Ung thư vú ( phần cuối)

Chia sẻ: Carol Carol | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:7

0
82
lượt xem
22
download

Ung thư vú ( phần cuối)

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Làm gì để hiểu rõ hơn và phòng ngừa ung thư vú ? Bác sĩ hiếm khi giải thích tại sao người phụ nữ này bị bệnh còn người khác thì không. Tuy nhiên, điều rõ ràng là ung thư vú không phải do đụng chạm, chấn thương. Và bệnh này càng không phải là bệnh truyền nhiễm, không một ai có thể lây ung thư vú từ người khác. Các nhà khoa học đang cố gắng tìm hiểu những yếu tố làm tăng nguy cơ phát triển ung thư vú. Ví dụ, họ đang tìm kiếm xem nguy cơ ung...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Ung thư vú ( phần cuối)

  1. Ung thư vú ( phần cuối) Làm gì để hiểu rõ hơn và phòng ngừa ung thư vú ? Bác sĩ hiếm khi giải thích tại sao người phụ nữ này bị bệnh còn người khác thì không. Tuy nhiên, điều rõ ràng là ung thư vú không phải do đụng chạm, chấn thương. Và bệnh này càng không phải là bệnh truyền nhiễm, không một ai có thể lây ung thư vú từ người khác. Các nhà khoa học đang cố gắng tìm hiểu những yếu tố làm tăng nguy cơ phát triển ung thư vú. Ví dụ, họ đang tìm kiếm xem nguy cơ ung thư vú có thể bị ảnh hưởng bởi những yếu tố môi trường hay không. Hơn nữa, những nhà khoa học
  2. không có đủ thông tin để biết rằng có bao nhiêu yếu tố trong môi trường làm tăng nguy cơ mắc bệnh này. Một vài đặc điểm về lối sống phụ nữ làm gia tăng nguy cơ ung thư vú. Ví dụ những nghiên cứu gần đây cho thấy vận động thường xuyên có thể giảm nguy cơ ở những phụ nữ trẻ. Cũng thế, vài bằng chứng cho thấy liên quan giữa chế độ ăn và ung thư vú . Những nghiên cứu hiện nay đang tìm cách phòng ngừa ung thư vú bằng những thay đổi trong chế độ ăn hoặc bổ sung vào chế độ ăn. Tuy nhiên, thực sự người ta không biết thay đổi chế độ ăn như thế nào sẽ phòng ngừa được ung thư vú . Chế độ ăn nào giảm nguy cơ ung thư vú ở phụ nữ ? Hỏi & Đáp Hỏi : Chế độ ăn nào giảm nguy cơ ung thư vú ở phụ nữ ? Đáp : Có những phương pháp có thể giảm nguy cơ bị ung thư vú : Chế độ ăn giàu rau và trái cây Chế độ ăn ít mỡ và thịt không bị cháy Dùng những chất chống oxi hóa một cách hợp lí như vitamin E & C Giảm cân, vận động thường xuyên
  3. Không hút thuốc lá Những bằng chứng mà những phương pháp trên làm giảm nguy cơ mắc bệnh ung thư vú là dựa vào những dữ kiện về dịch tễ học. Bằng chứng về dịch tễ bắt nguồn từ việc so sánh hai nhóm nghiên cứu lớn có những đặc điểm tương tự nhau mà khác nhau về chế độ ăn và sự vận động. Những bằng chứng đó chỉ mang tính chất đề nghị không phải là kết luận. Khi xác định những dữ kiện khoa học không đầy đủ bác sĩ phải cân nhắc những nguy cơ của ung thư vú và những lợi điểm của chế độ ăn kiêng. Xem xét lợi và nguy cơ trong thời gian dài đặc biệt quan trọng khuyên nhủ những người trẻ phòng ngừa bệnh . Giữa vận động và ung thư vú có liên quan ? Hỏi : Giữa vận động và ung thư vú có liên quan ? Đáp : Có những dữ kiện về dịch tễ cho thấy người vận động nhiều có xuất độ bi ung thư vú ít hơn người không vận động. Lí do của lợi ích không được biết rõ. Những người mập có nồng độ estrogen trong máu cao hơn người bình thường, làm tăng nguy cơ ung thư vú . Các nhà nghiên cứu đang cố gắng tìm hiểu sẩy thai và sinh non có làm tăng nguy cơ ung thư vú hay không. Vì thế, nhiều nghiên cứu có kết luận trái ngược nhau và câu hỏi này vẫn chưa giải đáp được .
  4. Nghiên cứu dẫn đến việc xác định sự thay đổi (sự chuyển đoạn ) ở vài loại gen làm tăng nguy cơ ung thư vú. Người có tiền sử gia đình nhiều người bị ung thư vú có thể lựa chọn xét nghiệm máu để thấy rằng họ có sự thay đổi ở gen BRCA 1 hay BRAC 2. Phụ nữ nào có liên quan nguy cơ ung thư vú di truyền thì nên báo cho bác sĩ biết. Bác sĩ có thể đề nghị bệnh nhân gặp gỡ nhà chuyên môn về di truyền học. Bác sĩ tư vấn về di truyền có thể giúp bệnh nhân quyết định xem xét nghiệm nào là phù hợp với họ. Cũng vì vậy, trước và sau khi làm xét nghiệm bác sĩ tư vấn có thể giúp bệnh nhân hiểu và giải quyết những kết quả xét nghiệm có thể xảy ra. Nhà tham vấn có thể thể giúp những vấn đề về việc làm hay sức khỏe, cuộc sống và bảo hiểm tàn tật. Dịch vụ thông tin về ung thư có thể cung cấp thêm những dữ liệu về xét nghiệm di truyền. Các nhà khoa học đang tìm kiếm loại thuốc mới có thể phòng ngừa ung thư phát triển. Trong một nghiên cứu rộng, thuốc tamoxifen giảm số mới mắc ung thư vú ở những người tăng nguy cơ bệnh. Hiện nay, các bác sĩ đang so sánh một loại thuốc khác gọi là raloxifen với tamoxifen. Nghiên cứu này gọi là STAR. Tamoxifen và tác nhân chọn lọc thụ thể estrogen ( SERM ) là gì ? Hỏi & Đáp Hỏi : Tamoxifen và tác nhân chọn lọc thụ thể estrogen ( SERM ) là gì ?
  5. Đáp: SERM là 1 hóa chất được tạo ra để hoạt động như estrogen ở vài mô như xương và hoạt động không giống estrogen như ở mô vú. Việc sử dụng SERM có những điểm lợi của estrogen trong khi đó tránh những nguy cơ được phối hợp với estrogen. Tamoxifen ( Nolvadex ) là SERM đầu tiên được chấp thuận của FDA trong điều trị ung thư vú. Một vài tế bào ung thư vú thì “nhạy với estrogen “ nghĩa là chúng cần estrogen để lớn lên và phân chia. Nhưng estrogen phải gắn với những thụ thể của tế bào ung thư này để kích thích chúng. Việc estrogen gắn vào thụ thể tương tự như việc tra một chìa khóa phù hợp vào ổ khóa. Tamoxifen ức chế hoạt động của estrogen trên tế bào ung thư bằng cách chiếm những thụ thể (ổ khóa ). Vì vậy, ngăn chặn estrogen ( chìa khóa ) gắn vào thụ thể của nó. Việc ngăn chặn estrogen khỏi những tế bào ung thư nhạy estrogen làm chúng ngừng phát triển và nhân đôi. Tamoxifen ở liều cao hơn bình thường có những tính chất khác như: làm chết những tế bào ung thư vú không nhạy với estrogen. Tamoxifen được sử dụng điều trị cả hai loại ung thư giai đoạn sớm và ung thư di căn. Với những bằng chứng có giá trị, thuốc này làm giảm nguy cơ bị ung thư vú còn lại đối với những bệnh nhân đã bị ung thư vú một bên. Ngay cả tamoxifen tác dụng giống như một tác nhân chống estrogen trong mô vú. Nó hoạt động giống như một estrogen yếu trong mô xương. Vì vậy,
  6. tamoxifen có vài lợi ích trong phòng ngừa gãy xương do loãng xương ở phụ nữ mãn kinh. Tamoxifen cũng làm giảm những nang và u trong vú, đặc biệt ở phụ nữ trẻ. Vài nang hay cục u được phát hiện sớm dễ dàng nhờ khám và chụp nhũ đồ. Tóm lược ung thư vú Ung thư vú là bệnh thường gặp sau ung thư cổ tử cung. Nguyên nhân gây ung thư vú chưa được biết đầy đủ mặc dù một số yếu tố nguy cơ đã được xác định. Ung thư vú được chẩn đoán bằng tự khám vú hay bác sĩ khám, chụp nhũ ảnh, siêu âm vú, và sinh thiết. Có nhiều loại ung thư vú và chúng khác nhau ở khả năng di căn đến cơ quan khác trong cơ thể. Điều trị ung thư vú tùy vào loại và vị trí của ung thư cũng như tuổi tác và sức khỏe bệnh nhân . Phụ nữ từ 35-40 tuổi nên có nhũ ảnh thường qui. Từ 40-50 tuổi chụp nhũ ảnh nên thực hiện cách năm. Sau 50 tuổi nên làm nhũ đồ mỗi năm.
Đồng bộ tài khoản