúc hoa, hương thơm, tuổi thọ của hoa cắm,  các đặc tính kháng sâu và bệnh hại, chống chịu với điều kiện bất thuận,…) luôn là mong muốn của các  nhà chọn tạo giống.  Hoa lily thuộc họ Liliaceae là một trong những loài hoa đẹp và có giá trị trên thị trường hiện nay. Các nỗ  lực chính trong nghiên cứu chuyển gen vào cây lily đã được thực hiện bởi các phương pháp chuyển gen  trực tiếp như bắn gen (Nishihara và cộng sự, 1993; Sanford và cộng sự, 1993; Wilmink và cộng sự, 1995;  Tsuchiya và cộng sự, 1996), xung điện (Miyoshi và cộng sự, 1995) và gần đây đã tạo được cây Lilium  longiflorum chuyển gen nhờ phương pháp bắn gen [1] [2] [3]. Trong một số năm gần đây, sự thành công  trong nghiên cứu chuyển gen nhờ vi khuẩn Agrobacterium đã được công bố trên một số loài thuộc họ  Liliace bao gồm: Asparagus officinalis (Kiasaka và Kameya, 1998), Allium sativum (Kondo và cộng sự,  2000), Allium cepa (Eady và cộng sự, 2000), Agapanthus praecox (Suzuki và cộng sự, 2001) và Muscari  armeniacum (Suzuki và Nakano, 2002). Gần đây nhất, Y.Hoshi và cộng sự đã nghiên cứu thành công quy  trình tạo cây chuyển gen cho cây Oriental hybrid lily, Lilium cv. Acapulco bằng vi khuẩn Agrobacterium  [9].  Hoa đồng tiền là một trong những loài hoa phổ biến trên thế giới, được sử dụng làm hoa chậu, hoa cắt 
  3. cành, hoa trồng cảnh. Ở nước ta, hoa đồng tiền được trồng khá phổ biến, có giá trị kinh tế cao và đặc biệt  là hoa đồng tiền có thể ra hoa vào thời vụ mùa hè ngoài miền Bắc là thời gian hiếm hoa trong năm. Chính  vì vậy, việc nghiên cứu chọn tạo các giống hoa đồng tiền ở nước ta sẽ hứa hẹn những đóng góp quan  trọng trong nghề trồng hoa.  Đã có một số công trình công bố về nghiên cứu hệ thống tái sinh và chuyển gen cho cây hoa đồng tiền:  Teresa Orlikowska, Elzbieta Nowak, Agnieszka Marasek và Danuta Kucharska, 1999 [6]; Nguyễn Quang  Thạch, Nguyễn Thị Lý Anh, Hoàng Thị Nga, Nguyễn Thị Phương Hoa, 2002 [7]; Purnima Tyagi and S L  Kothari, 2004 [4]. Các tác giả V. Nagaraju, G.S.L. Srinivas và G.Lakshmi Sita (1998) đã nghiên cứu và  chuyển được các gen nptII và uidA cho cây hoa đồng tiền dòng RCGH 164 bằng vi khuẩn Agrobacterium  [8].  Các kết quả nghiên cứu trên hai đối tượng trên đã chứng tỏ chúng ta hoàn toàn có thể tạo được cây hoa  lily và cây hoa đồng tiền chuyển gen. Trong quy trình chuyển gen, việc xác định được các yếu tố ảnh  hưởng trước khi tiến hành nghiên cứu quy trình chuyển gen sẽ là những đóng góp có tính định hướng  quan trọng cho quá trình nghiên cứu tiếp theo. Chính vì vậy để góp phần nghiên cứu chuyển tạo cây lily  và cây đồng tiền chuyển gen phục vụ công tác giống cây trồng, chúng tôi tiến hành đề tài “Nghiên cứu  xác định một số yếu tố trong quy trình chuyển gen cho cây lily và cây đồng tiền thông qua vi khuẩn  Agrobacterium tumefaciens”.  Vật liệu và phương pháp nghiên cứu  Vật liệu:  ­ Lilium Oriental hybrid “Siberia” hoa trắng, thơm  ­ Lilium Oriental hybrid “Stagazer” hoa đỏ, thơm  ­ Lilium LA hybrid (Longiflorum x Asiatic) hoa vàng, không thơm  Các giống lily trên đều có nguồn gốc từ công ty Dalat Hasfarm  ­ Hoa đồng tiền mầu đỏ có nguồn gốc từ Tây Tựu ­ ĐXTT  ­ Hoa đồng tiền mầu hồng có nguồn gốc từ Viện Rau quả TW ­ HVR  ­ Hoa đồng tiền mầu hồng có nguồn gốc từ Vĩnh Tuy – HVT  ­ Vi khuẩn Agrobacterium tumefaciens dòng EHA mang plasmid  PCAMBIA mã hoá cho gen gus và gen kháng kháng sinh hygromycin.  Phương pháp nghiên cứu  ­ Phương pháp nuôi cấy vi khuẩn  ­ Sử dụng phương pháp nghiên cứu nuôi cấy mô hiện hành  ­ Phương pháp chuyển gen bằng vi khuẩn Agrobacterium tumefaciens  ­ Phương pháp xác định sự biểu hiện tạm của gen gus theo Jefferson (1987).  Môi trường tái sinh tạo chồi lily từ vảy củ và lớp mỏng thân: MS, 30g/l sucrose, 10g/l gluco, 1mg/l 2.4D,  0.2mg/l BA, 2g/l phytagel, pH = 5,3 ­ 5,5.  Môi trường tái sinh chồi đồng tiền: MS, 30g/l sucrose, 10g/l gluco, 2mg/l BA, 0.3mg/l kinetin, 0,1mg/l IAA,  2g/l phytagel, pH = 5,2.  Hai phương pháp nhiễm mẫu với vi khuẩn 
  4. ∙ Mẫu cấy được nhúng vào dung dịch vi khuẩn trong thời gian từ 5 phút, vớt ra, để khô trên giấy thấm vô  trùng sau đó được cấy lên môi trường đồng nuôi cấy.  ∙ Mẫu cấy được cấy trên môi trường đồng nuôi cấy sau đó dùng micropipet hút dịch vi khuẩn trên nhỏ vào  mẫu, mỗi mẫu cấy chỉ nhỏ 10ml dung dịch vi khuẩn.  Phương pháp rửa vi khuẩn: Vi khuẩn được rửa 2­3 lần bằng nước cất vô trùng hoặc môi trường MS vô  trùng.  Kết quả nghiên cứu và thảo luận  Thí nghiệm 1. Xác định môi trường đồng nuôi cấy thích hợp vừa cho sự tái sinh của mẫu cấy lily đồng thời  cho phép vi khuẩn sinh trưởng và phát triển.  Kết quả nghiên cứu của Y.Hoshi và cộng sự khi nghiên cứu quy trình tạo cây chuyển gen cho cây Oriental  hybrid lily, Lilium cv. Acapulco bằng vi khuẩn Agrobacterium (2004) cho thấy: Thành phần môi trường  đồng nuôi cấy trong đó có thành phần khoáng NH4NO3 có ảnh hưởng rất lớn đến sự sinh trưởng và phát  triển của vi khuẩn Agrobacterium. Bên cạnh đó, cassamino acid và L­glutamine cũng có ảnh hưởng tích  cực đến sự sinh trưởng và phát triển của vi khuẩn. Ở thí nghiệm này chúng tôi tiến hành lây nhiễm bằng  cả 2 phương pháp nhỏ giọt và ngâm trong dịch vi khuẩn 5 phút, nguồn mẫu cấy không qua tiền nuôi cấy.  Kết quả thí nghiệm được thể hiện ở bảng 1.  Bảng 1. Ảnh hưởng của nền môi trường đồng nuôi cấy đến sự sinh trưởng của vi khuẩn Agrobacterium  trên một số giống lily  Stt Nền môi trường Giống Phương pháp lây nhiễm Tỷ lệ sống của mẫu cấy (%) Biểu hiện vi khuẩn  Sau 8 ngày Sau 30 ngày  Nhỏ giọt Ngâm Không Có Không Có  1. MSI Ly trắng + 100 + +  2. Ly đỏ + 100 + +  3. Ly vàng + 100 + +  4. MSII Ly trắng + 100 + +  5. Ly đỏ + 100 + +  6. Ly vàng + 100 + +  Ghí chú: Mẫu cấy là vẩy củ, lớp mỏng thân  MSI: MS (1962) 20mg/l AS, 30g/l sucrose, 10g/l gluco, 1mg/l 2.4D, 0.2mg/l BA, 3g phytagel, pH = 5,2.  MSII: MS (1962) không có NH4NO3, 20mg/l AS, 30g/l sucrose, 10g/l gluco, 1mg/l 2.4D, 0.2mg/l BA, 1g/l  cassamino acid, 700mg/l L­glutamine, 2g/l phytagel, pH = 5,2.  Kết quả nghiên cứu trên cho thấy:  Thành phần NH4NO3, cassamino acid và L­glutamine có ảnh hưởng lớn đến sự sinh trưởng của vi khuẩn  Agrobacterium khi được đồng nuôi cấy với vảy củ và lớp mỏng thân của các giống lily. Sau 30 ngày theo  dõi, vi khuẩn không thể phát triển được khi được đồng nuôi cấy trên môi trường MSI. Trong khi đó trên  nền môi trường đồng nuôi cấy MSII chỉ sau 8 ngày vi khuẩn đã xuất hiện. Như vậy, chúng tôi sẽ sử dụng  nền môi trường là MSII cho các nghiên cứu tiếp theo.  Thí nghiệm 2. Xác định ảnh hưởng của thời gian tiền nuôi cấy mẫu, phương pháp lây nhiễm đến sự sinh 
  5. trưởng của vi khuẩn Agrobacterium trên một số giống lily  Bảng 2. Ảnh hưởng của tiền nuôi cấy, phương pháp lây nhiễm đến sự sinh trưởng của vi khuẩn  Agrobacterium trên một số giống lily (theo dõi sau đồng nuôi cấy 4 ngày)  Stt Giống Thời gian tiền nuôi cấy (ngày) Phương pháp lây nhiễm Tỷ lệ sống của mẫu cấy (%) Biểu hiện vi  khuẩn  5 3 2 0 Nhỏ giọt Ngâm Không Có  1. Ly trắng + + 100 +  2. Ly trắng + + 100 +  3. Ly trắng + + 100 +  4. Ly trắng + + 100 +  5. Ly trắng + + 100 +  6. Ly trắng + + 100 +  7. Ly trắng + + 100 +  8. Ly trắng + + 100 +  9. Ly đỏ + + 100 +  10. Ly vàng + + 100 +  Bảng 3. Ảnh hưởng của thời gian tiền nuôi cấy mẫu, phương pháp lây nhiễm đến sự sinh trưởng của vi  khuẩn Agrobacterium trên một số giống lily (theo dõi sau đồng nuôi cấy 6 ngày)  Stt Giống Thời gian tiền nuôi cấy (ngày) Phương pháp lây nhiễm Tỷ lệ sống của mẫu cấy (%) Biểu hiện vi  khuẩn  5 3 2 0 Nhỏ giọt Ngâm Không Có  1. Ly trắng + + 100 +  2. Ly trắng + + 100 +  3. Ly trắng + + 100 +  4. Ly trắng + + 100 +  5. Ly trắng + + 100 +  6. Ly trắng + + 100 +  7. Ly trắng + + 100 +  8. Ly trắng + + 100 +  9. Ly đỏ + + 100 +  10. Ly vàng + + 100 +  Kết quả nghiên cứu trên bảng 2 và bảng 3 cho thấy:  Mẫu cấy lily có ảnh hưởng rất mạnh đến sự sinh trưởng và phát triển của vi khuẩn Agrobacterium. Sau  đồng nuôi cấy 4 ngày (96 giờ), chưa có mẫu cấy nào có biểu hiện của vi khuẩn. Tiếp tục theo dõi sau 6  ngày đồng nuôi cấy. Kết quả được thể hiện trên bảng 3 cho thấy:  ­ Sự xuất hiện của vi khuẩn chịu ảnh hưởng rất lớn bởi thời gian tiền nuôi cấy cũng như phương pháp lây  nhiễm. Nhìn chung, lây nhiễm bằng phương pháp nhỏ giọt cho phép vi khuẩn sinh trưởng và phát triển  nhanh hơn so với phương pháp ngâm 5 phút trong dung dịch vi khuẩn. 
  6. ­ Tiền nuôi cấy mẫu trước khi lây nhiễm cũng có ảnh hưởng lớn đến sự xuất hiện của vi khuẩn  Agrobacterium. Chỉ có các công thức lây nhiễm bằng phương pháp nhỏ giọt kết hợp với tiền nuôi cấy 3  hoặc 5 ngày mới cho sự xuất hiện của vi khuẩn Agrobacterium. Vi khuẩn Agrobacterium không xuất hiện  khi được đồng nuôi cấy cùng với các mẫu giống lily khi các mẫu cấy này chưa qua tiền nuôi cấy. Như vậy,  thời gian tiền nuôi cấy mẫu lily để vi khuẩn Agrobacterium có thể sinh trưởng phát triển là từ 3 – 5 ngày  trước khi tiến hành lây nhiễm.  Thí nghiệm 3. Xác định ảnh hưởng của thời gian tiền nuôi cấy mẫu, phương pháp lây nhiễm đến sự sinh  trưởng của vi khuẩn Agrobacterium trên một số giống đồng tiền  Kết quả bảng trên bảng 4 cho thấy:  Sự sinh trưởng của vi khuẩn Agrobacterium khi được đồng nuôi cấy với mẫu cấy đồng tiền không phụ  thuộc vào: (1) thời gian tiền nuôi cấy, (2) Phương pháp lây nhiễm, (3) Các nguồn mẫu giống khác nhau.  Rõ ràng, trên đối tượng đồng tiền, vi khuẩn Agrobacterium đã dễ dàng để có thể sinh trưởng và phát triển  rất mạnh. Đây là một thuận lợi cho quá trình lây nhiễm nhưng lại là khó khăn ở giai đoạn kế tiếp. Thông  thường, nếu vi khuẩn sinh trưởng và phát triển mạnh trong quá trình đồng nuôi cấy, quá trình phục hồi  cũng như chọn lọc sau này sẽ rất khó khăn để loại bỏ được chính vi khuẩn này.  Bảng 4. Ảnh hưởng của thời gian tiền nuôi cấy mẫu, phương pháp lây nhiễm đến sự sinh trưởng của vi  khuẩn Agrobacterium trên một số giống đồng tiền (theo dõi sau đồng nuôi cấy 2 ngày)  Stt Giống Thời gian tiền nuôi cấy (ngày) Phương pháp lây nhiễm Tỷ lệ sống của mẫu cấy (%) Biểu hiện vi  khuẩn  4 3 2 0 Nhỏ giọt Ngâm Không Có  1. HVR + + 100 +  2. HVR + + 100 +  3. HVR + + 100 +  4. HVR + + 100 +  5. ĐXTT + + 100 +  6. HVT + + 100 +  7. HVR + + 100 +  8. HVR + + 100 +  9. HVR + + 100 +  10. HVR + + 100 +  11. ĐXTT + + 100 +  12. HVT + + 100 +  Thí nghiệm 4. Xác định ảnh hưởng của nhiệt độ đồng nuôi cấy giữa vi khuẩn Agrobacterium và mẫu cấy  lily.  Đối với mỗi một đối tượng nghiên cứu, việc xác định được nhiệt độ đồng nuôi cấy thích hợp cho sự sinh  trưởng của vi khuẩn sao cho có sự phát triển của vi khuẩn nhưng lại không được để vi khuẩn phát triển  quá mạnh sẽ gây khó khăn cho giai đoạn tiếp theo cũng rất cần thiết.  Bảng 5. Sự phát triển của vi khuẩn khi đồng nuôi cấy với mẫu cấy lily ở nhiệt độ 210C (sau đồng nuôi cấy 
  7. 6 ngày)  Stt Nhiệt độ đồng nuôi cấy Giống Tỷ lệ sống của mẫu cấy (%) Tiền nuôi cấy 3 ngày Biểu hiện vi khuẩn  Không Có  1. 210C Ly trắng 100 + +  2. 210C Ly đỏ 100 + +  3. 210C Ly vàng 100 + +  4. 240C Ly trắng 100 + +  5. 240C Ly đỏ 100 + +  6. 240C Ly vàng 100 + +  Ghi chú: Lây nhiễm bằng phương pháp nhỏ giọt  Kết quả nghiên cứu cho thấy:  Nhiệt độ nuôi cấy ở giai đoạn đồng nuôi cấy có ảnh hưởng rất lớn tới sự sinh trưởng và phát triển của vi  khuẩn Agrobacterium. Ở nhiệt độ 210C, vi khuẩn Agrobacterium không thể phát triển được. Tuy nhiên, ở  nhiệt độ đồng nuôi cấy là 240C đã cho phép vi khuẩn Agrobacterium sinh trưởng và phát triển. Như vậy,  nhiệt độ nuôi cấy ở giai đoạn đồng nuôi cấy là 240C đối với mẫu cấy lily.  Thí nghiệm 5. Sự biểu hiện tạm của gen ở một số giống lily và đồng tiền  Sau khi đã xác định được nền môi trường đồng nuôi cấy, thời gian tiền nuôi cấy, thời gian đồng nuôi cấy,  nhiệt độ đồng nuôi cấy, phương pháp lây nhiễm, chúng tôi tiến hành áp dụng vào thử nghiệm sự biểu hiện  tạm (transient assay) của gen gus. Kết quả thí nghiệm được thể hiện ở bảng sau:  Kết quả nghiên cứu cho thấy: Có sự biểu hiện tạm của gen gus trên các đối tượng là hoa lily trắng, lily đỏ  và giống đồng tiền ĐXTT. Đối tượng đồng tiền cho kết quả biểu hiện tạm của gen gus rất cao, đạt 53,8%.  tiếp đến là giống lily trắng (29,6%), lily đỏ (12,5%), giống lily vàng không có sự biểu hiện. Các kết quả trên  đã chứng tỏ việc xác định được các thông số trong quy trình chuyển gen như: nền môi trường đồng nuôi  cấy, thời gian tiền nuôi cấy, thời gian đồng nuôi cấy, nhiệt độ đồng nuôi cấy, phương pháp lây nhiễm là  đúng đắn.  Kết luận  Đã nghiên cứu xác định được một số các thông số trong quy trình chuyển gen cho cây lily và đồng tiền  nhờ vi khuẩn Agrobacterium tumefaciens. Các kết quả chính bao gồm:  + Xác định được nền môi trường đồng nuôi cấy cho cây lily là môi trường MS (1962) không có NH4NO3,  20mg/l AS, 30g/l sucrose, 10g/l gluco, 3g/l phytagel, 1mg/l 2.4D, 0.2mg/l BA, 1g/l cassamino acid,  700mg/l L­glutamine, pH = 5,2.  + Xác định được môi trường đồng nuôi cấy cho đồng tiền: MS (1962), 30g/l sucrose, 10g/l gluco, 2mg/l  BA, 0.3mg/l kinetin, 0,1mg/l IAA, 1g/l cassamino acid, 700mg/l L­glutamine, 2g/l phytagel, pH = 5,2.  + Thời gian tiền nuôi cấy thích hợp cho cây hoa lily là 3 ngày, sự lây nhiễm bằng phương pháp nhỏ giọt và  nhiệt độ đồng nuôi cấy là 240C cho kết quả biểu hiện tốt của vi khuẩn.  + Đã ghi nhận được sự biểu hiện tạm của gen gus trong mô chuyển gen của giống lily trắng, lily đỏ và  đồng tiền ĐXTT.
  8. Kỹ thuật trồng hoa lily chậu nongnghiep.vn - 7 tháng trước Nhiều mô hình trồng hoa lily chậu đã được các nhà khoa học Viện Nghiên cứu Rau quả hướng dẫn, xây dựng và áp dụng các biện pháp KHKT tiên tiến đưa lại hiệu quả kinh tế rất cao, cho thu lãi hàng trăm triệu đồng trên 1ha, chất lượng và năng suất hoa hoàn toàn đảm bảo yêu cầu của thị trường và thị hiếu người tiêu dùng đang ngày càng mở rộng. Đáp ứng yêu cầu của nhiều bạn đọc, NNVN giới thiệu tóm tắt qui trình trồng hoa lily chậu do Bộ môn Hoa và cây cảnh (Viện Nghiên cứu Rau quả) biên soạn. Giống và thời vụ trồng: Hoa lily là cây ôn đới, chủ yếu trồng ở các nước xứ lạnh nên với các vùng có khí hậu mát mẻ như SaPa, Mộc Châu, Tam Đảo, Đà Lạt… có thể trồng và cho thu hoạch quanh năm. Đối với các tỉnh vùng ĐBSH chỉ nên trồng hoa lily vào vụ thu đông là thuận tiện nhất và sẽ cho hoa trong khoảng thời gian từ 20/11 đến 15/3 năm sau. Hiện nay các trang trại trồng hoa lily đang áp dụng mẫu nhà lưới là kiểu nhà phổ biến với mức đầu tư không quá lớn có thể tận dụng được nhiều loại vật liệu sẵn có rẻ tiền tại chỗ. Căn cứ vào nhu cầu và qui mô sản xuất có thể làm nhà đơn chiếc hoặc nhà liên hợp để trồng cho phù hợp. - Giống Acapulco: Hoa màu hồng đậm, sẫm hơn ở giữa hoa nhất là trong điều kiện nóng. Số nụ hoa không ổn định, nếu vụ trồng thích hợp có thể cho từ 2-4 hoa, không thuận lợi thường chỉ cho 1 hoa. Giống thường hay bị bệnh cháy lá khi trồng loại củ có kích cỡ lớn. Thời gian sinh trưởng từ 80-90 ngày; cây cao từ 120-130cm, thế hoa hướng sang 2 bên. Có thể dùng cắt cành, trồng chậu hoặc trồng đất, độ cứng cây ở mức trung bình. Thời vụ trồng tốt nhất từ tháng 3 đến tháng 9; ra hoa từ tháng 7 đến tháng 8. Có thể trồng quanh năm và là giống hiện được trồng phổ biến ở nước ta. - Giống Tiber: Hoa lớn, hình bát, màu hồng pha đỏ, màu đậm dần vào phía trong. Thời gian sinh trưởng 100-110 ngày, cây cao 100-110cm, thích hợp để chơi hoa cắt vì cứng cây. Thời vụ trồng tốt nhất từ tháng 5 đến tháng 3, ra hoa tháng 7-8, phù hợp ra hoa mùa đông, chất lượng hoa tốt. - Giống Sorbonne: Là giống trồng phổ biến, hoa màu hồng, hướng lên phía trên; thời gian sinh trưởng 100-110 ngày; cây cao 100-120cm, thích hợp cho chơi hoa cắt vì độ cứng thân rất tốt. Giống nhiễm nhẹ với bệnh cháy lá. Chuẩn bị giá thể: 1 phần đất phù sa + 1 phần phân chuồng đã được ủ hoai mục và 2 phần xơ dừa đã được xử lý loại bỏ ta nanh trộn đều trước khi vào chậu. Có thể sử dụng các loại chậu gốm, chậu đất nung hoặc chậu nhựa với các kích cỡ khác nhau tùy theo cách chơi 1, cây, 3, cây, 5 cây hay 7 cây để lựa chọn cho phù hợp. Xử lý củ giống: Phân loại củ theo kích thước để trồng nhằm đảm bảo tính đồng đều của vườn lily sau này. Chọn những củ to (đường kính củ 12-15cm), đã lên mầm sau khi đã qua xử lý lạnh để phá ngủ, cắt bớt rễ, chỉ chừa lại khoảng 1cm để kích thích cho củ nhanh ra rễ mới. Ngâm củ giống từ 5-10 phút trong dung dịch thuốc Daconil 75WP (pha 1 gói 10g trong 8 lít nước sạch) để trừ trừ nấm bệnh, vớt ra để ráo nước rồi đem trồng vào chậu. Cách trồng: Cho 1/2 giá thể vào chậu, đặt các củ ngay ngắn, mầm hướng lên trên. Tùy theo kích thước của chậu mà đặt củ cho phù hợp (chậu có đường kính 20cm trồng 3 củ/chậu, 30cm trồng 5 củ/chậu và 40cm trồng 7 củ/chậu). Phủ tiếp giá thể cho kín mầm và tưới nhẹ cho đất nén giữ cố định vị trí củ rồi xếp các chậu thành hàng trên luống để tiện chăm sóc sau này.
  9. Chăm sóc: - Tùy theo độ ẩm trong nhà lưới, trong giá thể mà có chế độ tưới nước cho phù hợp. Lúc mới trồng tưới nhiều hơn sau đó giảm dần. Cứ 10 ngày bón thúc 1 lần bằng cách hòa 0,05kg phân NPK tổng hợp + 0,1kg phân lân trong 10 lít nước để tưới cho 40 chậu (loại 3 cây) hoặc 20 chậu (loại 5 cây). Không bón rải trực tiếp phân gần gốc cây, tưới nước ngay sau khi bón để phân ngấm đều trong chậu hoặc phun nước nhằm rửa sạch phân còn bám trên lá. Chú ý phòng trừ các đối tượng sâu bệnh hại kịp thời để đảm bảo năng suất và chất lượng hoa. - Điều tiết nở hoa: Kết hợp giữa điều chỉnh nhiệt độ và ánh sáng cho phù hợp. Ngay sau trồng cần tiến hành che 1 lớp lưới đen ở phía trên để hạn chế ánh sáng trực xạ của mặt trời chiếu vào mầm. Khi cây xuất hiện nụ, bỏ lớp lưới đen để cây hấp thụ nhiều ánh sáng sẽ cho hoa to và màu đẹp. Khi trồng trong vụ đông, những ngày âm u, giá rét thì bỏ lớp lưới đen đồng thời quây nilon để giúp làm tăng nhiệt độ trong nhà trồng. Nếu cây phát triển chậm cần tăng nhiệt độ bằng cách quây nilon và thắp điện 4 giờ vào ban đêm cho đến khi thấy nụ hoa đủ tiêu chuẩn là được. Nếu cây phát dục sớm thì hạn chế bằng cách hạ nhiệt như cuốn nilon lên, tiến hành che lưới đen.

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản