Ung thư tuyến tiền liệt - Cách phát hiện và chữa trị

Chia sẻ: Nguquai Nguquai | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:6

0
104
lượt xem
13
download

Ung thư tuyến tiền liệt - Cách phát hiện và chữa trị

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Ung thư tuyến tiền liệt là một bệnh phổ biến ở nam giới hiện nay, đứng hàng thứ 2 sau ung thư phổi. Càng ngày ung thư tuyến tiền liệt càng được phát hiện ở tuổi sớm hơn do bệnh nhân có ý thức đi khám sớm và do các chương trình tầm soát phát hiện sớm bệnh tật. Tuy nhiên nếu phát hiện được bệnh sớm, tỷ lệ khỏi bệnh đạt 90%. Ngược lại nếu phát hiện muộn thì tỷ lệ sống sau 5 năm chỉ còn lại dưới 30%. Tuyến tiền liệt có chức năng gì? Tuyến tiền liệt...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Ung thư tuyến tiền liệt - Cách phát hiện và chữa trị

  1. Ung thư tuyến tiền liệt - Cách phát hiện và chữa trị Ung thư tuyến tiền liệt là một bệnh phổ biến ở nam giới hiện nay, đứng hàng thứ 2 sau ung thư phổi. Càng ngày ung thư tuyến tiền liệt càng được phát hiện ở tuổi sớm hơn do bệnh nhân có ý thức đi khám sớm và do các chương trình tầm soát phát hiện sớm bệnh tật. Tuy nhiên nếu phát hiện được bệnh sớm, tỷ lệ khỏi bệnh đạt 90%. Ngược lại nếu phát hiện muộn thì tỷ lệ sống sau 5 năm chỉ còn lại dưới 30%. Tuyến tiền liệt có chức năng gì?
  2. Tuyến tiền liệt hay còn gọi là tuyến nhiếp hộ nằm ở cổ bàng quang. Nó là một tuyến bài tiết quan trọng trong hệ thống sinh dục nam. Bình thường tiền liệt tuyến nhỏ bằng quả táo nặng 20g. Tuyến tiền liệt bao gồm 2 phần riêng biệt khác nhau gồm có 3 thùy: 2 thùy bên và 1 thùy giữa. Chức năng của tuyến tiền liệt chưa biết được một cách thật chính xác nhưng rõ nhất là tiết ra một chất dịch để pha loãng tinh trùng, có màu trắng như sữa, trong chất dịch đó chủ yếu là hoạt chất PSA. Khi lượng PSA của tuyến tiền liệt phát xuất vào trong máu với nồng độ cao chứng tỏ có một quá trình hủy hoại của các tế bào tuyến tiền liệt, vì vậy khả năng nghi ngờ ung thư cao lên. Các giai đoạn phát triển của ung thư tuyến tiền liệt. Chẩn đoán ung thư tuyến tiền liệt bằng cách nào?
  3. Dựa vào các triệu chứng chức năng và thăm khám lâm sàng, các biểu hiện rối loạn cơ năng như đi tiểu buốt, rắt, đi tiểu chậm, bí tiểu, đi tiểu ra máu, xuất tinh ra máu. Khi lan rộng thì sẽ có hiện tượng bí tiểu hoàn toàn, đau xương, chán ăn, sụt cân. Thăm khám tuyến tiền liệt chủ yếu là thăm trực tràng, sờ thấy khối u to ra, mật độ không đều, chỗ rắn chỗ mềm. Việc thử máu tìm kháng nguyên đặc hiệu PSA rất quan trọng. Kháng nguyên này được phát hiện dễ dàng. Hầu hết các bệnh viện lớn có thể xét nghiệm được với mức giá không cao. Siêu âm qua đường bụng hoặc siêu âm nội trực tràng sẽ có tác dụng chẩn đoán tương đối đặc hiệu, sinh thiết kim qua đường trực tràng hoặc qua đường tầng sinh môn giúp cho chẩn đoán xác định tổn thương. Tại Bệnh viện E đã ứng dụng kỹ thuật sinh thiết kim qua đường trực tràng được 20 trường hợp thì thấy tỷ lệ dương tính phát hiện được ung thư khoảng 50%. Các xét nghiệm chụp cắt lớp, chụp cộng hưởng từ cho biết ung thư đã di căn tới hạch hay hệ xương. PSA là một phân tử protein, có trọng lượng phân tử lớn làm loãng tinh dịch và làm môi trường cho tinh trùng bơi lội để tìm trứng thụ tinh. Người ta có thể sử dụng PSA để sàng lọc, tầm soát ung thư tuyến tiền liệt với độ tin cậy khá cao. Khi sinh thiết tuyến tiền liệt sẽ đánh giá độ biệt hóa tế bào qua vi thể. Độ biệt hóa có ý nghĩa tiên lượng rất rõ rệt. Tỷ lệ di căn hạch chiếm khoảng 20 – 30% các ung thư tiền liệt tuyến, tuy nhiên ung thư tuyến tiền liệt hay di căn vào xương, di căn vào phổi và đôi khi gặp di căn vào gan.
  4. Các phương pháp điều trị ung thư tuyến tiền liệt Chủ yếu là phẫu thuật ở những giai đoạn còn khu trú là cắt bỏ u xơ. Cắt bỏ ung thư đòi hỏi phẫu thuật viên có kinh nghiệm. Do yêu cầu cắt bỏ rộng nên các biến chứng cũng cao hơn là mổ u xơ tiền liệt tuyến, ví dụ cắt phải dây thần kinh chi phối cổ bàng quang, cắt túi tinh làm hỏng quá trình phóng tinh, dễ liệt dương, rò bàng quang... Nếu cắt bỏ khối u rộng rãi tỷ lệ sống còn sau phẫu thuật tới trên 90%, 30 – 70% bị liệt dương, 30% tiểu tiện không tự chủ. Xạ trị có 2 phương pháp: xạ trị từ xa, đặc biệt là xạ trị gia tốc với ống chuẩn trục đa lá tạo ra được lui bệnh cũng tương tự như phẫu thuật; phương pháp xạ trị tại chỗ dùng các nguồn phóng xạ cắm vào tuyến tiền liệt cũng tạo ra được sự đáp ứng tương tự xạ trị từ xa. Các biến chứng như tiểu tiện không tự chủ, viêm trực tràng, liệt dương cũng thường gặp. Phương pháp điều trị nội tiết hiện nay được ưa dùng. Đơn giản nhất là cắt tinh hoàn, ít tốn kém, làm giảm được 95% nồng độ testosterol trong máu. Ở
  5. phương Tây, việc cắt tinh hoàn khó được chấp nhận. Có những phương pháp điều trị nội khoa bằng thuốc nội tiết thay thế cho cắt tinh hoàn như sử dụng estrogen, sử dụng progesterol, sử dụng các chất kháng androgen và sử dụng các thuốc ngăn chặn sản xuất testosterol. Các thuốc nội tiết tố nữ như estrogen, progesterol đạt được sự đáp ứng từ 30 – 40% các bệnh nhân. Thời gian đáp ứng trung bình là 10 tháng, tuy nhiên có tác dụng phụ như tăng cân, buồn nôn, đổ mồ hôi và chuột rút. Còn việc ngăn chặn sản xuất testosterol bằng các thuốc nội tiết tố mới như zoladex hiệu quả khá tốt. Tuy nhiên thuốc còn đắt tiền. Các thuốc chống nội tiết tố nam như flutamid cũng có chỉ định nhưng hiệu quả thấp hơn. Ngoài ra có thể phá hủy tuyến tiền liệt bằng phương pháp đông lạnh qua đường trực tràng. Phương pháp này ít được ứng dụng ở nước ta. Các điều trị hóa chất bằng những thuốc mới cũng đã được thử nghiệm nhưng hiệu quả chưa rõ rệt. Tóm lại, đối với ung thư tuyến tiền liệt giai đoạn sớm thì tốt nhất là phẫu thuật, nếu không thì xạ trị trong, xạ trị ngoài. Điều trị nội tiết khi không còn chỉ định phẫu thuật rộng rãi và cho những trường hợp đã thất bại sau khi phẫu thuật hoặc xạ trị. Nói chung nam giới trên 60 tuổi nếu thấy có những dấu hiệu rối loạn tiểu tiện cần thiết phải đi thử PSA, phải thăm khám tuyến tiền liệt.
Đồng bộ tài khoản