Vai trò dinh dưỡng của các chất trong bữa ăn

Chia sẻ: Carol Carol | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:6

0
125
lượt xem
39
download

Vai trò dinh dưỡng của các chất trong bữa ăn

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Chất béo, chất bột đường, chất xơ, vitamin và khoáng chất đều là những chất cần bổ sung trong khẩu phần ăn hàng ngày để duy trì sức khoẻ cơ thể, chống lại bệnh tật. Nếu như chất béo (lipid) và chất bột đường (glucid) là nguồn cung cấp năng lượng chính cho cơ thể thì chất xơ (cellulose), vitamin và chất khoáng cùng các nguyên tố vi lượng đóng vai trò đảm bảo sức khoẻ và sự phát triển toàn diện cho cơ thể. Hiểu rõ vai trò các chất dinh dưỡng sẽ giúp bữa ăn của bạn đầy...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Vai trò dinh dưỡng của các chất trong bữa ăn

  1. Vai trò dinh dưỡng của các chất trong bữa ăn Chất béo, chất bột đường, chất xơ, vitamin và khoáng chất đều là những chất cần bổ sung trong khẩu phần ăn hàng ngày để duy trì sức khoẻ cơ thể, chống lại bệnh tật.
  2. Nếu như chất béo (lipid) và chất bột đường (glucid) là nguồn cung cấp năng lượng chính cho cơ thể thì chất xơ (cellulose), vitamin và chất khoáng cùng các nguyên tố vi lượng đóng vai trò đảm bảo sức khoẻ và sự phát triển toàn diện cho cơ thể. Hiểu rõ vai trò các chất dinh dưỡng sẽ giúp bữa ăn của bạn đầy đủ và khoa học hơn. Glucid - nguồn năng lượng chính của cơ thể Glucid là nguồn dinh dưỡng cung cấp năng lượng chính cho mọi hoạt động của cơ thể, chiếm tỷ lệ lớn nhất trong khẩu phần ăn, có vai trò chuyển hoá quan trọng. Glucid còn đóng vai trò quan trọng trong việc cấu tạo nên các tế bào mô, cơ, phần dư được dự trữ dưới dạng lipid còn được gọi là mỡ. Ngoài công dụng chính là đảm bảo nguồn năng lượng, glucid còn tham gia vào việc cấu tạo nên vật chất quan trọng của cơ thể như mô tế bào, tổ chức liên kết, tổ chức thần kinh, phòng tránh nguy cơ bị xơ vữa động mạch, duy trì hoạt động chức năng thần kinh trung ương. Thành phần chính của glucid là đường, do đó tốt nhất nên dùng glucid phức hợp có chỉ số đường huyết thấp. Đặc biệt đối với người mắc bệnh đái tháo đường, việc sử dụng những thực phẩm có chỉ số đường huyết thấp sẽ giảm đáng kể lượng cholesterol toàn phần, từ đó làm giảm nguy cơ phát bệnh. Phân loại chỉ số đường huyết
  3. Chỉ số đường huyết cao: >=70% Chỉ số đường huyết trung bình: 56-69% Chỉ số đường huyết thấp: 40-55% Chỉ số đường huyết rất thấp:
  4. mạch và tiểu đường, vì nó giúp loại bỏ cholesterol khỏi máu, giúp cơ thể giảm hấp thụ mỡ và cholesterol từ thức ăn, chống xơ vữa động mạch. Lượng chất xơ vừa đủ cho cơ thể làm tăng cảm giác no, giúp lưu giữ thức ăn ở dạ dày lâu hơn, ngăn cản men tiêu hoá tác dụng với thức ăn dẫn đến làm chậm tốc độ tiêu hoá, giúp giải phóng glucose vào máu đều đặn và từ từ, nhờ đó có thể kiểm soát glucose máu, đồng thời có tác dụng giảm hấp thu chất béo, rất tốt cho những ai muốn béo hoặc muốn kiểm soát cân nặng. Cũng bởi những tác dụng trên mà chất xơ được khuyến cáo sử dụng nhiều trong chế độ ăn của bệnh nhân đái tháo đường tuýp 2. Ngoài ra, chất xơ còn có khả năng ngừa ung thư, viêm ruột thừa, loét tá tràng, viêm túi mật... Vitamin, chất khoáng, nguyên tố vi lượng và chất chống oxy hoá Chất xơ có nhiều trong rau quả
  5. Vitamin, chất khoáng, nguyên tố vi lượng và chất chống oxy hoá chỉ chiếm một lượng rất nhỏ nhưng lại đóng vai trò rất quan trọng trong cơ thể. Nếu bị thiếu hụt một trong các chất trên sẽ khiến cơ thể giảm khả năng miễn dịch hoặc dẫn tới việc bị mắc một số bệnh. Có rất nhiều loại vitamin khác nhau trong cơ thể, vitamin A, B, B1, B6, C, D, E... mỗi loại có vai trò khác nhau. Chẳng hạn, vitamin A tham gia vào hoạt động thị giác, chống lão hoá, phòng ngừa ung thư. Thiếu vitamin A, da và niêm mạc sẽ bị khô dẫn đến dễ nhiễm khuẩn, đặc biệt là mắt khô, gây nhũn giác mạc, rồi gây mù. Vitamin C cần thiết cho sự phát triển bình thường của các mô liên kết như sụn, xương, răng, cho sự bền vững của mao mạch và của da. Các chất khoáng và vi khoáng là một nhóm các chất cần thiết không sinh năng lượng nhưng có vai trò dinh dưỡng rất đa dạng và phong phú. Chất khoáng đóng vai trò chủ chốt trong việc tạo hình của các tổ chức xương và tổ chức mềm. Các muối photphat và cacbonat của canxi, magiê là thành phần cấu tạo xương, răng. Khi thiếu canxi, xương trở nên xốp, mô liên kết biến đổi, gây còi xương ở trẻ em. Các nghiên cứu đã chứng minh tác dụng của các chất chống oxy hoá đến quá trình xơ vữa động mạch là có thể giảm từ 20-40% nguy cơ bệnh mạch vành. Chất chống oxy hoá có nhiều loại, trong đó, những chất chống oxy hoá hàng đầu bao gồm vitamin E, vitamin C, B6, B12, Folat, Beta- caroten...
  6. Chế độ ăn như thế nào? Mức độ glucid lý tưởng trong bữa ăn là khoảng 55% năng lượng. Nguồn glucid chủ yếu có trong thực vật như ngũ cốc và hạt họ đậu, ở động vật chủ yếu có trong gan, sữa; song tỉ lệ không nhiều. Nên ăn nhiều thức ăn chứa tinh bột, đảm bảo duy trì sự ổn định của đường huyết. Hạn chế các thức ăn đường đơn, vì có thể sinh bệnh béo phì, bệnh tim mạch. Nên đảm bảo 20-35g chất xơ/ngày hoặc 10g chất xơ/1000kcal. Rau quả là nguồn cung cấp chất xơ quan trọng: lượng cellulose trong rau chiếm khoảng 0,3-3,5%. Các chuyên gia dinh dưỡng khuyến nghị nên tiêu thụ tối thiểu 300g rau/người/ngày và bổ sung thêm khoảng 100g quả chín. Ngoài ra, ăn nhiều rau quả còn đảm bảo lượng vitamin và khoáng chất cần thiết cho cơ thể.
Đồng bộ tài khoản